Hạn nợ dưới biển hiệu cũ
Sáng sớm trên sườn nam núi Vân Mộng, màn sương lạnh buốt luồn qua từng khe liếp nứa, đọng thành những giọt nước đùng đục trên bậu cửa sổ gian phòng trong. Không khí ẩm ướt mang theo vị tanh nồng của đất mục và hương nhựa thông ngai ngái, phả vào da thịt một cảm giác buốt giá tê tái đặc trưng của vùng núi cao lúc giao mùa.
Tô Linh Chi giật mình tỉnh giấc bởi một cơn gió lùa thốc qua chốt cửa lỏng lẻo. Như một thói quen đã ăn sâu vào tiềm thức suốt mười mấy năm qua, nàng trở mình ngồi dậy, toan xỏ chân vào đôi hài vải gai thô để sang phòng bên đun nước sắc một siêu trà đắng cho sư phụ như lệ thường. Nhưng ngay khi đôi mắt nàng vừa kịp thích nghi với thứ ánh sáng nhờ nhờ của buổi sớm mai xám xịt, một khoảng trống rỗng dị thường nơi gian buồng kế bên đã khiến từng sợi dây thần kinh trong đầu nàng giật nảy.
Cánh cửa gỗ dẻ rừng ngăn cách hai gian phòng khép hờ, không có tiếng ho húng hắng quen thuộc của một lão nhân tuổi ngoài lục tuần mang trong mình thương tích kinh mạch cũ. Không có tiếng lách cách của chiếc que đồng khêu than trong lò sưởi, cũng chẳng hề có mùi khói lá ngải cứu hay mùi lưu huỳnh nồng nặc vốn luôn bám chặt vào vạt áo của Tô Hoài Sơn.
Gian phòng trống hoác.
Linh Chi nén lại nhịp tim đang đập thình thịch nơi lồng ngực, bước vội qua ngưỡng cửa gỗ thấp. Chiếc chõng tre ọp ẹp nơi sư phụ nàng ngả lưng mỗi đêm đã được dọn dẹp sạch sẽ đến tàn nhẫn: chiếc chiếu cói mòn vẹt mép được cuộn lại gọn gàng dựng nơi góc tường, tấm chăn bông vá chằng vá đụp bằng vải chàm gấp vuông vức như một khối đá xanh. Chiếc áo bào đay màu chàm sờn vai, thủng hai lỗ nhỏ do tàn lửa lò đan bắn vào mà ông mặc suốt từ mùa đông năm ngoái đến nay, đã hoàn toàn biến mất trên chiếc móc gỗ đẽo bằng nhánh ổi rừng.
Trên chiếc án thư con đóng bằng gỗ dẻ mộc mạc đặt sát vách nứa, ấm trà trâm tửu nguội ngắt tự bao giờ, mặt nước trà nổi lên một lớp váng mỏng màu tro xám. Bên cạnh nghiên mực đá đã cạn khô chỉ còn sót lại hai vật duy nhất: một chiếc ngọc bài màu xanh lục nhạt to bằng nửa bàn tay và một phong thư gấp bằng giấy thảo mộc thô nháp.
Linh Chi run rẩy bước tới, đầu ngón tay chạm vào mặt giấy ráp thô. Tờ giấy xao bằng vỏ cây mác mật của người phàm vùng chân núi, mép giấy xơ xác. Bên trên là những hàng chữ viết tháu phóng khoáng nhưng ẩn chứa lực đạo yếu ớt, quen thuộc đến mức chỉ cần liếc qua nàng đã có thể nhận ra từng nét gãy, nét móc bằng mực thông đen nhánh của Tô Hoài Sơn:
*“Linh Chi, vi sư cảm nhận cơ duyên đan đạo có biến động, khí tức tắc nghẽn trong phế phủ nhiều năm qua bỗng có điềm chuyển dời, cần vào Cốc Tĩnh Mạch bế quan chuyên tâm ngộ pháp, ngày trở về chưa thể định trước. Ngọc bài Bách Thảo Đường giao lại cho con tạm giữ, thay ta trông nom sản nghiệp tổ tiên. Trồng trọt hay luyện đan cốt ở tâm tính bình hòa, chớ để tạp niệm bên ngoài làm loạn chí. Cần mẫn giữ nhà, duyên lành ắt tới.”*
Bức thư ngắn ngủi vỏn vẹn mấy dòng trơ trọi. Không một lời dặn dò tỉ mỉ về chuyện củi đuốc gạo nước, không một câu dặn về mối giao tế với đám dược nông dưới chân núi, và tuyệt nhiên chẳng hề nhắc lấy nửa chữ về cách thức sinh tồn sắp tới của một thiếu nữ mới chỉ bước chân vào Luyện Khí tầng ba.
Ánh mắt Linh Chi dời từ những dòng chữ tháu sang chiếc ngọc bài nằm bên cạnh. Nàng run rẩy nhặt nó lên. Chất ngọc này chỉ là loại thanh ngọc hạ phẩm tạp chất đầy rẫy, mặt ngọc đã mòn vẹt, nhẵn thín vì bàn tay thô ráp đầy vết chai sẹo của sư phụ nàng mân mê suốt mấy chục năm ròng rã. Đường nét chạm khắc hình một nhành linh chi uốn lượn ba nhánh – biểu tượng ba đời của Bách Thảo Đường – chỉ còn lại những đường rãnh lờ mờ dưới ánh ban mai lạnh lẽo.
Một nỗi hoang mang trĩu nặng như đá tảng dâng lên, bóp nghẹt lồng ngực nàng.
Sư phụ bế quan?
Cốc Tĩnh Mạch nằm sâu trong vùng rừng sương mù hiểm trở của dãy Vân Mộng, nơi địa thế hiểm trở cùng cực, lam chướng quanh năm kết tụ thành từng dải tím ngắt vắt ngang sườn núi, lại có những luồng linh mạch cuộn ngầm cuồng bạo xé toạc mọi thuật truyền âm hay phi kiếm phi hành. Một tu sĩ thất thập cổ lai hy, tu vi đình trệ ở Luyện Khí tầng chín suốt bốn mươi năm không tiến thêm được nửa bước, quanh năm cặm cụi với mấy bã thuốc mục và những tàn đan phế phẩm, sao lại đột ngột dứt áo ra đi, dấn thân vào tử địa hiểm ác như thế mà không để lại một lời báo trước?
Nàng hít một hơi thật sâu, luồng khí lạnh tràn vào buồng phổi làm nàng khẽ rùng mình nhưng cũng giúp tâm trí bớt đi vài phần hỗn loạn. Nàng nắm chặt chiếc ngọc bài trong lòng bàn tay, quay người bước vội ra gian tiền sảnh.
Tiệm thuốc Bách Thảo Đường vốn là nơi chẩn mạch, bốc thuốc cho người phàm ở Thôn Hạ Vân và những tán tu nghèo hèn săn bắn thú rừng trong dãy Vân Mộng. Gian nhà ba gian bằng gỗ xoan rừng dựng đã hơn nửa thế kỷ nay chìm trong bóng tối lờ nhờ. Bụi bặm li ti bay lơ lửng trong những dải sáng ban mai yếu ớt lọt qua khe cửa. Từng dãy tủ thuốc trăm ngăn đóng bằng gỗ thị cổ thụ chạy dọc theo hai bức tường hồi, nước sơn nâu cánh gián đã bong tróc từng mảng lớn, phơi ra thớ gỗ mốc thếch.
Không gian ngập tràn một thứ mùi hương pha tạp quen thuộc: mùi hăng nồng của ngải cứu cứu mạch phơi khô ba nắng, mùi đắng ngắt của vỏ núc nác xao vàng, mùi the lạnh của bạc hà rừng và cả mùi ẩm mốc của những góc tường lâu ngày ngấm nước mưa núi.
Linh Chi bước tới sau chiếc quầy gỗ sẫm màu bóng loáng vết dầu mỡ của người đời trước để lại. Nàng quỳ một gối xuống nền đất nện ẩm ướt, đưa tay lần tìm chiếc ngăn kéo dưới cùng sát chân quầy – nơi sư phụ nàng luôn dùng một chiếc chìa khóa đồng rỉ sét để cất giữ toàn bộ ngân lượng và linh thạch thu chi của Bách Thảo Đường.
Hôm nay, ổ khóa đồng không khóa, chỉ móc hờ hững qua chiếc khoen sắt.
“Kẽo kẹt...”
Tiếng gỗ cọ xát khô khốc vang lên giữa gian nhà vắng lặng. Linh Chi kéo mạnh ngăn kéo ra.
Trống trơn.
Không có một xấp ngân phiếu nào do Tứ Hải Thương Hội hay Thông Thiên Các phát hành. Tuyệt nhiên chẳng thấy một khối linh thạch hoàn chỉnh nào tỏa ra ánh huỳnh quang mê hoặc lòng người. Dưới đáy ngăn kéo bằng gỗ ván mỏng chỉ có một chiếc túi vải thô xơ xác nằm bẹp dúm như một xác ve sầu khô.
Đầu ngón tay Linh Chi run lên bần bật khi cầm chiếc túi vải dốc ngược ra mặt bàn gỗ.
“Keng... leng keng...”
Những âm thanh giòn rụm, lẻ loi vang lên rồi tắt ngấm. Linh Chi ngây dại nhìn chiến lợi phẩm nằm trơ trọi trên mặt gỗ xám xịt.
Nàng đếm. Ba mươi hai đồng tiền đồng phàm tục đã ngả màu rỉ xanh, những cạnh mép đồng mòn vẹt chẳng còn nhìn rõ niên hiệu của triều đình thế tục. Và nằm chen chúc bên rìa đống tiền lẻ là hai mảnh linh thạch vụn mỏng dính như vảy cá chép, đục ngầu tạp chất xám, chỉ tỏa ra một luồng linh khí yếu ớt, run rẩy đến mức một đứa trẻ Luyện Khí tầng một cũng chẳng buồn liếc mắt nhìn.
Toàn bộ gia sản còn lại của một y quán gia truyền có lịch sử ba đời tại sườn nam núi Vân Mộng, sau khi sư phụ nàng dứt áo ra đi, chỉ vẹn vẹn chừng này.
“Chít! Chít chít!”
Từ trên xà nhà bằng gỗ lim đen bóng, một bóng lông xám tro nhỏ thó vút xuống, nhẹ nhàng đáp xuống mặt quầy thuốc. Đó là Đậu Đậu – chú Tầm Hương Thử non mà mùa đông năm ngoái Tô Hoài Sơn nhặt được khi nó bị đông cứng trong một hốc rễ cây ven bờ suối Tẩy Diệp. Con thú nhỏ này thân hình chỉ nhỉnh hơn nắm tay của Linh Chi một chút, toàn thân phủ một lớp lông xám mềm như nhung, hai cái tai tròn xoe liên tục vẫy vẫy.
Nó thò cái mũi hồng hào ươn ướt ra hít hà vào mép túi vải rỗng tuếch, đoạn ngước cặp mắt tròn xoe đen láy nhìn Linh Chi đầy vẻ ngơ ngác. Phát hiện bên trong chẳng có lấy một hạt ngô ngọt hay mẩu táo tàu khô nào như mọi bận, con vật nhỏ phụng phịu xoay người, cái đuôi dài xù lông khẽ quất mạnh một cái trong nỗi thất vọng trẻ con.
Cái đuôi vô tình vướng vào một chiếc lọ gốm da lươn con cắm một bó hoa cúc khô bên cạnh bàn tính.
“Choang!”
Tiếng gốm sứ vỡ vụn vang lên chói tai giữa gian nhà tịch mịch. Chiếc lọ rơi xuống nền gạch tàu vỡ thành năm bảy mảnh, những cánh cúc vàng khô giòn văng tung tóe khắp nền đất ẩm, mùi hương thảo mộc nhạt nhẽo, ngai ngái tức khắc bốc lên.
“Chít!” Đậu Đậu giật nảy mình hoảng hốt, bốn chân co rúm lại rồi bật nhảy một cú chuẩn xác lên bờ vai gầy guộc của Linh Chi. Nó rúc đầu sâu vào cổ áo đay thô của nàng, hai chân trước ôm chặt lấy vành tai nàng, toàn thân run bần bật như vừa phạm phải đại tội tày đình.
Linh Chi ngồi thụp xuống nền đất lạnh, bàn tay vô thức chạm vào những mảnh gốm sắc nhọn. Nàng không mắng con linh thú nhỏ, khóe mắt nàng cay xè, một giọt nước mắt ấm nóng suýt chút nữa lăn dài trên gò má nhợt nhạt.
Đúng lúc nàng cúi xuống gom những mảnh vỡ, ánh mắt nàng vô tình lướt qua khoảng tối kẹt giữa chân quầy thuốc và góc tường hồi ẩm mốc.
Ở nơi góc khuất ngập tràn bụi bặm ấy, có một chiếc hộp gỗ long não dài chừng hai gang tay đã lên nước đen bóng. Chiếc hộp được khóa bằng một ổ khóa đồng nhỏ hình con cá chép ngậm trăng, trên mặt gỗ phủ một lớp phù chú cách ly khí tức mờ nhạt. Đó là chiếc hộp đựng toàn bộ hồ sơ bệnh án cũ kỹ ghi chép tỉ mỉ quá trình điều dưỡng kinh mạch bẩm sinh khiếm khuyết của nàng suốt từ năm sáu tuổi tới nay.
Linh Chi nhớ như in ánh mắt nghiêm nghị đến đáng sợ của sư phụ mỗi khi ông mở chiếc hộp đó ra: *“Linh Chi, thân thể con khác biệt với thế nhân. Những thứ ghi chép trong này, sống để bụng chết mang theo, tuyệt đối không được để kẻ thứ hai trong thiên hạ chạm mắt vào, bằng không sẽ là tai họa diệt môn.”*
Sự hiện diện bất động của chiếc hộp gỗ long não giữa góc tối càng làm cõi lòng nàng chùng xuống. Một cảm giác bất an mơ hồ, rờn rợn len lỏi dọc theo sống lưng. Sư phụ rời đi vội vã như trốn chạy, bỏ lại một y quán rỗng tuếch, bỏ lại nàng cùng đống nợ nần không tên, nhưng lại để nguyên chiếc hộp sinh mệnh của nàng ở đây... Rốt cuộc Cốc Tĩnh Mạch là nơi bế quan ngộ đạo, hay là một nơi nào khác?
Nàng còn chưa kịp gom hết mớ cánh cúc khô vương vãi trên nền đất thì ngoài con ngõ trúc dẫn vào Bách Thảo Đường đã vang lên những tiếng bước chân.
Tiếng bước chân nặng nề, vững chãi, giẫm lên lớp lá thông ướt sũng sương mai với một nhịp điệu đều đặn đến lạnh lùng. Mỗi bước đi dường như đều mang theo một luồng linh áp nhàn nhạt, ép cho những hạt sương đọng trên cành trúc hai bên đường phải rơi lộp độp xuống đất.
“Kẹt...”
Cánh cửa gỗ mục rỗng của Bách Thảo Đường bị một bàn tay đẩy mạnh ra. Bản lề sắt rỉ sét nghiến vào nhau phát ra âm thanh nhức óc.
Một bóng người cao lớn đứng sừng sững nơi ngưỡng cửa, che khuất gần như toàn bộ ánh sáng ban mai yếu ớt đang cố rọi vào tiền sảnh. Người đàn ông trạc ngũ tuần, khoác trên mình bộ trường bào màu lam đậm dệt từ tơ tằm thô dày dặn của Thương hội Tứ Hải. Thắt lưng da thuộc của ông ta đeo một chiếc bàn tính bằng gỗ mun bọc đồng sáng loáng, từng hạt tính bóng lộn như mắt quạ. Khuôn mặt người này vuông vức, hai gò má cao gầy, râu cằm tỉa tót vuông vắn, đôi mắt sắc lẹm như dao cau lướt qua gian nhà một lượt từ xà nhà đến chân tủ, rồi dừng lại ghim chặt lên người Linh Chi.
“Tô Linh Chi cô nương?” Người đàn ông cất tiếng. Giọng nói trầm đục, khô khốc như tiếng hai hòn đá cuội cọ xát vào nhau giữa lòng suối cạn, không hề gợn lên một chút hơi ấm nhân tình.
Linh Chi vội buông mớ mảnh gốm trong tay, đứng thẳng dậy. Nàng phủi nhẹ tà áo đay thô dính bụi, hít một hơi sâu để bình ổn nhịp thở, chắp tay hơi nghiêng mình:
“Thẩm quản sự. Người của Thương hội Tứ Hải sớm thế này đã cất công trèo đèo lội suối lên sườn nam núi Vân Mộng, chẳng hay Bách Thảo Đường có điều gì thất lễ?”
Người tới chính là Thẩm Quân Bình – quản sự chuyên phụ trách mảng tín dụng, giám sát tài sản thế chấp và xử lý nợ khó đòi của phân hội Thương hội Tứ Hải tại trấn Thanh Khê. Trong bán kính trăm dặm quanh chân núi Vân Mộng, không một phường buôn, phường thuốc hay tán tu nào không biết đến danh tiếng “thiết diện phán quan” của vị quản sự này.
Thẩm Quân Bình bước qua ngưỡng cửa, đôi giày da hoẵng màu đen bước trên sàn gạch tàu không gây ra một tiếng động nhỏ. Ngón tay thon dài có móng tay cắt tỉa gọn gàng của ông ta khẽ lật vạt áo rộng, lấy ra từ trong túi càn khôn một cuộn giấy da cừu viền lụa đỏ sẫm.
Ông ta tiến đến quầy gỗ, không một động tác thừa, đặt cuộn giấy da lên mặt bàn, rồi dùng ngón tay cái ấn nhẹ lên con dấu son đỏ chói in nổi hình bốn ngọn sóng cuộn trào – dấu ấn chứng thực có hiệu lực pháp lý cao nhất của Tứ Hải Thương Hội trên toàn cõi Nam Vực.
“Lệnh sư Tô Hoài Sơn đâu?” Thẩm Quân Bình hỏi, mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt thiếu nữ mười tám tuổi đang lộ rõ vẻ nhợt nhạt.
“Sư phụ ta... người có việc cần kíp, đã khởi hành vào Cốc Tĩnh Mạch bế quan từ rạng sáng nay, ngày trở về chưa định trước.” Linh Chi siết chặt hai vạt áo chàm bên hông, ngón tay bấu chặt vào lớp vải thô ráp để giữ cho giọng mình không bị run rẩy trước uy áp vô hình của một tu sĩ Luyện Khí tầng sáu.
Thẩm Quân Bình khẽ nhíu mày. Hàng lông mày rậm như sâu róm nhíu lại tạo thành một nếp nhăn sâu hoắm giữa trán, khóe môi ông ta nhếch lên một độ cong lạnh lùng:
“Bế quan? Rất đúng lúc. Nhưng khế ước của Thương hội Tứ Hải thì không biết bế quan, thưa cô nương.”
Nói đoạn, bàn tay đeo nhẫn bạc của ông ta khẽ gạt nhẹ, cuộn giấy da cừu lập tức tự động trải dài ra khắp mặt quầy gỗ. Từng hàng chữ viết bằng thứ mực lân tinh màu xanh lục lấp lánh hiện lên rõ ràng mồn một dưới mắt Linh Chi. Ở góc dưới cùng của tờ văn tự, chữ ký rồng bay phượng múa quen thuộc của Tô Hoài Sơn cùng với một ấn ký thần thức màu đỏ nhạt đang phát ra những xung động linh lực rất nhẹ – ấn ký độc môn bản mệnh không thể nào làm giả mạo:
*“Khoản vay thế chấp số hiệu Giáp Thân thất thập nhị: Ngày mười lăm tháng chín năm Nguyên Gia thứ mười hai, Tô Hoài Sơn, viện chủ Bách Thảo Đường, đem toàn bộ quyền sở hữu nhà đất y quán Bách Thảo Đường, cùng ba mẫu linh điền bậc thang dựa sườn nam núi Vân Mộng, thế chấp cho Thương hội Tứ Hải phân hội trấn Thanh Khê để vay một khoản ngân lượng là: Một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm. Mục đích sử dụng: Thu mua tài liệu cổ phương và gia cố trận pháp địa hỏa. Kỳ hạn hoàn trả toàn bộ gốc và lãi: Đúng ba năm, tức ngày mười lăm tháng chín năm nay.”*
Thẩm Quân Bình dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc như lưỡi đục quét qua ba mươi hai đồng tiền đồng phàm tục và hai mảnh linh thạch vụn đang nằm trơ trọi trên bàn:
“Hôm nay là mười lăm tháng sáu. Tức là cô nương còn đúng ba tháng tròn. Nếu đến ngày mười lăm tháng chín, khi lá phong đỏ rụng hết mà Bách Thảo Đường không có đủ một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm nộp vào ngân khố, thì theo luật lệ giao dịch tu chân của đế quốc Đại Sở và quy tắc bất di bất dịch của Tứ Hải Thương Hội, chúng ta sẽ lập tức niêm phong toàn bộ tài sản, phát mại mảnh đất này cùng quyền khai thác linh điền để thu hồi nợ gốc lẫn lãi.”
“Một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm?!”
Tai Linh Chi lùng bùng như có tiếng sấm nổ ngang đầu.
Một trăm hai mươi viên linh thạch! Một người phàm phu tục tử ở trấn Thanh Khê còng lưng cuốc đất, gánh củi, dệt vải suốt một năm ròng rã, tằn tiện lắm cũng chỉ tích cóp được dăm ba lượng bạc trắng. Một viên linh thạch hạ phẩm trên chợ đen của tu sĩ có thể đổi được trọn vẹn một trăm lượng bạc ròng! Con số một trăm hai mươi linh thạch ấy đủ để một gia đình phú hộ bậc trung dưới trấn sống sung túc ba đời không cần lo nghĩ.
Sư phụ nàng... lão già quanh năm suốt tháng chỉ khoác chiếc áo đay rách, bữa trưa húp cháo hoa loãng với muối rang, bữa tối gặm củ mài nướng, lấy đâu ra cái lá gan tày đình để ký vào một món nợ kinh thiên động địa bực này? Gia cố địa hỏa? Mua cổ phương? Suốt hai năm qua nàng chỉ thấy ông lúi húi nấu những thứ nước đen ngòm hôi thối trong gian hầm, chưa từng thấy mang về nhà lấy một gốc thảo dược quý giá nào!
“Thẩm quản sự... ngài... ngài có nhầm lẫn ở đâu không?” Cổ họng Linh Chi nghẹn đắng, từng chữ thốt ra nghe như tiếng lá khô cọ vào đá. “Sư phụ ta xưa nay chỉ quanh quẩn chữa bệnh cho phu khuân vác, tiều phu nghèo... người cần nhiều linh thạch như thế để làm gì?”
“Nét chữ có thể bắt chước, nhưng ấn ký thần thức phong bế trong mực lân tinh của tu sĩ thì trời đất chứng giám, không thể có sự nhầm lẫn.” Giọng Thẩm Quân Bình bằng phẳng, không mang theo ác ý mỉa mai, nhưng chính sự phẳng lặng vô cảm ấy lại sắc bén như băng tuyết ngàn năm.
“Thương hội chúng ta làm việc dựa trên giấy trắng mực đen, linh thạch phân minh. Bản thân ta ba năm trước từng mắc nợ Tô lão một ân tình, khi đứa con trai duy nhất của ta trúng độc phong hàn suýt chết, chính tay Tô lão đã bốc ba thang thuốc giải cứu mạng nó. Lòng riêng ta vô cùng kính trọng y đức của lệnh sư. Nhưng cô nương nên hiểu, công việc là công việc, ân tình không thể thay thế linh thạch. Ta đến đây hôm nay không phải để đòi nợ ngay lập tức, mà là tiến hành đợt kiểm kê sơ bộ hiện trạng tài sản bảo đảm theo quy định tài chính thường niên, nhằm đánh giá khả năng thanh toán thực tế của Bách Thảo Đường trước khi bước vào kỳ hạn cuối cùng.”
Trên vai Linh Chi, Đậu Đậu ngửi thấy mùi mực lân tinh xa lạ và khí tức sắc bén, lạnh lẽo phát ra từ cơ thể vị tu sĩ Luyện Khí tầng sáu, sợ hãi thút thít kêu lên mấy tiếng “chít chít” nghẹn ngào. Nó vội vàng trèo tót vào trong búi tóc sau gáy nàng, co quắp lại trốn biệt tăm.
Linh Chi cắn chặt môi dưới. Vị tanh nồng của máu tươi rỉ ra nơi khóe môi làm đầu óc nàng tỉnh táo lại đôi chút giữa cơn bàng hoàng cực độ. Hoảng loạn, khóc lóc hay van xin lúc này đều là trò cười vô nghĩa. Nếu để Thẩm Quân Bình ghi vào sổ kiểm kê rằng Bách Thảo Đường đã hoàn toàn mất khả năng duy trì hoạt động, theo điều lệ thương trường, thương hội có quyền đơn phương hạ thấp cấp bậc tín dụng, chuyển món nợ này sang dạng tài sản tranh chấp nguy cơ cao và có thể phát mại quyền thu hồi nợ cho các thế lực khác ngay lập tức.
Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt trong veo nhưng kiên định nhìn thẳng vào đôi mắt sắc bén của Thẩm Quân Bình:
“Được. Mời Thẩm quản sự kiểm kê theo đúng lệ thường. Sư phụ vắng nhà, ta là đệ tử duy nhất kế thừa môn hộ, tự khắc có trách nhiệm cùng ngài đối chiếu sản nghiệp.”
Thẩm Quân Bình hơi thoáng ngạc nhiên trước thái độ không hề suy sụp của thiếu nữ mảnh khảnh trước mặt. Ông ta khẽ gật đầu, thu lại cuộn giấy da cừu: “Mời cô nương dẫn đường.”
Linh Chi xoay người, bước qua khung cửa hông dẫn ra khoảnh sân sau. Tà áo chàm sờn gấu của nàng bay nhẹ trong gió sớm.
Thế nhưng, mọi dũng khí và sự bình thản cố gượng ép của nàng dường như tan biến thành mây khói ngay khoảnh khắc hai người đặt chân ra khu vườn thuốc phía sau y quán.
Hiện thực trần trụi phơi bày trước mắt tàn nhẫn hơn bất kỳ lời phán xét nào.
Ba mẫu linh điền bậc thang được đắp bằng đất phù sa trộn bùn suối, tựa lưng vào vách đá thoai thoải của sườn nam núi Vân Mộng – nơi từng là niềm kiêu hãnh của Bách Thảo Đường qua ba đời, từng ngập tràn sắc xanh non của những luống linh thảo trù phú – nay chỉ còn là một bãi hoang tàn xơ xác.
Mương dẫn nước từ khe Suối Tẩy Diệp trên đỉnh núi chảy xuống đã bị một trận sạt lở đất đá từ mùa mưa năm ngoái lấp kín hoàn toàn. Đất đá vụn và thân cây mục chắn ngang dòng chảy, biến con mương dẫn thủy nhập điền thành một rãnh đá cạn trơ đáy, nứt nẻ chằng chịt như mu rùa rạn vỡ.
Mặt ruộng thiếu nước lâu ngày khô cằn, bạc thếch. Cỏ gấu, cỏ may, cỏ mực và những loài dây leo dại có gai nhọn hoắt mọc lút đầu gối người lớn, chen chúc bóp nghẹt từng tấc đất.
Mấy gốc Thanh Ti Mộc còi cọc – loài cây linh mộc nhất phẩm chuyên dùng để lấy vỏ làm dẫn dược điều hòa khí huyết – cành lá khẳng khiu, khô héo rũ rượi, những chiếc lá màu xanh lục bảo biến thành màu vàng ệch rồi rụng tả tơi khắp mặt đất. Luống Xích Tinh Thảo ưa nắng vốn cần được tưới nước suối lạnh mỗi ngày để hãm bớt tính hỏa thì nay cháy khô queo quắt, đọt cây đen thui như bị lửa thiêu. Phía góc dưới cùng, nơi trũng nhất từng là ao sen thuốc trồng Bích Ngọc Liên, nay chỉ còn là một vũng bùn đen kịt bốc mùi hôi thối nồng nặc, vài cọng ngó sen gầy guộc, vàng vọt ngắc ngoải ngoi lên trên mặt nước đóng váng phèn đỏ quạch.
Thẩm Quân Bình rút từ trong tay áo ra một cuốn sổ tay bìa da trâu và một thanh bút than đen nhánh. Ông ta vừa bước đi chầm chậm men theo bờ ruộng nứt nẻ, vừa đưa mắt quan sát tỉ mỉ, đầu bút than thoăn thoắt vạch lên trang giấy những nét chữ lạnh lùng:
“Hệ thống thủy lợi hư hại hoàn toàn, nguồn linh tuyền bị nghẽn mạch. Linh thổ thoái hóa nghiêm trọng, nồng độ linh khí thổ nhưỡng đo đạc được chưa đầy nửa thành so với tiêu chuẩn sơ cấp. Thảo dược sống sót dưới hai phần mười, toàn bộ đều là tạp thảo nhất phẩm hạ cấp suy kiệt dược tính... Giá trị khai thác nông nghiệp thực tế hiện tại: tiệm cận số không.”
Từng lời lẩm bẩm tính toán của Thẩm Quân Bình như những nhát búa nện thẳng vào lồng ngực Linh Chi. Nàng đứng chết lặng bên bờ ruộng, hai bàn tay buông thõng bên hông run rẩy siết chặt.
Nàng biết chứ. Nàng hiểu rõ hơn ai hết tình cảnh này. Suốt hai năm qua, kể từ ngày sư phụ nàng dồn hết tâm trí, thời gian và tiền bạc vào những trang đan phương rách nát kia, ông đã hoàn toàn bỏ bê vườn tược. Một mình nàng, với thân hình mảnh mai và tu vi Luyện Khí tầng ba ít ỏi, ngày ngày vác cuốc ra đồng nhổ cỏ, gánh từng thùng nước từ tận dưới khe suối xa xôi lên tưới tắm. Nhưng sức một người phàm tu làm sao chống lại được sự trừng phạt của thiên nhiên và sự khô cằn của đất mẹ khi linh mạch cạn kiệt?
“Đi xem Phòng Đan Hỏa đi.” Thẩm Quân Bình gấp cuốn sổ nhỏ lại, giọng nói không lộ ra nửa tia cảm xúc.
Linh Chi nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, khẽ gật đầu: “Mời ngài theo ta.”
Nàng dẫn Thẩm Quân Bình quay trở lại hiên sau, men theo dãy bậc thang bằng đá phiến ẩm ướt trơn trượt dẫn sâu xuống gian hầm đá nằm ngay dưới móng nhà Bách Thảo Đường.
Càng bước xuống sâu, không khí ẩm lạnh của sương núi càng lùi xa, thay vào đó là một luồng nhiệt khí khô khốc, nóng hầm hập phả thẳng vào mặt, mang theo mùi lưu huỳnh ngai ngái bốc lên từ kẽ nứt của nền đá.
Đây chính là Phòng Đan Hỏa – nơi tôn nghiêm nhất, bí mật nhất và cũng là trái tim huyết mạch của Bách Thảo Đường suốt một thế kỷ qua.
Căn phòng đá xây bằng đá hoa cương thô nhám, vách tường ám khói đen kịt. Giữa phòng, đặt trang trọng trên một bệ đá bát quái đục đẽo công phu, là chiếc lò luyện đan ba chân bằng đồng thau cao ngang ngực người. Chiếc lò Thanh Đồng nhất phẩm trung cấp này là vật gia truyền của Tô gia, đã theo Tô Hoài Sơn trải qua hơn ba mươi năm thăng trầm. Trên thân lò chạm trổ những hoa văn hình mây lửa và sóng nước cổ xưa, nhưng lúc này toàn bộ bề mặt kim loại sáng bóng năm nào đã bị bao phủ bởi một lớp muội than dày đặc và những vệt ố màu xám xịt do hỏa độc ngấm lâu ngày tạo thành.
Dưới chân bệ đá, thông qua những đường rãnh đá được khắc họa trận pháp dẫn nhiệt, một luồng hỏa khí đỏ thẫm đang cuộn trào nhè nhẹ. Đó chính là một nhánh địa hỏa tự nhiên dẫn từ mạch ngầm sâu thẳm dưới lòng núi Vân Mộng – tài sản vô giá duy nhất mà Bách Thảo Đường sở hữu.
Thẩm Quân Bình không thèm nhìn tới những chiếc giá gỗ trống trơn bám đầy bụi tro xung quanh. Ông ta bước thẳng tới trước chiếc lò đan, đưa bàn tay đeo nhẫn bạc gõ nhẹ lên thân đồng.
“Keng...”
Âm thanh phát ra không hề trong trẻo vang vọng như tiếng chuông đồng thường thấy, mà lại đục ngầu, nghẹn lại, kèm theo một tiếng rè rĩ chói tai như tiếng kim loại bị xé rách.
Sắc mặt Thẩm Quân Bình chùng xuống. Ông ta lập tức lấy từ túi càn khôn ra một viên đá Ngưng Quang to bằng quả trứng gà, truyền vào một luồng linh lực. Ánh sáng màu lam nhạt sắc lạnh của viên đá bừng lên, chiếu rọi rực rỡ vào vách lò phía sau – nơi bị khuất trong bóng tối của hầm đá.
Linh Chi nhìn theo hướng ánh sáng lam, và rồi toàn thân nàng đông cứng lại như rơi vào hầm băng.
Từ đáy lò đan, chạy dọc qua phần bụng phình to lên tận cổ lò, là một vệt nứt dài ngoằn ngoèo như một con rết khổng lồ gớm ghiếc. Vệt nứt sâu hoắm, mép kim loại xung quanh đã biến chất thành màu đen xỉn rỗ chằng chịt vì nhiệt độ quá tải, tỏa ra những xung động hỏa linh khí hỗn loạn, gay gắt và cực kỳ bất ổn.
Đây không phải là một vết rạn bề mặt thông thường do va đập như lời sư phụ từng nói dối nàng cách đây nửa năm, khi ông vội vàng lấy bùn khoáng trét tạm bợ lên vách lò! Đây là một tổn thương chí mạng từ sâu trong cấu trúc pháp khí, dấu vết để lại của một lần nổ lò đan dữ dội do mất kiểm soát hỏa lực!
Thẩm Quân Bình đưa ngón tay miết nhẹ dọc theo đường nứt, ngửi ngửi lớp mạt kim loại đen nhánh dính trên đầu ngón tay, rồi lạnh lùng hạ bút ghi chép:
“Lò Thanh Đồng nhất phẩm trung cấp, thân lò nứt vỡ nghiêm trọng từ lõi, trận pháp ổn định nội hỏa bên trong hư hại trên sáu mươi phần trăm. Nếu tiếp tục ép dẫn địa hỏa để luyện chế đan dược liên tục quá ba canh giờ, nguy cơ nổ lò hoàn toàn và tràn độc hỏa là trên tám mươi phần trăm. Kết luận: Mất đi công năng luyện chế linh đan quy chuẩn. Giá trị thanh lý thực tế tương đương với mười cân đồng phế liệu.”
Mười cân đồng phế liệu!
Từng chữ, từng câu trong lời phán xét của Thẩm Quân Bình như xé toạc tấm màn hy vọng mong manh cuối cùng trong lòng Linh Chi. Nàng đứng chôn chân trên nền đá nóng rát, hai vai run rẩy. Ruộng bỏ hoang, hệ thống dẫn nước sụp đổ, lò đan rạn nứt sắp nổ tung, trong túi chỉ còn ba mươi hai đồng tiền đồng rỉ sét... Bách Thảo Đường trong mắt vị quản sự thiết diện vô tư này hoàn toàn là một bãi đổ nát vô giá trị, một món nợ xấu không thể cứu vãn đang chờ ngày bị xóa sổ khỏi sổ bộ non sông.
“Chậc chậc chậc... Thật là thê thảm làm sao! Một cơ nghiệp trăm năm rạng danh của Tô gia y quán, từng được người người sùng kính, nay lại tàn tạ, xơ xác đến nông nỗi này ư?”
Một giọng nói mượt mà, ngọt lịm như mật ong rót vào tai bất ngờ vang lên từ phía cầu thang đá.
Linh Chi và Thẩm Quân Bình đồng thời giật mình quay đầu lại.
Dưới ánh sáng mờ ảo nơi cửa hầm đá, một bóng người đàn ông trạc tam tuần đang chậm rãi bước xuống từng bậc đá phiến. Người này khoác trên mình bộ trường bào may bằng gấm xanh ngọc đắt tiền, trên ngực áo thêu hình một chiếc đan đỉnh ba chân dát chỉ vàng lấp lánh – huy hiệu độc quyền của Vạn Đan Các, thế lực buôn bán đan dược khổng lồ trải dài khắp ba mươi sáu quận thành.
Tay hắn cầm một chiếc quạt xếp bằng ngọc tủy trắng muốt, mỗi lần phe phẩy lại tỏa ra một mùi hương trầm dịu ngọt, đắt đỏ, át đi hoàn toàn mùi lưu huỳnh hăng hắc trong căn phòng hầm tồi tàn. Khuôn mặt người nọ trắng trẻo không tì vết, đôi mắt một mí hơi hẹp lúc nào cũng cong cong hình trăng khuyết, nụ cười trên môi đon đả, hòa nhã như gió xuân thổi qua rặng liễu. Đi theo sau hắn là một tiểu đồng mười bốn mười lăm tuổi, hai tay ôm một chiếc hộp gỗ lim chạm trổ hoa văn tinh xảo.
Lục Cảnh Minh – chưởng quầy của Vạn Đan Các chi nhánh trấn Thanh Khê!
Thẩm Quân Bình khẽ cau mày, ngón tay thon dài gập cuốn sổ da trâu lại, ánh mắt phẳng lặng nhìn người mới đến nhưng trong giọng nói đã lộ rõ vài phần phòng bị:
“Lục chưởng quầy? Thương hội Tứ Hải làm việc kiểm kê tài sản bảo đảm định kỳ, không nhớ là có gửi thiệp mời cho phân bộ Vạn Đan Các các ngài.”
Lục Cảnh Minh khẽ xòe chiếc quạt ngọc tủy ra, phe phẩy trước ngực, nụ cười càng thêm phần xởi lởi:
“Ấy chà, Thẩm huynh nói thế nghe xa cách quá! Ta hôm nay lên núi thu mua một số dược liệu tươi của bà con người phàm, tình cờ nghe người ta kháo nhau rằng Tô lão tiền bối đã đột ngột rời tiệm đi bế quan. Lại vừa hay thấy bóng dáng Thẩm huynh rảo bước lên sườn nam, lòng ta bồn chồn lo lắng cho an nguy của muội muội Linh Chi đây nên mới vội vã ghé qua thăm hỏi một chút. Đâu ngờ... lại tình cờ chứng kiến cảnh tượng xót xa, điêu tàn dường này.”
Đôi mắt một mí của Lục Cảnh Minh đảo quanh gian hầm đá một vòng, liếc qua chiếc lò Thanh Đồng nứt vỡ với vẻ khinh miệt không thèm che giấu, nhưng rồi ánh mắt hắn lập tức dừng lại, dán chặt vào những rãnh dẫn nhiệt chạy chằng chịt dưới sàn đá.
Dưới lớp đá hoa cương cũ kỹ bám đầy tro bụi, luồng địa hỏa màu đỏ thẫm vẫn đang âm ỉ cháy, đều đặn, thuần khiết và dịu dàng như một dải lụa đỏ. Không có hỏa độc cuồng bạo hung hiểm như hỏa mạch vùng núi lửa, nhánh địa hỏa tự nhiên này tuy mỏng manh nhưng lại ôn hòa hiếm thấy. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, nơi đáy mắt sâu hoắm của Lục Cảnh Minh lóe lên một tia tham lam cuồng nhiệt, thèm khát đến run rẩy, dù nó lập tức bị nụ cười hòa nhã che lấp đi ngay sau đó.
Lục Cảnh Minh thu quạt lại, bước thêm hai bước về phía Linh Chi, giọng điệu chuyển sang tha thiết, đầy vẻ xót thương của một bậc trưởng bối nhân từ:
“Linh Chi muội muội à, ta đứng trên kia nghe hết cả rồi. Một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm... Chậc chậc, con số đó đối với một tiểu cô nương mới chỉ bước vào Luyện Khí tầng ba như muội, lại chưa từng thi lấy chứng nhận đan sư chính thức của Dược Sư Hội, quả thực là một ngọn núi Thái Sơn có thể đè gãy từng khúc xương cốt mỏng manh của muội đấy!”
Hắn gõ nhẹ cán quạt ngọc vào lòng bàn tay, thở dài thắt thẻo: “Tô lão đi rồi, có lẽ lão nhân gia cũng tự biết rõ khoản nợ này đã vượt quá khả năng xoay xở của Bách Thảo Đường nên mới chọn cách lánh mặt vào chốn thâm sơn cùng cốc. Người già cả đời cố chấp, lâm vào ngõ cụt thì hồ đồ làm liều, nhưng người trẻ như muội thì phải biết nhìn xa trông rộng, phải biết quý tiếc tương lai tiền đồ của bản thân. Muội hà tất phải chôn vùi cả tuổi thanh xuân tươi đẹp trên mảnh đất cằn cỗi, đổ nát này để gánh nợ thay cho một người không biết ngày trở về?”
Linh Chi ngước mắt lên nhìn thẳng vào nụ cười giả tạo của gã đàn ông trước mặt, thanh âm lạnh tanh:
“Lục chưởng quầy có lời gì thì cứ nói thẳng ra đi, không cần phải vòng vo bóng gió, bôi nhọ sư phụ ta như thế.”
Lục Cảnh Minh không hề giận dữ, nụ cười trên môi trái lại càng nở rộng hơn, lộ ra hàm răng trắng bóng:
“Tốt! Muội muội quả nhiên là người có cá tính, ta thích những người thẳng thắn dứt khoát như muội! Được, ta đây mở rộng lòng từ bi, muốn chỉ cho muội một con đường sáng rực rỡ, vẹn cả đôi đường!”
Hắn xoay người, chỉ chiếc quạt ngọc về phía tiểu đồng đi sau:
“Vạn Đan Các chúng ta nguyện ý đứng ra ký kết một hiệp ước chuyển nhượng toàn diện. Chúng ta sẽ mua lại toàn bộ khu đất Bách Thảo Đường này, bao gồm gian nhà thuốc phía trước, ba mẫu linh điền bậc thang và toàn bộ gian hầm đan hỏa dưới lòng đất này.”
Hắn giơ hai ngón tay thon dài ra trước mặt Linh Chi:
“Thứ nhất, ta sẽ đích thân mang một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm sang giao tận tay Thẩm huynh đây, thanh toán dứt điểm toàn bộ nợ gốc lẫn lãi cho Thương hội Tứ Hải, xóa sạch khế ước thế chấp của Tô lão tiền bối. Thứ hai, ta sẽ tặng riêng cho cá nhân Linh Chi muội muội ba mươi viên linh thạch hạ phẩm làm lộ phí an cư, kèm theo khế ước sở hữu một căn nhà ngói ba gian khang trang ngay tại ngoại ô trấn Thanh Khê!”
Hắn ghé sát lại gần, giọng nói thì thầm đầy ma lực cám dỗ: “Chưa hết đâu nhé! Nếu muội muội vẫn còn lưu luyến nghiệp y dược, Vạn Đan Các sẵn sàng đặc cách nhận muội vào làm học đồ sơ chế dược liệu chính thức trong phân viện, mỗi tháng cấp phát bổng lộc đều đặn ba viên linh thạch hạ phẩm. Muội thấy thế nào? Món nợ khổng lồ tan biến như mây khói, có nhà cao cửa rộng để ở, có việc làm danh giá, trong tay lại có ba mươi linh thạch phòng thân... Đây chẳng phải là ân huệ từ trên trời rơi xuống, là lối thoát hoàn hảo nhất cho muội lúc này hay sao?”
Từng câu, từng chữ của Lục Cảnh Minh tuôn ra êm ái như dòng nước suối ngọt mát rót vào bờ môi của một kẻ đang chết khát giữa sa mạc hoang vu.
Ba mươi linh thạch hạ phẩm tiền mặt! Một căn nhà ngói ở trấn Thanh Khê! Một vị trí học đồ có bổng lộc ổn định tại Vạn Đan Các danh giá!
Đối với một thiếu nữ mồ côi tu vi thấp kém, đang đứng bên bờ vực bị xiết nợ và tống cổ ra đường với hai bàn tay trắng, lời đề nghị này không khác gì một chiếc phao cứu sinh bằng vàng ròng ném xuống giữa dòng nước xoáy. Bất kỳ một tán tu nào rơi vào hoàn cảnh này chắc chắn cũng sẽ gật đầu cái rụp, thậm chí dập đầu tạ ơn vị “đại ân nhân” Lục chưởng quầy.
Thẩm Quân Bình khoanh tay trước ngực, đứng lặng lẽ dựa lưng vào vách đá ẩm mốc. Đôi mắt sắc lẹm của ông ta lướt qua vẻ mặt tự tin nắm chắc phần thắng của Lục Cảnh Minh, rồi lại dừng lại quan sát từng biến chuyển nhỏ nhất trên khuôn mặt của Tô Linh Chi. Ông ta không hé răng nửa lời, như một vị quan tòa vô cảm đang chờ đợi phán quyết cuối cùng từ chính người trong cuộc.
Linh Chi cúi đầu nhìn xuống chiếc quạt ngọc tủy bóng loáng của Lục Cảnh Minh, rồi ánh mắt nàng chậm rãi dời xuống bệ đá bát quái dưới chân, nơi ngọn lửa đỏ thẫm vẫn đang âm thầm sưởi ấm căn hầm lạnh giá.
Nàng nhớ lại những đêm mùa đông giá rét căm căm, khi tuyết phủ trắng xóa đỉnh Vân Mộng. Sư phụ nàng thường ngồi bệt bên bệ đá này, cặm cụi nướng từng củ khoai, củ mài cho nàng ăn, bàn tay thô ráp của ông khẽ vuốt ve thân lò đồng nứt nẻ mà thở dài:
*“Linh Chi à, nhánh địa hỏa này là tâm huyết cả đời của tổ phụ con tìm ra từ một hang động đứt gãy dưới vực sâu, dẫn dắt từng tấc từng ly về đây. Hỏa tính của nó dịu dàng, thuần khiết như dòng sữa mẹ. Thế gian này người tu đạo tranh nhau linh đan diệu dược hung bạo để đột phá cảnh giới, nhưng dưới chân núi kia còn có hàng vạn người phàm, hàng ngàn tán tu nghèo khổ kinh mạch yếu ớt, họ không chịu nổi dược lực cuồng bạo của linh đan đâu. Họ cần những thang thuốc thanh đạm, cần thứ lửa ấm áp này để nấu ra những bát canh dưỡng khí, cứu vớt mạng sống qua ngày đoạn tháng. Bách Thảo Đường tồn tại là vì họ...”*
Nếu nàng bán mảnh đất này cho Vạn Đan Các...
Nơi này sẽ lập tức bị san phẳng. Bọn họ sẽ phá hủy gian nhà thuốc cổ kính, dựng lên những xưởng đan dược công nghiệp đồ sộ. Bọn họ sẽ dùng trận pháp cưỡng chế rút cạn kiệt từng giọt tinh hoa của nhánh địa hỏa này để nung nấu những viên Tụ Khí Đan, Trúc Cơ Đan đắt đỏ bán cho con em các gia tộc giàu có kiếm lời kết xù. Còn những người phàm áo rách ở Thôn Hạ Vân, những phu khuân vác bến sông mỗi khi cảm mạo, ho lao, gãy xương... họ sẽ biết tìm về đâu để mua được một thang thuốc ba đồng bạc vụn?
Và quan trọng hơn tất cả, đây là nhà của nàng!
Là nơi sư phụ đã bế nàng về từ một gốc cây khô giữa cơn bão tuyết năm nào, nơi từng góc cột nhà bằng gỗ xoan đều còn lưu lại những vết dao khía đo từng tấc chiều cao của nàng qua từng năm tháng lớn khôn!
Linh Chi hít một hơi thật sâu. Luồng khí nóng từ địa hỏa tràn vào lồng ngực, thiêu đốt nỗi sợ hãi và hoang mang trong lòng nàng, biến nó thành một ngọn lửa kiên định, bất khuất.
Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt phẳng lặng như mặt gương hồ mùa thu, không một gợn sóng:
“Lục chưởng quầy tính toán thật chu toàn, mưu sâu kế hiểm khiến người ta phải bội phục.”
Nụ cười của Lục Cảnh Minh khẽ giật một cái.
“Nhưng ba mươi linh thạch cùng căn nhà ngói ở trấn Thanh Khê của ngài, Tô Linh Chi này phúc mỏng nghiệp dày, không dám nhận.” Nàng dõng dạc từng tiếng, thanh âm vang vọng khắp căn hầm đá: “Mảnh đất này là mồ hôi, nước mắt và xương máu của ba đời Bách Thảo Đường gầy dựng nên. Chừng nào Tô Linh Chi này còn hít thở một hơi khí trời, tuyệt đối sẽ không bán đi một tấc đất, một cọng cỏ nào cho Vạn Đan Các!”
Nụ cười trên khuôn mặt trắng trẻo của Lục Cảnh Minh cứng đờ lại. Đôi mắt một mí của hắn nheo lại thành một đường chỉ sắc lạnh như dao lam, chiếc quạt ngọc tủy trên tay bỗng ngừng phe phẩy giữa không trung:
“Linh Chi muội muội, muội đừng có rượu mời không uống lại muốn uống rượu phạt! Muội có biết một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm là cái khái niệm gì không? Đừng nói là một tiểu nha đầu Luyện Khí tầng ba như muội, ngay cả một đan sư nhất phẩm sơ cấp muốn gom đủ số linh thạch đó cũng phải trầy da tróc vảy mất vài năm trời!”
Hắn bước tới một bước, hạ giọng đe dọa: “Cho dù muội có ngày đêm cày cuốc, lên rừng hái thuốc, bán cạn từng giọt máu tươi của mình từ nay đến cuối thu, muội cũng đừng hòng gom nổi hai mươi viên linh thạch! Đừng vì chút sĩ diện hão huyền của con nít mà chuốc họa vào thân. Đến lúc kỳ hạn trôi qua, bị người ta tống cổ ra đường với hai bàn tay trắng, lúc đó muội có quỳ rạp dưới cổng Vạn Đan Các mà dập đầu cầu xin, ta cũng không bố thí cho muội một cắc bạc vụn đâu!”
“Đó là chuyện nội bộ của Bách Thảo Đường chúng ta, không phiền Lục chưởng quầy phải nhọc lòng bận tâm lo lắng.” Linh Chi dứt khoát quay ngoắt người đi, không thèm ban cho hắn lấy nửa cái liếc mắt.
Nàng hướng về phía Thẩm Quân Bình, nâng hai tay lên trước ngực, hành một lễ tiêu chuẩn của môn đồ y đạo theo đúng quy thức cổ xưa:
“Thẩm quản sự, theo điều lệ thứ mười bảy, chương ba trong Quy chuẩn Quản lý Hợp đồng Tín dụng và Khế ước Thế chấp của Thương hội Tứ Hải áp dụng cho các cơ sở hành nghề y dược truyền thống: Trước khi đáo hạn hợp đồng chính thức, nếu bên vay chứng minh được năng lực tạo ra dòng tiền và có thể thanh toán tối thiểu mười phần trăm tổng số nợ gốc trong mỗi kỳ giám sát định kỳ một tháng, thì thương hội có nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng tài sản, tuyệt đối không được phép tiến hành cưỡng chế niêm phong sớm, cũng không được quyền chuyển nhượng hợp đồng nợ cho bất kỳ bên thứ ba nào. Điều khoản này... có còn hiệu lực hay không?”
Gian phòng hầm bỗng chốc im phăng phắc.
Thẩm Quân Bình hơi giật mình, đôi mắt vốn phẳng lặng như giếng cổ của ông ta lần đầu tiên dâng lên những đợt sóng kinh ngạc sâu sắc.
Một tiểu cô nương mười tám tuổi, mồ côi, tu vi chỉ vỏn vẹn Luyện Khí tầng ba, sống thui thủi nơi thâm sơn cùng cốc suốt ngần ấy năm trời... Giữa thời khắc nguy nan, đứng trước áp lực nghẹt thở của một món nợ khổng lồ và lời đường mật dụ dỗ của kẻ thù, không những không khóc lóc van xin, mà lại có thể trích dẫn rành rọt, chính xác đến từng từ, từng chương mục của một điều khoản phụ lục hiểm hóc trong cuốn luật lệ giao dịch dày cộp của Tứ Hải Thương Hội?
Thẩm Quân Bình nhìn sâu vào đôi mắt kiên định của Linh Chi một hồi lâu. Cuối cùng, ông ta chậm rãi gật đầu, giọng điệu mang theo sự nghiêm cẩn và tôn trọng dành cho một đối tác thực thụ:
“Đúng. Quy tắc của Thương hội Tứ Hải đặt định ngàn năm qua, giấy trắng mực đen, điều lệ thứ mười bảy hoàn toàn có hiệu lực pháp lý.”
Ông ta dừng lại một nhịp, đưa ngón tay gõ nhẹ lên cuốn sổ da trâu: “Hôm nay là ngày mười lăm tháng sáu. Tổng số nợ gốc của Bách Thảo Đường là một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm. Mười phần trăm của kỳ hạn này tương đương với mười hai linh thạch hạ phẩm. Nếu đúng vào giờ Thân ngày mười lăm tháng bảy, cô nương có thể mang đủ mười hai linh thạch hạ phẩm nộp vào ngân khố phân hội trấn Thanh Khê, đồng thời chứng minh được y quán đã khôi phục hoạt động kinh doanh có lãi, thương hội chúng ta sẽ giữ nguyên quyền sở hữu và quản lý Bách Thảo Đường cho cô nương cho đến hạn chót ngày mười lăm tháng chín.”
Ánh mắt Thẩm Quân Bình khẽ lay động, giọng nói trầm xuống đầy vẻ cảnh báo:
“Nhưng Tô cô nương, ta với tư cách cá nhân buộc phải nhắc nhở cô một điều trần trụi. Cô chỉ mới đạt tu vi Luyện Khí tầng ba, thần thức chưa ngưng tụ thành hình. Trong tay cô không hề có đan ấn chứng nhận của Dược Sư Hội, theo luật pháp đế quốc, cô không được phép công khai bày bán các loại đan dược có phẩm cấp ra thị trường. Ruộng thuốc của cô đã hoang phế bạc màu, lò đan gia truyền rạn nứt có thể nổ tung bất cứ lúc nào. Trong túi cô chỉ có ba mươi hai đồng tiền đồng rỉ sét và một con Tầm Hương Thử chưa dứt sữa. Cô lấy cái gì, dựa vào đâu để kiếm ra mười hai khối linh thạch hạ phẩm trong vòng đúng ba mươi ngày ngắn ngủi?”
Lục Cảnh Minh đứng bên cạnh nghe vậy liền bật ra một tiếng cười khẩy đầy mỉa mai, chiếc quạt ngọc khẽ gõ côm cốp vào lòng bàn tay:
“Phải đấy muội muội, Thẩm huynh nói trúng tim đen rồi đó! Mười hai linh thạch hạ phẩm đấy, không phải mười hai mẩu vỏ cây rừng đâu! Muội tưởng linh thạch là lá thông rụng đầy ngõ chỉ cần ra quét là có chắc?”
Trước sự nghi ngờ sâu sắc của Thẩm Quân Bình và tiếng cười cợt nhả cay độc của Lục Cảnh Minh, sống lưng của Linh Chi vẫn thẳng tắp như một cây trúc già trên vách đá sương mù. Nàng đứng hiên ngang giữa căn phòng hầm nóng rực, vạt áo chàm thô lay động nhẹ nhàng:
“Bách Thảo Đường chúng ta đứng chân trên sườn nam núi Vân Mộng này tròn một trăm năm, cứu sống vạn người, chưa từng dựa vào việc bán mấy viên linh đan đắt đỏ để trục lợi trên nỗi đau của thế gian! Luyện đan là để chữa bệnh, cây cỏ trong trời đất sinh ra đều mang trong mình linh tính cứu người. Kẻ phàm phu hay tu sĩ đại năng khi mang bệnh tật trong người thì sinh mệnh đều bình đẳng như nhau!”
Nàng nhìn thẳng vào mắt Thẩm Quân Bình, dõng dạc tuyên bố:
“Một tháng tới, ta sẽ tự tay dọn sạch ba mẫu cỏ dại ngoài kia, tự tay khơi thông dòng suối Tẩy Diệp dẫn nước về ruộng. Ta sẽ sửa lại chiếc lò Thanh Đồng này, dùng chính y thuật chân truyền và những cây thuốc mọc trên núi Vân Mộng để bốc thuốc cứu người, kiếm từng đồng tiền đồng, từng mảnh linh thạch sạch sẽ nhất để hoàn trả nợ nần! Đúng giờ Thân ngày mười lăm tháng bảy, Tô Linh Chi này sẽ đích thân mang đủ mười hai linh thạch hạ phẩm đặt lên mặt bàn phân hội Tứ Hải dưới trấn Thanh Khê!”
Lời nàng nói ra đanh thép như sắt chém vào đá, dứt khoát và hào hùng, vang vọng trong không gian tĩnh mịch của căn hầm ngầm, dường như hòa cùng tiếng rầm rì ấm áp của nhánh địa hỏa đang cuộn trào dưới lòng đất.
Thẩm Quân Bình nhìn chằm chằm vào dung nhan thiếu nữ mảnh khảnh trước mắt, trong lòng không khỏi dâng lên một tia thán phục kín đáo. Ông ta gật đầu thật mạnh, cất bút than và cuốn sổ vào túi càn khôn:
“Hảo khí phách! Thương hội Tứ Hải lập nghiệp ngàn năm, chữ tín đặt lên hàng đầu. Lời cam kết hôm nay của cô nương, Thẩm mỗ ghi nhận vào sổ bộ. Giờ Thân ngày mười lăm tháng bảy, nếu đủ mười hai linh thạch, khế ước giữ nguyên. Nếu thiếu nửa viên, ta sẽ đích thân dẫn đệ tử chấp pháp mang giấy niêm phong đến dán kín cổng Bách Thảo Đường!”
Nói đoạn, Thẩm Quân Bình dứt khoát xoay người, sải bước dài bước lên cầu thang đá, không thèm ngoảnh đầu lại lấy một lần.
Thấy Thẩm Quân Bình đã rời đi dứt khoát, nụ cười trên mặt Lục Cảnh Minh hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một vẻ mặt âm u, lạnh lẽo đến rợn người. Đôi mắt một mí của hắn nheo lại, lóe lên những tia nhìn độc địa như rắn rết:
“Hừ! Một con nhóc miệng còn hôi sữa, tu vi Luyện Khí tầng ba thấp hèn mà cũng dám lớn lối cuồng ngôn! Mười hai linh thạch? Được lắm, Lục Cảnh Minh ta sẽ mở to mắt ra xem cô nương biến ra mười hai linh thạch bằng cách nào giữa cái đống hoang tàn đổ nát này! Đến lúc cùng đường bí lối, quỳ lạy dưới chân ta xin bán lại mảnh đất này, cái giá khi đó... sẽ không còn là ba mươi linh thạch nữa đâu!”
Dứt lời, hắn phất mạnh ống tay áo rộng thêu kim tuyến, hậm hực xoay người bước nhanh lên khỏi hầm đá, tiểu đồng theo sau vội vã chạy theo không dám thở mạnh.
Tiếng bước chân của hai người xa dần, qua khỏi sân sau, qua khỏi ngõ trúc, rồi hoàn toàn tan biến vào màn sương sớm lạnh lẽo của núi rừng.
Sự tĩnh lặng nặng nề, quạnh quẽ lại một lần nữa đổ ập xuống, nuốt chửng lấy Bách Thảo Đường.
“Phù...”
Một hơi thở dài run rẩy thoát ra từ lồng ngực Linh Chi. Toàn bộ dũng khí, sự cứng cỏi vừa rồi như bị rút cạn sạch trong chớp mắt. Chân nàng mềm nhũn, cơ thể lảo đảo trượt dần xuống theo vách bệ đá bát quái, ngồi bệt trên nền đất đá nóng rát. Lúc này nàng mới nhận ra, toàn bộ lớp áo lót bên trong của mình đã ướt đẫm mồ hôi lạnh tự bao giờ. Hai bàn tay nàng run lên bần bật, không sao khống chế nổi.
“Chít... chít...”
Một cái đầu lông xám tro nho nhỏ cẩn thận thò ra từ trong búi tóc sau gáy nàng. Đậu Đậu trườn xuống vai, rồi nhẹ nhàng nhảy vào lòng bàn tay đang run rẩy của thiếu nữ. Con linh thú nhỏ dùng hai cái chân trước mềm mại ôm chặt lấy ngón tay cái của nàng, cái mũi hồng hào ươn ướt khẽ cọ cọ vào lòng bàn tay nàng, phát ra những tiếng kêu khe khẽ đầy vẻ an ủi, vỗ về.
Linh Chi đưa ngón tay khẽ vuốt ve chỏm lông mềm mại trên đầu con thú nhỏ, khóe mắt nàng lại cay xè, một giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống mu bàn tay lông xù của nó:
“Đậu Đậu à... Chúng ta chỉ còn đúng ba mươi ngày thôi.” Nàng thì thầm, giọng nói nghẹn ngào nhưng ánh mắt vẫn ghim chặt vào vết nứt đen ngòm trên thân lò Thanh Đồng.
Ba mươi ngày. Mười hai khối linh thạch hạ phẩm.
Đối với một kẻ không có môn phái nâng đỡ, không có chứng nhận đan sư của triều đình, lò đan thì hỏng, ruộng vườn thì hoang phế, đây quả thực là một nhiệm vụ gần như bất khả thi, là một vực sâu vạn trượng không thấy đáy. Nhưng nàng không được phép gục ngã. Nếu nàng bỏ cuộc, sản nghiệp ba đời của gia tộc sẽ tan thành mây khói, tâm huyết của sư phụ sẽ bị kẻ khác chà đạp, và chính bản thân nàng cũng sẽ trở thành một kẻ lưu lạc không chốn dung thân giữa thế đạo tu chân tàn khốc, cá lớn nuốt cá bé này.
Nàng phải hành động ngay lập tức. Phải dọn sạch ba mẫu cỏ dại ngoài kia, phải vác cuốc lên khơi thông dòng nước suối Tẩy Diệp, phải kiểm tra lại toàn bộ kho tàng cổ phương mà sư phụ để lại xem có những phương thuốc hoàn tán, cao dán hay thang dịch thảo mộc nào không cần dùng đến linh đan cao cấp mà vẫn có thể chữa bệnh hiệu quả cho người phàm và tán tu hay không.
Hoàng hôn buông xuống rất nhanh trên dãy sườn nam núi Vân Mộng.
Mặt trời đỏ quạch như một khối máu đông từ từ chìm xuống sau những rặng thông già phía tây. Màn sương chiều đặc quánh, buốt giá từ trên đỉnh núi cao cuồn cuộn tràn xuống thung lũng, nhanh chóng nuốt chửng những tia sáng le lói cuối cùng của ngày tàn.
Linh Chi thắp lên một ngọn đèn dầu hạt cải nhỏ trên mặt quầy thuốc. Ngọn lửa vàng vọt, leo lét nhảy múa theo từng cơn gió lạnh luồn qua khe liếp, hắt những cái bóng dài ngoằng, chập chờn lên vách tường gỗ cũ kỹ.
Nàng cặm cụi dùng chiếc chổi đót quét sạch những mảnh gốm vỡ và mớ cánh cúc khô vương vãi trên nền đất lúc sáng, gom lại đổ vào chiếc sọt rác sau nhà. Sau đó, nàng quỳ xuống góc tối chân quầy, cẩn thận nâng chiếc hộp gỗ long não đựng hồ sơ bệnh án kinh mạch của mình lên, lau sạch lớp bụi bám trên mặt gỗ, rồi đem nó giấu sâu hơn vào ngăn bí mật dưới đáy tủ thuốc gia truyền, nơi được che phủ bởi một tấm ván gỗ mục. Xong xuôi, nàng mới tạm thời thở phào nhẹ nhõm.
Bên ngoài, màn đêm đen đặc như mực đã hoàn toàn bao phủ lấy khu rừng già.
Tiếng ve sầu mùa hạ râm ran rền rĩ khắp các vòm cây, hòa lẫn với tiếng gió rít từng cơn qua rặng tre ngà ngoài ngõ nhỏ, tạo nên một bản hòa âm hoang vu, cô tịch đến rợn ngợp.
Linh Chi ngồi bên chiếc bàn gỗ dẻ con con, dưới ánh đèn dầu hạt cải tù mù. Nàng mở rộng cuốn sổ tay bìa bọc da nai đã sờn rách – cuốn sổ ghi chép lại đặc tính, dược lý và vị trí phân bố của hàng trăm loài thảo dược hoang dã mọc trên khắp các triền núi Vân Mộng mà sư phụ nàng đã truyền dạy suốt mười năm qua. Cây bút lông thỏ trong tay nàng chấm nhẹ vào nghiên mực, bắt đầu vạch ra từng kế hoạch thu hái tỉ mỉ cho ngày mai: sáng sớm hái Bạc Hà rừng khi sương chưa tan để giữ tinh dầu, trưa leo lên vách đá tìm Dạ Minh Sa và Xương Bồ, chiều xuống bờ suối đào rễ Cát Cánh...
Bất chợt, Đậu Đậu – lúc này đang nằm cuộn tròn như một nắm len xám dưới chân đèn dầu, say sưa gặm một mẩu vỏ cây quế chi – bỗng khựng lại.
Hai cái tai tròn xoe nhỏ xíu của con linh thú nhỏ lập tức dựng đứng thẳng tắp lên.
Nó buông mẩu quế chi ra mặt bàn, cái mũi hồng hào phập phồng liên tục, hít lấy hít để luồng không khí ban đêm vừa lọt qua khe cửa. Đôi mắt tròn xoe đen láy của nó co rút lại thành hai điểm sáng sắc bén giữa bóng tối.
“Chít...”
Một tiếng gầm gừ cực kỳ trầm thấp, đè nén phát ra từ sâu trong cuống họng con thú nhỏ – thứ âm thanh cảnh giác mà Linh Chi chưa từng nghe thấy ở nó bao giờ.
Nó bật nhảy phắt một cái lên bậu cửa sổ bằng gỗ, bốn chân bấu chặt vào mép gỗ nứa, toàn bộ lớp lông xám mềm mại dọc theo sống lưng dựng ngược lên như lông nhím. Cái đuôi xù dài chỉ thẳng lên trời, đôi mắt nó ghim chặt ra màn đêm đen đặc quánh bên ngoài sân sau, nơi ba mẫu linh điền hoang phế tiếp giáp với cánh rừng nguyên sinh rậm rạp.
Linh Chi giật thót tim, bàn tay đang cầm bút lông khẽ khựng lại giữa không trung. Một giọt mực đen nhánh từ đầu bút rơi xuống, loang lổ trên trang giấy trắng.
Nàng nín thở, lắng tai nghe.
Gió núi vẫn rít từng cơn qua rặng tre già. Nhưng lẩn khuất bên dưới tiếng gió gầm gào và tiếng ve sầu mùa hạ, từ phía hàng rào tre đổ nát ngăn cách khu vườn bậc thang với cánh rừng hoang dã phía sau, bất ngờ vang lên những chuỗi âm thanh xào xạc đầy bất thường.
“Rắc!”
Tiếng cành thông khô bị một trọng lượng nặng nề giẫm gãy giòn rụm vang lên rõ mồn một giữa đêm thanh vắng.
Ngay sau đó, nương theo làn gió lạnh thổi thốc qua khe liếp, một luồng mùi tanh tưởi nồng nặc của máu tươi hòa lẫn với mùi bùn lầy tanh ngắt xộc thẳng vào khứu giác nhạy bén của một người làm nghề y như Linh Chi. Đi kèm với mùi máu ấy là những tiếng thở dốc nặng nhọc, đứt quãng, khò khè như tiếng bễ rách của một kẻ lạ mặt đang bị thương nặng, đang lén lút kéo lê từng bước chân nặng nề xâm nhập vào Bách Thảo Đường giữa đêm tối mịt mùng.