Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.14 / 32
Chương 14

Bọt Nước Đầm Phá

Sương sớm bốc mờ mịt trên mặt nước lợ mênh mông của hệ đầm phá Tam Giang khi tiếng gõ mạn thuyền xua cá vang lên đều đặn trong tĩnh mịch.

Âm thanh ấy không dội lại đanh giòn như tiếng kim loại va chạm, mà chìm đục, dội từng nhịp khoan thai qua làn hơi nước bảng lảng mờ sương. Cứ ba tiếng gõ nhịp ngắn lại nối tiếp một nhịp đập dài miết vào thân gỗ mạn thuyền, tạo nên một chuỗi âm ba trầm u lan truyền dưới đáy nước sâu, lùa luồng cá kình, cá đối đang ngái ngủ chạy dạt vào những chiếc đó tre ken dày đặc dưới chân đăng chìm. Chiếc xe tải Bếp Nhỏ đỗ nép mình dưới rặng phi lao cằn cỗi bám rễ sâu nơi mép cát pha bùn non. Khang tắt máy, kéo phanh tay đánh cạch một tiếng khô khốc, nhưng đôi tai nhà nghề của anh vẫn vô thức nghiêng về phía mặt đầm, lắng nghe từng rung động âm thanh đang hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân các cọc đáy bằng tre đực cắm chi chít ngoài xa. Gió sớm từ cửa biển Thuận An thốc ngược vào lòng đầm, lạnh buốt và ẩm ướt, mang theo cái rét nàng Bân muộn màng sót lại nơi dải đất miền Trung.

An xách chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ bước xuống xe. Đôi giày vải của cô lún nhẹ xuống lớp bùn cát xốp mềm còn đọng ngấn nước ròng. Hơi gió sáng sớm của vùng đầm phá mang theo vị mằn mặn lợ lợ đặc trưng, mùi tanh nồng của rong rêu mục rữa quyện lẫn mùi phù sa lắng đọng qua bao mùa mưa lũ. Trước mặt họ, con đường đất nhỏ lát gạch vồ rêu phong đã trơn trượt theo năm tháng dẫn thẳng vào một căn nhà rường ba gian hai chái cổ kính nằm biệt lập giữa bốn bề sóng nước. Mái ngói liệt rêu phong phủ kín lớp thực vật xanh xám mốc thếch, những đầu đao uốn cong đã sứt mẻ vì bom đạn và bão gió, mặt tiền hướng trọn ra bãi cọc đáy mênh mông đang mờ ảo trong sương sớm.

Đó là tư gia của hai chị em bà Tôn Nữ Diệu và bà Mười. Hai người phụ nữ cùng chung một dòng máu hoàng phái, cùng chia nhau hơi thở dưới một mái rường cổ của gia tộc từng một thời hiển hách chốn kinh thành, nhưng lại chia nhau hai nửa cuộc đời bằng hai dáng vẻ hoàn toàn đối lập, như thể hai ngả rẽ của một dòng sông khi đổ ra đầm nước lợ.

Bà Diệu, người chị cả năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi, đón khách trong gian chính thoang thoảng mùi trầm hương và trà tim sen ủ kỹ. Căn phòng tối u trầm, thứ ánh sáng ban mai lọt qua những khe cửa bức bàn chỉ đủ soi rõ những hạt bụi lơ lửng trong không gian bảng lảng khói. Bà Diệu vận chiếc áo dài lụa màu lam cũ kỹ nhưng tề chỉnh đến từng nếp gấp nơi cổ áo, gấu áo thẳng thớm không một vết nhăn, mái tóc hoa râm búi chặt sau gáy bằng chiếc trâm đồi mồi bóng nước đã lên nước thời gian. Trên chiếc bàn gỗ gụ khảm ốc xà cừ tinh xảo, bộ ấm chén bằng sứ men lam ngả màu thời gian đã được tráng nước sôi bốc khói nghi ngút. Từng cử chỉ của bà, từ cách nghiêng vòi ấm rót nước đến ngón tay nâng chén trà, đều toát lên vẻ đoan trang, khuôn phép của một cựu tộc hoàng phái sống sót qua bao dâu bể.

Đối lập hoàn toàn với vẻ u trầm, thanh nhã ấy, bà Mười bước vào từ chái bếp phía sau, làm rung chuyển cả bầu không khí trang nghiêm bằng tiếng dép lê quẹt sàn xoèn xoẹt. Người em gái trạc lục tuần mặc bộ bà ba vải thô bạc phếch màu nước phèn, hai ống quần xắn cao quá bắp chân gầy guộc còn lem luốc bùn non và vệt vảy cá khô dính chặt. Bàn tay bà thô ráp, nứt nẻ những đường nẻ chân chim sực nức mùi mắm ruốc và tanh nồng của cá tôm vừa kéo lưới.

Bà Diệu đón lấy chiếc hộp mun từ tay An, khẽ dùng đầu ngón tay gầy guộc chạm vào hoa văn hai chiếc lá đan chéo viền quanh chữ "Hậu" đã mòn nhẵn nơi nắp hộp. Đôi mắt già nua của bà chùng xuống sau cặp kính lão gọng đồi mồi, ánh lên tia nhìn xa xăm của một người luôn ngoái đầu về dĩ vãng vàng son đã vùi sâu dưới lớp bụi tro lịch sử.

"Bánh khoái này, người đời sau cứ quen mồm gọi trại từ chữ bánh khói mà ra, bởi khi đổ bột vào chảo lửa ngùn ngụt khói bốc nghi ngút," bà Diệu cất giọng trầm bổng, từng âm sắc xứ Huế tròn vành rõ chữ, chậm rãi và buông lơi như nhịp gõ mõ cầm canh trong cổ tự. "Nhưng cội rễ của nó là món ngự thiện trong hoàng cung thời các vua nhà Nguyễn. Bà cố tôi ngày trước làm chức Thượng thiện trong nội phủ, từng theo hầu việc bếp núc cho các bà phi trong Tử Cấm Thành. Một chiếc bánh khoái dâng ngự không bao giờ được phép thô kệch, lỗ mãng. Bột gạo phải là gạo chiêm ngâm đủ nước giếng Dạ Lê trong vắt, xay cối đá mịn như dải lụa bạch, pha chút nước nghệ tươi giã lấy màu vàng cung đình chứ tuyệt đối không dùng phẩm màu chợ búa. Nhân bánh phải là thịt nạc thăn lợn cỏ thái mỏng tang như cánh ve, tôm thẻ bóc nõn ức chỉ lấy phần thịt ngọc, giá đỗ ngắt sạch rễ rậm rạp từng cọng một."

Bà Diệu nhấp một ngụm trà sen nguội, đôi mắt lim dim hồi tưởng, rồi đưa ngón tay trỏ chỉ về phía chiếc âu đồng nhỏ đặt trang trọng ở góc tủ chè:

"Cái linh hồn giữ chân người ăn không nằm ở vỏ bánh, mà nằm ở chén nước lèo. Nước lèo hoàng cung là tuyệt phẩm bí truyền, nung nấu công phu từ đậu phộng rang vàng xát sạch vỏ, mè trắng giã nhuyễn cho tươm dầu, gan heo tươi quết mịn như bột hồ, rồi nấu cùng tương đậu nành gia truyền ủ trong chum sành ba mùa nắng hạ. Vị ngọt phải là ngọt bùi sâu thẳm của gan và đậu quyện chặt, vị mặn thanh tao chứ không được gắt gỏng chanh chua, sánh đặc vừa đủ để bám nhẹ một lớp mỏng tang lên mép bánh gập đôi. Đó là chuẩn mực tôn ti, là cốt cách thanh lịch của đất kinh kỳ nghìn năm văn vật. Chứ đâu phải như người ta bày bán xô bồ ngoài chợ tạm, mỡ màng đẫm ướt ngập họng, tanh nồng mùi bùn đất hạ lưu!"

Nói đoạn, bà Diệu đứng dậy, bước từng bước khoan thai đến bên bàn thờ gia tiên nghi ngút khói hương, cẩn thận lấy xuống từ ngăn kéo tủ thờ một cuốn sổ tay bọc giấy xi măng đã ngả màu vàng ố, mép bìa sờn rách tả tơi vì năm tháng. Bà lật giở từng trang giấy mong manh như cánh bướm đêm, dừng lại ở một trang ghi chép lương thực cũ kỹ từ năm 1975, thời điểm các đoàn tiếp quản tiếp nhận các kho hậu cần quân sự và lương thực tại Huế sau ngày giải phóng. An nín thở ghé mắt nhìn vào dòng chữ mực xanh Cửu Long đã phai nhạt theo thời gian: bên dưới danh sách kê khai bột gạo, mỡ lợn và đậu phộng là nét chữ ký sắc sảo, dứt khoát quen thuộc đến thắt lòng: *Trần Thị Mùi – Đội cấp dưỡng lưu động Hữu Ngạn*.

"Bà ngoại cô năm ấy ghé qua ngôi nhà này, xin sao chép lại tỷ lệ quết gan heo nấu nước lèo của bà cố tôi," bà Diệu khẽ thở dài, ngón tay run rẩy miết nhẹ lên vết mực ố vàng đã nửa thế kỷ. "Bà ấy bảo ngoài chiến hào thiếu thốn trăm bề, chỉ có bột sắn khô với ruốc mặn độn rau rừng, ước sao hòa bình được đổ mẻ bánh khoái hoàng gia cho bộ đội nếm thử một lần cốt cách nước non, để biết giang sơn mình đẹp đẽ và thanh nhã dường nào. Thế mà chừ người ta đem ẩm thực cung đình ra bán chác như một thứ hàng hiệu độc quyền để trục lợi. Mấy hôm nay, chiếc tivi dưới xã cứ ra rả đưa tin cái hội nghị xúc tiến ẩm thực độc quyền miền Trung chi đó tổ chức rầm rộ ở khách sạn năm sao trên phố. Nghe đâu cái cậu giám đốc Đỗ Thành Vinh bên công ty Vị Việt gì đó đem tiền tài trợ bạc tỷ, rêu rao đăng ký độc quyền toàn bộ công thức nước lèo hoàng gia và bánh khoái kinh thành. Cung đình của tiền nhân, hồn cốt của tổ tiên để lại cho muôn dân mà họ làm như mớ rau con cá ngoài chợ, muốn mua đứt bán đoạn lúc mô là được rứa!"

Nghe đến đó, bà Mười ngồi bên bậc cửa đang thoăn thoắt đưa thoi vá lại mắt lưới rách bỗng bật cười sằng sặc. Tiếng cười giòn tan nhưng chát chúa vang lên giữa gian nhà rường, làm chao đảo làn khói trầm mong manh, phá tan bầu không khí tĩnh mịch, trang nghiêm đến ngột ngạt mà người chị cả cố công gìn giữ.

"Chị Diệu ơi là chị Diệu, chị cứ ôm mãi cái bóng của hoàng thành mục nát ấy mà sống qua ngày đoạn tháng!" Bà Mười buông chiếc kim đó bằng tre cật xuống nền gạch vồ, đứng bật dậy chống nạnh, ngo ngoe mấy ngón chân dính bùn đen bóng. "Bà cố phục vụ trong cung thì vẻ vang chi chuyện chén nước lèo với cái vỏ bột chiên ngập mỡ? Vua chúa ngồi mát bát vàng, đòi ăn bánh giòn rụm thì đám thợ thuyền, ngư dân cùng đinh dưới cái đầm phá ni phải còng lưng ra mà cung phụng, mà mò mẫm thâu đêm. Chứ bột gạo không có bàn tay dân cày thức khuya dậy sớm xay giã cối đá, tôm cá không có đám dân chài đầm phá này lặn lội thâu đêm chịu rét mướt thì lấy cái chi nhét vào bụng hoàng gia? Lấy cái chi cho các quan Thượng thiện quết với nêm?"

Bà Mười quay ngoắt sang nhìn An, ánh mắt sắc lẹm, ngời lên tia sáng quật cường của một đời dầm sương dãi nắng:

"Đi theo tui! Tui dắt cô xuống chòi vò cá, cho cô coi cái bánh khoái thật sự nó sống bằng cái chi, nó thở bằng hơi thở của ai. Ngồi nghe tụng kinh cung đình một hồi là đói mờ mắt, rỗng ruột đó con!"

An hơi bối rối, kín đáo liếc mắt nhìn Khang. Khang khẽ gật đầu, ánh mắt trầm tĩnh ra hiệu bảo cô cứ đi theo bà Mười để tìm hiểu thực tế, còn anh lặng lẽ kéo chiếc ghế đẩu lại gần góc cột rường gian tả. Anh mở túi đồ nghề thợ máy đặt dưới chân, lấy chiếc cờ lê nhỏ cùng hộp dầu bôi trơn chuyên dụng, nhã nhặn ngỏ ý muốn sửa giúp bà Diệu bản lề cánh cửa bức bàn bằng gỗ lim đang bị xệ kẹt rít, phát ra tiếng kêu kẽo kẹt mỗi khi gió đầm thổi qua. Bà Diệu nhìn chàng trai trẻ phong trần, ánh mắt thoáng nét cảm kích rồi khẽ gật đầu, lặng lẽ lui vào gian trong pha thêm tuần trà mới.

Theo chân bà Mười bước qua vạt muống biển cằn cỗi nở hoa tím tái bên triền cát, An bước lên cây cầu khỉ ghép bằng những thân tre đực chênh vênh dẫn thẳng ra chiếc chòi nò sáo dựng chơ vơ giữa mênh mông sóng nước Tam Giang. Gió đầm phá lúc này đã thổi lồng lộng, tạt vào rát mặt thứ bọt nước lợ nồng nàn mùi khoáng mặn. Dưới chân chòi, những chiếc lừ, chiếc nò đan bằng nan tre ngâm nước đen bóng đang rung rinh bần bật theo từng đợt con nước triều rút ra cửa biển.

Bà Mười thoăn thoắt đi trên thân tre trơn tuột như đi trên đất bằng. Đến giữa sàn ván gỗ chòi canh, bà cúi rạp người xuống, một tay nắm lấy sợi dây thừng bện bằng xơ dừa ngâm mục, thoăn thoắt kéo chiếc giỏ tre ngâm sâu dưới đáy bùn lên khỏi mặt nước. Nước bắn tung tóe áo quần. Bên trong giỏ, hàng trăm con tôm rảo vỏ mỏng tang, sắc xanh trong suốt như ngọc bích đang búng tanh tách, râu dài quẫy lách tách trên mặt nan giỏ tre ướt sũng. Cạnh đó là một mớ cá kình bụng căng tròn như hạt mít, vây lưng dựng đứng lấp lánh ánh bạc dưới ánh mặt trời vừa ló rạng, đôi mắt đen nhánh trong veo như giọt sương mai đọng trên ngọn cỏ.

"Coi đây nè!" Bà Mười bốc một nắm tôm rảo còn sống nguyên, đưa sát tận mắt An. Lũ tôm búng mạnh làm An giật bắn người lùi lại một bước, bọt nước lợ bắn cả lên gò má mát lạnh. "Con tôm rảo nước lợ Tam Giang thịt nó ngọt lịm như đường phèn, vỏ mỏng dính cắn giòn sần sật, không tanh nồng mùi bùn rêu như tôm biển mà cũng không nhạt thếch bở rệp như tôm nuôi nước ngọt bằng thức ăn công nghiệp. Còn con cá kình ni, ruột nó đắng thanh, đắng dịu mà hậu ngọt sâu, người nghèo dưới phá ăn với muối ớt xanh từ đời cụ đời kị để trừ sơn lam chướng khí. Ngày xưa dân chài đi bạn thâu đêm, rét run cầm cập, bụng đói meo cồn cào, ghé thuyền vô bờ lấy mớ bột gạo ngâm nước lợ, mượn cái chảo gang lòng sâu rồi xúc đại nắm tôm rảo vừa cất lưới, quăng thêm mớ cá kình vô mỡ nóng cho nó cháy xèo xèo. Ăn một cái bánh nóng hổi vừa thổi vừa nhai, chấm chút nước mắm ruốc giã tỏi ớt hiểm cay xé lưỡi, mồ hôi vã ra như tắm là khỏe người mà cầm chèo đò tiếp. Cái bánh khoái nuôi sống thợ thuyền cơ cực rứa đó con, chứ ai rảnh rang đâu mà quết gan heo với mè rang theo kiểu cách quý tộc nhàn tản!"

Bà Mười cầm con dao bài nhỏ bằng sắt tây gỉ sét, thoăn thoắt bóc lớp vỏ tôm rảo nhưng cố tình để lại phần đuôi giòn và khối gạch tôm màu cam béo ngậy nơi đầu. Bàn tay chai sần đầy sẹo gai cá của bà thoăn thoắt lướt đi, dứt khoát và chuẩn xác như một nhịp điệu sinh tồn đã ăn sâu vào từng đường gân thớ thịt qua nửa đời người bám mặt nước đầm phá.

Chiều buông rất nhanh trên đầm phá Tam Giang. Mặt nước mênh mông chuyển dần từ màu chì lạnh lẽo sang sắc tím thẫm của ráng chiều rồi sập tối đen đặc trong tiếng gió hú luồn qua hàng ngàn bãi cọc đáy cắm sâu dưới lòng bùn. Thay vì trở về gian nhà rường cổ nghỉ ngơi, Khang và An quyết định nhận lời mời của những người thợ thuyền xóm đầm: cùng chèo đò thâu đêm kéo lưới tôm rảo vụ muộn. Họ muốn tận mắt thấy cái giá của từng mẻ tôm, từng con cá trước khi chúng được đưa lên chảo dầu.

Đó là một chuyến đi nhọc nhằn vượt xa mọi hình dung của An. Chiếc đò gỗ tròng trành, chao đảo dữ dội khi lướt đi giữa bóng đêm đen đặc quánh như mực tàu. Gió chướng cuối mùa thổi ràn rạt, từng cơn sóng lợ chồm lên mạn thuyền đánh lách chách, hắt nước lạnh ngắt vào mặt, vào cổ áo. Khang ngồi ở khoang giữa, hai bàn tay thợ máy gân guốc bám chặt lấy mái chèo gỗ to bản, cùng một bác ngư dân luống tuổi ghìm mạn đò trước luồng nước xoáy nguy hiểm gần miệng rọ đáy. Những giọt mồ hôi túa ra trên trán Khang dù gió lạnh cắt da, mằn mặn vị muối biển bốc hơi bám chặt vào chân tóc. An ngồi nép bên mép đò, hai tay ôm chặt chiếc đèn bão tù mù tỏa ra quầng sáng vàng vọt run rẩy, chăm chú theo dõi từng động tác ghim sào tre, rải lưới bén và gõ đuổi luồng cá của những người đàn ông làng chài.

Cứ sau mỗi đợt gõ mạn dồn dập rền vang mặt nước, lưới bén lại được kéo lên chầm chậm. Dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn bão, từng đoạn lưới nặng trĩu phù sa đen nhẫy được kéo lên khỏi mặt nước, lấp lánh hàng ngàn vệt sáng lân tinh kỳ ảo của đàn tôm rảo vụ muộn đang giãy giụa kịch liệt. Bùn non bắn lên mặt, lên áo quần An, nhưng mùi tôm cá tươi sống, mùi nồng đượm của nước lợ thấm đẫm vào da thịt, xóa tan mọi cảm giác sợ hãi hay mệt mỏi.

Gần bốn giờ sáng, đò quay mũi cập mép bờ bến vò nơi chái bếp của bà Mười. Gió lúc rạng đông buốt lạnh thấu xương. Đôi bàn tay của cả Khang và An đều tê cóng, tím tái vì ngâm nước lạnh và gió rít suốt đêm dài. Nhưng bù lại, chiếc thùng gỗ lớn trên thuyền đã đầy ắp tôm rảo tươi rói vừa nhảy tanh tách, râu tôm ngo ngoe trong làn nước xâm xấp, cùng mớ cá kình béo núc ních vừa gỡ khỏi mắt lưới.

Không kịp rửa sạch lớp bùn non bám trên đôi ủng cao su, An mượn chiếc chảo gang lòng sâu đen nhánh, dày dặn của bà Mười đặt thẳng lên kiềng sắt bếp than dã chiến mà Khang đã cẩn thận chuẩn bị sẵn từ trước. Đây là chiếc chảo gang đúc thủ công đã qua hàng chục năm trui rèn cùng mỡ lợn và lửa củi của dân đầm phá, lòng chảo láng bóng một lớp patina tự nhiên đen tuyền, giữ nhiệt cực sâu và tỏa nhiệt đều đặn.

Khang ngồi thụp xuống nhóm lửa. Chiếc quạt nan phe phẩy nhịp nhàng thổi bùng những thanh than củi hồng rực, hơi ấm ngùn ngụt bốc lên xua đi cái rét căm căm của màn sương rạng đông đang bao phủ mặt đầm. An xắn cao tay áo, dùng muỗng gỗ múc một muỗng mỡ lợn gáy trắng phau cho vào chảo. Mỡ tan chảy tức thì, sôi lăn tăn, cô thả ngay một nắm đầu hành hoa đập dập vào phi thơm lừng. Tiếng mỡ réo xèo xèo vui tai. Không chần chừ một giây, An nhanh tay trút một vốc tôm rảo còn sống nguyên vào lòng chảo nóng rẫy. Tôm vừa chạm mặt gang nhiệt độ cao liền đỏ ửng lên tức thì, lớp vỏ mỏng co lại, tỏa ra mùi thơm ngọt lịm ngây ngất của chất đạm nước lợ tươi rói vừa rời mặt nước.

Liền ngay sau đó, một vá bột gạo chiêm ngâm nước nghệ tươi và đánh cùng lòng đỏ trứng gà được rưới đều tay một vòng quanh mép thành chảo gang. Tiếng "xèo" rền vang giòn giã át cả tiếng gió đầm rít qua khe liếp; bột gạo sôi bùng lên những bọt khí trắng xóa li ti, viền bánh phồng rộp, lách tách co lại và chuyển dần sang màu vàng ruộm óng ả như màu vạt nắng mai. An nhanh tay rải thêm một nắm giá đỗ tươi giòn rụm và đặt một lát cá kình nhỏ xẻ dọc lưng vào giữa lòng bánh, rồi đậy chiếc vung gang nặng trịch lại. Hơi nóng bị giam hãm bên trong chảo gang dày sôi sục suốt đúng hai phút đồng hồ, vừa đủ để hơi nước làm chín tới phần thịt cá kình béo ngậy và làm dậy lên vị đắng thanh quý giá nơi mật cá.

Khi chiếc vung gang nặng trịch được nhấc bổng ra, một làn khói thơm nghi ngút như một đám mây nhỏ bốc thẳng lên xà mái chòi. Mùi béo ngậy của mỡ gáy lợn quê, mùi thơm lừng ngọt sắc của tôm rảo cháy cạnh, quyện chặt lấy hương lúa mới từ vỏ bột nghệ và vị nhằng nhặng đắng thanh tao của mật cá kình lan tỏa khắp không gian ẩm ướt của bờ đầm. Vỏ bánh khoái giòn rụm, vàng ươm, khô cong đáy chảo nhờ nhiệt lượng giữ hoàn hảo của gang đúc, nhưng bên trong ruột bánh vẫn giữ trọn vẹn độ ẩm mềm mướt, dẻo dai của hạt gạo chiêm đồng chiêm trũng.

Bà Mười đứng tựa lưng vào cột chòi, khóe mắt nheo lại vì khói bếp cay nồng. Bà dùng chiếc kẹp tre bẻ đôi chiếc bánh khoái nóng bỏng tay đưa sang cho An, rồi bất ngờ khom lưng lấy từ chiếc gác bếp treo cao xuống một chiếc liễn sành nhỏ da lươn được bọc kín bằng mảnh lá chuối hơ lửa.

"Ăn đi con, có cả cái ni nữa nè!"

Bên trong liễn là phần nước lèo nâu sẫm, sánh mịn như nhung, tỏa ra mùi thơm phức của đậu phộng, mè rang và gan heo quết nhuyễn. Đó chính là âu nước lèo cung đình mẫu mực mà bà Diệu đã thức dậy từ lúc gà gáy, cẩn thận nêm nếm rồi kín đáo gửi người mang xuống chòi vò cá cho hai chị em từ ban sớm.

An đón lấy chiếc bánh, chấm ngập một góc bánh giòn tan còn bốc khói vào chén nước lèo nâu bóng. Miếng bánh chạm vào đầu lưỡi tạo nên một chấn động vị giác mãnh liệt. Đầu tiên là cái giòn rụm rôm rốp của lớp vỏ bột vàng ươm quyện với vị bùi béo ngầy ngậy, sâu thẳm và đậm đà của gan heo, mè trắng cùng tương đậu nành ba mùa nắng. Nhưng ngay khi cái béo vừa chớm ngấy, thì vị ngọt thanh khiết, giòn sần sật của con tôm rảo Tam Giang tươi sống cùng chút vị nhằng nhặng đắng đầy kích thích của mật cá kình lập tức bung tỏa, gột sạch hoàn toàn cảm giác dầu mỡ nơi vòm họng, để lại một hậu vị ngọt lịm, ấm áp và miên man nơi cuống họng.

Bà Mười đứng nhìn An ăn từng miếng ngon lành, những nếp nhăn nheo hằn sâu nơi đuôi mắt bà giãn ra trong một nụ cười bao dung. Bà đưa tay nâng bát rượu đế làng Chuồn lên tợp một hớp cay nồng, khà một tiếng sảng khoái:

"Thấy chưa con? Cái thứ nước lèo quyền quý cao sang của chị Diệu dẫu có nấu công phu bằng trời, nêm bằng vàng bằng ngọc, mà thiếu mất con tôm rảo vừa kéo dưới bùn lên, thiếu mớ cá kình nhảy loi choi ni, thì cũng chỉ là thứ bột sền sệt béo nhạt vô hồn, ăn ba miếng là ớn tận cổ. Nhưng ngược lại... nếu không có cái chén tương đậu gan heo nêm nếm cầu kỳ, tinh tế nớ át đi cái mùi tanh nồng của bùn nước lợ, thì cái bánh của dân đầm phá tụi tui ăn miết quanh năm suốt tháng cũng hóa phàm phu tục tử, mãi mãi chỉ là món ăn độn lòng của kẻ cơ hàn."

An ngồi lặng trên phiến đá phẳng ven mép nước, gió sớm thổi bay những lọn tóc mai lòa xòa trước trán. Cô cẩn thận đặt chiếc hộp gỗ mun lên đùi, bật chốt đồng lách cách, rút ra tấm thẻ công thức số 14 bằng giấy dó dày dặn. Dưới ánh bình minh le lói màu hổ phách bắt đầu rọi xuống từ chân trời phía biển Thuận An, dát một dải vàng lấp lánh lên mặt nước đầm phá mênh mông, cô cẩn thận cầm cây bút mực đen, nắn nót viết từng dòng chữ lên mặt giấy thô ráp:

*Thẻ số 14: Bánh khoái nước lợ và Nước lèo kinh thành.* *Một chiếc bánh không thể định danh bằng nguồn gốc duy nhất. Kỹ thuật nước lèo gan heo đậu phộng của tầng lớp hoàng gia đã vay mượn và vĩnh viễn mắc nợ ân tình nguồn nguyên liệu tươi rói, rẻ tiền được đánh đổi bằng mồ hôi, gió rét và những đêm thức trắng kéo lưới của cư dân vùng nước lợ Tam Giang. Không có sự sang trọng nào tồn tại độc lập nếu thiếu đi gốc rễ lao động cơ cực của những kẻ bám bùn.*

An dừng bút, ngẫm nghĩ một thoáng rồi cẩn thận ký tên mình bên dưới mép thẻ. Ở phần ghi chú ký ức, cô kẻ đôi trang giấy bằng một đường mực thẳng thớm, trân trọng ghi nhận song song hai dòng ký ức của bà Tôn Nữ Diệu và bà Mười vào hai cột đối chiếu: một bên là trật tự ngự thiện vàng son chốn cung đình kinh thành, một bên là nhịp sống thô mộc, quật cường nơi đầm nước lợ. Cả hai cùng tồn tại, nương tựa vào nhau, bổ khuyết cho nhau như âm với dương, như nước ngọt của nguồn sông hòa vào vị mặn của biển cả để tạo nên sự trù phú độc nhất vô nhị của phá Tam Giang.

Bên cạnh bếp than tàn, Khang đã xách xô nước ngọt từ bể nước mưa sau chòi lên tự lúc nào. Không nói một lời, anh lặng lẽ cúi xuống, nhặt từng chiếc bát dính mỡ lợn, chiếc chảo gang nặng trịch và bộ vá múc bằng đồng của An đem ra góc sân nước. Anh dùng tro bếp mịn và nước ấm cọ rửa từng vết dầu mỡ bám trên thành chảo, tỉ mỉ tráng lại bằng ba lần nước trong vắt. Những động tác của người thợ máy dứt khoát, chuẩn xác, đầy ắp sự chăm chút nhẫn nại, không còn chút gượng gạo hay dè dặt nào như những ngày đầu tiên họ bước lên chiếc xe tải lưu động.

Khi bưng chiếc chảo gang đã ráo nước sạch bong đặt gọn gàng vào hộc tủ xe Bếp Nhỏ, Khang quay sang nhìn An. Dưới ánh sáng rực rỡ của ngày mới, ánh mắt anh ấm áp lạ thường. Khang đưa bàn tay gầy gò quệt vệt muội than bám trên trán, nở một nụ cười kín đáo:

"Hộp số xe đã chỉnh xong lúc nửa đêm rồi. Ngày mai mình có thể vào sâu hơn nữa."

An nhìn những ngón tay dính muội than và dầu mỡ cơ khí của anh, lòng dâng lên một cảm giác an tâm lạ kỳ. Những rạn nứt vô hình từ chuyến đi bão táp qua dải đất miền Trung khô cằn đang dần được hàn gắn, không phải bằng những lời hứa hẹn xa xôi, mà bằng chính sự hiện diện thầm lặng, vững chãi trong từng việc nhỏ nhặt nhất quanh gian bếp dã chiến này.

Mặt đầm Tam Giang rực đỏ trong ráng chiều, người em vừa gỡ con cá kình mắc lưới vừa cười: "Không có mồ hôi dân cào hến, đãi tôm thì lấy đâu ra món ngon cho vua ngự?"

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn