Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.13 / 32
Chương 13

Ngấn Mặn Chân Sóng

Không khí ngột ngạt bao trùm bờ biển Cửa Tùng khi chiếc xe Bếp Nhỏ chầm chậm lăn bánh giữa hai dãy hàng rào tôn hoa mạ kẽm sáng choang, dựng đứng sừng sững như những bức tường thành tạm bợ. Công trình dự án khu nghỉ dưỡng sinh thái quy mô lớn đang cắm cọc, đổ bê tông lấn dần từng tấc đất của con đường mòn vốn từ bao đời nay là lối thoát duy nhất dẫn ngư dân làng chài xuống bến cá truyền thống.

Gió biển từ ngoài lộng thổi thốc qua khe kính cabin mở hé, mang theo vị mặn nồng gắt gỏng của bụi cát khô rang bị nung nóng suốt dặm dài miền Trung. Bên trong chiếc xe hoán cải, một khối im lặng đông cứng và ngột ngạt đã ngự trị suốt từ lúc họ rời khỏi Lệ Thủy. Khang dán chặt mắt vào mặt đường đá dăm lởm chởm, hai bàn tay chai sần siết chặt vô lăng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Anh không mở lời, không bật chiếc đài cát-sét cũ kỹ gắn trên bảng táp-lô, và tuyệt nhiên không liếc nhìn sang chiếc ghế phụ dù chỉ nửa giây.

Ở bên cạnh, An ngồi co ro nép sát vào thành cửa, hai đầu gối khép chặt. Lòng bàn tay cô vẫn còn ran rát những vết cứa xước nông do sợi thừng kéo tấm ván xe hôm trước để lại, nhưng cảm giác rát buốt ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với nỗi bất an đang dội từng cơn trong lồng ngực. Tập tài liệu giải mã định vị, những dãy số trích xuất địa chỉ truyền phát dữ liệu ngầm và câu chất vấn lạnh buốt như vết cắt bằng thép mà Khang ném ra giữa cơn mưa rào Lệ Thủy vẫn còn treo lơ lửng giữa hai người: *“Giờ ai trong cái xe này đáng tin hơn ai?”*

An không thanh minh. Khang cũng không gặng hỏi thêm hay buông một lời xin lỗi. Chiếc xe tải chở nặng ì ạch trườn qua một khúc cua tay áo gắt, nơi mép tôn sắc nhọn cắm sát rạt vào những gốc phi lao già cỗi, bóp nghẹt lối đi chỉ vừa khít thân một chiếc xe máy cày. Phía sau rào chắn cao quá đầu người, tiếng gầm rú chát chúa của máy ủi và máy xúc đinh tai nhức óc đang cào xới, san phẳng những triền cát thoai thoải tự nhiên. Chiếc Bếp Nhỏ lách mình qua một cánh cổng gỗ mộc xô lệch, rẽ vào khoảng sân rộng rải vỏ sò đập dăm vỡ vụn, nép mình bên hông dãy nhà kho lợp ngói liệt xám xịt – cơ sở ủ mắm cá cơm than thủ công của chị Hảo.

Chị Hảo đón hai người bằng nụ cười đượm vẻ phong trần của người đàn bà cả đời bám biển. Nước da chị nâu bóng, ngăm đen vì nắng gió, khóe mắt hằn sâu những vết chân chim khắc nghiệt nhưng ánh nhìn lại ấm áp lạ kỳ. Vừa thấy chiếc xe tải dằn xóc dừng hẳn dưới bóng râm, chị đã thoăn thoắt bước ra từ gian chái, trên tay xách một chiếc ấm tích bọc trong giỏ tre ủ nóng cùng hai chiếc bát sành tráng men da lươn sứt mép. Hương chè xanh om lá dứa thơm ngát phả ra dìu dịu, xua bớt mùi khói xăng và mùi dầu máy khét lẹt.

“Vào đây tránh cái nắng trưa đã hai đứa! Xe cộ cứ tấp sát vào hông kho muối, bên nớ có giàn dưa leo với mấy tán bàng che mát, không sợ hun nhiệt mô,” chị Hảo đon đả cất tiếng, chất giọng Quảng Trị trầm và mộc. Đôi mắt tinh tường của người từng trải qua bao mùa giông bão dường như nhận ra ngay luồng không khí nặng trĩu, gượng gạo giữa hai người khách trẻ, nhưng chị tế nhị không hề gặng hỏi nửa lời.

Chị Hảo chừng ngoài bốn mươi tuổi, sống đơn độc bên xưởng mắm cá cơm than kế thừa từ ba đời cha ông để lại. Chồng chị đã nằm lại dưới đáy biển sâu trong một cơn bão dữ quét qua vịnh Bắc Bộ cách đây tròn mười năm. Từ ngày ấy, một mình chị nách hai đứa con thơ dại, vừa làm cha vừa làm mẹ, chắt chiu từng đồng tiền học, củ khoai, hạt gạo nuôi con khôn lớn bằng từng giọt nước mắm nhĩ thơm lừng phơi nắng trên triền cátnguyên sơ.

Trong khi Khang lẳng lặng xách hộp đồ nghề kim loại nặng trịch, cúi đầu kiểm tra lại két làm mát, dây curoa và gầm láp sau chặng đường dài vượt qua vùng đất cát bỏng, chị Hảo ngoắc tay bảo An đi theo mình. Men theo triền cát thoai thoải dẫn ra mép nước phía sau kho ủ chượp, hai người chầm chậm bước đi giữa tiếng sóng vỗ ì oạp vào bờ đá.

Đi ngang qua rặng phi lao cằn cỗi bị gió bấc bẻ gập cả ngọn về một phía, chị Hảo dừng bước trước một mô cát trắng nhỏ được vun cao gọn gàng. Phía trên đỉnh mô cát cắm một cọc gỗ phi lao mục đốm trắng, thân gỗ đã mòn vẹt, nứt nẻ vì bao năm ngậm hơi muối mặn chát của biển khơi. Dưới chân cọc gỗ là một chiếc bát sành đổ đầy cát hạt to làm lư hương. Chị Hảo rút từ túi áo ra mấy nén hương đã châm sẵn, khom người cắm cẩn thận vào bát cát.

“Đây là mộ gió của một chị thanh niên xung phong vô danh,” chị Hảo hạ thấp giọng, bàn tay thô ráp khẽ vuốt lại những hạt cát trắng mịn quanh chân cọc gỗ. Từng làn khói hương mỏng manh vừa bay lên đã bị ngọn gió biển cuốn phăng đi, tan biến vào hư không mênh mông. “Năm bảy hai, bom Mỹ rải trúng mép bến ni, tan nát cả một góc làng. Người ta tìm kiếm suốt mấy ngày ròng mà chỉ vớt được chiếc nón tai bèo rách bươm trôi dạt vào bãi cát. Mạ chị ngày xưa cùng tổ cấp dưỡng với mấy o vùng ni, xót xa quá mới gom cát đắp thành nấm mộ ni để ngày rằm, tuần tiết có nơi cắm nén nhang cho chị đỡ quạnh hiu. Cũng cùng thời với thế hệ của bà ngoại em đó, An. Người nằm xuống thì gửi nắm xương tàn vào lòng đất cát, chỉ mong người ở lại giữ được ngọn sóng, bến cá cho con cháu mai sau có cái mà mưu sinh.”

An đứng lặng phắc, hai bàn chân chìm sâu trong cát nóng. Gió biển thổi tung những lọn tóc mai lòa xòa trước trán. Bức thư năm 1980 chưa bóc tem của bà Mùi nằm sâu trong ngăn kéo túi xách dường như đang cựa quậy, bỏng rát nơi da thịt cô. Ký ức ở dải đất miền Trung này chưa bao giờ chịu ngủ yên; nó chìm lấp dưới từng đụn cát, hòa vào từng thớ gỗ mục rỗng và lặn sâu vào tâm thức của những người đàn bà gánh chịu mất mát. Từng tấc đất nơi đây đều được đánh đổi bằng máu, mồ hôi và những giọt nước mắt thầm lặng không tên.

***

Canh năm sáng hôm sau, khi tiếng còi tàu cá ngoài lộng vọng vào bờ từng hồi dài trầm đục xé toang màn sương mù ẩm ướt, chị Hảo đã gõ nhẹ vào vách thùng xe đánh thức An dậy. Khang vẫn đang nằm thiếp đi trên chiếc võng dù dù mắc tạm vào khung sắt bên hông xe. Khuôn mặt anh khi say ngủ đã vơi bớt nét đanh thép, lạnh lùng thường ngày, nhưng nơi khóe trán vẫn hằn sâu những nếp nhăn mệt nhọc của những đêm dài thao thức lo toan và canh cánh ngờ vực.

An khẽ khàng xỏ dép, xách chiếc rổ tre bước theo chị Hảo xuống bến cá. Lối đi duy nhất còn lại dẫn ra bãi cát giờ đây chỉ là một cái khe hẹp hun hút bề ngang chừng hai sải tay, nằm kẹp giữa mép rào tôn hoa mạ kẽm của dự án nghỉ dưỡng và bờ tường rào hoa râm bụt xơ xác đầy gai góc của người dân xóm ngoài. Đi trong khe hẹp ấy, tiếng tôn rung bần bật theo từng cơn gió giật tạo nên thứ âm thanh khô khốc, kim loại và đầy đe dọa.

“Cá cơm than làm mắm phải chọn được loại này nè An,” chị Hảo ngồi thụp xuống trước một sọt tre vừa được hai ngư dân khiêng từ mạn chiếc thuyền nan ướt sũng lên bãi cát. Đôi bàn tay chai sần, nhuộm màu nắng gió của chị lướt nhẹ trên lớp cá tươi rói còn lấp lánh bọt biển. “Em nhìn kỹ đi: thân cá phải có một lằn đen ánh tím than chạy dọc tít từ mang xuống tận cuống đuôi, bụng vảy bạc óng ánh như rắc kim tuyến, mắt con nào con nấy phải còn trong veo, không được vẩn đỏ hay đục ngầu. Con cá phải cứng cáp, còn vương nhớt biển mặn mòi, ấn ngón tay vô thớ thịt là thấy độ đàn hồi nảy lên liền. Cá mà đã mềm nhũn, rụng đầu hay rỉ máu nơi mang là đồ ươn phơi lạnh, mang về ủ chượp chỉ tổ sinh dòi bọ và thối khắm, chứ không bao giờ chiết ra được giọt mắm màu cánh gián đậm đà, hậu vị ngọt sâu mô.”

Chị Hảo hào phóng mua trọn hai sọt cá cơm than tươi rói vừa cất lên khỏi lưới. An đỡ lấy một đầu đòn gánh tre, cùng chị kĩu kịt gánh cá ngược con dốc cát hẹp trở về xưởng muối. Tại khoảng sân gạch rộng thênh thang xếp hàng trăm chiếc vại sành cổ màu da lươn lấm tấm rêu phong, chị Hảo tỉ mỉ chỉ dẫn cho An từng thao tác ủ chượp truyền thống, chuẩn xác và cẩn trọng đến từng chi tiết nhỏ.

“Muối hột dùng để ủ cá không được dùng muối mới cào ngoài đồng muối về đâu nghe,” chị Hảo vừa vốc một nắm muối trắng tinh đưa lên cho An xem vừa giải thích. “Phải là muối Sa Huỳnh hoặc Cà Ná hạt to, tinh khiết, nhưng ngặt nỗi phải cất trong kho ráo ít nhất một năm trời. Để chi rứa? Để cho cái chất nước chát, nước đắng ngậm magie nó tự chảy ròng ròng xuống rãnh thoát hết đi, chỉ còn lại vị mặn thanh thuần khiết nhất. Tỷ lệ vàng ngàn đời của dân biển Cửa Tùng là ba cá một muối. Trộn thật đều tay cho từng hạt muối bọc kín thân con cá, rồi nhẹ nhàng rải từng lớp êm ái vào lòng vại sành.”

Chị Hảo hướng dẫn An đặt một chiếc vỉ tre đan dày khít lên miệng lớp cá đã nén chặt, rồi chị cúi xuống khiêng những hòn đá cuội ghềnh to bản, tròn nhẵn nhụi đã được cọ rửa sạch sẽ bằng chính nước biển đặt lên trên vỉ để ép chặt khối chượp xuống. Xong xuôi, chị đậy nắp vại sành lại, để mặc cho chiếc vại phơi mình trực tiếp dưới cái nắng cháy da hun thịt của dải đất Quảng Trị.

“Nắng ở đây dữ dằn, khắc nghiệt lắm, nhưng ngặt nỗi không có cái nắng hun đốt ni thì con cá cơm than không tài nào ngấu được. Dưới sức nóng của mặt trời, mỡ cá tự phân giải thành các chuỗi đạm hữu cơ. Phải phơi nắng ròng rã, cứ vào cữ trưa đứng bóng lại mở nắp ra, dùng chiếc gậy gỗ khuấy đảo chượp cho đều. Ròng rã suốt mười hai đến mười tám tháng trời ròng, chắt chiu từng giọt, lọc qua lớp vải mịn mới rút nỏ được mẻ nước mắm cốt thơm lừng mùi mặn ngọt đậm đà, rót ra bát là sánh lại như mật ong rừng.”

Cùng với mớ cá cơm than tươi rói, chị Hảo lấy từ đáy chiếc gùi tre ra một bọc lá rong mứt đen nhánh, khô cong queo, tỏa ra mùi tanh ngai ngái nồng nặc đặc trưng của ghềnh đá ngập mặn.

“Mùa biển động, sóng đánh tơi bời, rong mứt mới mọc bám dày đặc trên các rạn đá ngầm ngoài mũi biển,” chị Hảo mỉm cười, ánh mắt xa xăm nhớ về những tháng ngày gian lao. “Đàn bà con gái làng ni phải canh lúc thủy triều rút cạn nhất, lội ra tận ghềnh đá trơn trượt, dùng mảnh vỏ trai cạo từng vạt rong mỏng mang về. Rửa qua bao nhiêu lượt nước ngọt cho sạch hết cát san hô li ti rồi mới đem phơi ráo trên phên nứa. Canh rong mứt nấu cá cơm than là món ăn cứu đói, chống chọi với cái rét buốt thấu xương của mùa mưa bão miền Trung đó em.”

Chị Hảo chỉ cho An cách ngâm rong mứt khô vào chậu nước lạnh có pha chút muối loãng. Từng cánh rong đen quéo thoắt cái nở bung ra mềm mại, xanh thẫm và óng ả mà không hề bị nát vụn. Trong chiếc nồi nhôm nhỏ đã sờn đáy, chị phi thơm một vốc củ nén trắng đập dập với chút mỡ lợn thơm ngậy. Tiếng xèo xèo giòn giã vang lên, chị nhanh tay trút mớ cá cơm than đã ướp chút ớt bột cay xè và mấy thìa nước mắm nhĩ cốt vào xào săn lại cho dậy mùi thơm nức mũi. Khi nước sôi bùng lên sùng sục, chị thả từng nhúm rong mứt vào nồi, chỉ để sôi lăn tăn chừng một phút là lập tức nhấc nồi ra khỏi bếp rơm để giữ trọn vẹn độ giòn sần sật của rong biển.

Bát canh múc ra nghi ngút khói, nước canh trong veo nhưng mang sắc xanh thẫm ánh nâu của biển sâu. Miếng rong giòn sần sật nơi đầu lưỡi quyện chặt với vị béo bùi, đậm đà của thớ thịt cá cơm than tươi và vị cay the nồng ấm của củ nén, hạt tiêu rừng. Đó là một thứ hương vị mộc mạc, nguyên sơ và rắn rỏi, như gom góp tất cả sự khắc nghiệt của rạn đá sóng gió cùng tấm lòng kiên nhẫn khôn cùng của người giữ lửa gian bếp.

***

Nhưng sự bình yên hiếm hoi của gian bếp nhỏ nhanh chóng bị xé toạc vào buổi chiều tà. Bầu không khí căng thẳng lan nhanh từ con đường mòn ra khắp làng chài khi những tiếng cãi vã chát chúa, gay gắt bất ngờ bùng lên từ điếm canh bến cá.

Dân làng biển Cửa Tùng đang bị chia rẽ sâu sắc thành hai phe đối đầu nảy lửa. Một bên là nhóm những chủ tàu cá vỏ gỗ công suất nhỏ và những ngư dân nghèo xơ xác đang bị bủa vây bởi các món nợ nần chồng chất. Suốt hai ba năm qua, luồng cá gần bờ bị suy kiệt nghiêm trọng do nạn tàu giã cào bay tàn phá đáy biển, giá dầu diesel tăng vọt, trong khi tiền vay mượn ngân hàng và nợ lãi mua sắm vàng lưới cụ đã đến ngày đáo hạn siết nợ. Trước mắt họ, bản thỏa thuận đền bù giải tỏa mặt bằng của chủ đầu tư dự án khu nghỉ dưỡng trị giá vài ba trăm triệu đồng cho mỗi hộ gia đình chẳng khác nào chiếc phao cứu sinh duy nhất để thoát khỏi cảnh bần hàn, cùng quẫn.

“Ký đi cho rảnh nợ các bác ơi!” một người đàn ông trung niên trạc năm mươi tuổi, làn da đen cháy loang lổ vết bỏng nắng, chiếc áo cộc rách tả tơi nơi vai áo gắt gỏng thốt lên, bàn tay khẳng khiu vung vẩy tờ giấy in sẵn có con dấu đỏ chót. “Không ký thì lấy tiền mô mà trả lãi quỹ tín dụng nông thôn tháng ni? Mai mốt họ mang máy ủi tới cưỡng chế, quây rào kín mít lại hết thì lúc đó một cắc đền bù cũng không có mà ôm lấy cái bãi cát trống trơn ni để mà húp cháo à?”

“Các anh mù quáng hết cả rồi!” Chị Hảo đứng bật dậy giữa đám đông đang xôn xao, giọng chị run lên bần bật vì uất ức và tức tưởi. “Họ đền cho mấy trăm triệu bạc, mang đi trả nợ ngân hàng xong thì trong túi còn lại mấy đồng? Dự án nó lấy trọn hai cây số bờ biển làm bãi tắm biệt lập riêng cho khách Tây, nó quây hàng rào tôn bịt kín mít cái lối mòn ni thì ngày mai các anh hạ thuyền thúng ở mô? Thuyền cá về bến neo đậu ở mô? Đàn bà con gái làng ni lấy đâu ra cá tươi mà làm mắm, cạo rong ở mô mà mang ra chợ bán? Mất cái bến cá là mất cái cần câu cơm truyền đời từ thời ông cha để lại! Mấy trăm triệu ăn rồi cũng lở núi cạn sông, rồi mai mốt con cháu chúng ta đi làm phụ hồ, làm thuê làm mướn tha hương cầu thực hết cả lũ cho coi!”

“Chị Hảo nói nghe dễ quá hè! Chị có xưởng mắm bề thế, có của ăn của để trong nhà thì chị nói chi chẳng được!” Một ngư dân trẻ tuổi khác gào lên, mặt đỏ gay vì giận dữ. “Tụi tui tàu nằm bờ mấy tháng ni rồi, con cái nợ tiền học phí trên trường, cơm không đủ no ngày hai bữa, chị có đứng ra trả nợ giùm tụi tui không? Không có tiền thì lấy chi mà sống tới mai sau?!”

Tiếng la hét, đập bàn, những lời chỉ trích và sỉ vả nổ ra ầm ĩ, hỗn loạn. Hai bên xô đẩy, giằng co nhau từng tấc đất quanh chiếc bàn gỗ mục của điếm canh. Nỗi tuyệt vọng cay đắng về sinh kế trước mắt va chạm nảy lửa với nỗi sợ hãi mất đi không gian sinh tồn của thế hệ tương lai. Không ai chịu nhường ai một bước, những khuôn mặt hằn học nhìn nhau như thể đối phương là kẻ thù cướp đi miếng cơm manh áo của mình.

Đứng ở khoảng sân ngoài điếm canh, Khang và An lặng lẽ chứng kiến toàn bộ tấn bi kịch ấy. Khang nhìn chăm chú vào những ngón tay gầy guộc, run rẩy của người ngư dân đang nắm chặt lấy tờ thông báo đòi nợ của ngân hàng, rồi anh quay sang nhìn đôi mắt ầng ậc nước nhưng chan chứa sự kiên cường, bất khuất của chị Hảo.

“Họ sắp lao vào đánh nhau đến nơi rồi,” Khang khẽ nói, âm lượng trầm và ngắn gọn. Đây là lần đầu tiên anh chủ động cất tiếng nói với An kể từ sau trận cãi vã nảy lửa ở căn nhà ven sông Kiến Giang.

An nhìn chiếc nồi gang lớn của bà Mùi nằm lặng lẽ trên thùng xe Bếp Nhỏ cách đó không xa. Bất giác, cô quay sang đối diện với ánh mắt Khang, ánh nhìn của cô kiên định và rực sáng: “Bữa ăn không xóa được nợ ngân hàng cho họ, nhưng ít nhất chúng ta không thể trơ mắt để họ cắn xé lẫn nhau trong cơn đói lả và sự hoảng loạn tột cùng này. Giúp em nhóm bếp, anh Khang.”

Khang nhìn sâu vào đáy mắt cô suốt một giây dài, lớp vỏ bọc lạnh lùng trên gương mặt anh dường như rạn vỡ. Anh gật đầu dứt khoát: “Được.”

***

Ngay trên bãi đất trống rải đầy vỏ sò vụn bên cạnh điếm canh làng, cụm bếp dã chiến của chiếc xe Bếp Nhỏ nhanh chóng được dựng lên trong sự hối hả. Khang thoăn thoắt kê những viên gạch chỉ dày dặn làm kiềng, vung rìu chẻ những thanh củi săng lẻ khô giòn rồi mồi lửa. Ngọn lửa vàng rực nhanh chóng bùng lên, reo tí tách dưới đáy chiếc nồi gang đen nhánh quen thuộc của bà Mùi. An nhanh tay vo sạch một thùng gạo trắng mà chị Hảo tức tốc chạy về xưởng mang sang, đổ nước vừa tầm rồi bắc lên kiềng nấu một nồi cơm lớn.

Ở chiếc bếp than gấp dã chiến đặt bên cạnh, An bắc chiếc nồi nhôm sâu lòng cỡ đại. Chị Hảo và vài người phụ nữ trong xóm chài thấy hai người trẻ lui cui nhóm lửa thì cũng kéo nhau tới giúp sức. Họ tất tả chạy về xưởng mắm mang ra nửa gùi cá cơm than tươi rói vừa được ủ muối nhẹ ban sáng và mấy tảng rong mứt ghềnh đá khô thơm lừng mùi biển cả. Từng muỗng mỡ lợn phi củ nén trắng đập dập thơm lừng cả một góc bãi cát, xua tan đi mùi tanh nồng của bùn lầy và cái oi bức ngột ngạt của buổi chiều tà.

Nồi canh cá cơm nấu rong mứt sôi ùng ục, tỏa ra luồng khói ấm nồng vị mặn mòi nguyên bản của biển khơi, lấn át hoàn toàn bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt của những cuộc tranh cãi bên trong điếm canh.

Khi bóng tối hoàn toàn sụp xuống bãi biển, cuộc họp dân làng bên trong điếm canh cũng đã kiệt quệ trong những tiếng cãi vã khản đặc cả cổ họng. Những cái đầu nóng bừng bừng giờ đây chùng xuống vì mệt mỏi, và bụng dạ của ai nấy đều cồn cào, đói lả sau một ngày dài vật lộn với bức bối. Đúng lúc ấy, Khang và An cùng chị Hảo khiêng chiếc nồi gang cơm trắng bốc khói nghi ngút và chiếc nồi canh cá rong mứt thơm nức đặt ngay giữa nền gạch của điếm canh.

“Bà con cô bác nghỉ tay ăn miếng cơm nóng đã!” Tiếng chị Hảo vang lên dõng dạc, át đi cả tiếng gió rít qua khe tôn. “Dù ngày mai bến bãi có ra răng, chuyện nợ nần tính sau, tối ni cũng phải ăn cho ấm cái bụng đã!”

An thoăn thoắt xới từng bát cơm đầy có ngọn, hạt cơm trắng ngần, dẻo thơm tơi xốp. Khang cầm muôi múc từng muôi canh nóng hổi, cẩn thận trao tận tay từng người đàn ông đang ngồi bệt dưới đất. Không có một lời giáo điều sáo rỗng nào được thốt ra, không có bất kỳ sự phán xét hay khuyên răn nào.

Người đàn ông trung niên lúc nãy hùng hổ đòi ký giấy nhận đền bù đón lấy bát cơm từ tay An. Đôi bàn tay nứt nẻ, thô ráp của ông run rẩy nâng bát nước canh rong mứt lên húp một ngụm nhỏ. Vị ngọt đậm đà, béo ngậy của con cá cơm than thân thuộc, cái giòn mát sần sật của rong biển mọc trên ghềnh đá quê hương và từng hạt gạo trắng thơm dẻo như chạm thẳng vào một sợi dây thần kinh sâu kín, yếu mềm nhất trong tâm can ông. Nước mắt người đàn ông bất giác ứa ra nơi khóe mi đầy nếp nhăn.

Họ ngồi bệt xuống những manh chiếu cói trải tạm trên nền đất, quây quần thành một vòng tròn quanh chiếc nồi gang của bà Mùi. Trong sự im lặng tuyệt đối của bữa ăn, những cái đầu nóng nảy ban chiều dần dần nguội lại. Không một ai nhắc thêm về tờ giấy ký nhận hay những cọc tiền bồi thường đong đếm sinh mạng của bến bãi, nhưng ánh mắt họ nhìn nhau qua làn khói cơm nghi ngút đã hoàn toàn vơi bớt vẻ hằn học, thù hằn.

Họ nhìn nhau và bỗng nhận ra rằng, người ngồi đối diện mình không phải là kẻ thù tranh giành quyền lợi, mà chính là người hàng xóm cùng chung một khúc ruột biển, người từng cùng mình chia nhau từng can nước ngọt trong những mùa hạn hán cháy da và cùng chống chọi qua những cơn bão dữ quét qua làng.

Bữa ăn đạm bạc bên mép bãi cát không thể tự động xóa đi món nợ ngân hàng đang đè nặng trên vai họ, cũng không thể xua tan áp lực nghẹt thở từ những chiếc máy ủi của dự án khu nghỉ dưỡng, nhưng nó đã làm được điều kỳ diệu nhất mà những cuộc tranh cãi không làm được: buộc tất cả các bên phải ngồi lại, nhìn vào mắt nhau và lắng nghe nhau như những con người có chung một gốc rễ, một nguồn cội không thể tách rời.

***

Đêm đã về khuya, không gian làng chài chìm dần vào giấc ngủ mệt nhoài, chỉ còn tiếng sóng biển rì rào vỗ vào bờ đá. Bên trong thùng xe Bếp Nhỏ, ánh đèn bão leo lét tỏa ra quầng sáng vàng ấm áp. An ngồi bên chiếc bàn gấp dã chiến, mở máy tính xách tay kết nối với thiết bị đo đạc và định vị cầm tay của Khang.

Suốt buổi chiều muộn, trong lúc An cùng những người phụ nữ chuẩn bị bữa ăn, Khang đã cùng mấy bác ngư dân cao tuổi trong làng cầm thước dây và máy định vị cá nhân âm thầm đi dọc theo mép nước, rà soát và ghi chép lại toàn bộ tọa độ thực tế của con đường mòn. An tỉ mỉ sử dụng phần mềm đồ họa trên máy tính để vẽ lại sơ đồ không gian sinh kế bến cá truyền thống của làng: từng vị trí bến neo đậu thuyền thúng, lối kéo lưới kéo rùng, bãi phơi mắm thủ công và dải ghềnh đá khai thác rong mứt – một hành lang sinh thái và sinh kế tự nhiên đã tồn tại liên tục hơn một thế kỷ qua, rất lâu trước khi dự án khu nghỉ dưỡng cắm những cột mốc ranh giới đầu tiên.

“Sơ đồ này chứng minh rất rõ ràng: ranh giới dự án hiện tại đã chồng lấn hoàn toàn lên hành lang bảo vệ bờ biển tự nhiên và bịt kín quyền tiếp cận biển công cộng của cộng đồng dân cư địa phương, vi phạm nghiêm trọng các quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo,” An vừa gõ lách cách trên bàn phím vừa quay sang phân tích rành rọt cho chị Hảo và hai bác đại diện xóm chài đang chăm chú vây quanh màn hình.

Cùng lúc đó, An mở ngăn kéo bàn làm việc, lấy ra bản hợp đồng tài trợ mà Đỗ Thành Vinh từng ép cô ký, đặt bên cạnh toàn bộ hồ sơ hiện trạng bến cá Cửa Tùng và bản kiến nghị có đầy đủ chữ ký kèm dấu lăn tay điểm chỉ của gần một trăm hộ dân giữ nghề biển truyền thống. Cô sử dụng máy quét cầm tay, cẩn thận số hóa toàn bộ tài liệu thành các tệp kỹ thuật số có độ phân giải cao, đóng gói và đặt mật khẩu bảo vệ cẩn mật.

An mở hòm thư điện tử, soạn một bức thư chi tiết gửi cho luật sư Tạ Gia Bảo của Hợp tác xã Đường Xa. Cô trình bày toàn bộ cuộc khủng hoảng sinh kế bến cá đang diễn ra gay gắt tại bờ biển Quảng Trị, đính kèm sơ đồ số hóa lối xuống biển truyền thống để nhờ Bảo can thiệp pháp lý khẩn cấp lên các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Đồng thời, không hề giấu giếm, An gửi kèm toàn bộ bản sao hợp đồng của Vị Việt, thẳng thắn yêu cầu Bảo rà soát toàn bộ các điều khoản ràng buộc quyền khai thác dữ liệu và hình ảnh tư liệu mà Vinh đang dùng để khống chế và đe dọa cô.

Khang đứng tựa lưng vào mép cửa thùng xe mở toang, lặng lẽ quan sát bóng lưng gầy guộc của An đang cặm cụi gõ từng dòng chữ bên bàn phím. Anh bước lại gần bàn làm việc, rút từ túi áo ra một chiếc USB vỏ kim loại nhỏ nhắn, đặt nhẹ lên mép máy tính của cô.

“Trong này có toàn bộ nhật ký trích xuất các gói tin ngầm và danh sách địa chỉ IP mà máy chủ Vị Việt đã thu thập bất hợp pháp từ hệ thống định vị của xe mình suốt dọc đường,” giọng Khang trầm ấm, điềm tĩnh, không còn sót lại chút gay gắt hay nghi kỵ nào như ở Quảng Bình hôm trước. “Em gửi luôn tệp này cho anh Bảo đi. Nếu đã phải đối đầu với họ, chúng ta sẽ đối đầu bằng chứng cứ sạch và sự thật.”

An ngước mắt lên nhìn anh. Bắt gặp ánh mắt kiên định, thấu hiểu và bao dung của người thợ máy trẻ tuổi, khóe mắt cô cay cay. Một mối dây hàn gắn vô hình nhưng bền chặt và vững chãi vừa được nối lại giữa hai người – không phải qua những lời thanh minh hay những lời xin lỗi vụng về, mà qua sự lao động thực tế, sự đồng cam cộng khổ và trách nhiệm chung đối với những con người khốn khó trên mảnh đất này.

Sáng sớm hôm sau, khi những tia nắng đầu ngày vừa rọi qua màn sương biển, Khang chở An bằng chiếc xe máy cũ mượn của chị Hảo vượt qua những rặng phi lao để lên bưu điện trung tâm huyện Vĩnh Linh. Tại quầy giao dịch, An cẩn thận niêm phong tập hồ sơ giấy tờ dày cộp có đầy đủ dấu đỏ điểm chỉ của bà con dân làng, điền thông tin gửi bảo đảm hỏa tốc ra Hà Nội cho văn phòng luật sư Tạ Gia Bảo.

Vừa bước chân ra khỏi sảnh bưu điện huyện, chiếc điện thoại trong túi áo An rung lên liên hồi. Một tin nhắn phản hồi nhanh từ luật sư Bảo được gửi qua ứng dụng mã hóa:

*“Tôi đã nhận được các tệp scan sơ đồ bến cá và toàn bộ bản hợp đồng cô gửi. Về vấn đề bến cá Cửa Tùng, tôi sẽ cùng nhóm pháp lý của Hợp tác xã soạn thảo ngay văn bản can thiệp khẩn cấp về quyền tiếp cận biển công cộng của cộng đồng gửi trực tiếp lên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị. Nhưng An này, tôi phải cảnh báo cô một việc hết sức hệ trọng: bản hợp đồng cô đã ký với Vị Việt có một điều khoản ngầm cực kỳ bất lợi tại Mục 8.2 về việc chuyển nhượng toàn bộ quyền khai thác dữ liệu hành trình theo thời gian thực. Vinh hoàn toàn có thể sử dụng điều khoản này để phong tỏa toàn bộ tư liệu và hình ảnh của cô bất cứ lúc nào hắn muốn. Giữ liên lạc chặt chẽ với tôi, tôi đang rà soát lại các kẽ hở pháp lý để tìm cách vô hiệu hóa nó.”*

An nắm chặt chiếc điện thoại trong lòng bàn tay, hít một hơi thật sâu làn gió mặn mòi từ phía biển thổi ngược vào đất liền. Khang đứng đợi bên chiếc xe máy dưới bóng râm của hàng xà cừ, nổ máy và khẽ gật đầu mỉm cười với cô.

Khi hai người quay trở lại làng chài, mặt trời đã ngả dần về phía tây. Ánh hoàng hôn buông xuống nhuộm đỏ ối cả một vùng chân sóng Cửa Tùng. Những chiếc vại sành ủ mắm cá cơm than cổ kính xếp đều tăm tắp trên bãi cát như những người lính kiên cường, trầm mặc đứng canh giữ bờ cõi quê hương qua bao thăng trầm dâu bể.

Chị Hảo đứng lặng đầu ngọn gió, mắt đăm đăm nhìn những chiếc chum mắm phơi mình dưới ráng chiều đỏ rực, khẽ thở dài: “Mất bến cá thì có cầm tiền tỷ trong tay, người làng biển cũng thành kẻ tha hương trên chính quê mình thôi cô An.”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn