Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.1 / 32
Chương 1

Hạt Muối Bến Sông

Mùi tro bếp nguội hòa cùng hơi ẩm nồng nặc bốc lên từ lòng sông Hồng trong buổi sáng đầu tiên An một mình đối diện với gian bếp trống sau ngày chung thất của bà Mùi.

Gió tháng Ba luồn qua các kẽ liếp nứa đã mục ải, mang theo mùi phù sa ngai ngái trộn lẫn xú khí nằng nặng của đám lục bình thối rữa tấp đọng vào bờ đá. Căn bếp dựng chênh vênh mép bến sông này đã gắn trọn cả đời người phụ nữ từng nuôi quân thời chiến, rồi trải mấy mươi năm nuôi phu thuyền bến bãi thời bình. Giờ đây, chỉ còn lại sự tĩnh lặng đặc quánh quấn lấy những vệt bồ hóng bám đen kịt xà ngang, từng mảng muội than rủ xuống lòng thòng như mạng nhện sau chuỗi ngày tàn hương khói.

An xắn cao tay áo len cũ, bắt đầu thu dọn giá treo xoong chảo han rỉ bên bờ sông. Lớp sắt tây hoen ố lâu năm rụng lả tả như vảy cá khô dưới từng cử động cọ xát của ngón tay cô. Đống nồi niêu méo mó nằm chỏng chơ bên góc bệ lò đắp bằng đất thó—những thứ vật dụng đã cùng bà Mùi kinh qua biết bao mùa nước lũ, chứng kiến hàng nghìn lượt người ghé qua chìa chiếc bát sứt xin một muôi cháo đặc hay một vắt cơm nóng lót dạ.

Khi kéo dạt mớ chảo gang sứt quai nằm sâu trong góc tối sát mép vách đất nứt nẻ, mũi bàn chân cô chạm phải một vật cứng nằm lẩn khuất sau tấm gạch vồ kê chân cột cái. An cúi người, gạt đi lớp tro trấu phủ dày và đám mạng nhện chằng chịt bám quanh. Đó là một chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ hình chữ nhật, các góc bọc đồng đã xỉn màu xanh gỉ đồng. Lớp ốc xà cừ bong tróc nhiều mảng viền, để trơ ra những đường rãnh xoi thô mộc, còn nước then đen bóng thì đã mờ đục theo thời gian và khói bếp.

Ngay trên mép nắp hộp, ẩn dưới vệt dầu mỡ cáu bẩn bám chặt như keo, một góc con dấu mực đỏ đã bạc thếch lộ ra dòng chữ của một đơn vị cấp dưỡng hậu cần thuộc Quân khu Hữu Ngạn thời chiến tranh phá hoại miền Bắc—thứ chứng tích âm thầm mà suốt những năm tháng sinh thời, người bà trầm lặng của cô chưa từng một lần nhắc đến trước mặt con cháu.

Khớp bản lề gỉ sét rít lên một tiếng khô khốc khi An cạy mở nắp.

Bên trong hộp tuyệt nhiên không có vòng vàng, tiền đồng hay giấy tờ đo đạc đất đai. Nằm ngay ngắn trên lớp lót bằng mảnh vải dù bộ đội màu cỏ úa đã sờn rách mép là một tập ba mươi hai thẻ bìa carton cứng, cắt vuông vức bằng bàn tay, ố vàng loang lổ những vệt nước chè và mỡ rán đóng vảy. Đó là ba mươi hai thẻ công thức nấu ăn được bà Mùi chép dở dang qua hàng chục năm ròng rã.

Mỗi tấm thẻ là một nét chữ viết bằng bút chấm mực Cửu Long nắn nót, góc nét vuông vức thẳng thớm như tác phong nhà binh. Từng dòng chữ ghi chép tỉ mỉ định lượng của từng bốc muối hột, từng nắm lá rừng tìm được nơi hẻm núi, phương pháp ủ men dã chiến trong điều kiện thiếu thốn, hay kỹ thuật đun nấu giữ lửa không khói giữa rừng sâu và mép bờ bãi gió lộng.

An cẩn trọng lật giở từng tấm bìa giòn rụm vì tuổi tác.

Thẻ số 1: *Cơm nắm bến bãi*. Từng dòng ghi chép tỉ mỉ về cách chọn gạo vụ chiêm, lượng nước gia giảm theo con gió sông mùa lạnh, và phương pháp ép cơm bằng vải màn thô.

Thẻ số 10: *Nem chua ủ thính ngô vắt*. Những chỉ dẫn cặn kẽ về cách bọc lá chuối rừng héo, kỹ thuật ém khí bằng sợi lạt giang ngâm mềm để thịt lên men tự nhiên mà không bị lại nhớt.

Cứ thế, cô lật qua từng chặng đời nhọc nhằn của người bà qua từng món ăn dân dã, mộc mạc nhưng thấm đượm tri thức sinh tồn.

Cho đến tấm thẻ cuối cùng—thẻ số 32.

Ngón tay An khựng lại giữa không trung. Khác hoàn toàn với ba mươi mốt tấm thẻ trước đầy ắp tỷ lệ gia vị, thời gian om lửa và các mẹo vặt gia truyền, mặt trước của tấm thẻ số 32 hoàn toàn trống rỗng phần tên món ăn. Không có định lượng, không có quy trình chế biến, không một hướng dẫn kỹ thuật nào. Nằm trơ trọi giữa khoảng bìa carton ố vàng nham nhở chỉ vỏn vẹn một dòng chữ viết bằng mực tím đã phai màu, nét chữ run rẩy nhưng dằn xuống mặt giấy vô cùng dứt khoát:

*“Nấu cho người con đã bỏ đi.”*

Tiếng lẹp kẹp của đôi guốc nhựa nện gấp gáp trên những bậc đá trơn tuột dẫn từ mặt đê xuống bến sông thô bạo cắt đứt dòng suy nghĩ của An. Cửa liếp nứa bị đẩy mạnh ra hai bên, đập chan chát vào vách đất khô khốc.

Bà Nguyễn Thu Hà mang theo một tập hồ sơ dày cộm ập vào gian bếp. Khuôn mặt bà xám xịt vì bụi đường, đôi mắt trũng sâu với quầng thâm quịt biểu lộ những đêm dài thức trắng tính toán nợ nần. Không một lời mở đầu, bà dằn mạnh xấp giấy tờ xuống mặt bàn gỗ đã mốc thếch, khiến lớp bụi tro mỏng trên mặt bàn bay túa ra trong không khí ẩm mốc.

“Mày ngồi chết dí ở đây ngắm tro bếp thì ra được tiền trả nợ chắc?” Giọng bà Hà the thé, vỡ ra từng chặng vì cơn tức giận tích tụ bấy lâu. “Mở to mắt ra mà nhìn cho rõ đi! Giấy báo quá hạn lãi ngân hàng tháng này, nợ mua thuốc men mấy tháng cuối đời của bà mày trên bệnh viện, tiền viện phí cấp cứu, rồi tiền ma chay, mồ mả, cúng thất... Tao gánh hết nổi rồi An ạ. Ký vào đây cho tao dứt nợ!”

Tờ giấy ủy quyền bán đứt toàn bộ mảnh đất ven bến sông Hồng đã được đánh máy sẵn, những dòng chữ đen đặc nằm trơ trẽn đè lên tập thẻ công thức cũ kỹ của người vừa nằm xuống.

“Mẹ, đây là căn bếp cả đời bà ngoại gầy dựng,” An ghìm giọng xuống thật thấp để giữ cho hai bờ vai không run lên, ngón tay cô vô thức luồn xuống gầm bàn, siết chặt lấy mép hộp gỗ mun khảm xà cừ. “Bến sông này là nơi bà đã nấu từng nồi cơm, san sẻ từng bát cháo cho dân lao động nghèo suốt nửa thế kỷ qua. Bán đi rồi, ký ức của bà biết để vào đâu hả mẹ?”

“Ký ức có xào lên ăn thay cơm được không?” Bà Hà dằn từng tiếng cay đắng, ngón trỏ gõ mạnh đến mức móng tay bật lên chan chát vào con số dư nợ mực đỏ chót in trên góc giấy. “Bà mày sống cả một đời hào sảng bao đồng, nuôi cả thiên hạ, nuôi phu thuyền bến bãi, để rồi lúc xuôi tay nhắm mắt để lại cho tao cái gì ngoài một đống nợ nần ngập đầu ngập cổ với căn chòi rách nát này? Tao đã chịu khổ đủ cả nửa đời người vì cái tính gàn dở của bà mày rồi. Tao không thể để cả cái nhà này chết chìm theo sự vô nghĩa ấy nữa. Ký giấy ủy quyền để tao dứt điểm thủ tục chuyển nhượng cho người ta trước tháng sau. Đừng có mộng mơ bấp bênh như mẹ con bà cháu mày nữa, thu xếp đồ đạc rồi về phố mà kiếm việc tử tế kiếm cơm!”

Nhìn những con số nợ nần đen đặc trên từng trang giấy và nét tuyệt vọng hằn sâu nơi khóe môi khô khốc của mẹ, An hiểu thời gian của mình thực sự không còn nhiều. Cô biết rõ những chủ nợ ngoài kia sẽ không để yên cho mẹ con cô sống sót nếu số tiền không được hoàn trả. Nhưng cô cũng không thể khoanh tay đứng nhìn căn bếp của bà bị san phẳng thành một bãi tập kết vật liệu xây dựng xám xịt. Cô cần tiền, và cô cần một khoảng thời gian đủ dài để chứng minh rằng di sản mà bà ngoại để lại có một giá trị vượt xa từng thước đất chia lô ven đê.

“Cho con ba tháng,” An nói, ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt mẹ bằng một sự kiên định chưa từng có. “Trong vòng ba tháng, con sẽ tìm ra cách thanh toán toàn bộ các khoản nợ này. Nếu sau ba tháng con không trả được, mẹ muốn ký bán hay chia lô mảnh đất này cho ai, con tuyệt đối không can thiệp một lời.”

Bà Hà khựng lại trong giây lát, ánh mắt dao động trước cái nhìn bất khuất của con gái. Rồi bà bật ra một tiếng cười khẩy khô khốc, giật mạnh lại xấp hồ sơ nợ trên bàn, nhét vào túi xách da sờn rách:

“Mày đừng có hối hận. Đúng ba tháng. Không hơn một ngày nào đâu.”

Bóng dáng gầy gò của mẹ vừa khuất sau dốc đê, An ngồi sụp xuống ghế đẩu, ôm chặt lấy chiếc hộp gỗ vào lòng, cảm nhận rõ rệt độ lạnh lẽo của kim loại và thớ gỗ đã ngấm trọn cả một đời người.

***

Hai tiếng sau, tại một quán cà phê bến cảng mù mịt khói thuốc lào và bụi than đá, An ngồi đối diện với Đỗ Thành Vinh.

Giám đốc nội dung của Công ty truyền thông Vị Việt xuất hiện trong bộ áo sơ mi đũi màu chàm là phẳng phiu, trên cổ tay đeo chiếc đồng hồ cơ đắt tiền toát lên vẻ lịch lãm hoàn toàn lạc lõng giữa những gã tài xế xe tải đang ồn ào văng tục ngoài bãi than. Vinh đẩy nhẹ về phía An một tập hồ sơ hợp đồng bọc bìa da đen bóng loáng cùng một chiếc phong bì giấy xi măng dày cộm, miệng mỉm cười điềm đạm.

“Khoản tạm ứng tài trợ ban đầu này là năm mươi triệu đồng. Anh nghĩ chừng đó đủ để em đại tu toàn bộ chiếc xe tải cũ của bà Mùi thành một xe bếp lưu động chuẩn chỉnh theo tiêu chuẩn vận hành đường dài,” Vinh đan hai tay vào nhau, giọng nói trơn tru, ấm áp và đầy sức thuyết phục. “Đổi lại, Vị Việt chỉ cần độc quyền nội dung số trên mọi nền tảng về hành trình em đi tìm kiếm và hoàn thiện ba mươi hai thẻ công thức của bà Mùi. Chúng ta cùng chung một lý tưởng mà, An: tôn vinh những giá trị ẩm thực truyền thống đang mai một, biến câu chuyện đời thường của bà em thành một nguồn cảm hứng mang tầm vóc quốc gia.”

An lật nhanh từng trang giấy dày cộp in chữ vi tính sắc nét. Mắt cô khựng lại ở một dòng phụ lục in bằng cỡ chữ nhỏ li ti ở cuối trang ba, quy định về quyền can thiệp định hướng nội dung của nhà tài trợ và yêu cầu kỹ thuật bắt buộc phải cài đặt thiết bị đồng bộ dữ liệu hình ảnh, định vị tự động từ xe Bếp Nhỏ truyền thẳng về máy chủ trung tâm của công ty.

“Thiết bị đồng bộ này có tác dụng gì cụ thể?” An ngước lên, nhìn thẳng vào cặp mắt giấu sau đôi kính gọng titan của người đàn ông.

“À, cái đó chỉ là giải pháp kỹ thuật đơn thuần thôi em,” Vinh cười xòa, nhấp một ngụm cà phê phin, ánh mắt ánh lên nét toan tính sắc bén của một kẻ luôn nắm đằng chuôi trong mọi cuộc chơi thương mại. “Đội ngũ biên tập và kỹ thuật hậu kỳ của anh ở Hà Nội cần theo sát tiến độ di chuyển của em trên bản đồ, đồng thời sao lưu tư liệu thực địa theo thời gian thực để phòng trường hợp thiết bị cá nhân của em gặp sự cố rơi vỡ hay mất mát giữa đường rừng đèo dốc. Làm truyền thông kỹ thuật số trong thời buổi này thì tốc độ cập nhật thông tin là yếu tố sống còn, em hiểu mà. Em cần tiền giải quyết nợ nần cho gia đình để giữ lại mảnh đất của bà, còn anh cần một câu chuyện người thật việc thật có sức chạm. Hai bên chúng ta hoàn toàn sòng phẳng.”

Gương mặt hốc hác, quẫn bách của mẹ và hình ảnh căn bếp ven sông đứng trước bờ vực bị san bằng hiện lên rõ mồn một trong tâm trí An. Bàn tay cô siết chặt mép bàn gỗ đến trắng bệch các đầu ngón tay. Cắn chặt môi dưới đau điếng, An cầm lấy cây bút kim loại nặng trịch, ký tên mình vào bản thỏa thuận hợp tác truyền thông, nhận lấy phong bì tiền mặt dày cộp cùng chùm chìa khóa điện tử mới tinh, quyết định giấu nhẹm sự thỏa hiệp này khỏi Khang và mẹ.

***

Buổi chiều muộn buông xuống góc xưởng cơ khí ven đê trong tiếng rít chói tai của máy cưa sắt và mùi khét lẹt nồng nặc bốc lên từ các que hàn xì.

Lê Minh Khang đưa cánh tay trần quệt vệt mồ hôi lem nhem dầu mỡ trên trán, bàn tay thô ráp dùng cờ-lê siết chặt con ốc mười bốn cuối cùng để định vị vững chắc chân bệ bếp nấu. Chiếc xe tải thùng cổ lỗ sĩ mang biển số cũ mèm của bà Mùi—vốn đã nằm phủ bạt dưới gốc nhãn ngoài vườn suốt ba năm trời—giờ đây đã hoàn toàn biến đổi hình hài dưới bàn tay thợ cơ khí lành nghề của anh.

Thùng xe bằng tôn dày hoen gỉ được Khang tỉ mỉ trổ thành một quầy phục vụ mở cánh lật lên phía trên; bên trong không gian hẹp được bố trí khoa học một hệ thống bếp gas đôi bằng inox chịu lực dập gân chống trượt, bồn chứa nước sạch dung tích bốn mươi lít có van xả áp cùng một chiếc tủ lạnh mini vận hành bằng nguồn điện chuyển đổi từ hai tấm pin năng lượng mặt trời bắt vít kiên cố trên nóc ca-bin.

“Hệ thống điện mặt trời này anh đã đấu nối qua hai bình ắc quy viễn thông, đủ tải cho tủ lạnh chạy liên tục hai ngày kể cả trời sương mù không có giọt nắng nào,” Khang vừa nói vừa chui tụt người xuống gầm xe, lách qua mớ dây cáp để kiểm tra lại độ đàn hồi của dàn nhíp lá đã bị gỉ sét ăn mòn từng mảng.

Bất chợt, bàn tay cầm đèn pin của anh khựng lại. Ánh sáng vàng rọi thẳng vào một hộp nhựa màu đen nhỏ chỉ bằng bao thuốc lá, có chiếc đèn đi-ốt tí hon đang nhấp nháy ánh xanh lét nhịp nhàng. Nó được gắn ngầm một cách hết sức kín kẽ vào sát dầm chữ U phía sau thùng chứa nhiên liệu bằng một đế nam châm cường lực cực mạnh. Một thiết bị truyền dẫn tín hiệu định vị và đồng bộ dữ liệu lạ hoắc, hoàn toàn không nằm trong sơ đồ hệ thống điện nguyên bản mà anh đã phục dựng.

Khang khẽ nheo mắt, đường cơ trên quai hàm giật nhẹ. Anh không thò tay chạm vào chiếc hộp đen ấy ngay mà lặng lẽ tắt đèn pin, dùng sức trườn người bò ra khỏi gầm xe đầy đất cát. Phủi bụi đất bám dày trên ống quần bò bạc phếch, Khang đứng thẳng dậy, đôi mắt thâm trầm nhìn về phía An đang cẩn thận lót khăn vải, xếp chiếc nồi gang đáy dày vào ngăn kéo gỗ thông dưới bệ bếp.

“Xong hết toàn bộ phần cơ khí và điện nước rồi đấy. Động cơ nổ tương đối êm, hệ thống phanh thủy lực đã thay dầu mới, nhưng dàn nhíp sau đã quá mòn và rất cứng, lên đến đường đèo Tây Bắc xe xóc sẽ long hết cả óc ra đấy,” Khang nói với tông giọng trầm đều đều, giấu đi nét nghi hoặc vừa nhen nhóm trong đáy mắt.

“Cảm ơn Khang nhiều lắm. Thật sự nếu không có mày giúp một tay, cái xe cũ này của bà chắc chỉ còn nước cân bán sắt vụn cho người ta dỡ máy,” An cười gượng gạo, vờ cúi đầu lau đi một vệt dầu dính trên nắp nồi gang để lảng tránh ánh mắt săm soi của người bạn thanh mai trúc mã. “Mày trông xe giùm tao nhé, tao đi bộ ra đầu bến một lát. Có chút việc quan trọng tao cần phải hỏi bà Sâm.”

Quán nước chè chén của bà Sâm nằm lọt thỏm dưới bóng mát um tùm của cây si già nơi góc ngã ba đầu bến, nơi những con thuyền xi măng chở cát sỏi và những chuyến ghe chở gạo cẩm từ thượng nguồn sông Đà vẫn thường cập bến lúc bóng chiều buông xuống. Bà Sâm trạc tuổi với bà Mùi, lưng còng rạp xuống như thân tre uốn cong theo năm tháng, đôi bàn tay gân guốc tróc da từng mảng trắng xóa vì ngâm nước sông lạnh qua bao mùa đông rét buốt. Lúc An bước vào quán, bà đang ngồi tựa lưng vào gốc cây, cặm cụi châm một que đóm tre để hút thuốc lào vặt.

Thấy An bước thấp bước cao đi vào hiên quán rách nát, bà lão nheo cặp mắt đã đục mờ vì màng mộng thịt, phả ra một làn khói thuốc xanh biếc lẫn vào ráng chiều:

“Mới làm lễ chung thất cho con Mùi hôm qua mà chiều nay đã mò ra bến làm gì hả con bé? Nhìn cái mặt hốc hác, nhợt nhạt thế kia, lại nhịn cơm để cái bụng đói meo từ sáng chứ gì?”

“Bà Sâm... cháu vừa dọn dẹp góc bếp, tìm thấy cái này của bà ngoại để lại,” An ngồi xuống chiếc ghế đẩu mục bên cạnh chõng tre, rút từ trong túi áo ra tấm thẻ bìa số 1 đã ngả màu xỉn, đặt cẩn thận lên mặt chiếc chõng tre bám đầy những vệt nước chè tươi cáu đặc.

Bà Sâm nghiêng đầu, nheo mắt nhìn dòng chữ *Cơm nắm bến bãi* viết bằng mực tím Cửu Long trên góc tấm thẻ bìa, khóe miệng móm mém của bà khẽ giật giật. Bà đặt chiếc điếu bát xuống đất, với tay nhấc chiếc ấm tích sứt vòi bọc kín trong bao tải cũ, rót ra một bát sành nước vối nóng hôi hổi đẩy về phía An:

“Cái thẻ này... con Mùi nó chép ra từ đợt rét nàng Bân năm bảy chín. Dạo ấy chiến tranh biên giới nổ ra, thuyền chở gạo mạn ngược dồn về bến sông này ùn ứ cả cây số. Đói kém, rét buốt, thợ thuyền phu phen ngã lả, kiệt sức nằm la liệt bên mép nước bùn lầy. Tao với bà ngoại mày mỗi ngày phải vần cả tạ gạo đỏ loại rẻ tiền nhất, dựng ba cái bếp lò dã chiến kê bằng gạch vồ ngay mép mép nước sông để nắm cơm cứu đói cho người ta.”

Bà Sâm chống tay lên đầu gối, khó nhọc đứng dậy, lững thững đi về phía góc chạn bát cũ kỹ bằng tre. Bà bưng ra một chiếc âu sành miệng rộng đựng lớp muối vừng rang sẫm màu và một đĩa cơm nguội nấu từ gạo tẻ thô hãy còn bốc lên làn khói mỏng. Bà kéo An ngồi sát lại gần chõng nước:

“Nhìn cho thật kỹ đây con bé. Mấy đứa thanh niên thành phố chúng mày bây giờ, cứ nghe người ta quảng cáo rồi tưởng cơm nắm muối vừng chỉ là thứ quà quê thanh cảnh, nắn tròn tròn vuông vuông rồi chấm mút ăn chơi cho biết mùi hoài niệm. Bậy hết! Cơm nắm của cái bến sông này sinh ra từ sự khốc liệt của miếng cơm manh áo, từ ranh giới giữa cái sống và cái chết. Nắm cơm làm ra để nuôi thợ thuyền phải chia làm hai loại rạch ròi, đứa nào làm bếp mà làm sai một ly là phu phen người ta kiệt sức gục ngã giữa dòng nước xiết ngay.”

Bà Sâm trải một tấm vải màn xô trắng đã giặt sạch bong ra lòng bàn tay gầy guộc đầy những vết chai sần. Đôi bàn tay thoăn thoắt bốc một vốc cơm lớn còn nóng ran đặt vào giữa tấm vải, hai bàn tay áp chặt lấy nhau, dùng toàn bộ trọng lượng nửa thân trên dằn mạnh xuống mặt thớt:

“Loại thứ nhất: Vắt cơm nén chặt như đá tảng, dành riêng cho cánh phu vác gạo và bốc than đường dài. Đám thanh niên ấy phải gánh một bao tạ leo ngược dốc đê trơn như bôi mỡ trong mưa phùn, dạ dày thắt quặn lại từng cơn, mồ hôi vắt ra như tắm trôi hết cả sức lực. Cơm nắm cho bọn nó phải dùng cả sức nặng của hai bàn tay mà ép, hạt cơm phải nát nhừ, quyện dính chặt vào nhau không còn một kẽ hở không khí nào lọt qua được. Muối vừng rang cho cánh này phải dùng hạt muối hột to giã dập, ít vừng mà nhiều muối mặn chát. Có mặn chát như thế thì cái cơ thể phu phen mới giữ được nước trong người, cơm nén chặt như đá thì dạ dày mới tiêu hóa chậm, giữ cho đôi chân bọn nó đứng vững từ tờ mờ sáng cho đến tận lúc trời sụp tối.”

Vừa nói, bà Sâm vừa ép phẳng vắt cơm tròn lẳn, chắc nịch đến mức khi bà thả tay ra, vắt cơm rơi côm cốp xuống mặt thớt gỗ lim mà không hề suy suyển hay nứt vỡ một hạt nào. Rồi bà lão lại trải một mảnh vải xô khác, bốc một vốc cơm tương tự, nhưng lần này bàn tay bà nới lỏng lực ép, mười đầu ngón tay chỉ khẽ vê tròn nhịp nhàng, nâng đỡ khối cơm lăn qua lăn lại thật khéo léo:

“Còn đây là loại thứ hai: Vắt cơm tơi xốp, rắc nhiều vừng, dành riêng cho cánh phu chèo đò ngang và kéo thuyền ngược dòng. Bọn này ngồi một chỗ cả ngày gò lưng kéo chão ngược con nước dữ, lồng ngực bị ép chặt vì lực dây đay thít vào thịt da, cổ họng khô khát cháy bỏng vì gió bấc quất rát rạt mặt sông. Cơm nắm cho dân kéo thuyền phải thật tơi xốp, hạt cơm giữ nguyên hình thể, vừng rang bùi béo phải chiếm phần nhiều để khi nuốt vào cổ họng trơn tuột không bị nghẹn ứ, người ta ăn nhanh giữa dòng mà không cần phải tốn quá nhiều nước uống.”

Nhìn từng động tác dứt khoát, thuần thục chứa đựng trọn vẹn tri thức sinh tồn truyền đời của người phụ nữ già ven sông, An cảm thấy một luồng chấn động chạy dọc sống lưng. Những lý thuyết đao to búa lớn về “bản sắc ẩm thực”, “văn hóa hoài niệm” hay những thông điệp tiếp thị bóng bẩy mà Đỗ Thành Vinh và đám chuyên viên ở công ty Vị Việt thường rao giảng trong các buổi hội thảo truyền thông bỗng chốc trở nên rỗng tuếch, kệch cỡm và nông cạn đến thảm hại.

An đứng dậy, khẽ nghiêng mình xin phép mượn chiếc bếp dầu hỏa Thống Nhất ba bấc cũ kỹ đặt bên chái quán của bà Sâm. Cô tự tay đong gạo, vo sạch một nồi gạo tẻ loại hạt thô vụ mùa rồi châm lửa bấc. Ngọn lửa hoa râm bập bùng soi rõ những giọt mồ hôi rịn ra trên trán An, tiếng nước sôi lục bục bên dưới nắp vung nhôm méo mó hòa cùng hơi cơm mới ngạt ngào xua tan đi cái lạnh căm căm của con gió sông đang tràn về.

Dưới sự chỉ dẫn khắt khe của bà Sâm, An dùng tấm vải xô nóng rẫy, dồn toàn bộ sức nặng cơ thể và sự run rẩy ban đầu của đôi bàn tay để nén từng vắt cơm muối vừng theo đúng hai định mức lao động. Vắt nén chặt hạt muối to cho sức lực dẻo dai chống chọi cơn kiệt quệ, vắt tơi xốp đượm vừng béo cho hơi thở thông suốt giữa dòng nước cuộn trào. Hơi nóng từ cơm làm bỏng rát lòng bàn tay cô, nhưng An không buông, cô ép từng vắt cơm bằng tất cả sự thành kính dành cho những phận người đã đi qua gian bếp của bà.

Trời nhá nhem tối, sương mù từ mặt sông dâng lên trắng xóa chân đê. Những người phu bến bốc vác cát sỏi cuối cùng trong ngày lục tục bước lên từ mép sông trơn trượt, bùn đất bám đen từ gót chân lên đến tận thắt lưng, vai áo vải thô rách bươm để lộ những vết chai sần tím bầm vì đòn xóc gỗ.

An bưng rổ cơm nắm còn nóng hổi bước ra mép đường, trân trọng chia từng vắt cơm cho những người đàn ông lam lũ. Họ đón lấy vắt cơm bằng đôi bàn tay nứt nẻ cáu bẩn bùn đất, bẻ đôi vắt cơm nén chắc nịch, chấm ngập vào âu muối vừng mặn chát rồi nhai ngấu nghiến trong một sự im lặng tuyệt đối của nỗi mệt mỏi cùng cực. Không có một lời khen hoa mỹ nào được thốt ra, chỉ có tiếng nhai nhồm nhàm thô ráp và những tiếng thở phào nhẹ nhõm khe khẽ khi khoảng trống rỗng trong dạ dày bắt đầu được lấp đầy bằng hơi ấm tinh bột.

Ngồi dưới ánh đèn dầu hỏa leo lét bên hiên quán vắng, An lấy từ trong túi áo ra cây bút bi gai ráp. Dưới ánh sáng vàng vọt run rẩy, cô nén lòng nắn nót ghi chú thêm vào mặt sau của tấm thẻ bìa số 1:

*“Cơm nắm muối vừng bến sông: Không phải món quà vặt hoài niệm bóng bẩy để thưởng lãm. Món ăn này sinh ra từ nhu cầu sinh tồn khốc liệt của những cơn đói nghèo khó. Giá trị của hạt muối không nằm ở độ tinh xảo, mà nằm ở sức nặng nó giữ lại cho cơ thể người lao động trước dòng nước xiết.”*

***

Đêm đen sụp xuống đặc quánh trên bến sông Hồng.

Chiếc xe tải Bếp Nhỏ nổ máy giòn giã, khói xả phụt ra thành từng luồng mỏng tan nhanh vào làn sương muối lạnh buốt. Chiếc xe bắt đầu lăn bánh rời khỏi bờ bãi phù sa ngập tràn kỷ niệm của Hà Nội, chuẩn bị bước vào chặng hành trình hướng ngược lên những vách đá tai mèo hiểm trở của miền cực bắc Hà Giang. Hai luồng đèn pha ố vàng quét vội vã xuyên qua màn sương ẩm ướt đang giăng kín mịt mùng trên mặt đê.

Khang ngồi sau tay lái, hai bàn tay thô ráp ghì chặt lấy vành vô-lăng đang rung bần bật theo từng nhịp chuyển động của khối pít-tông cũ kỹ. Anh dậm chân côn, đạp mạnh ga cho xe từ từ bò qua con dốc đê gập ghềnh lởm chởm đá dăm. Ánh mắt Khang dán chặt vào khoảng không đen ngòm hun hút phía trước kính chắn gió, nhưng hai bên quai hàm anh bạnh ra đầy vẻ căng thẳng, nén chặt một nỗi nghi hoặc đã tích tụ suốt từ chiều.

Giữa tiếng máy nổ gầm rú rung bần bật trên mặt đường đê vắng lặng, Khang không quay đầu lại, buông một câu hỏi cộc lốc xé tan bầu không khí ngột ngạt trong ca-bin:

“Tiền sơn sửa cả cái bếp này, mày lấy ở đâu ra mà nhanh thế?”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn