Đan Sư Núi Vân MộngC.6 / 32
Chương 6

Sổ sách cũng là một vị thuốc

Thẩm Quân Bình đứng sừng sững bên mố cầu đá dẫn vào chợ, áo dài xám thẳng nếp và tập khế ước kẹp dưới nách toát ra vẻ lạnh lùng cách biệt với cảnh ồn ào phiên chợ sớm.

Gió thổi từ mặt suối Thanh Khê mang theo hơi ẩm ngai ngái của bùn, mùi rêu đá ngâm nước lâu ngày cùng vị tanh nồng của mớ cá đồng vừa kéo lưới. Những luồng gió ấy làm vạt áo xám tro dệt bằng sợi đay thô của vị quản sự tín dụng khẽ lay động, dập dờn như cánh quạ rình mồi bên bờ nước. Thế nhưng, vóc dáng gầy guộc cùng gương mặt góc cạnh tựa hồ khắc bằng rìu của ông ta thì tuyệt nhiên bất động, vững chãi và trơ khấc như chính khối đá xanh nghìn năm cắm sâu dưới chân mố cầu.

Đám đông đang xúm xít quanh quầy hàng xén bên kia cầu dần dạt ra hai bên mép đường đất. Tiếng cười đon đả, giòn giã như pháo nổ của Bạch Tú Nương vừa dứt thì những tiếng xôn xao bàn tán rì rầm, ngột ngạt lại lập tức nổi lên. Người dân quanh trấn Thanh Khê, từ kẻ chèo đò ngang đến phường thợ xẻ gỗ rừng sâu, chẳng ai xa lạ gì chiếc bàn tính bằng ngọc đen kẹp bên sườn cùng chiếc huy hiệu tròn chạm hình sóng nước gợn mạ bạc lấp lánh nơi ngực áo ông ta. Đó là biểu trưng quyền lực tối thượng của Thương hội Tứ Hải trên toàn cõi châu phủ. Nơi nào có bóng áo xám ấy xuất hiện, nơi đó không có chỗ cho sự thư thả; ở đó ắt có nợ nần dây dưa khó dứt, có lệnh xiết nhà, lệnh tịch thu đất đai, phát mại điền sản, hoặc những tờ trát đòi bạc viết bằng thứ mực đen đặc quánh không dung thứ cho bất kỳ giọt nước mắt nào.

Linh Chi khẽ hít một hơi sâu, lồng ngực hơi thắt lại nhưng nhịp thở vẫn giữ được sự bình ổn đáng kinh ngạc. Hai bàn tay nàng giấu dưới lớp tay áo vải thô siết chặt lấy quai chiếc giỏ mây, nơi đáy giỏ đang nằm im lìm một túi tiền đồng nặng trịch—thành quả lao động cật lực của cả nhóm suốt một buổi sáng chợ phiên mồng năm. Ninh Tiểu Mãn theo phản xạ tự nhiên rụt người lại sau lưng nàng, hai bàn tay nhỏ bé níu chặt lấy vạt áo tỷ tỷ, đôi mắt tròn xoe ngập tràn vẻ kinh hãi thảng thốt như con chim sẻ non vừa thấy bóng chim ưng lượn qua vòm lá.

Chỉ có Mặc Trúc là vẫn giữ vẻ mặt phẳng lặng như mặt giếng cạn giữa ngày đông buốt giá. Chiếc đòn gánh tre bóng loáng vắt ngang bờ vai rộng của chàng khẽ dịch chuyển về phía trước chỉ chừng một tấc; một chuyển động vô cùng tinh tế, gần như không phát ra tiếng động. Hai chiếc sọt mây rỗng buông thõng hai bên sườn chàng khẽ đung đưa nhẹ theo nhịp thở, vừa vặn che chắn trọn vẹn nửa tầm nhìn từ phía mố cầu đá hướng thẳng về phía Linh Chi, tựa như một tấm bình phong bằng gỗ lim dựng đứng ngăn giữa nàng và cơn gió lạnh toát toát ra từ người đối diện.

"Thẩm quản sự."

Linh Chi chủ động bước lên nửa bước, bước chân nàng đặt xuống phiến đá cầu một cách vững vàng. Nàng cất tiếng chào bằng giọng điềm tĩnh, thanh âm trong trẻo như tiếng nước chảy qua khe suối mùa thu, tuyệt nhiên không để lộ chút bối rối hay e sợ nào. "Ngài đến trấn sớm thế này là có công vụ của thương hội đi ngang qua, hay là..."

"Ta đến vì khoản nợ một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm của Tô Hoài Sơn."

Thẩm Quân Bình lạnh lùng ngắt lời nàng. Thanh âm của ông ta khô khốc, gãy gọn và dứt khoát như tiếng hai thanh gỗ mục va đập vào nhau giữa đêm đông giá buốt. Ánh mắt sắc lạnh như mắt chim ưng của ông ta từ từ quét qua chiếc biển hiệu Bách Thảo Đường bằng gỗ đào mòn vẹt các góc đang được kẹp hờ bên hông giỏ mây của Linh Chi, rồi dừng lại thật lâu trên chiếc túi vải bố thô đang trĩu nặng tiền đồng bên sườn nàng.

"Hôm nay là phiên chợ mồng năm," Thẩm Quân Bình tiếp tục, từng lời buông ra đều mang theo sức nặng ngàn cân của điều lệ thương hội, "Bộ phận giám sát của Thương hội Tứ Hải nhận được tin Bách Thảo Đường đã mở quầy phát mãi dược phẩm tại chợ phiên sau nhiều tháng đình trệ. Lại có tin báo y quán các ngươi có sự xáo trộn nhân sự nghiêm trọng, thu nhận kẻ lai lịch bất minh, không rõ nguồn gốc tu vi. Theo điều lệ tài chính của Tứ Hải, khi bên vay có biến động lớn về tài sản thế chấp, hoặc tự ý thay đổi phương thức sinh lợi mà không thông báo trước bằng văn bản, quản sự thụ lý có toàn quyền trực tiếp kiểm tra thực địa, rà soát sổ sách kế toán trước hạn chót mười lăm tháng bảy."

Bạch Tú Nương đứng cách đó một quãng chừng mươi bước chân, thấy không khí căng thẳng nghẹt thở vội lau vội đôi bàn tay đẫm mỡ lợn vào chiếc tạp dề hoa lý, bước xăm xăm tới. Bà nở nụ cười xởi lởi, khuôn mặt đầy đặn cố kéo ra vẻ thân thiện thường ngày:

"Ấy chết, Thẩm gia! Ngài bận trăm công nghìn việc dưới các bến lớn sông dài, sổ sách bạc vạn ngày đêm, cớ sao sáng sớm ra đã cất công lên cái chợ huyện heo hút này để khắt khe với mấy đứa nhỏ mồ côi tội nghiệp thế này? Con bé Linh Chi nó vừa mới dọn hàng buổi đầu tiên, chỉ là gánh mấy hũ cao cứu khổ cứu nạn cho đám phu thuyền, thợ củi bọn tôi dùng thử, kiếm được dăm ba đồng tiền lẻ đổi lấy mấy đấu gạo hẩm qua ngày đoạn tháng. Chuyện lão Tô bế quan chữa thương cũng là việc vạn bất đắc dĩ, ngài giơ cao đánh khẽ..."

"Bạch chưởng quầy."

Thẩm Quân Bình hơi nghiêng đầu, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo liếc xéo qua một cái. Cái nhìn lạnh buốt ấy khiến nụ cười trên môi người đàn bà phố chợ lập tức đông cứng lại giữa chừng, lời nói nghẹn ứ trong cổ họng.

"Thương hội Tứ Hải cho vay bằng linh thạch thật, khế ước ký bằng mực chu sa và máu ngón tay, được bảo chứng bởi pháp luật triều đình và quy ước tiên gia; chúng ta không tính lãi bằng nước mắt, và không nhận hoàn cảnh bi đát để cấn trừ nợ nần. Việc Tô Hoài Sơn bế quan là chuyện nội bộ của Bách Thảo Đường; việc các ngươi đổi được gạo ăn no hay nhịn đói qua ngày hoàn toàn không nằm trong các điều khoản khế ước đã định. Nếu Bách Thảo Đường ngày hôm nay chỉ biết dựa vào lòng thương hại của láng giềng lối xóm để xin khất nợ, thì ngay trong giờ Thìn này, ta sẽ lập tức hạ lệnh niêm phong toàn bộ ba mẫu linh điền và cửa hiệu theo đúng quyền hạn ghi tại điều mười chín của khế ước thế chấp."

Bầu không khí bên mép suối Thanh Khê chùng hẳn xuống, ngột ngạt đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng nước róc rách chảy qua chân cầu. Mấy người thợ rừng vạm vỡ và đám phu khiêng cá vừa mới tươi cười mua cao xoa bóp lúc nãy len lén nhìn nhau, rồi lẳng lặng nhấc gánh thụt lùi ra xa. Ở cái thị trấn nhỏ bé này, người ta có thể cãi nhau với quan nha, nhưng tuyệt đối không một ai dám dây dưa hay đứng ra can dự vào công việc đòi nợ của người mang huy hiệu Tứ Hải.

Ninh Tiểu Mãn run rẩy dữ dội hơn, ngón tay cô bé xoắn chặt gấu áo Linh Chi đến mức nhăn nhúm, giọng thì thào đứt quãng bên tai nàng:

"Tỷ tỷ... hay là... hay là chúng ta quỳ xuống nài ngài ấy... nài ngài ấy thư thả thêm vài ngày..."

"Tiểu Mãn, đứng thẳng người lên. Không cần nài nỉ."

Linh Chi khẽ ngắt lời muội muội, giọng nàng trầm thấp nhưng vô cùng dứt khoát. Nàng ngẩng cao đầu, lưng thẳng tắp, ánh mắt trong trẻo và thanh tịnh đối diện trực diện với đôi đồng tử xám tro lạnh lùng của vị quản sự. Nàng hít thở sâu, từng nhịp thở đều đặn xua tan đi cảm giác bức bách vô hình đang bao trùm chung quanh.

"Thẩm quản sự nói rất đúng. Nợ nần phân minh, khế ước rõ ràng tựa núi đá, Bách Thảo Đường chúng ta từ trước tới nay chưa từng có ý định dùng sự nghèo khổ hay hoàn cảnh bệnh tật để trốn tránh trách nhiệm bồi hoàn. Nếu ngài muốn đối soát nguồn thu, kiểm tra năng lực sản xuất và thực địa tài sản bảo đảm, xin mời ngài cùng chúng ta lên núi. Toàn bộ tiền đồng thu chi ban sáng, hồ sơ gốc gác dược liệu cùng ba cuốn sổ sách hoạt động của y quán đều được cất giữ cẩn thận trên tiệm."

Thẩm Quân Bình khẽ nhướng một bên mày rậm. Dưới đáy mắt xám tro của ông ta lóe lên một tia dao động rất mờ nhạt, dường như có chút bất ngờ trước phản ứng cứng cỏi, rành mạch và hoàn toàn bình thản của cô gái trẻ mới chỉ mười tám tuổi này. Suốt hai mươi năm làm việc cho bộ phận chấp pháp tài chính của Tứ Hải, ông ta đã chứng kiến hàng trăm kẻ vỡ nợ: kẻ thì khóc lóc van xin, dập đầu chảy máu; kẻ thì giở thói côn đồ liều mạng; kẻ lại tìm cách bỏ trốn trong đêm. Nhưng một con nợ bình tĩnh mở cửa đón thanh tra sổ sách như thế này, quả thực hiếm thấy.

Ông ta không nói thêm một lời thừa thãi nào, chỉ khẽ gật đầu một cái dứt khoát, xoay nghiêng người nhường lối cho nàng bước lên trước:

"Dẫn đường."

***

Con đường dốc thoai thoải dẫn từ chân núi ngược lên sườn nam rặng Vân Mộng vào buổi giữa trưa hanh hao đầy nắng vàng rực rỡ. Gió núi thổi qua những rặng thông già xào xạc, mang theo mùi lá mục ngai ngái quyện với hơi bùn non từ các rãnh nước và mùi đất thịt ấm sực đang bốc lên nồng nàn.

Mặc Trúc đi tiên phong ở phía trước. Đôi sọt mây rỗng trên vai chàng nhấp nhô theo từng bước chân nhịp nhàng, êm ru trên lớp lá thông khô khốc không hề phát ra một tiếng gãy vụn nào. Linh Chi dắt tay Tiểu Mãn đi ở giữa, bước chân nàng dẫu hơi mỏi sau cả buổi sáng đứng bán hàng nhưng vẫn giữ được nhịp độ vững chãi. Đi phía sau bọn họ chừng năm bước chân là Thẩm Quân Bình. Vị quản sự xách tà áo xám điềm nhiên cất bước, nhưng đôi mắt sắc sảo của ông ta thì không hề ngơi nghỉ dù chỉ một khắc.

Ánh mắt ấy săm soi từng khúc mương dẫn nước mới toanh vừa được khơi thông từ con suối Tẩy Diệp, nhìn từng bờ đất đắp bằng sỏi cuội ngăn nắp thẳng tắp chia đều dòng chảy vào các luống đất phía xa, cho đến hàng rào tre bánh tẻ mới được Mặc Trúc gia cố chắc chắn, ken dày bằng dây mây rừng quanh ranh giới đất đai của Bách Thảo Đường. Mọi dấu vết đều chỉ ra một điều rõ ràng: nơi đây không hề có dấu hiệu của sự hoang tàn, buông xuôi hay chuẩn bị bỏ trốn, mà trái lại, đang được chăm chút với một ý chí phục hưng vô cùng bền bỉ.

Vừa bước qua chiếc cổng tre khép hờ, từ trên xà nhà chái phụ phía sau, một bóng lông vàng óng thoăn thoắt lao vút xuống như một mũi tên. Đó là Đậu Đậu. Con chuột Tầm Bảo ngậm một cọng rơm khô trong miệng định chạy ra đón chủ, nhưng vừa bốn chân chạm đất, nó liền đánh hơi thấy mùi mực tàu nồng nặc cùng một luồng khí tức lạnh lẽo, xa lạ toát ra từ người Thẩm Quân Bình. Con thú nhỏ hoảng hốt phanh gấp trên nền đất nện, bốn móng vuốt cào thành vệt dài, rồi nhanh như chớp lủi tót vào nấp sau mắt cá chân của Mặc Trúc. Nó chỉ dám thò cái mũi hồng hào ươn ướt cùng đôi râu mép rung rung ra hít hà đầy vẻ cảnh giác.

"Mời Thẩm quản sự vào gian khám bệnh."

Linh Chi đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa liếp làm bằng nứa đan.

Bên trong gian phòng tiếp khách kiêm khám bệnh của Bách Thảo Đường, mọi thứ đều đơn sơ đến mức gần như trơ trọi, nhưng lại ngăn nắp và sạch sẽ đến mức không tìm thấy một hạt bụi trên gờ cửa. Không gian thoang thoảng mùi thảo dược phơi khô, mùi rễ cây ngâm rượu hòa quyện với mùi sáp ong rừng thơm dịu, xua tan hoàn toàn cảm giác ẩm mốc thường thấy của những căn nhà gỗ nép mình bên sườn núi mù sương. Bộ bàn ghế cũ kỹ bằng gỗ tạp xỉn màu đã được dùng xơ mướp cọ rửa bóng loáng, vân gỗ nổi lên mộc mạc.

Thẩm Quân Bình bước vào, cởi chiếc bàn tính ngọc đen bên hông đặt lên mặt bàn gỗ.

*Cộc!*

Một tiếng gõ khô khốc, đanh gọn vang lên trong căn phòng vắng lặng. Ông ta ngồi xuống chiếc ghế đối diện, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, sống lưng thẳng tắp như một ngọn giáo cắm xuống đất:

"Bắt đầu đi. Ta không có nhiều thời gian để nán lại trên núi."

Ninh Tiểu Mãn luống cuống định chạy vội xuống bếp đun nước pha ấm trà cúc dại đãi khách, nhưng Linh Chi khẽ đưa tay ra hiệu ngăn lại, bảo cô bé đứng nép bên góc chiếc tủ thuốc cũ. Nàng hiểu rất rõ tâm lý của những người làm việc với các con số như Thẩm Quân Bình: đối với họ, một chén trà thơm hay vài lời thưa gửi khách sáo chẳng có chút giá trị thực tế nào, thậm chí còn bị coi là hành vi câu giờ vụng về của kẻ yếu thế.

Linh Chi thản nhiên bước đến góc phòng, kéo ngăn kéo dưới cùng của chiếc tủ gỗ đựng bệnh án đã lên nước đen nhánh. Nàng lấy ra ba cuốn sổ dày dặn được đóng cẩn thận bằng chỉ gai xe ba sợi, bên ngoài bọc giấy bản thô màu xám tro dày dặn để chống ẩm. Nàng ôm chúng đến bàn, đặt ngay ngắn thành một hàng thẳng tắp trước mặt Thẩm Quân Bình.

"Đây là toàn bộ hệ thống sổ sách vận hành mới của Bách Thảo Đường do ta tự tay thiết lập và theo dõi trong mười ngày qua." Linh Chi ngồi xuống đối diện, giọng nói rành rọt, âm lượng vừa đủ nghe.

Thẩm Quân Bình khẽ liếc mắt nhìn qua ba cuốn sổ. Trên mép bìa mỗi cuốn đều có dán nhãn giấy đỏ, đề chữ triện ngay ngắn bằng mực tàu đen nhánh: cuốn thứ nhất ghi *“Dược Khố Tồn Dữ Tiêu Thang”*, cuốn thứ hai mang tên *“Luyện Chế Mẫu Hạch Biểu”*, và cuốn thứ ba dày nhất mang tên *“Phàm Thứ Bệnh Khách Tầm Lạc Bộ”*.

Đôi mắt xám tro của vị quản sự khẽ lay động một thoáng. Thông thường, các đan phòng hay y quán quy mô nhỏ rải rác quanh rặng núi Vân Mộng làm ăn vô cùng tùy tiện, lộn xộn. Các đan sư xuất thân tán tu thường chỉ ghi vài dòng nguệch ngoạc số lượng dược liệu lên vách vôi hoặc đơn giản là nhớ trong đầu số linh thạch thu chi; đến khi nợ nần chồng chất, vỡ nợ bỏ trốn thì sổ sách chỉ là mớ giấy vụn rách nát, tiền thuốc hòa lẫn với tiền mua rượu thịt ăn uống hàng ngày. Việc một tiểu nha đầu Luyện Khí tầng ba vừa tiếp quản một cơ ngơi đổ nát lại có thể trình ra một hệ thống kế toán ba sổ phân định chức năng rạch ròi, khoa học như thế này là điều ông ta chưa từng gặp ở bất kỳ đan phường nhỏ lẻ nào dưới chân núi.

"Cuốn thứ nhất là sổ kho dược liệu."

Linh Chi đưa ngón tay trỏ thon thả chỉ vào cuốn sổ ngoài cùng bên trái, nhẹ nhàng lật mở trang đầu tiên. Từng dòng chữ viết tay bằng lối khải thư nắn nót hiện ra rõ ràng dưới ánh sáng ban trưa rọi qua khe cửa liếp.

"Toàn bộ thảo dược còn tồn đọng trong kho từ thời sư phụ ta để lại, cùng với các đợt thu hái, gom góp mới nhất trong mười ngày qua đều được phân định rành mạch thành ba đẳng cấp khác nhau: Thượng đẳng dùng để chuẩn bị cho việc luyện chế linh đan cơ bản; Trung đẳng dùng để chiết xuất tinh chất, phối chế các loại cao bôi ngoài da; và Thứ đẳng dùng làm dược dẫn xông khói, hoặc đốt thành tro kiềm để giải trừ hỏa độc trong đất. Ở đây, ngài có thể thấy cột bên trái ghi rõ số lượng đầu vào và lai lịch nguồn gốc. Ví dụ như lô rễ Cát Cánh mười hai cân và Bạch Chỉ tám cân này là do ta đổi từ công sức cải tạo đất dẫn nước và than bùn khô với bà con Thôn Hạ Vân; cột bên phải ghi rõ định mức hao hụt khi phơi sấy, sàng sẩy tạp chất và lượng thực tế nhập kho. Mỗi mục đều có đối chiếu ngày giờ cụ thể."

Thẩm Quân Bình không đáp lời, ngón tay thon dài gầy guộc lật giở từng trang giấy bản thô. Từng nét chữ của Linh Chi thanh mảnh nhưng nét bút dứt khoát, cứng cáp. Các con số cân lượng từ cân, lạng cho đến tiền, phân đều được kẻ bảng ngay ngắn bằng mực đen; những chỗ hao hụt do thời tiết ẩm ướt hay sương núi đều được đánh dấu bằng một chấm đỏ nhỏ bằng đầu tăm, kèm theo dòng chú thích nguyên nhân ngắn gọn: *“Độ ẩm sương sớm núi Vân Mộng tăng hai phần, rễ Hoàng Kỳ co ngót một phân ba liều”*.

"Tiếp tục." Thẩm Quân Bình lạnh lùng buông một câu, ngón tay khép cuốn sổ thứ nhất lại.

"Cuốn thứ hai là sổ theo dõi từng mẻ luyện chế."

Linh Chi lật mở cuốn sổ ở giữa. "Như ngài đã biết qua tin báo, lò luyện đan Thanh Đồng của y quán đã bị nứt vỡ một vết dài ba tấc ở cổ lò từ tháng trước, tuyệt đối không thể chịu được áp lực khí nén cao để kết tụ thành các loại đan hoàn chính phẩm như Ích Khí Hoàn hay Tụ Nguyên Đan. Thay vì để lò nguội lạnh và bỏ phí nguyên liệu, toàn bộ thảo dược thứ phẩm và phế liệu còn dược tính đã được ta tận dụng triệt để. Ta điều chỉnh ngọn lửa địa hỏa từ mãnh hỏa xuống mức ôn hỏa liu riu, phối trộn thêm sáp ong rừng và dịch chiết hoa cúc dại hái trên vách đá để cô đặc thành Thư Cân Dưỡng Cốt Cao."

Nàng dừng lại một chút, lật sang trang ghi chép ngày mồng ba: "Cuốn sổ này ghi chi tiết từng mẻ nấu: tiêu tốn bao nhiêu cân than củi thông, duy trì hỏa lực trong bao nhiêu khắc, tỷ lệ thành phẩm thu được là bao nhiêu hũ cao gốm. Mẻ gần nhất nấu đêm mồng ba, dùng năm cân rễ thảo dược hỗn hợp, thu được hai mươi hũ trọn vẹn, tỷ lệ hao hụt dược tính kiểm soát ở mức dưới nửa thành."

Dứt lời, Linh Chi thò tay vào tay áo, rút ra một tờ giấy điệp bằng lụa màu vàng nhạt có đóng một con triện đỏ tươi hình đỉnh ba chân nổi gân sắc nét, đặt ngay ngắn bên cạnh cuốn sổ thứ hai:

"Đây là giấy chứng nhận kiểm định chất lượng và an toàn dược phẩm của Dược Sư Hội trấn Thanh Khê, do đích thân Phó hội trưởng Kỷ Như Tâm ký tên và đóng dấu thẩm định chiều hôm qua. Chế phẩm này được xác nhận hoàn toàn sạch độc tính, không chứa hỏa sát tàn dư, có tác dụng khu phong trừ thấp thực chất và an toàn tuyệt đối cho cơ thể người không có linh căn."

Thẩm Quân Bình đưa tay cầm tờ giấy chứng nhận lên. Đầu ngón tay ông ta miết nhẹ qua vết mực đỏ son nổi gờ của con dấu Dược Sư Hội. Ánh mắt ông ta dừng lại ở nét chữ ký sắc sảo, cứng cỏi của Kỷ Như Tâm khá lâu.

Là một người đã lăn lộn hàng chục năm trong giới tài chính và giao thương đan dược của Thương hội Tứ Hải, Thẩm Quân Bình thừa hiểu tính khí nghiêm cẩn, thậm chí có phần cay nghiệt và bài xích gian lận của Kỷ phó hội trưởng đối với các tiêu chuẩn an toàn dược liệu. Một y quán rách nát như Bách Thảo Đường, một học đồ vô danh Luyện Khí tầng ba, muốn lấy được con dấu lưu hành dân dụng từ tay người đàn bà thép ấy mà không mất một xu đút lót, lại còn được bà ta cho phép ghi nợ lệ phí mười lăm đồng tiền đồng, thì chỉ có một khả năng duy nhất: chất lượng của hũ cao bôi này hoàn toàn thuần khiết, không tìm ra nổi một tì vết nhỏ nào.

"Còn cuốn thứ ba?" Thẩm Quân Bình đặt tờ giấy kiểm định xuống mặt bàn, ánh mắt chuyển sang cuốn sổ dày dặn nhất.

"Cuốn thứ ba là sổ ghi chép phản hồi lâm sàng của các bệnh nhân phàm nhân."

Ngữ điệu của Linh Chi trầm xuống một nhịp, mang theo sự cẩn trọng và lòng trắc ẩn sâu sắc của một người hành nghề y chân chính.

"Người tu hành các ngài thường chỉ hướng mắt nhìn lên thượng tầng, chỉ quan tâm đến các loại linh đan cao giai giúp đột phá cảnh giới, bồi bổ linh căn. Nhưng tại vùng núi non trùng điệp của rặng Vân Mộng này, phàm nhân áo vải chiếm tới chín phần mười dân số. Họ quanh năm suốt tháng ngâm mình dưới ruộng nước lạnh, lội suối kéo lưới, trèo đèo gánh củi, thân thể ai nấy đều bị khí hàn thấp và gió lạnh ngấm sâu vào từng khớp xương tủy thịt. Cuốn sổ này ghi lại danh tính, tuổi tác, chứng trạng cụ thể của từng người đã dùng thử hoặc mua thuốc của ta."

Linh Chi chỉ tay vào từng dòng mực: "Trương tam thợ mộc ở ngã tư chợ bị co rút gân khớp cổ tay suốt hai năm không cầm nổi đục, sau khi xoa cao và được ta bấm huyệt đả thông kinh lạc thì mười ngón tay đã duỗi ra được bảy phần, có thể cầm lại cán búa; lão đánh cá họ Lý ở bến sông mua hai hũ cao xoa lưng để chống chọi với cái lạnh của sương đêm; ba hộ nông dân Thôn Hạ Vân đổi phân chuồng khô lấy cao trị nứt nẻ gót chân rướm máu mùa cấy. Mỗi trường hợp đều được ghi rõ phản ứng da thịt, thời gian phát huy tác dụng và mức độ thuyên giảm sau ba ngày, bảy ngày."

Linh Chi nói một mạch không vấp váp, rồi từ từ mở chiếc túi vải bố thô đặt trên bàn. Nàng trút toàn bộ số tiền kiếm được ban sáng ra mặt gỗ.

*Rổn rảng! Lách cách!*

Những đồng tiền đồng mòn vẹt mép kêu lên những âm thanh lanh lảnh, va đập vào nhau rồi tản ra, hòa lẫn với ánh sáng lấp lánh của ba thỏi bạc vụn dưới ánh nắng ban trưa rọi xiên qua song cửa.

"Phiên chợ ban sáng, ta mang đi hai mươi hũ Thư Cân Dưỡng Cốt Cao, mười lăm gói trà an thần và tám gói hoàn tiêu thực; toàn bộ đều bán hết sạch bách không còn một hũ. Tổng thu được ba trăm sáu mươi đồng tiền đồng và ba thỏi bạc vụn. Sau khi trừ đi mười lăm đồng tiền nợ lệ phí kiểm định cho Dược Sư Hội và hai mươi đồng tiền đặt cọc mua sáp ong dự trữ cho mẻ sau, toàn bộ số tiền còn lại nếu quy đổi ra thị giá chợ đen tương đương gần ba khối linh thạch hạ phẩm. Đây là dòng tiền mặt thực tế, xoay vòng chỉ trong vỏn vẹn một buổi sáng chợ phiên."

Thẩm Quân Bình không vội vàng đụng tay vào đống tiền đồng đang nằm ngổn ngang trên bàn. Ông ta kéo chiếc bàn tính bằng ngọc đen lại gần trước ngực, năm ngón tay thon dài bắt đầu khẽ gảy nhẹ lên các hạt tính.

*Lách cách! Lách cách! Cộc cộc!*

Tiếng những hạt ngọc đen tuyền va chạm vào nhau khô khốc, đanh gọn vang lên đều đặn, nhịp nhàng trong gian phòng tĩnh mịch. Từng con số cân lượng trên ba cuốn sổ giấy bản thô được ông ta đối chiếu ngược lại với số tiền nằm trên mặt bàn, rồi nhanh chóng tính toán chi phí nguyên liệu thô, mức độ tiêu hao than củi, công lao động và tỷ suất lợi nhuận ròng.

Gương mặt của vị quản sự tín dụng vẫn lạnh tanh như mặt hồ đóng băng giữa mùa đông, đôi mày rậm không hề giãn ra, không để lộ bất kỳ một tia cảm xúc hay sự thán phục nào trước mặt đối phương.

"Ba khối linh thạch cho một phiên chợ."

Thẩm Quân Bình dừng tay gảy bàn tính, những hạt ngọc đen đứng im phăng phắc. Ông ta ngước mắt lên nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của Linh Chi, cất giọng lạnh lùng:

"Một tháng ở trấn Thanh Khê chỉ có hai phiên chợ lớn vào ngày mồng năm và ngày hai mươi. Vị chi trong điều kiện lý tưởng nhất, ngươi kiếm được sáu khối linh thạch hạ phẩm một tháng nếu phiên nào cũng bán sạch bách như hôm nay. Nhưng hạn nợ mười lăm tháng bảy tới đây, theo đúng khế ước, Bách Thảo Đường phải nộp đủ mười phần trăm nợ gốc để gia hạn hợp đồng, tức là tròn mười hai khối linh thạch hạ phẩm. Từ hôm nay cho đến ngày mười lăm tháng bảy, ngươi chỉ còn đúng một phiên chợ duy nhất vào ngày hai mươi tháng sáu. Cho dù phiên tới ngươi có bán hết sạch một mẻ cao nữa, ngươi cũng chỉ gom góp được nhiều nhất là sáu đến bảy khối linh thạch. Vẫn thiếu hụt ít nhất năm khối linh thạch. Khoản thiếu hụt đó, ngươi định dùng lời hứa suông hay dùng nước mắt để bù đắp vào sổ nợ của Tứ Hải?"

Áp lực vô hình từ những lời lẽ sắc bén, thực tế và tàn nhẫn của Thẩm Quân Bình đè nặng xuống căn phòng. Ninh Tiểu Mãn đứng nép bên tủ thuốc tái mét mặt mày, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, hơi thở nghẹn lại trong lồng ngực.

Thế nhưng, Linh Chi vẫn ngồi bất động. Khóe môi nàng thậm chí còn khẽ cong lên một nét cười vô cùng mờ nhạt. Nàng nghiêng người, vươn tay rút từ trong tay áo ra bản sao khế ước vay nợ bằng giấy da dê dày cộp mà phân hội Tứ Hải đã giao cho nàng ba ngày trước. Nàng lật giở từng trang một cách cẩn thận, rồi lật úp mặt sau của trang thứ ba lên bàn, ngón tay mảnh mai chỉ chuẩn xác vào một dòng chữ nhỏ li ti nằm khuất ở góc dưới cùng—nơi mực in đã hơi mờ nhạt theo năm tháng:

"Thẩm quản sự, xin ngài hãy xem kỹ lại điều khoản phụ đính kèm mục thứ mười bảy này."

Thẩm Quân Bình cụp mắt nhìn xuống vị trí đầu ngón tay nàng đang đặt. Đồng tử màu xám tro của ông ta khẽ co rút lại trong một tích tắc.

"Khế ước gốc ký năm năm trước giữa sư phụ ta là Tô Hoài Sơn và Thương hội Tứ Hải có ghi chép rất rõ ràng:" Linh Chi cất giọng đọc rành rọt từng chữ một, thanh âm vang vang trong gian phòng: "‘Trong trường hợp bên vay gặp khó khăn khách quan về việc lưu chuyển linh thạch mặt, bên vay có toàn quyền thanh toán tối đa bốn mươi phần trăm giá trị định kỳ của khoản nợ bằng các chế phẩm dược liệu, cao đơn hoàn tán đã qua kiểm định an toàn và được cấp phép lưu hành bởi Dược Sư Hội địa phương. Giá trị cấn trừ nợ sẽ được tính bằng tám mươi phần trăm giá bán buôn bình quân tại thị trấn sở tại.’"

Căn phòng thuốc bỗng chìm vào một sự im ắng lạ thường.

Linh Chi ngẩng đầu lên, ánh mắt bình thản nhưng kiên định như bàn thạch:

"Hạn định mười lăm tháng bảy tới, ta cần nộp mười hai linh thạch hạ phẩm. Chiểu theo đúng điều khoản phụ thứ mười bảy này, ta hoàn toàn có quyền hợp pháp để thanh toán bảy khối linh thạch bằng hiện kim, và năm khối linh thạch còn lại sẽ được cấn trừ sòng phẳng bằng Thư Cân Dưỡng Cốt Cao cùng trà thảo dược an thần đã có chứng nhận đỏ của Dược Sư Hội. Thương hội Tứ Hải các ngài nắm giữ hàng chục tuyến thuyền buôn lớn nhỏ chạy dọc con sông Thanh Khê nối liền về các mỏ than đá và bến gỗ thượng nguồn; phu thuyền, thủy thủ của các ngài quanh năm suốt tháng dầm mưa dãi nắng, ngâm chân dưới nước xiết, phong thấp đau nhức đầy mình. Năm khối linh thạch tiền cao bôi này, đối với các đội thuyền vận tải của thương hội, không phải là thứ vật phẩm tiêu hao thiết thực và dễ luân chuyển nhất hay sao?"

Thẩm Quân Bình nhìn trừng trừng vào cô gái trẻ trước mặt mình. Bàn tay thô ráp của ông ta đặt trên khung bàn tính siết chặt lại, khớp xương khẽ kêu răng rắc rồi từ từ thả lỏng ra.

Điều khoản phụ đó vốn là một quy định cũ kỹ, được soạn thảo từ thời vị hội trưởng tiền nhiệm lập nghiệp, rất hiếm khi được áp dụng và hầu như chẳng mấy ai nhớ tới. Thông thường, nó chỉ dành cho các đại đan phường có quy mô lớn khi họ dư thừa thành phẩm ứ đọng cần thanh lý để cấn trừ nợ khó đòi. Ngay cả Lục Cảnh Minh của Vạn Đan Các khi ngấm ngầm xúi giục ông ta siết nợ Bách Thảo Đường cũng cố tình phớt lờ điều khoản này, đinh ninh rằng một cô bé mười tám tuổi chưa từng bước chân ra khỏi rặng núi Vân Mộng sẽ chỉ biết khóc lóc van xin hoặc hoảng loạn bán tháo đất đai linh điền với giá rẻ mạt.

Không ngờ nàng không những đọc hết từng dòng chữ nhỏ xíu viết bằng mực mờ trong bản khế ước dày cộp, mà còn hiểu thấu đáo cấu trúc vận hành của thương hội, tìm ra đúng kẽ hở hợp pháp để biến thế bị động hoàn toàn thành thế chủ động, tự mở ra một con đường sống sót ngay giữa gọng kìm tài chính siết chặt.

Đúng lúc đó, ngón tay Thẩm Quân Bình trong lúc lật giở các cuốn sổ vô tình lật sang tập hồ sơ bệnh án cũ kẹp phía sau cuốn sổ bệnh nhân mà Linh Chi đặt trên bàn. Đó là tập giấy bản ố vàng, mép giấy đã sờn rách, ghi chép lại các ca bệnh hiểm nghèo do chính tay Tô Hoài Sơn chữa trị từ nhiều năm về trước.

Ánh mắt Thẩm Quân Bình bỗng nhiên khựng lại, dán chặt vào một trang giấy đã ngả màu nâu sẫm:

*“Năm Cảnh Thái thứ bảy, tháng mười một rét đậm, tuyết phủ kín lối. Con trai nhỏ của quản sự họ Thẩm, vừa tròn ba tuổi, phát chứng kinh phong co giật dữ dội do hỏa nhiệt uất kết tạng phế. Dùng đan dược tu sĩ hỏa tính quá mạnh sẽ lập tức phá nát kinh mạch căn cơ non nớt của đứa trẻ phàm nhân. Dùng thang Cúc Hoa, Cam Thảo đất cùng rễ Bạch Thược sắc ba lần giải độc nhiệt, hạ sốt định kinh, bảo toàn kinh lạc. Bệnh lui sau hai ngày. Không thu tiền thuốc.”*

Một thoáng run rẩy rất khẽ lướt qua nơi khóe mắt Thẩm Quân Bình. Hơi thở của ông ta dường như nghẽn lại trong nửa nhịp tim. Ký ức về mùa đông buốt giá năm ấy như một ngọn lửa tàn bỗng bùng lên trong tâm trí: khi đứa con trai độc nhất của ông ta sốt cao mê man suốt bảy ngày đêm, co giật sùi bọt mép, tất cả các y quán lớn danh tiếng ở trấn Thanh Khê đều xua tay từ chối tiếp nhận vì sợ làm chết một đứa trẻ phàm nhân không có linh căn.

Chính ông lão đan sư áo vải rách nát của Bách Thảo Đường đã một mình cõng hòm thuốc vượt qua bão tuyết trong đêm tối mịt mù, kiên trì ngồi bên chõng tre suốt hai ngày hai đêm, dùng những ngọn cỏ dại tầm thường nhất trên núi để giành giật lại mạng sống cho con trai ông ta từ tay Diêm Vương. Khi đứa trẻ tỉnh lại, ông lão chỉ xua xua đôi bàn tay ám khói thuốc, mỉm cười rồi lặng lẽ quay gót trở về núi mà không nhận lấy nửa viên linh thạch vụn nào của một gã quản sự nghèo túng thời ấy.

Thế nhưng, sự xúc động ấy tan biến nhanh như một làn khói mỏng trước gió đông. Thẩm Quân Bình hít sâu một hơi, khép chặt tập hồ sơ bệnh án cũ lại. Thần sắc trên gương mặt góc cạnh của ông ta lập tức khôi phục vẻ sắt đá, lãnh đạm và chuẩn xác của một người chấp hành quy tắc tối cao:

"Khế ước đúng là có điều khoản đó. Nhưng muốn cấn trừ bằng hàng hóa, cơ sở vật chất và quy trình bào chế của Bách Thảo Đường phải chứng minh được năng lực sản xuất ổn định, liên tục. Thương hội không thể chấp nhận một cơ sở nay nấu mai nghỉ, hoặc để dược liệu mốc meo, thối rữa chỉ vì một trận mưa dột từ mái nhà nứa."

*Cộc! Cộc! Cộc!*

Đúng lúc lời Thẩm Quân Bình vừa dứt, từ mé hiên phía đông ngoài sân bỗng vang lên những tiếng gõ đanh gọn, chắc nịch và dứt khoát.

Đó là tiếng vồ gỗ nện xuống những chốt mộng tre.

Thẩm Quân Bình khẽ nhíu mày, đứng dậy bước chầm chậm ra phía khung cửa sổ nhìn xuống khoảng sân nhỏ ngập tràn ánh nắng.

Dưới mé hiên đón nắng sườn nam, Mặc Trúc đang đứng trên một chiếc ghế gỗ thấp. Chàng mặc bộ võ phục màu xám tro đã bạc màu, hai tay áo xắn cao để lộ đôi cẳng tay săn chắc như sắt nguội, chằng chịt những vết sẹo mờ và vết chai sần đặc trưng của người luyện kiếm lâu năm. Chàng không hề vận dụng lấy một tia linh lực nào, hoàn toàn chỉ dựa vào lực đạo chuẩn xác phi thường của cơ bắp và sự khéo léo tuyệt luân của đôi bàn tay để ghép nối từng thanh gỗ mun đã được đục lỗ mộng khít khao đến từng ly.

Trước mặt chàng là một chiếc giàn phơi dược liệu hai tầng hoàn toàn mới tinh, cao hơn đầu người một chút và dài chừng một trượng. Tầng dưới đan bằng những nan tre vót nhẵn thín không một dằm xước để đặt các nong phơi rễ củ cần độ ẩm thấp; tầng trên thoáng khí hơn dành riêng cho các loại hoa cúc mỏng manh và lá thảo dược tươi. Đặc biệt nhất là phía trên đỉnh giàn phơi: một mái che nghiêng dốc nước được lợp bằng ba lớp cỏ tranh dày dặn, ken chặt chẽ bằng dây mây rừng dẻo dai. Mái che này được tính toán góc nghiêng vô cùng chuẩn xác, vừa đủ để che chắn những cơn mưa rào bất chợt thường đổ ập xuống từ đỉnh núi Vân Mộng, lại vừa đón trọn vẹn ánh nắng xiên ấm áp của buổi sớm mai mà không làm dược liệu bị sương đêm làm thối rữa.

Mặc Trúc đặt chiếc chốt tre cuối cùng vào lỗ mộng, vung chiếc vồ gỗ gõ mạnh một tiếng.

*Chát!*

Khung giàn phơi đứng sừng sững, vững chãi như một tảng đá cắm rễ vào lòng đất, không hề rung lắc dù chỉ một sợi tóc. Mặc Trúc nhảy nhẹ xuống nền đất nện, cầm lấy chiếc chổi đót quét sạch lớp mạt cưa vương vãi quanh chân cột, rồi lặng lẽ ngước nhìn trời mây hanh hao, đưa mu bàn tay lau nhẹ vệt mồ hôi rịn trên trán.

Từ đầu đến cuối, chàng không hề liếc nhìn về phía gian phòng khách lấy một lần, nhưng từng cử chỉ, từng nhát búa và đường chốt của chàng đều toát lên một trật tự tuyệt đối, một sự nhẫn nại và bền bỉ phi thường. Đó là lời đáp trả đanh thép và sống động nhất cho nghi vấn của Thẩm Quân Bình: Bách Thảo Đường không phải là một túp lều rách nát đang chờ ngày sụp đổ, mà là một cơ sở đang từng bước củng cố lại nền tảng vững chắc từ những chi tiết nhỏ nhất.

Thẩm Quân Bình đứng lặng bên bậu cửa sổ gỗ mòn, nhìn giàn phơi dược liệu hai tầng phẳng phiu dưới nắng trưa, rồi lại phóng tầm mắt ra ba mẫu linh điền phía sau nhà đang được phủ xanh bởi những luống đất tơi xốp và hệ thống rãnh thoát nước ngay ngắn. Bàn tay ông ta vô thức miết nhẹ lên gờ gỗ cửa sổ thô ráp.

Một người học đồ mười tám tuổi hiểu rõ từng điều khoản khế ước, biết nhìn ra nhu cầu sống còn của hàng vạn phàm nhân bình dân; một người làm vườn có thân thủ trầm ổn như núi, làm việc cẩn trọng đến từng đường mộng tre; và một phương thuốc cải tiến an toàn được bảo chứng bởi con dấu đỏ của Dược Sư Hội.

Đây tuyệt đối không phải là một bãi chiến trường hoang phế để Thương hội Tứ Hải có thể tùy tiện phát mại non cho Vạn Đan Các kiếm chút tiền chênh lệch bẩn thỉu. Đây là một mầm cây cứng cỏi đang tìm mọi cách đâm xuyên qua khe đá nứt để vươn mình đón nắng.

Vị quản sự quay trở lại bàn gỗ, với tay cầm lấy cây bút lông chấm vào nghiên mực đỏ son.

"Tô Linh Chi."

Thẩm Quân Bình cất giọng. Thanh âm của ông ta dường như đã bớt đi vài phần buốt giá của gió lạnh đầu đông, thay vào đó là sự nghiêm cẩn, sòng phẳng của một thương nhân trọng chữ tín:

"Thương hội Tứ Hải là nơi làm ăn buôn bán, chúng ta cần thu hồi linh thạch chứ không muốn ôm lấy một mảnh đất hoang phế để rồi tốn công phát mại rườm rà. Hệ thống sổ sách của ngươi rất rõ ràng, minh bạch. Phương án cấn trừ nợ bằng chế phẩm Thư Cân Dưỡng Cốt Cao ta tạm thời chấp thuận về mặt nguyên tắc, với điều kiện tiên quyết: mỗi lô hàng giao nộp đều phải có giấy niêm phong và chứng nhận kiểm định an toàn của đích thân Kỷ phó hội trưởng."

Linh Chi nín thở lắng nghe, lồng ngực khẽ phập phồng theo từng lời nói của ông ta.

"Thay vì phát mại y quán hay cưỡng chế chuyển nhượng khế ước đất đai cho bên thứ ba ngay trong tháng này theo yêu cầu can thiệp từ phía Vạn Đan Các," Thẩm Quân Bình vừa nói vừa hạ bút viết thoăn thoắt lên một tờ giấy điều chỉnh thời hạn bằng lụa mỏng trải trên bàn, "Thương hội Tứ Hải quyết định cấp cho Bách Thảo Đường một kỳ quan sát hoạt động kéo dài hai tháng, tính từ ngày hôm nay cho đến hết ngày mười lăm tháng chín."

Ninh Tiểu Mãn ở phía sau suýt chút nữa bật thốt lên tiếng reo vui mừng rỡ, cô bé vội vàng lấy cả hai bàn tay bịt chặt miệng mình lại, đôi mắt rưng rưng ngấn lệ.

"Đừng vội mừng."

Thẩm Quân Bình đột ngột ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc như thép nguội nhìn xoáy thẳng vào Linh Chi để dập tắt ngay lập tức bất kỳ sự buông lơi hay tự mãn nào:

"Kỳ quan sát hai tháng này đi kèm với sự giám sát định kỳ vô cùng nghiêm ngặt. Cứ mỗi phiên chợ ngày mồng năm và ngày hai mươi hàng tháng, ngươi phải mang theo toàn bộ sổ kho, sổ luyện chế và các biên lai thu chi bán hàng đến phân hội Tứ Hải dưới chân núi để ta trực tiếp đối soát từng đồng một. Đến hạn chót mười lăm tháng bảy tới đây, ngươi phải nộp đủ cho ta ít nhất bảy khối linh thạch hạ phẩm tiền mặt và năm khối linh thạch quy đổi bằng cao dược an toàn. Chỉ cần thiếu hụt một đồng tiền lẻ, hoặc một lô thuốc không đạt tiêu chuẩn kiểm nghiệm của Dược Sư Hội, kỳ quan sát sẽ lập tức bị hủy bỏ vô điều kiện, và lệnh niêm phong toàn diện sẽ được thi hành ngay trong ngày hôm đó."

Dứt lời, ông ta đặt mạnh cây bút lông xuống bàn, đẩy tờ văn bản bổ sung đã ký tên và đóng dấu triện đỏ rực sang phía Linh Chi:

"Ký tên vào đi."

Linh Chi không hề có một giây do dự. Nàng cầm lấy cây bút tre mòn vẹt của mình, chấm đẫm mực tàu, nắn nót ký từng nét chữ *Tô Linh Chi* ngay ngắn bên cạnh chữ ký cứng cáp của Thẩm Quân Bình, rồi ấn ngón tay cái dính mực chu sa đỏ rực lên mặt giấy lụa.

Thẩm Quân Bình thu lại một bản sao kẹp chặt vào nách, đứng dậy chỉnh lại vạt áo dài xám tro cho ngay ngắn. Ông ta không thèm liếc nhìn đống tiền đồng ngổn ngang trên bàn nữa, cài chiếc bàn tính ngọc đen vào thắt lưng, rồi sải những bước chân dài dứt khoát hướng ra phía cửa.

Khi bước qua mé hiên rợp bóng mát, ánh mắt ông ta lướt qua Mặc Trúc đang đứng tựa lưng vào cột tre. Hai người đàn ông—một người là quản sự thương hội sắc sảo từng trải, một người là kiếm tu tàn tạ phong trần ẩn nhẫn—chỉ khẽ chạm mắt nhau trong chớp mắt mà không nói nửa lời. Thẩm Quân Bình khẽ gật đầu một cái thật nhẹ, gần như không thể nhận ra, rồi cất bước rảo nhanh rời khỏi rào tre. Bóng áo xám tro của ông ta nhanh chóng khuất dần sau khúc quanh dốc núi rợp bóng thông già mù sương.

Gian phòng thuốc bỗng chìm vào một sự tĩnh lặng nhẹ nhõm đến nghẹt thở.

"Tỷ tỷ! Chúng ta làm được rồi! Chúng ta giữ được nhà rồi!"

Ninh Tiểu Mãn lúc này mới dám thở phào thành tiếng. Cô bé nhảy cẫng lên, lao tới ôm chồm lấy cánh tay Linh Chi, nước mắt lưng tròng vì quá đỗi vui sướng và nhẹ nhõm. "Hai tháng! Ngài ấy cho chúng ta tận hai tháng quan sát! Không ai đuổi chúng ta đi nữa rồi!"

Đậu Đậu cũng từ sau chân Mặc Trúc phóng vọt lên mặt bàn gỗ, chui tọt vào chiếc sọt mây rỗng lăn lộn mấy vòng, cái đuôi xù ngoe nguẩy, phát ra những tiếng kêu *chít chít* vô cùng phấn khích.

Linh Chi cúi đầu nhìn tờ văn bản gia hạn có đóng dấu đỏ chói lọi trên bàn. Khóe môi nàng khẽ nở một nụ cười nhẹ nhõm, nhưng bờ vai gầy guộc của nàng thì tuyệt nhiên không hề buông lơi. Hai tháng không phải là một sự giải thoát êm đềm, mà là một cuộc chạy đua sinh tử tàn khốc với thời gian. Nàng phải gom cho đủ nguyên liệu, tìm cách bảo dưỡng để chiếc lò đồng cũ kỹ không nứt vỡ thêm, và giữ cho dòng tiền từ những hũ cao nhỏ nhoi này không bao giờ được phép đứt đoạn dù chỉ một ngày.

Nàng quay đầu nhìn ra ngoài hiên, bắt gặp ánh mắt của Mặc Trúc đang lặng lẽ dõi theo mình. Nàng khẽ mỉm cười, gật đầu nói:

"Mặc huynh, giàn phơi của huynh... đóng rất đẹp và chắc chắn."

Mặc Trúc nhìn nàng, ánh mắt sâu thẳm như làn nước mùa thu khẽ xao động một tia ấm áp, khóe môi hơi nhếch lên một nét cười kín đáo hiếm thấy:

"Gỗ tốt, mộng vừa khít thì sẽ không sợ mưa gió lay chuyển."

Nắng trưa rọi qua giàn phơi mới lợp xong, tỏa ra mùi thơm ngai ngái, ấm áp của cỏ tranh khô quyện với mùi nhựa thông non. Mọi âu lo, căng thẳng nghẹt thở của buổi sáng dường như tạm thời được xua tan bởi niềm tin mộc mạc vào sức mạnh của đôi bàn tay lao động cần mẫn.

Thế nhưng, niềm vui bình yên và thanh thản ấy chưa kịp kéo dài trọn một tuần trà.

Từ phía con đường mòn khúc khuỷu dẫn từ Thôn Hạ Vân ngược lên sườn núi, tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch, dồn dập và hoảng loạn bỗng xé toạc không gian yên ắng của buổi trưa muộn.

Trần Đại Phúc hớt hải chạy lên núi tìm Linh Chi với khuôn mặt đầy vẻ ân hận. Chiếc nón lá trên đầu ông ta rách tơi tả, vạt áo nâu ướt đẫm mồ hôi và bùn đất; vừa nhìn thấy Linh Chi đứng bên hiên, ông ta đã vấp ngã khuỵu xuống ngay trước rào tre, hai bàn tay run rẩy bám chặt lấy cọc rào, hơi thở đứt quãng nghẹn ngào:

"Linh Chi cô nương... hỏng rồi... lão... lão có tội lớn với Bách Thảo Đường rồi!..."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn