Hơi Đá Đồng Văn
Gió bấc quất rát mặt trên những dốc cua tay áo dựng đứng của đèo Mã Pí Lèng, nơi chiếc xe Bếp Nhỏ rên xiết từng hồi vì không khí loãng và cái lạnh thấu xương của cao nguyên đá.
Mỗi lần sang số, tiếng bánh răng của hộp số cũ va vào nhau ken két khô khốc, dội thẳng qua sàn cabin bằng sắt gỉ. Khang ghì chặt hai tay lên vành vô lăng bọc nhựa sờn, gân mu bàn tay nổi hằn xanh xao dưới lớp da tái đi vì buốt giá. Đôi mắt anh dán chặt vào từng khúc ngoặt tay áo mà một bên là vách đá vôi tai mèo dựng đứng xám xịt, lởm chởm như những hàm răng cắm thẳng lên trời, còn một bên là vực sâu hun hút chìm nghỉm trong màn sương mù đặc quánh đang cuồn cuộn trôi như một dòng sông băng. Chiếc xe tải ba tấn rưỡi cải tạo dã chiến lắc lư dữ dội theo từng ổ gà lởm chởm đá dăm. Phía sau thùng xe, các ngăn tủ inox, giá đỡ bếp và những chiếc nồi gang va đập vào nhau lục cục, chát chúa, tựa hồ chỉ cần một cú dằn xóc mạnh nữa là toàn bộ các mối hàn chắp vá sẽ bung rời ra.
Động cơ diesel gầm lên từng chặng ngắn, khói xả mù mịt hòa lẫn vào sương xám. Không khí trên độ cao này loãng đến mức buồng đốt thiếu oxy trầm trọng, xe ì ạch bò từng mét dốc, mùi dầu cháy khét lẹt len qua khe hở của cần số xốc thẳng vào mũi. An ngồi bên ghế phụ, hai chân co ro đạp lên tấm ván sàn rung bần bật, hai bàn tay đút sâu vào túi áo khoác dày cộm mà vẫn cảm nhận rõ từng đợt gió lạnh luồn qua gioăng cửa cao su đã lão hóa, cắn buốt buốt vào da thịt.
Mãi đến chập choạng tối, chiếc xe mới vượt qua đỉnh đèo, lết từng vòng bánh nặng nhọc về một bãi đất trống rải đầy đá vụn nằm nép dưới chân một con dốc thoải dẫn vào thị trấn Đồng Văn. Khang xoay chìa khóa tắt máy. Cỗ máy sắt thép thở ra một luồng hơi nóng tàn tạ rồi im bặt. Anh buông thõng hai cánh tay mỏi nhừ, ngả đầu tựa hẳn vào lưng ghế da nứt nẻ, lồng ngực phập phồng thở dốc sau chặng đường dài căng thẳng tột độ. Không gian chung quanh đột ngột chìm vào một sự tĩnh lặng đến rợn ngợp, chỉ còn tiếng gió lùa rít từng hồi qua những khe thông gió của thùng xe và tiếng lách tách của kim loại đang co lại vì lạnh.
An bước xuống sàn sau, kéo bung hai cánh cửa hông mở toang ra ngoài trời để dựng gian bếp dã chiến như thói quen mỗi khi hạ trại. Cái lạnh cắt da trên độ cao hơn một nghìn mét tức khắc ùa vào, rét căm căm như hàng ngàn mũi kim chích xuyên qua hai lớp áo len dày. An xoa hai bàn tay cước đỏ ửng, cúi người mở van bình gas công nghiệp đặt ở góc thùng xe rồi xoay núm đánh lửa của dàn bếp đôi mới toanh vừa lắp dưới Hà Nội. Tia lửa điện lách tách bật lên, nhưng ngọn lửa chỉ bùng ra một quầng đỏ le lói rồi lập tức lụi dần thành một dải xanh yếu ớt, mỏng manh như sợi chỉ. Gió buốt từ thung lũng thốc ngược lên quất bạt ngọn lửa tạt nghiêng sang một bên thành chảo, không sao tụ lại được ở tâm đáy nồi.
An kiên nhẫn vặn van tăng áp đến nấc tối đa, tiếng rít của khí gas vang lên sàn sạt nhưng ngọn lửa vẫn trơ trơ không chịu lớn thêm. Cô thử đặt lên bếp chiếc chõ nhôm ba tầng chứa mẻ ngô vỡ mà mình mua vội ở chợ phiên Mèo Vạc hồi trưa để đồ thử mèn mén. Nhưng áp suất khí hóa lỏng suy giảm nghiêm trọng do nhiệt độ môi trường đã tụt xuống sát mốc sương muối; đáy vỏ bình gas bằng thép dày chẳng mấy chốc đã bám một lớp tuyết mỏng trắng xóa và đọng sương lạnh ngắt. Nước trong đáy chõ chỉ sôi lục bục những bọt khí lăn tăn yếu ớt, hơi nóng bốc lên không đủ để làm mờ mặt nắp kính chịu lực. Sau gần một tiếng đồng hồ chịu trận giữa gió rít để canh chừng ngọn lửa thoi thóp, An nhấc nắp chõ ra kiểm tra: mẻ ngô bên trong nửa chín nửa sượng, những hạt phía dưới nhão nhoét vì hơi nước ngưng tụ rơi ngược xuống đáy, trong khi những hạt phía trên vẫn khô khốc, sần sùi và cộm cứng ngắc trong miệng khi nhai thử.
Khang cầm chiếc đèn pin bước tới, rọi luồng sáng vàng vọt vào mớ bột ngô hỏng rồi nhìn dàn van điều áp đang run rẩy theo từng cơn gió luồn qua khe thùng xe:
“Áp suất khí quyển ở đây thấp hơn dưới đồng bằng, nhiệt độ lại đang dưới sáu độ C. Bình gas của mày không đủ nhiệt lượng hóa hơi đâu. Cái bếp inox sáng loáng này người ta thiết kế cho phố thị kín gió, phòng bếp ấm cúng, mang lên đỉnh trời đá nhọn này nó chỉ là một đống sắt nguội vô tích sự.”
An đứng lặng giữa bóng tối mịt mùng của cao nguyên, cảm nhận vị sượng ngắt và đắng chát của bột ngô sống dính chặt nơi đầu lưỡi. Giới hạn vật chất của chiếc xe bếp lưu động phơi bày một cách trần trụi ngay ở chặng dừng chân đầu tiên. Những toan tính tiện nghi hiện đại cô cẩn thận mang theo từ đồng bằng bỗng trở nên ngây thơ, vụng về và bất lực trước sự khắc nghiệt lạnh lùng của địa hình vùng cao.
***
Sáng hôm sau, chợ phiên Đồng Văn chìm ngập trong một làn sương muối đùng đục lầy lội. Đất đá dưới chân người qua lại nhão ra thành một thứ bùn xám dính dính quện chặt vào đế giày cao cổ, trơn trượt trên những tảng đá mòn nhẵn bóng. Mùi thắng cố ngai ngái bốc lên từ những chiếc chảo đại khổng lồ sôi sùng sục giữa chợ, quyện chặt với mùi rượu ngô men lá cay nồng, mùi thảo quả nướng và mùi mồ hôi ngựa tỏa ra đậm đặc giữa những dãy lều lợp tôn proximang ướt sũng nước mưa đông.
An chen qua dòng người xúng xính trong những tà váy xòe bằng vải lanh dệt tay sặc sỡ, những chiếc tạp dề chàm và xà cạp đen quấn chặt bắp chân, để tìm đến dãy bán nông cụ và ngô hạt. Tại góc chợ tựa lưng vào một bờ thành xếp bằng đá hộc không dùng vôi vữa, cô nhận ra Sùng Mí Pó. Người đàn ông Mông tầm ngoài ba mươi tuổi, vóc người đậm, bờ vai rộng và chắc nịch như một gốc sa mộc cổ thụ, đang ngồi xổm bên hai bao tải ngô hạt vàng óng ánh. Đôi mắt anh sắc sảo, đượm nét trầm tĩnh nhưng vô cùng cảnh giác, lặng lẽ quan sát dòng người ngược xuôi qua lại trước mặt.
Trước khi An kịp cất lời chào theo lời giới thiệu của những người quen trong mạng lưới nông nghiệp bản địa, một gã đàn ông mặc áo khoác gió có thêu logo của một đơn vị truyền thông địa phương bỗng sầm sập xông tới. Gã đeo thẻ cộng tác viên lủng lẳng trước ngực, tay lăm lăm chiếc máy quay gắn trên gimbal chống rung, vừa sấn tới vừa huơ tay gạt mạnh những đứa trẻ người Mông chân trần nhem nhuốc đang đứng nép bên cột gỗ của lán chợ.
“Tránh ra, tránh cả ra cho máy lấy góc rộng nào! Này anh Pó, bên anh Vinh ở Hà Nội vừa gọi điện giục rát cả tai đấy. Kịch bản có sẵn rồi: anh ngồi thụp hẳn xuống góc ẩm ướt nhất này này, hai tay ôm chặt lấy cái bao ngô rách này, vẻ mặt rầu rĩ vào, diễn cho ra cái nét nghèo khó, thê lương cùng quẫn của mùa giáp hạt. Phải làm cho thật thảm thì clip phát trên trang của Vị Việt người ta mới xót xa mà bấm like, bấm chia sẻ, mới kêu gọi tài trợ được chứ!”
Gã truyền thông vừa thao thao bất tuyệt vừa vươn bàn tay đeo găng len cụt ngón định kéo lệch tà áo chàm sờn gấu của Pó cho rách toạc thêm ra, miệng lẩm bẩm tính toán góc máy hứng ánh sáng ngược từ màn sương đục để làm nổi bật sự cùng quẫn giả tạo.
Cùng lúc đó, trong túi áo khoác của An, chiếc điện thoại bỗng rung lên từng hồi bần bật. An rút máy ra, màn hình hiện lên dòng tin nhắn ngắn gọn nhưng đầy tính áp đặt của Đỗ Thành Vinh: *“Đội quay ngoài đó đã tiếp cận bản địa. An phối hợp ngay để ghi hình cảnh đói ăn, thiếu thốn. Độc giả cần nước mắt và sự bi kịch của vùng cao, đừng làm màu mè lý thuyết bảo tồn làm gì cho mất thì giờ.”*
Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng An, buốt nhói hơn cả luồng gió bấc vừa tạt qua mái lán. Cô ngẩng đầu nhìn sang Pó. Bàn tay gân guốc, thô ráp như rễ cây của người đàn ông Mông siết chặt lấy chiếc gậy gỗ nghiến dùng để gạt ngô, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì lực ép. Pó đứng phắt dậy. Chiều cao vượt trội và dáng vóc lừng lững của anh lập tức lấn lướt gã quay phim, khuôn mặt anh đanh lại, lạnh lùng và cứng cỏi như một phiến đá tai mèo vừa bị nện thẳng một nhát búa sắt:
“Cút đi!” — Giọng Pó gằn xuống, sắc nhọn và dứt khoát như một nhát dao chém ngập vào thân cây rừng. — “Người Mông tao ở trên đá, thiếu ăn thì bẻ măng, đào củ trên rừng mà sống, chứ không chìa cái mặt khổ ra cho chúng mày mang về dưới xuôi bán lấy tiền! Đi ngay trước khi tao hất cả gùi ngô này vào cái máy của mày!”
Gã quay phim lùi lại một bước lảo đảo, mặt mũi tái mét trước ngọn lửa giận dữ rực lên trong mắt Pó. Gã lúng búng vài câu chửi thề vô nghĩa trong họng rồi vội vã ôm lấy dàn thiết bị lủi nhanh vào dòng người đông đúc đang đổ dồn ánh nhìn hiếu kỳ về phía góc lán.
Không gian bên bờ tường đá chùng xuống ngột ngạt và căng thẳng. Pó quay ngoắt sang nhìn An, ánh mắt đầy vẻ cảnh giác dò xét khi chạm phải cuốn sổ tay kẹp chiếc bút mực bên túi áo cô và chiếc máy ghi âm cầm tay Khang đang đeo lủng lẳng trước ngực. An hít một hơi thật sâu, nén lại sự bức bối đang trào dâng. Cô dứt khoát rút chiếc điện thoại đang nhấp nháy liên tục tin nhắn của Vinh cất sâu vào tận đáy balo, khóa chặt lại, rồi bước thẳng lại gần Pó, nhìn thẳng vào mắt anh mà không hề né tránh:
“Tôi không đi cùng bọn họ, cũng không cần những thước phim bi kịch giả tạo đó. Tôi lặn lội từ dưới xuôi lên đây là để tìm hiểu cặn kẽ cách người trên đá làm ra hạt mèn mén thực sự.”
Pó nhếch mép, nụ cười khô khốc không gợn một chút thiện cảm:
“Người dưới xuôi lên đây ai cũng mở mồm nói thế cả thôi. Muốn học thì đừng đứng nhìn như người ta xem trò diễn xiếc ở hội chợ. Để hết máy móc lại xe, vác gùi theo tao ngược nương bẻ bắp. Làm được việc của người vùng đá thì nói chuyện tiếp, không làm được thì nổ máy quay xe về xuôi mà nấu cái bếp gas của chúng mày.”
***
Con đường dẫn lên nương ngô của gia đình Pó không phải là một lối mòn đất đỏ quen thuộc như ở mạn sườn đồi trung du, mà là một vệt dốc ngoằn ngoèo lởm chởm những phiến đá tai mèo xám xịt nhọn hoắt như răng nanh thú dữ. Gió từ hẻm vực hun hút phía dưới thốc ngược lên từng cơn cuồng nộ, quất rát rạt làm toạc cả mép găng tay len mỏng của An.
An và Khang mỗi người tròng một quai gùi đan bằng tre rừng nặng trịch lên vai, cắm từng mũi giày leo núi bấm chặt vào các mép đá trơn nhẫy rêu mốc. Ở cái xứ sở này, đất đai hiếm hoi đến mức thiêng liêng. Người Mông phải cặm cụi gom nhặt từng vốc mùn đen ít ỏi lắng lại trong các kẽ nứt sâu hoắm của đá vôi, vác từng sọt phân chuồng ủ hoai vượt qua hàng cây số dốc đứng chỉ để đổ đầy vào từng hốc đá nhỏ bằng bàn tay, rồi mới cẩn trọng tra từng hạt ngô xuống đó. Mỗi một bắp ngô trổ cờ trên mảnh đất cằn cỗi này không chỉ hút sương mù và nước trời, mà ngậm trọn cả mồ hôi, nước mắt và những vệt máu rớm ra từ những bàn chân trần chai sần của bao thế hệ.
An khom lưng bẻ từng bắp ngô răng ngựa bản địa. Lớp bẹ ngoài khô ráp, sắc lẹm cứa vào cổ tay cô nóng rát. Ngô răng ngựa bắp ngắn, hạt thưa hơn các giống ngô lai hiện đại nhưng hạt nào hạt nấy chắc nịch, mẩy tròn và có màu vàng sậm đượm sắc nắng hanh của mùa thu sót lại. Sau gần ba tiếng đồng hồ còng lưng giữa triền đá dốc đứng, hai chiếc gùi tre sau lưng An và Khang đã đầy ắp những bắp ngô nặng trĩu. Khi Pó hạ gùi ngô của mình xuống mỏm đá để chuẩn bị buộc dây gùi về nhà, An kéo khóa túi ngực, rút ra một xấp tiền mặt phẳng phiu đưa ra trước mặt anh bằng cả hai tay:
“Tiền ngô của chúng tôi. Chúng tôi mua lại toàn bộ số ngô trong hai gùi này đúng theo giá hạt khô bán ở chợ phiên sáng nay, không bớt một đồng.”
Pó nhìn xấp tiền giấy nằm gọn gàng trong tay An, rồi nhìn xuống những vệt đá cào rớm máu trên mu bàn tay cô và vạt áo khoác lấm lem bụi đá trắng bệch của Khang. Ánh mắt người đàn ông Mông dịu lại, chùng xuống bớt đi vài phần gay gắt ban đầu. Anh im lặng nhận lấy số tiền, ngón tay cái sần sùi cẩn thận đếm từng tờ một rồi nhét sâu vào túi ngực chiếc áo chàm đã sờn rách:
“Được. Cứ sòng phẳng thế thì tao nhận. Giờ thì gùi ngô về nhà thôi, sương muối với gió độc sắp tràn xuống thung lũng rồi, đứng đây lâu là cóng cứng cả chân tay đấy.”
Căn nhà trình tường đất nện của gia đình Pó nằm nép mình trầm mặc sau một rặng sa mộc cổ thụ vươn thẳng tắp lên nền trời xám. Tường đất nện dày hơn nửa mét, ngả màu vàng sẫm của đất sét trộn rơm rạ qua nhiều mùa mưa nắng, phía trên lợp bằng những lớp ngói âm dương rêu phong bám kín. Bước qua bậu cửa bằng gỗ nghiến cao đến ngang bắp chân, hơi ấm nồng đượm từ gian bếp củi lập tức bao bọc lấy cơ thể đang run rẩy vì giá rét của An.
Trong góc nhà mờ mờ ánh sáng le lói hắt vào từ khung cửa sổ nhỏ xíu bằng bàn tay, mẹ và vợ của Pó đang ngồi xổm bên một chiếc cối đá nguyên khối xám đen. Tiếng cối nghiền ngô rền rĩ, trầm đục vang lên nhịp nhàng, đều đặn giữa gian phòng đất: *ù… rù… ù… rù…*
Vợ Pó thoăn thoắt tra từng vốc ngô hạt khô khén vào miệng cối, trong khi bàn tay mẹ Pó đẩy chiếc cần gỗ dài bằng một lực đều đặn đến kinh ngạc, cơ thể bà lắc lư theo từng vòng quay của thớt đá trên. An quỳ gối xuống mép chiếc nong tre lớn đặt dưới chân cối, chăm chú quan sát từng chuyển động thuần thục ấy. Toàn bộ công đoạn làm mèn mén là một chuỗi lao động đòi hỏi sự nhẫn nại tột cùng, không có bất kỳ chỗ nào cho sự vội vã hay cẩu thả.
“Ngô răng ngựa này cứng lắm, cứng như đá vậy, phải xay qua hai lượt cối đá mới thành bột mịn được,” — Vợ Pó khẽ giải thích bằng thứ tiếng Kinh lơ lớ, đôi mắt đen lánh ngước nhìn An.
Lượt cối thứ nhất chỉ làm vỡ đôi, vỡ ba hạt ngô để tách phần vỏ mày và lớp cám thô ra khỏi phôi hạt. Người ta trút bột vỡ ấy vào một chiếc sàng đan bằng cật nứa già, lắc đều tay để những lớp vảy mày khô nhẹ bay ra ngoài theo luồng gió cửa. Lượt cối thứ hai mới là lúc thớt đá nghiền sâu phần phôi và tinh bột lõi thành một thứ bột mịn tơi xốp, vàng óng ả như những hạt cát phù sa mịn màng bên bờ suối.
An xin phép được ghé vai đẩy thử cần cối. Chiếc cối đá nặng nghìn cân như mút chặt lấy trụ gỗ chôn sâu xuống nền đất nện. Mỗi một vòng quay đòi hỏi một lực đẩy dồn từ cơ đùi, qua sống lưng rồi mới truyền ra cánh tay. Bụi ngô vàng bay lên bảng lảng trong luồng sáng xiên qua vách nứa, bám vào cánh mũi, mang theo một mùi thơm mộc mạc, ngọt nhẹ, ngai ngái mùi đất cằn và nắng gió cao nguyên.
Sau khi bột ngô đã đạt độ mịn hoàn hảo, mẹ Pó bắt đầu công đoạn vẩy nước. Bà không dùng thìa đong hay ca nước như người ta làm bánh dưới xuôi, mà nhúng cả bàn tay gân guốc vào một chậu nước suối mát lạnh, rồi khẽ vung ngón tay vẩy từng giọt nước li ti vào lòng nong bột. Mười đầu ngón tay bà xới đều, vê tròn từng vốc bột thật nhịp nhàng, uyển chuyển. Bột ngô phải ngậm vừa đủ độ ẩm của nước trời: khi nắm chặt lại trong lòng bàn tay thì kết thành một khối vững chắc, nhưng chỉ cần khẽ chạm nhẹ đầu ngón tay vào là khối bột lập tức tơi xốp bung rời ra thành từng hạt mịn, không được quá khô kẻo khi hấp bị sống sượng, cũng không được quá ướt kẻo bết dính lại thành một tảng bánh nhão nhoét.
Ở góc bếp bên kia, Khang ngồi bên bếp lửa sa mộc bập bùng, cặm cụi phụ Pó chẻ những thanh củi thơm nức mùi tinh dầu đưa vào cửa lò. Trên kiềng sắt ba chân, chiếc chảo gang đáy dõng khổng lồ chứa nước suối đã bắt đầu sôi sùng sục, phả hơi nghi ngút. Bột ngô sau khi vẩy nước được rải đều từng lớp xốp vào chiếc chõ bằng gỗ khoét rỗng từ một thân cây tròn đặt ngay ngắn giữa lòng chảo gang.
Khói củi sa mộc xanh biếc cuộn tròn từng lọn quanh gian bếp đất, quyện chặt vào từng thớ bột ngô đang từ từ hấp thụ nhiệt lượng từ ngọn lửa rừng rực bốc lên từ lòng chảo. Ngô được đồ lần thứ nhất trong khoảng nửa giờ đồng hồ cho đến khi mùi thơm ngầy ngậy bắt đầu lan tỏa khắp gian nhà. Pó nhấc chõ gỗ ra, trút toàn bộ mẻ bột nóng hổi ra một chiếc mẹt lớn, dùng chiếc muôi gỗ to bản đảo tơi từng góc bột, rồi lại vẩy thêm một lượt nước suối lạnh thật khéo léo để bột ngấm ẩm sâu hơn vào tận lõi tinh bột.
Sau khi bột nguội bớt và tơi xốp hoàn toàn, mẻ ngô lại được trút ngược vào chõ gỗ để đồ lần thứ hai. Lửa củi sa mộc lúc này đượm than hồng rực, sức nóng lan tỏa đều đặn và bền bỉ khắp đáy chảo gang sâu lòng, biến những hạt bột ngô khô cằn của xứ đá tai mèo thành một khối mèn mén dẻo thơm ngào ngạt, vàng rực rỡ như ánh hoàng hôn buông xuống trên đỉnh đèo Mã Pí Lèng.
***
Bữa cơm chiều muộn được dọn ra trên chiếc bàn gỗ mộc kê sát ngay bếp sưởi rực than. Mâm cơm đạm bạc đến thắt lòng: một âu mèn mén nóng hổi bốc khói nghi ngút, một bát canh cải mèo đắng nghét nấu suông với nước suối chỉ rắc vài hạt muối trắng thô ráp, và một chiếc đĩa sành sứt mẻ đựng mấy quả ớt chỉ thiên nướng cháy xém giã nát dầm muối hột.
Pó múc một thìa mèn mén đầy có ngọn đưa vào miệng, nhai thật chậm rãi để cảm nhận vị ngọt bùi béo ngậy tan dần ra trên mặt lưỡi, rồi húp một ngụm canh cải nóng bỏng để bột ngô trôi êm xuôi qua cổ họng. Trong ánh lửa bập bùng soi rọi những nếp nhăn sớm hằn sâu trên vầng trán người đàn ông vùng cao, giọng anh trầm xuống, khô ráp như tiếng đá hộc lăn trên sườn dốc:
“Bên mấy cái nhóm dự án bảo tồn của cô dưới xuôi lên đây hay khen giống ngô răng ngựa của tao là giống cổ thuần khiết, là di sản quý báu của tổ tiên cần phải giữ gìn bằng mọi giá. Tao là người Mông, tao cũng muốn giữ chứ, ngô của ông bà để lại ăn thơm dẻo, ăn chắc cái bụng, đi rừng leo đá cả ngày không biết mỏi cái chân.”
Pó ngừng lại một nhịp, với tay lấy một que củi khơi đống than hồng đang nổ tí tách, ánh mắt anh nhìn ra khoảng sân tối đen kịt phía ngoài bậu cửa:
“Nhưng cái giống ngô răng ngựa này chín muộn lắm. Một vụ trên nương đá năng suất chỉ bằng một nửa, thậm chí một phần ba giống ngô lai dưới xuôi mang lên. Năm nào ông trời làm hạn nặng hoặc sương muối tràn về sớm là cả nương ngô cháy rụi, bắp bẻ ra hạt lép kẹp chỉ toàn mày với lõi. Lũ trẻ con trong nhà này không thể nhai cái danh hiệu 'giống thuần chủng' mà sống sót qua mùa đông buốt giá được.”
Pó ngước nhìn An, ánh mắt đầy sự giằng xé nhức nhối giữa lòng tự hào cội nguồn và gánh nặng sinh nhai cơm áo gạo tiền:
“Mấy năm nay rồi, tao vẫn phải giấu, lén trồng một vạt ngô lai năng suất cao ở cái thung lũng lòng chảo khuất gió phía sau núi kia. Ngô lai nấu lên ăn nhạt thếch, hạt cứng quắt như sỏi vụn, bột xay ra không có mùi thơm, làm mèn mén phải trộn thật nhiều nước mới nuốt trôi qua họng. Nhưng nó cho nhiều bắp, chịu được sâu bệnh, sống khỏe trên đất nghèo. Đến mùa giáp hạt tháng ba giáp tết, không có cái vạt ngô lai ấy thì đàn con tao đứt bữa, cả nhà lại phải dắt díu nhau lên rừng đào củ mài, hái rau dớn mà cầm hơi qua ngày. Tao nói thật lòng đấy, cô viết bài hay làm nghiên cứu gì thì viết, đừng có biến chuyện giữ giống của tao thành một bức tranh đẹp đẽ, thơ mộng để người dưới xuôi ngồi phòng ấm vỗ tay khen ngợi.”
An ngồi lặng đi giữa gian nhà đất, chiếc thìa gỗ xúc mèn mén trên tay cô bỗng chốc trở nên nặng trĩu. Sự thật trần trụi về cuộc sinh tồn nơi cao nguyên đá chưa bao giờ bằng phẳng hay lãng mạn như những bản đề cương nghiên cứu, những dự án văn hóa lấp lánh hay những khẩu hiệu bảo tồn mà cô từng soạn thảo trong các văn phòng máy lạnh ở thủ đô. Ở mảnh đất khắc nghiệt này, cái đói là một sức ép vật lý tàn nhẫn, lạnh lùng, và người nông dân vùng cao buộc phải chấp nhận đánh đổi sự thuần khiết nguyên bản của di sản để đổi lấy sự sống còn cho chính gia đình mình.
Từ góc chiếc giường gỗ tối om phía sau vách ngăn, người cha già của Pó — một cụ ông ngoài tám mươi tuổi với dáng người còng rạp và đôi mắt đã đục mờ vì bao năm hít khói bếp sa mộc — chống chiếc gậy tre lẹp bẹp bước lại gần bàn ăn. Ánh mắt đùng đục của ông lão bỗng dừng lại trân trân trên chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ mà An đang đặt cạnh cuốn sổ tay trên góc bàn. Nhìn thấy An nhẹ nhàng rút từ trong hộp ra tấm thẻ bìa số 2 mang dòng tiêu đề viết tay *“Mèn mén vùng cao”*, ngón tay khẳng khiu, run rẩy và chai sần nứt nẻ như vỏ cây rừng của ông lão khẽ chạm vào mép bìa ố vàng.
Ông cụ miết nhẹ ngón tay lên nét mực tím gãy góc và con dấu mộc tròn mờ nhạt mang số hiệu của một đơn vị hậu cần quân đội in chìm trên mép hộp gỗ mun. Đôi môi móm mém của ông mấp máy, rồi ông cất giọng khàn đục như tiếng gió rít qua khe nứa mục:
“Nét chữ này… nét chữ này giống hệt nét chữ của cô bộ đội cấp dưỡng ba mươi năm trước từng về bản tao.”
An giật thót người, tim cô đập thình thịch trong lồng ngực:
“Cụ… cụ biết người đã viết những dòng này sao ạ?”
Ông cụ gật đầu thật chậm rãi, ánh mắt mờ đục nhìn sâu vào ngọn lửa sa mộc đang nhảy múa trên kiềng sắt, như thể ký ức đang kéo ông lội ngược dòng thời gian về ba thập kỷ trước:
“Năm ấy rét dữ dội lắm, mùa đông năm tám chín hay chín mươi gì đó, tao nhớ không nhầm đâu. Sương muối buông xuống phủ trắng xóa từ Cổng Trời Quản Bạ kéo dài về tận Đồng Văn, Mèo Vạc. Ngô trên nương đá bị đóng băng thối đen cả bắp, không thu hoạch được hạt nào. Cả cái bản này đứt bữa triền miên, người già, con nít nằm co ro trên sàn đất chờ chết đói. Rồi giữa đợt rét cắt thịt ấy, có một đoàn xe tải của quân đội chở ngô hạt và muối trắng vượt dốc hiểm Cổng Trời lên cứu trợ đồng bào.”
Ông cụ hít một hơi sâu, bàn tay run run lần xuống bao thuốc lào bên hông:
“Trong đoàn xe năm ấy có một cô cấp dưỡng người đồng bằng dưới xuôi, tóc cắt ngắn ngang vai, tác phong nhanh nhẹn và nghiêm khắc hệt như lính chiến đấu. Cô ấy không phát ngô hạt ồ ạt cho bà con ăn bừa bãi đâu. Cô ấy bảo ngô sống ăn vào là tắc ruột chết. Cô ấy mượn chiếc cối đá của nhà này, nhóm lửa sa mộc lên giữa sân, kiên nhẫn dạy cho cả bản cách xay ngô qua hai lượt cối, cách vẩy nước sao cho ngấm, rồi đồ mèn mén hai lần để giữ cho tinh bột chín kỹ từ trong lõi. Cô ấy bảo chỉ có ăn chín kỹ như thế thì người đang đói lả ăn vào mới không bị đau bụng, không bị quặn ruột mà chết.”
Một làn khói thuốc lào mỏng manh phả ra từ khóe miệng ông lão, hòa vào làn sương đêm đang lách qua khe vách:
“Trước ngày đoàn xe quân đội rút về xuôi, cô ấy ngồi ngay bên bếp lửa này, cặm cụi chép lại tỉ mỉ cách vẩy từng giọt nước suối, cách canh ngọn lửa đồ mèn mén vào một tấm bìa cứng như thế này. Cô ấy nắm tay tao dặn: 'Món ăn này chính là cái gốc giữ mạng sống cho người vùng đá, sau này dù cuộc đời có đói khổ hay biến đổi đến đâu, cũng tuyệt đối không được quên cách nhóm lửa đồ ngô'.”
An nhìn trân trân vào từng nét chữ ngay ngắn, mực tím đã ngả sang sắc nâu mờ của bà Mùi trên tấm thẻ số 2. Hóa ra, chiếc hộp gỗ mun và những tấm thẻ công thức này chưa bao giờ là một bộ sưu tập ẩm thực nhàn tản của một người sành ăn nơi phố hội, mà chính là bản nhật ký bằng hương vị của một người phụ nữ đã từng đi qua những năm tháng đói khát khốc liệt nhất của đất nước, đã dùng chính kiến thức và kỹ thuật kỷ luật của nghề nuôi quân để níu giữ sự sống cho những phận người cùng khổ nơi đỉnh trời.
An cầm chiếc bút mực, đặt tấm thẻ lên mặt bàn gỗ phẳng phiu. Cô nắn nót ghi thêm vào mặt sau của tấm thẻ số 2 cả hai dị bản tồn tại song song: kỹ thuật đồ ngô răng ngựa truyền thống hai lượt cối để gìn giữ trọn vẹn hương vị cội nguồn của tổ tiên, và tỷ lệ pha trộn bột ngô lai thích ứng thực tế để giúp người nông dân chống chọi lại mùa giáp hạt khốc liệt. Cô không xóa bỏ hay gạch đi bất kỳ phiên bản nào, bởi cô hiểu sâu sắc rằng, cả hai đều là một phần máu thịt của đời sống thực tế nơi cao nguyên này.
Khi thấy Khang tò mò giơ chiếc máy ảnh kỹ thuật số định hướng ống kính về phía buồng xay ngô thiêng đặt chiếc cối đá cổ nằm trong góc tối của ngôi nhà, Pó khẽ lắc đầu, vươn bàn tay thô ráp chặn ngang trước mặt kính:
“Đừng chụp. Cái buồng xay ấy là nơi cúng tổ tiên cối đá của người Mông nhà tao đấy. Thần cối ngự ở đó, không thích ánh đèn chớp lóe lên của người lạ đâu.”
An lập tức quay sang ra hiệu cho Khang hạ máy xuống, cất gọn thiết bị vào bao da khóa kín lại. Cô đứng dậy, khẽ cúi đầu nghiêng mình nói lời cảm ơn chân thành đến gia đình Pó, và cam kết bằng danh dự sẽ tuyệt đối tôn trọng sự thiêng liêng kín đáo ấy trong toàn bộ những trang ghi chép và hình ảnh của chuyến đi này.
Đêm khuya buông xuống mịt mùng trên miền biên viễn. Sương muối bắt đầu buông dày đặc ngoài hiên nhà, từng giọt nước đọng lại nhanh chóng đóng thành những vệt băng mỏng lấp lánh như thủy tinh trên những bờ rào xếp bằng đá tai mèo.
Pó đứng lặng lẽ bên bờ rào đá dốc đứng nhìn xuống khoảng thung lũng sâu thẳm đen ngòm phía dưới chân núi, rít một hơi thuốc sâu rồi buông một lời dặn khô khốc vào màn đêm giá lạnh:
“Đừng thương hại người vùng đá, cái đó không làm no bụng được đâu.”