Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.28 / 32
Chương 28

Hạt Sen Mùa Nước Giật

Mặt nước Đồng Tháp Mười phẳng lặng ngăn cách bởi những bờ đê bao bê tông cao sừng sững, nơi cánh đồng sen bạt ngàn đón những đợt gió chướng báo hiệu mùa nước giật đang cạn dần.

Gió thổi ràn rạt qua những ngọn tràm khô khốc cắm ven bờ kênh, mang theo thứ mùi ngai ngái, nồng gắt của đất phèn bắt đầu ráo nước sau chuỗi ngày dài xả lũ có kiểm soát. Chiếc xe tải hoán cải Bếp Nhỏ thận trọng bò từng mét một trên con đường đan xi măng nông thôn rộng chưa đầy hai mét rưỡi, mép lốp xe bên phụ chỉ cách mép nước kênh nội đồng chừng một gang tay xộc xệch cỏ dại. Khang ghì chặt tay lái, hai vai gồng cứng, mắt đăm đăm nhìn từng khúc cua gập góc giữa đôi bờ mương sẫm màu phù sa chết, nơi bèo tây ken dày đặc thành từng mảng trôi dạt vô định.

Cổ tay trái của anh—sau ca mổ nạo sạch ổ áp xe nhiễm trùng ở Phan Thiết và những đêm thức trắng vần trục láp, căn chỉnh lại từng khớp nối bánh răng dưới gầm xe ở Sài Gòn—nay đã được tháo bỏ lớp nẹp y tế cứng nhắc. Anh chỉ còn quấn một dải băng thun co giãn màu xám tro quanh khớp cổ tay để trợ lực, nhưng mỗi lần phải xoay trở vô-lăng gấp để né những đoạn đan nứt toác, từng thớ cơ sâu bên trong vẫn giật thót lên từng cơn đau lẹm buốt. Khang nén một tiếng thở hắt qua kẽ răng, ghìm chắc chân côn, giữ cho chiếc xe tải nặng nề lướt êm qua gờ cống ngăn mặn vừa mới hạ cửa xả.

An ngồi bên ghế phụ, hai bàn tay áp chặt lên nắp chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ đặt trên đùi. Cô rút tấm bìa cứng mang số hai mươi tám ra khỏi ngăn kéo chuyên biệt, lướt ngón tay qua những dòng mực tím đã ố vàng, mép giấy sờn rách theo năm tháng của bà Mùi. Trong cuốn sổ tay cấp dưỡng của người phụ nữ từng đi qua những năm tháng chiến tranh và thời kỳ bao cấp thiếu thốn, Đồng Tháp Mười vào mùa nước giật tháng mười âm lịch hiện lên như một túi sản vật vô tận và hào phóng khôn cùng của trời đất phương Nam.

Khi con nước từ thượng nguồn Mê Kông cuồn cuộn trút về, mang theo màu đỏ quạch phù sa màu mỡ tràn qua khắp các lung trấp, bờ bãi, nó cũng đem theo hàng triệu đàn cá linh non mập mạp bơi lượn dưới vạt bông điên điển vàng rực nở rộ ven sông. Những cọng bông súng ma kiên cường vươn dài ba bốn thước dưới đáy nước sâu, chìm nổi nhịp nhàng theo từng lượn sóng phù sa; còn những đầm sen đồng tự nhiên thì mọc ken đặc, rễ bám sâu vào bùn non màu mỡ, cho ra những gương sen trĩu hạt, hạt nào hạt nấy mẩy tròn, bùi ngậy và ngọt lịm đến tận tâm sen xanh biếc.

Thế nhưng, nhìn qua khung cửa kính lấm lem bụi đỏ của Bếp Nhỏ, hiện thực trước mắt An lúc này lại là một bức tranh hoàn toàn xa lạ. Hai bên bờ kênh nội đồng không còn là những bãi lung ngập nước mênh mông không thấy bờ bến. Thay vào đó là một hệ thống ô bao bê tông kiên cố, thẳng tắp và phẳng lì như những đường kẻ chỉ trên bản đồ quy hoạch thủy lợi.

Bên trong lòng đê, màu xanh ngắt đồng nhất của những thửa lúa vụ ba chuẩn bị làm đòng trải dài tít tắp, xen lẫn với những vuông sen cao sản chuyên canh được chia lô ngay ngắn, đánh số thứ tự như những luống rau công nghiệp. Tuyệt nhiên không còn thấy bóng dáng những bãi bưng trấp hoang dại ngập sâu, không còn tiếng đập cánh rộn rã của những đàn chim trích cồ lội nước tìm mồi, và trên mặt kênh nội đồng chỉ lác đác vài cụm hoa súng lai giống ngắn cọng dạt vào chân trụ cống bê tông.

Chiếc xe tải từ từ rẽ vào một lối rẽ rải đá dăm, dừng lại trước một căn nhà ngói ba gian lợp tôn lạnh nép mình bên rặng gáo nước đang trổ hoa tròn xoe như những quả cầu gai xanh. Một khoảng sân phơi láng xi măng rộng thênh thang trải đầy những tấm bạt lớn phơi hàng ngàn gương sen đã ngả màu nâu xám, cạnh đó là dãy bể bạt dựng khung thép kiên cố đang chạy máy sục khí ùng ục suốt ngày đêm, bọt trắng xóa dâng lên từng đợt trên mặt nước tù hãm.

Vừa bước xuống xe, tiếng cãi cọ gay gắt từ gian chái bếp sau nhà đã vọng ra ngoài sân, át cả tiếng rù rì đều đặn của máy sục khí công nghiệp.

— Con nói với nội biết bao nhiêu lần rồi, cỗ cưới người ta đặt năm mươi bàn cho ngày mai bên thị trấn, lấy đâu ra năm mươi con cá lóc đồng tự nhiên ngoài lung trấp cho nội nấu? Bây giờ đê bao ngăn hết trơn, cá đồng ngoài sông làm sao bơi vô ruộng đẻ trứng mà sống đặng? Con nuôi cá lóc bể bạt nước ra nước vào liên tục, thịt nó săn chắc bảy tám phần cá đồng, có ai chê nửa câu đâu! Rồi còn hạt sen nữa, sen đồng tự nhiên một năm có mấy tháng rộ, hết mùa thì khách gọi cỗ con lấy gì đơm đĩa cơm sen? Kho lạnh trữ đông hạt tươi bóc sẵn của con giữ nguyên vị bùi, đem hấp lên đâu có thua sút miếng nào!

— Mày bậy vừa thôi Quang! — Tiếng một bà cụ già dứt khoát, thanh âm đanh và khô khốc lại như tiếng gõ mõ bằng gáo dừa khô. — Hạt sen tươi hái sáng sớm ngoài đồng nó ngậm cái hương của sương mai, cái ngọt mát của bùn phù sa, mày đem tọng vô tủ đông ba bốn tháng trời, hạt nó ngậm nước đá lạnh ngắt, bở rục ra như cục bột chết chứ bùi béo nỗi gì! Còn con cá lóc nuôi bể bạt cho ăn cám viên, da nó dày cui nhớt nhợt, mỡ hôi rình dưới bụng, đem nấu nồi canh chua bông điên điển thì chỉ tổ làm ô uế cái nồi canh của người ta! Mày làm ăn gian lận riết rồi người ta quên mất tiêu cái mùi vị cội rễ xứ này!

An và Khang ngập ngừng bước qua ngạch cửa gian chái bếp. Trước mắt họ là bà Biền, một cụ bà đã ngoài bảy mươi tuổi, vóc người gầy guộc, lưng hơi còng nhưng đôi mắt vẫn sáng quắc dưới mái tóc bạc phơ búi chặt sau gáy bằng chiếc trâm gỗ tràm. Bà đang ngồi xếp bằng bên bộ ván gõ, tay thoăn thoắt cầm con dao bài sắc lẻm róc vỏ từng cọng ngó sen trắng ngà ngâm trong chiếc thau sành chứa đầy nước giấm pha muối hột.

Đứng đối diện bà là Quang, một chàng trai trạc hai lăm, hai sáu tuổi, mặc chiếc áo thun thể thao lấm lem bùn đất và đôi ủng cao su lội ruộng cao tới gối. Gương mặt sạm nắng của Quang lộ rõ vẻ bất lực, mệt mỏi và ức chế của một người trẻ đang oằn mình gánh vác sinh kế kinh tế của cả một gia đình giữa thời buổi làm nông nghiệp đầy biến động.

Thấy hai người khách lạ dừng chiếc xe Bếp Nhỏ bước vào, cuộc tranh cãi giữa hai bà cháu tạm thời ngưng bặt. Nhìn chiếc hộp gỗ mun quen thuộc trên tay An và cách Khang cung kính cúi đầu chào theo lối người miền ngoài, ánh mắt sắc sảo của bà Biền khẽ chùng xuống. Bà nheo mắt nhìn vóc dáng mảnh khảnh của An, rồi nhìn sang cuốn sổ tay cũ kỹ mà cô vừa rút ra.

Sau khi nghe An trình bày cặn kẽ về chặng hành trình ba mươi hai thẻ công thức của dự án Bếp Nhỏ, cùng mối dây liên hệ giữa cuốn sổ cấp dưỡng năm xưa của bà Mùi với mảnh đất Tháp Mười, bà Biền thở dài một hơi dài sườn sượt. Bà buông con dao bài xuống thành thau sành, những ngón tay nhăn nheo, sần sùi khẽ run lên khi chạm vào mép tấm thẻ số hai mươi tám:

— Cháu ngoại của chị Mùi đó hả? Hồi năm tám mươi mấy, chị Mùi vô đây theo đoàn cán bộ nghiên cứu chế biến lương thực dự trữ của quân đội, có ghé cái chòi lá của ba má tôi bên bờ kênh Hai Hạt này nằm nghỉ mấy đêm. Hồi đó đất này còn hoang vu, muỗi kêu như sáo thổi, cá linh đi từng đàn đặc kẹo mặt nước kênh, ngó sen mọc ngoài đồng sâu nhổ ba ngày ba đêm không xuể. Giờ mấy cháu ngó coi...

Bà Biền đứng dậy, bước ra mé hiên, chỉ tay về phía con kênh nước đục ngầu phù sa nhưng bị chặn đứng bởi những cống ngăn bê tông cốt thép khép kín:

— Có con đê này thì cả năm làm lúa ba vụ trúng mối, dân mình hổng còn sợ cái cảnh nửa đêm nước lũ tràn về cuốn trôi nhà trôi cửa, đói rã ruột như hồi xưa nữa. Nhưng mà ngặt nỗi, phù sa hổng vô được ruộng sâu, tôm cá ngoài sông Tiền, sông Hậu cũng hổng có ngõ ngách nào để lội vô đồng đẻ trứng. Cá linh mùa nước năm nay ít tới mức chợ huyện bán mấy chục ngàn một ký cá dạt, cá chết ươn. Rau dại ngoài bưng như điên điển, bông súng ma cũng lụi tàn dần vì đất bị rào đê bơm thuốc trừ sâu làm lúa. Thằng Quang nó tính đường làm ăn kinh tế, lo trả nợ nần cho người ta, tôi hổng có trách. Nhưng mà nhìn nó đem hạt sen bóc sẵn tọng vô kho lạnh âm độ rồi bắt con cá lóc nuôi cám viên dưới bể bạt lên làm cơm hấp lá sen đãi tiệc, tôi nuốt hổng trôi!

Quang nhăn nhó, đưa bàn tay đầy vết trầy xước lên gãi đầu, giọng cậu nghẹn lại vì uất ức:

— Dạ chị An coi, con đê bao này người ta khép kín cả chục năm nay rồi chứ đâu phải mới hôm qua. Đất đai của tụi em bây giờ muốn sống được thì phải đắp bờ bao giữ nước ngọt, mua giống sen lai cao sản về trồng để lấy hạt bán quanh năm cho thương lái. Mùa này nước ngoài sông cái giật cạn dần, sen tự nhiên tàn rụi hết trơn, chỉ còn lác đác mấy gương sen sót ngoài vạt trũng trấp hoang sau mé rừng phòng hộ. Khách đặt cỗ cưới, hội nghị ở thành phố Cao Lãnh gọi điện hối thúc liên tục, nếu em hổng trữ đông hạt sen tươi trong kho lạnh âm sâu, hổng nuôi cá lóc bể lót bạt bằng hệ thống nước tuần hoàn thì lấy cái gì ra mà phục vụ cho người ta? Rồi lấy tiền đâu mà trả nợ ngân hàng tiền phân bón, tiền điện chạy máy sục khí mỗi tháng mấy triệu bạc?

An không vội vàng phán xét hay đưa ra bất kỳ kết luận nào. Cô nhìn thau ngó sen đồng nhỏ nhắn nhưng đanh chắc của bà Biền, lại nhìn dãy tủ đông công nghiệp to lớn đang phả hơi lạnh ù ù bên góc chái nhà của Quang, khẽ mỉm cười ôn tồn:

— Hay là vầy đi nội, trưa nay em với anh Khang phụ anh Quang chèo xuồng ra mé trấp hoang ngoài đê, tìm xem còn sót lại mớ gương sen cuối mùa và ít ngó sen đồng sâu hay không. Rồi trưa nay, tụi mình nấu hai phiên bản đối chứng ngay tại gian bếp này: một đĩa cơm sen và một nồi canh chua cá theo đúng lối tự nhiên nguyên bản của nội, và một đĩa cơm sen đông lạnh cùng cá nuôi bể bạt theo kỹ thuật điều chỉnh nhiệt của tụi em trên xe Bếp Nhỏ. Để xem sự thích ứng của nguyên liệu trong thời đê bao có thể đi xa đến đâu. Có được không nội?

Bà Biền liếc nhìn đứa cháu trai đang bặm môi đứng nhìn sàn nhà, rồi gật đầu cái rụp dứt khoát:

— Được! Để coi bữa nay cái lưỡi của bà già bảy mươi này có lú lẫn thiệt hay không!

Chiếc xuồng ba lá cũ kỹ lướt êm ru trên con rạch nhỏ ngoằn ngoèo dẫn ra vạt trũng hoang vu nằm lọt thỏm ngoài ranh giới vùng đê bao khép kín. Nơi đây mực nước chỉ còn xâm xấp ngang ngực người lớn, đáy bùn lầy sâu hoắm và trơn trượt. Nắng trưa gay gắt rọi thẳng xuống mặt nước nhiễm phèn trong vắt đến tận đáy, để lộ từng đàn cá lòng tong, cá sặc bướm nhỏ thó đang bơi lội quanh những gốc sen già tàn tạ, cuống lá thâm đen vì đã trút hết nhựa sống cho vụ hoa cuối.

Khang cẩn thận bám chặt mạn xuồng, một tay cầm chiếc máy ghi âm chuyên dụng thu trọn từng âm thanh sống động của đồng bãi: tiếng ràn rạt khô khốc của những phiến lá sen già cọ vào mạn gỗ, tiếng mái dầm khua nước óc ách, và tiếng thở dốc nặng nhọc của con người giữa trưa nắng đứng bóng.

Quang lội phăng phăng dưới bùn lầy, hai chân lún sâu tới tận bắp đùi. Đôi bàn tay chai sần của cậu thuần thục mò mẫm xuống tận cuống rễ ngập sâu dưới lớp bùn đen dẻo quánh, lần theo từng mắt sen ngầm để nhổ từng cọng ngó sen tự nhiên.

An cũng xắn cao ống quần lội xuống bùn cùng Quang. Bàn chân cô vừa chạm vào đáy bùn non mát rượi đã bị hút chặt lấy, cảm giác từng thớ bùn trơn tuột luồn qua kẽ ngón chân mang theo thứ mùi bùn hữu cơ ngai ngái, quyện với mùi lá sen già khô cháy bốc lên dưới nắng gắt. Đó là một phong vị hoang dã, mộc mạc và nhọc nhằn, thứ hương vị không một cánh đồng chuyên canh nào có thể tái tạo được.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ dầm mình dưới cái nắng bỏng rát, họ thu hoạch được một ôm ngó sen đồng sâu—những cọng ngó nhỏ thon, chắc nịch, vỏ ngoài nhuốm màu nâu đất phù sa chứ không hề mập mạp, trắng phau nõn nà như loại ngó sen bón đẫm phân hóa học trong đê—cùng chừng hơn chục gương sen hồng cổ cuối mùa còn sót lại trên những cuống sen khẳng khiu.

Những hạt sen hồng cổ Tháp Mười nguyên bản này có vỏ ngoài phớt tím ánh xanh, dáng hạt tròn thon dài chứ không tròn xoe như sen lai cao sản. Bấm nhẹ móng tay vào đầu hạt, lớp vỏ ngoài nứt tách để lộ phần thịt hạt chắc nịch, tươm ra một dòng sữa trắng ngà thơm ngát, ngậm vào đầu lưỡi thấy vị bùi ngọt thanh tao đọng lại rất sâu nơi cuống họng.

Trở về gian chái bếp, ngọn lửa từ hai chiếc bếp được nổi lên cùng một lúc, mang theo hai luồng nhiệt lượng và hai tâm thế hoàn toàn khác biệt.

Một bên là chiếc bếp củi tràm đượm than hồng đỏ rực của bà Biền, nơi những thanh củi tràm nỏ tí tách reo vui, tỏa ra làn khói trắng cay nồng mùi tinh dầu lá mục. Bên kia là dàn bếp gas đôi công nghiệp dã chiến đặt gọn gàng trên khoang bếp của chiếc xe Bếp Nhỏ, nơi An và Quang cùng đứng thao tác.

Cuộc thử nghiệm đối chứng bắt đầu trong bầu không khí im lặng đầy căng thẳng và sự tập trung cao độ của cả bốn người.

Phiên bản thứ nhất được thực hiện hoàn toàn theo lối nấu truyền thống do bà Biền trực tiếp chỉ đạo: Gạo nàng Nhen cũ—loại lúa mùa một vụ nổi tiếng dẻo thơm và đậm vị của vùng đồng trũng—được vo sạch rồi ngâm nước mưa cho bớt vị chua phèn, sau đó vớt ra để ráo nước trên rổ tre. Những hạt sen hồng cổ tươi vừa hái ngoài đầm sâu được lột bỏ lớp vỏ lụa mềm, thông tâm sen xanh biếc một cách cẩn thận để giữ lại vị ngọt thanh mà không bị đắng. Gạo được trộn đều cùng hạt sen tươi, điểm xuyết thêm một nhúm muối hột rang giòn giã mịn và vài tai nấm rơm khô băm nhỏ để lấy vị ngọt tự nhiên.

Tất cả được bọc gọn gàng trong hai lớp lá sen bánh tẻ tươi vừa hái từ đồng sâu, gói vuông vức như một chiếc bánh chưng nhỏ rồi đặt vào xửng tre mộc mạc, hấp cách thủy trên nồi nước sôi sùng sục đun bằng than củi tràm.

Bên cạnh xửng cơm, bà Biền thoăn thoắt làm thịt con cá lóc đồng ba tấc do người quen vừa đặt lờ ngoài lung trấp mang sang biếu từ sớm tinh sương. Con cá lóc đen trũi, đầu thon nhọn, vây sắc lẻm, ruột teo tóp không dính một chút mỡ thừa nào vì phải bơi lội vượt dòng tìm thức ăn tự nhiên. Nồi canh chua cá lóc nấu với me xanh dầm nát, vài cọng bông súng ma tước vỏ và một nhúm bông điên điển cuối mùa vàng rực sôi bùng lên trên bếp củi, tỏa ra một làn khói chua thanh thuần khiết, làm dịu hẳn cái không khí khô khốc, oi nồng của buổi trưa đứng gió.

Phiên bản thứ hai là sự kết hợp chặt chẽ giữa nguồn nguyên liệu thích ứng của Quang và kỹ thuật điều chỉnh nhiệt độ chuẩn xác mà An áp dụng trên xe Bếp Nhỏ: Hạt sen được lấy từ túi trữ đông bóc sẵn trong kho lạnh âm mười tám độ C của Quang, những hạt sen đã nằm im trong giá lạnh suốt hơn ba tháng qua.

An giải thích cặn kẽ cho Quang hiểu nguyên lý: nếu đem hạt sen đông lạnh hấp chung ngay từ đầu với gạo như cách thông thường, cấu trúc tinh bột bên trong hạt sen bị "sốc nhiệt" đột ngột sẽ khiến màng tế bào vỡ tung, làm hạt sen bên ngoài bị nát nhừ, ngậm nước bở rục mà trong lõi vẫn sượng cứng vì tinh bột chưa kịp hồ hóa hoàn toàn.

An hướng dẫn Quang kỹ thuật phục hồi nhiệt hai giai đoạn: đầu tiên, rã đông chậm hạt sen trong một thau nước ấm chừng bốn mươi độ C có pha chút muối loãng để cân bằng áp suất thẩm thấu; sau đó, vớt ra để ráo rồi cho hạt sen vào xửng hấp sơ ở mức nhiệt thấp trong vòng mười lăm phút. Quá trình này giúp hạt sen thoát hết mùi ẩm mốc của hơi lạnh kho đông, đồng thời các hạt tinh bột trương nở đều đặn từ ngoài vào trong. Lúc này mới đem hạt sen trộn cùng gạo thơm, ướp thêm chút nước mắm nhĩ cá đồng và tiêu sọ rang giã dập đậm đà hơn một chút để bù đắp lại phần hương tự nhiên đã bị thất thoát qua chuỗi ngày đông lạnh. Khối cơm này sau đó được bọc bằng lá sen tươi trữ mát, gói chặt và đưa vào lò hấp ở nhiệt độ ổn định.

Đối với con cá lóc nuôi bể bạt của Quang, thịt cá tích nhiều mỡ dưới da và phảng phất mùi tanh nồng đặc trưng của thức ăn công nghiệp. An mách Quang dùng tro trấu bếp củi chà xát thật kỹ toàn thân cá cùng với muối hạt để tuốt sạch lớp nhớt dày, sau đó rửa lại bằng rượu trắng ngâm gừng già để bẻ gãy các liên kết mùi hôi tanh. Thân cá được khía xéo từng đường dứt khoát rồi đem chiên sơ qua chảo mỡ phi tỏi già cho se bề mặt, ép bớt phần mỡ thừa chảy ra, trước khi thả vào nồi nước me chua sôi già được nêm thêm vài lát ớt hiểm giã nát để tạo tầng nhiệt nồng ấm át đi vị ngấy.

Hai mâm cơm được dọn ra ngay ngắn trên chiếc bàn gỗ tràm đặt ngoài chái hiên lộng gió chướng.

Khi An dùng đầu mũi dao khẽ rạch lớp lá sen của phiên bản truyền thống, một làn hơi mỏng manh thoát ra, mang theo mùi hương dịu ngọt, thanh khiết và trong trẻo đến nao lòng của đầm sen nguyên sơ thuở nào. Từng hạt cơm nàng Nhen dẻo quánh, bóng bẩy, ngậm trọn lấy vị bùi béo tự nhiên, ngọt mát đến tận chân răng của hạt sen tươi vừa bóc vỏ. Miếng thịt cá lóc đồng săn chắc, thớ thịt dai giòn sần sật, ngọt đậm đà vị ngọt của đạm tự nhiên, không vương một gợn mỡ thừa nào, hòa quyện tuyệt đối với vị chua thanh tao của me xanh và cọng bông súng ma giòn rụm.

Đến lượt mở lớp lá sen của phiên bản thứ hai, mùi hương bốc lên có phần trầm đậm và nồng nàn hơn, thoang thoảng mùi tiêu sọ nồng ấm và hành phi để kích thích khứu giác. Nhưng khi đưa thìa cơm đầu tiên vào miệng, đôi lông mày bạc của bà Biền khẽ nhướng lên, ánh mắt bà lóe lên vẻ ngạc nhiên không giấu giếm.

Nhờ kỹ thuật hấp hai lần và kiểm soát sự phân rã nhiệt độ của An, những hạt sen đông lạnh ba tháng không hề bị bở rục hay nhạt thếch như những lần Quang nấu trước đây; ngược lại, hạt sen giữ được độ mềm mượt, bùi dẻo vừa vặn, ôm khít lấy từng hạt gạo thơm bóng bẩy. Nồi canh chua cá lóc bể bạt nhờ được khử nhớt bằng tro trấu và chiên se bề mặt nên thịt cá săn chắc lại, nước canh giữ được độ trong veo, thơm ngát mùi ngò gai, ngò om và vị cay nồng của ớt hiểm đã khéo léo giấu đi vị béo ngậy của cá nuôi công nghiệp.

Quang đứng bên cạnh, hai bàn tay siết chặt lấy gấu áo, hồi hộp chờ đợi từng cử chỉ của bà nội.

Bà Biền nhai thật chậm rãi, nhắm nghiền hai mắt để cảm nhận trọn vẹn từng tầng vị giác tan ra trên đầu lưỡi. Nuốt xong muỗng cơm sen đông lạnh, bà lặng lẽ đặt đôi đũa tre xuống thành mâm. Ánh mắt già nua của bà nhìn chăm chú vào chiếc xe tải Bếp Nhỏ, rồi lại phóng tầm mắt ra xa, nơi con đê bao bê tông sừng sững cắt ngang chân trời:

— Cái đĩa cơm của cháu An chỉ cho mày làm... nó ngon thiệt. Nó giữ lại được cái vị bùi của hạt sen tới bảy tám phần, người sành ăn cỗ cưới khó tính cách mấy cũng hổng chê trách được nửa lời. Nhưng mà Quang à, cái ngon này là cái ngon của sự khéo léo, của mẹo vặt người làm bếp tìm cách cứu lấy mớ nguyên liệu dở dang, chớ nó hổng phải là cái ngon mát lành, hào sảng của đất trời ban tặng cho xứ này hồi xưa nữa rồi.

Quang từ từ cúi đầu xuống, hai vai khẽ rung lên, giọng cậu chùng xuống nghẹn ngào trong cổ họng:

— Con biết chứ nội... Con đâu có muốn nuôi cá bể bạt hay làm sen đông lạnh làm chi cho cực thân. Nhưng nội ngó coi, cả cái huyện này, cả cái vùng Đồng Tháp Mười này, đê bao khép kín đã phủ kín hết trơn rồi. Nước lũ hổng vô đồng thì phù sa đâu có mà màu mỡ? Cá tôm tự nhiên cạn kiệt, dân cào điện vét ráo trọi ngoài sông ngoài kênh. Nếu tụi con hổng tìm cách thích ứng, hổng làm kho lạnh trữ hàng để bán quanh năm, hổng nuôi cá bạt bằng nước tuần hoàn thì tụi con lấy gì nuôi sống gia đình, lấy tiền đâu mà giữ lại mấy sào đất sen này trước mấy công ty phân lô?

An ngồi lặng lẽ bên mép bàn gỗ, chăm chú lắng nghe từng lời ruột gan của hai thế hệ. Cô không hề có ý định chấm điểm hay phân định phiên bản nào thắng, phiên bản nào thua trong cuộc đối chứng này. Mỗi đĩa cơm, mỗi nồi canh chua đang bốc khói trước mặt cô đều chứa đựng một mảnh hiện thực trần trụi, khốc liệt nhưng đầy sức sống của thời đại mà họ đang sống.

An mở chiếc hộp mun, lật tấm thẻ bìa cứng số hai mươi tám, cầm cây bút mực đen nắn nót viết từng dòng chữ dứt khoát:

*“Thẻ số 28: Cơm hấp lá sen và Canh chua cá đồng Tháp Mười — Biến thiên của đê bao và sự thích ứng của nguyên liệu bản địa.*

*Quy hoạch hệ thống đê bao khép kín kiểm soát lũ triệt để đã mang lại sự an toàn tuyệt đối cho mùa màng, giúp người nông dân làm được ba vụ lúa mỗi năm và không còn phải đối mặt với cảnh mất trắng sau những cơn lũ lớn. Nhưng cái giá phải trả cho sự an toàn ấy là việc cắt đứt dòng chảy phù sa tự nhiên và triệt tiêu chuỗi sinh thái ngập nước theo mùa. Nguồn cá linh, cá lóc đồng và rau dại lung trấp dần biến mất, biến ẩm thực đồng sen từ một tập quán nương nhờ hào sảng của tự nhiên thành một ngành sản xuất phải thỏa hiệp với công nghệ trữ đông và chăn nuôi nhân tạo.*

*Đĩa cơm sen tự nhiên của người bà là bảo tàng ký ức về một miền đất trù phú đã vắng bóng. Đĩa cơm sen đông lạnh của người cháu là nỗ lực sinh tồn bền bỉ của thế hệ trẻ trước một hệ sinh thái đã vĩnh viễn đổi thay. Nghệ thuật nấu nướng không phải là sự phủ nhận thực tế bằng những hoài niệm bảo thủ, mà là sự thấu hiểu giới hạn của đất đai để tìm ra kỹ thuật xử lý công bằng nhất cho nguyên liệu của thời đại mình.”*

Viết xong những dòng cuối cùng, An ngẩng đầu lên nhìn Quang, ánh mắt cô dừng lại nơi những vết trầy xước trên mu bàn tay cậu:

— Anh Quang, giống sen hồng cổ này ở đầm sâu ngoài đê, nhà mình hiện tại còn giữ lại được nhiều không?

Quang đưa tay quệt vệt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, gật đầu chậm rãi:

— Dạ còn chừng hai sào đất trũng ngoài mé đê bao là em còn ráng giữ giống sen hồng cổ nguyên chủng này thôi chị. Mấy chỗ khác trong vùng người ta chuyển sang trồng giống sen lai năng suất cao hết trơn rồi, hạt nó to gấp rưỡi nhưng ruột xốp, mau lạt và hổng có mùi thơm sâu. Em ráng giữ hai sào này chủ yếu để lấy hạt giống cho gia đình, mà mấy năm nay nước kiệt quá, bùn cạn dần, em cũng sợ chỉ vài mùa nữa là nó lụi tiệt giống luôn.

Đôi mắt An sáng rực lên một niềm hy vọng mãnh liệt. Cô lập tức mở chiếc máy tính xách tay đặt trên bàn ăn của Bếp Nhỏ, kích hoạt thiết bị kết nối mạng di động vệ tinh, bấm số gọi trực tiếp cho nhóm điều hành của Mạng lưới Hạt Giống Quê—dự án bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp bản địa mà cô cùng kỹ sư Lâm Y Khoa ở Đắk Lắk và luật sư Tạ Gia Bảo đang cùng nhau gầy dựng suốt dọc đường thiên lý.

Sau hơn hai mươi phút trao đổi tỉ mỉ về đặc tính thực vật học, khả năng chịu phèn, chất lượng tinh bột và biên độ thích ứng của giống sen hồng cổ Tháp Mười, đầu dây bên kia, giọng người đại diện nhóm reo lên đầy phấn khởi. Họ cam kết ngay trong tuần tới sẽ cử một tổ cán bộ kỹ thuật nông học mang thiết bị chuyên dụng xuống tận đầm của Quang để tiến hành kiểm định các chỉ số sinh học, lấy mẫu gen và chính thức đưa giống sen hồng cổ này vào danh mục ngân hàng gen cây trồng bản địa quốc gia; đồng thời thiết lập hợp đồng liên kết bao tiêu toàn bộ hạt giống sạch với mức giá bảo hộ cao hơn hẳn sen thương phẩm thông thường, nhằm nhân rộng mô hình ra các vùng đất trũng phục hồi sinh thái.

Nghe xong toàn bộ nội dung cuộc điện thoại, Quang đứng chết lặng giữa gian bếp, hai mắt đỏ hoe vì xúc động. Cậu trai trẻ từng nghĩ hai sào sen cằn cỗi, ngập ngụa bùn lầy ngoài mé trấp hoang chỉ là gánh nặng nợ nần, nay bỗng chốc nhận ra nó chính là báu vật vô giá mà thiên nhiên và tổ tiên đã trao gửi cho mảnh đất này.

Không giấu được niềm vui sướng, Quang vội vã chạy tọt vào gian buồng trong, lục lọi một hồi rồi trân trọng bưng ra một chiếc hộp thiếc tròn cũ kỹ. Bên trong hộp là những hạt sen hồng cổ khô bóng bẩy, tròn trịa, được phơi qua bảy đợt nắng to, tuyển chọn kỹ lưỡng từ những gương sen già nhất của vụ trước.

Quang run run nâng chiếc hộp bằng cả hai tay, kính cẩn trao sang cho An, giọng cậu nghẹn ngào nhưng rạng rỡ:

— Chị An... Em tặng chị hộp hạt giống này. Em nghe anh Khang kể hồi trưa, nhà chị ngoài bến sông Hồng ngoài Bắc có bãi đất phù sa bồi dày ven sông dữ lắm. Chị mang mớ hạt sen hồng cổ Tháp Mười này về ngoài trỏng gieo thử giùm em coi. Đất phù sa sông Hồng màu mỡ ngút ngàn, biết đâu chừng sen nó chịu nước, bén rễ đâm chồi rồi nở hoa rực rỡ... để người ngoài đó biết rằng xứ Tháp Mười tụi em từng có một giống sen thơm thảo và kiên cường dường này.

An đón lấy chiếc hộp thiếc nặng trĩu trên tay, ngón tay cô chạm vào từng hạt sen khô ráp mà ấm nóng, nghe một dòng cảm xúc trào dâng làm sống mũi cay xè:

— Cảm ơn anh Quang. Em nhất định sẽ mang những hạt sen này về ươm bên bến sông Hồng. Căn bếp cũ của ngoại em ở đó... đang đợi những hạt mầm này trở về để xanh lại.

Buổi chiều buông xuống chầm chậm trên cánh đồng sen bạt ngàn của Đồng Tháp Mười. Ánh hoàng hôn đỏ ối như rát vàng lên những bờ kênh bê tông thẳng tắp, hắt lên rặng tràm già những dải sáng màu cam rực rỡ. Gió chướng thổi mỗi lúc một lồng lộng, cuốn theo mùi rơm rạ khô và mùi bùn non ngai ngái từ lòng kênh đang cạn nước.

Khang đang lúi húi cúi mình bên hông xe Bếp Nhỏ, dùng cờ-lê kiểm tra lại từng con ốc lazăng và đo áp suất lốp xe sau chuỗi ngày cày ải trên những cung đường đan gập ghềnh, thì chiếc điện thoại cũ trong túi áo An bỗng rung lên từng hồi dồn dập.

An rút điện thoại ra nhìn màn hình. Một dãy số quen thuộc hiện lên rõ mồn một. Lần này, không phải là những tin nhắn thúc giục bán đất hay những lời đòi nợ gay gắt từ người mua nhà như chuỗi ngày trước chuyến đi.

Là mẹ Hà.

An ngập ngừng một thoáng, ngón tay khẽ run run trước khi bấm nút nhận cuộc gọi rồi áp máy vào tai. Đầu dây bên kia rơi vào một khoảng im lặng ngột ngạt kéo dài vài giây, chỉ nghe thấy tiếng gió xào xạc lùa qua rặng chuối sau vườn nhà bên bến sông Hồng và tiếng thở dài quen thuộc của mẹ. Rồi, giọng bà Hà cất lên, trầm đục và run rẩy hơn hẳn mọi khi:

— An hả con? Xe cộ chạy tới đâu rồi? Cái xe tải cũ ấy... máy móc hộp số có còn chạy êm không?

Cổ họng An nghẹn đắng lại, từng đốt ngón tay cô siết chặt lấy thân máy. Đã bao nhiêu năm trôi qua rồi, kể từ ngày bà ngoại mất, mẹ mới cất lời hỏi thăm về chiếc xe tải hoán cải của Khang với một sự quan tâm run rẩy như thế, thay vì những lời cay đắng về món nợ thế chấp hay giá trị từng mét vuông đất thổ cư?

— Dạ... anh Khang đã sửa xong hộp số ở xưởng Sài Gòn rồi mẹ. Xe chạy tốt lắm, êm ru à. Tụi con đang ở Đồng Tháp, xong cữ này là chuẩn bị chạy qua An Giang.

— Ừ... — Tiếng bà Hà ngập ngừng ngắt quãng, dường như trong tâm can người mẹ đang diễn ra một cuộc giằng xé dữ dội giữa những định kiến cố hữu và nỗi thương xót con cái. — Ở trong đó mùa này nước rút, muỗi mòng độc lắm, ăn uống đi đứng nhớ giữ gìn sức khỏe. Cái thư... của ông Tấn gửi từ bên kia... mẹ vẫn để trên bàn thờ bà ngoại. Mẹ... mẹ chưa mở ra đọc được. Nhưng mà... con đi đường ráng giữ mình. Căn bếp... mẹ dọn sạch cỏ ngoài hiên rồi.

Cuộc gọi kết thúc ngắn ngủi bằng một tiếng cúp máy vội vã, nhưng khoảng cách nghìn trùng tưởng chừng như không thể san lấp giữa hai mẹ con dường như vừa tan chảy một mảng lớn trong làn gió chướng phương Nam.

An đứng tựa lưng vào thành thùng xe Bếp Nhỏ, lặng ngắm bà Biền đang ngồi cặm cụi bên thau sành, đôi bàn tay gầy guộc tỉ mẩn gói ghém nốt những cọng ngó sen cuối cùng cho buổi chợ sớm mai.

Bóc lớp lá sen già phai màu bốc khói nghi ngút, người bà thở dài nhìn con kênh bê tông: 'Có đê thì giữ được lúa, nhưng con cá linh, ngó sen đồng sâu nó cũng giận mà bỏ đi biệt tăm.'

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn