Đám Cưới Ở Làng Không NgườiC.6 / 20
Chương 6

Tiếng Gáy Thứ Nhất

Tiếng gáy đanh buốt của con gà tế chưa dứt hẳn thì ngọn gió từ khúc sông thốc mạnh vào đình, làm hàng nến đỏ chao đảo dữ dội và phả mùi nước đọng tanh nồng khắp gian tiền tế.

Âm thanh ấy không giống bất kỳ tiếng gà gáy nào nơi trần thế. Nó the thé, sắc nhọn như một mảnh sành sắc lạnh cứa ngang qua màn đêm đặc quánh, dội vào từng thớ gỗ lim trơ trọi bám đầy bụi thời gian rồi ghim thẳng vào màng nhĩ của những người còn giữ được hơi thở nóng trong lồng ngực. Tiếng gáy vừa dứt thì một đợt lạnh tê buốt từ dưới gầm sàn gạch dâng lên, ngấm qua đế giày, luồn lách qua từng thớ thịt đường gân, khiến toàn thân An run rẩy từng hồi không sao kiềm chế nổi. Hơi lạnh ấy không phải cái rét mướt thông thường của một đêm sương cuối năm, mà là thứ khí lạnh ẩm mốc, mục rỗng, tích tụ từ đáy vực sâu hàng chục trượng, mang theo mùi của bùn lầy chôn vùi rác rưởi và rong rêu thối rữa qua hàng thập kỷ.

Phía sau bức tường ngăn cách gian tiền tế với hậu cung sâu thẳm, bóng tối dường như cô đặc lại thành một khối bùn đen trũi, nặng trĩu và quánh đặc, tựa hồ ánh sáng không thể nào xuyên thấu qua được tầng tầng lớp lớp u uất tích tụ nơi chốn linh thiêng quỷ dị này.

Dưới ánh sáng leo lét, chập chờn của ngọn đèn dầu lạc đặt trên bệ đá xanh rêu phong ẩm ướt, ông Từ Lẫm đứng sừng sững bên cạnh khám thờ cổ. Chiếc bóng của ông ta đổ dài lên bức vách gỗ, méo mó và bất động như một bức tượng tạc từ thời hồng hoang. Cánh cửa khám bằng gỗ mun đen bóng chạm trổ chằng chịt hoa văn thủy quái, rồng đuôi cá cùng những loài bò sát dưới đáy bùn đã mở toang từ lúc nào, để lộ khoảng không gian sâu hoắm bên trong bốc ra mùi dầu thông và mùi gỗ mủn. Trước mặt ông là cuốn sổ hộ gốc bọc da trâu bạc phếch, mép giấy nham nhở, cong queo những dấu vết bùn lũ khô cằn qua mười hai năm đằng đẵng. Bìa da trâu đã sờn rách, để lộ những đường gân xơ xác, lốm đốm những vệt mốc hoa mai trắng đục bám chặt vào từng nếp gấp.

Ông Từ Lẫm không hề chớp mắt. Đôi mắt ông ta đùng đục như mắt cá ươn, trũng sâu dưới đôi lông mày rậm rạp bạc trắng. Đôi bàn tay gầy guộc như hai nhánh củi khô, những ngón tay khẳng khiu với móng tay thâm đen, cáu bẩn đất phù sa chậm rãi nhấc cây bút lông cán trúc lên khỏi chiếc giá bằng sừng trâu. Từng cử động của ông đều toát ra vẻ chuẩn xác, rùng rợn đến lạnh gáy. Ông chấm ngập đầu lông mịn vào chiếc nghiên sành đen trũi đựng thứ son đỏ quánh đặc. Thứ son ấy sủi tăm tăm những bọt khí li ti, bốc lên mùi tanh tưởi lợm giọng của chu sa hảo hạng pha lẫn nước phù sa vớt từ đáy vực sâu nơi dòng sông Vĩnh Trầm giao thoa với cõi âm ty.

Trên trang giấy bản màu vàng úa, xơ xác và mỏng manh như cánh ve sầu, những dòng chữ cổ ghi tên tuổi, ngày tháng thụ sinh của những linh hồn chìm nghỉm trong đêm bão lũ kinh hoàng mười hai năm trước vẫn còn hằn rõ nét mực nho phai màu. Ông Từ Lẫm đặt ngòi bút lông đẫm son xuống mặt giấy mục.

Nét son đỏ tươi rực lên chói lọi, tựa như một vệt máu sống vừa rỉ ra từ vết thương còn tươi rói trên da thịt con người.

Bằng một nét vẽ dứt khoát, sắc lẹm theo lối chữ triện cổ ngoằn ngoèo như những con rắn nước trườn bò, ngòi bút của người giữ đình kéo một đường son thẳng tắp, nối liền cái tên Hoàng Minh với dòng chữ mới chép cách đó vài khắc: Hoàng Văn An.

Ngay khoảnh khắc ngòi bút lướt qua, vệt son đỏ phát ra một luồng ánh sáng lân tinh mờ ảo, ma mị, bập bùng như đốm lửa ma trơi trên bãi tha ma lúc nửa đêm. Vệt sáng ấy từ từ ngấm sâu vào từng thớ giấy bản khô khốc, phát ra tiếng xèo xèo rất nhỏ như mỡ sôi, tựa hồ trang sổ đang đói khát há miệng hút cạn từng giọt máu tươi và sinh khí của người sống.

Không dừng lại ở đó, nét bút ma quái của ông Từ Lẫm tiếp tục lia qua những trang kế tiếp bằng một vẻ điềm nhiên tàn nhẫn. Tên gã tuần đinh Bảy được vạch một đường son đỏ lòm nối thẳng vào tên Nguyễn Thụy Vy; tên của cô dâu đoản mệnh Lê Thị Hạnh được kéo liền một dải u uất với người em gái ruột thịt Lê Thị Loan; và cái tên Trần Văn Quân chìm sâu dưới đáy nước mười hai năm trước được khóa chặt vào người em trai Trần Văn Phúc bằng một nét móc son hiểm hóc, khép kín.

Từng đường son đỏ rực lóe lên rồi từ từ lặn sâu vào trang giấy mục nát, để lại những vết hằn tím tái như dấu vết thắt cổ trên cổ họng tử thi. Bốn cặp tên đã được đóng dấu, trói buộc bởi mực son ma quái và máu phù sa ngàn năm.

Ông Từ Lẫm từ từ thu bút lại, cẩn thận đặt ngọn bút lông về giá sừng. Khóe môi nhăn nheo của ông khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lùng, vô cảm, làm những nếp nhăn trên mặt co rúm lại thành hình thù gớm ghiếc. Ông đưa bàn tay khô đét khép hờ cánh cửa hậu cung bằng gỗ lim nặng nề. Bản lề gỗ rên lên một tiếng ken két nặng trịch, khô khốc. Qua khe cửa hẹp chỉ chừng nửa ngón tay, ánh lân tinh đỏ rực từ cuốn sổ hộ gốc hắt ra những tia sáng quái đản, ma quái cuối cùng trước khi bị bức màn bóng tối vĩnh cửu nuốt trọn hoàn toàn.

Giao ước đã khóa. Tiếng gà thứ nhất đã điểm rành rọt vào cõi u minh, đóng chặt số phận của những kẻ lầm lỡ bước chân vào tiệc cưới người chết.

***

Ngoài gian tiền tế, An cảm thấy bàn tay lạnh ngắt của Minh vừa buông lỏng ra khỏi vai mình thì một cơn ớn lạnh dọc sống lưng lập tức ập đến, dữ dội như một gáo nước đá dội thẳng từ đỉnh đầu xuống gót chân. Chỗ bả vai vừa bị chạm vào tê dại đi, da thịt nổi gai ốc từng mảng lớn, mất hết cảm giác.

"An... An ơi, chạy mau!"

Tiếng hét thất thanh của Vy xé toạc bầu không khí nghẹt thở, giật phắt An ra khỏi cơn bàng hoàng chết lặng. Vy không hề do dự lấy một phần mười giây. Gương mặt cô tái mét không còn một giọt máu, nhưng đôi mắt ánh lên sự kiên quyết tột cùng của một người đang đứng trước bờ vực sinh tử. Cô lao tới như một mũi tên, chụp lấy cổ tay An, kéo giật cậu về phía sau bằng tất cả sức lực bình sinh. Móng tay Vy bấm sâu vào da thịt An, cơn đau nhói buốt ấy bất ngờ trở thành mỏ neo duy nhất níu giữ tâm trí cậu lại với thực tại trần gian.

"Loan! Phúc! Ra ngoài mau! Chạy ra cổng làng ngay lập tức!" Vy vừa lôi An đi vừa ngoái đầu hét lớn về phía góc đình bằng chất giọng khản đặc, vỡ vụn.

Loan lúc này đang quỳ sụp dưới chân cột cái bằng gỗ lim mốc thếch. Hai đầu gối cô gái trẻ dán chặt xuống nền gạch Bát Tràng ẩm ướt, đôi mắt mở to đờ đẫn, ngập tràn nước mắt và sự bàng hoàng tột độ, nhìn chằm chằm vào bóng lưng thê lương của chị gái Hạnh đang đứng bất động trên thềm gạch. Tờ giấy báo tử nhàu nát, ố vàng vết nước bùn rơi khỏi bàn tay run rẩy của Loan, bay là đà trong ngọn gió quẩn rồi đậu xuống nền đất lạnh, ngay cạnh một vũng nước mưa đọng xám xịt. Nghe tiếng thét xé lòng của Vy, Loan giật mình choàng tỉnh như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng kinh hoàng. Nỗi sợ hãi nguyên thủy bóp nghẹt lồng ngực khiến cô luống cuống, dùng cả hai tay lẫn hai chân bò dậy trên nền đất lạnh, hàm răng va vào nhau cầm cập từng chập, toàn thân run rẩy suýt ngã quỵ xuống đất thêm một lần nữa.

Ở phía bàn tiệc gần cửa ngách, Phúc mặt cắt không còn một hột máu. Quân – người anh trai ruột thịt đã chết đuối trôi xác mười hai năm trước trong trận hồng thủy – vẫn đang ngồi ngay bên cạnh cậu ta. Bàn tay xám ngoét, bủng beo vì ngâm nước phù sa của gã vẫn đặt hờ hững trên đùi Phúc, những ngón tay mềm nhũn nhớp nháp bùn non áp chặt qua lớp vải quần bò dày cộp. Nhưng khi tiếng gà tế cất lên nhọn hoắt và dứt hẳn, một cơn hoảng loạn tột cùng bùng cháy trong lồng ngực Phúc, thiêu rụi toàn bộ sự tội lỗi hay tình thương máu mủ còn sót lại. Phúc gầm lên một tiếng man dại trong họng, vung tay hất mạnh bàn tay của Quân ra. Cú vung tay bạt mạng làm gạt đổ cả mâm cỗ đầy ắp những bát đĩa sứt mẻ chứa thứ thịt thà ôi thiu bốc mùi thối rữa và bát tiết canh thâm sì đóng váng. Bát đĩa vỡ choảng xẻng trên nền gạch, văng tung tóe thứ nước dùng nhớp nhúa. Phúc không buồn nhìn lại, ôm đầu lao thục mạng về phía khoảng sân đình mờ mịt.

"An! Đừng đi mà em!"

Tiếng gọi của Minh bất thần vang lên phía sau lưng An. Đó không phải là một tiếng thét hăm dọa hay gầm gừ độc địa, mà là một thanh âm tha thiết, nghẹn ngào, ai oán đến xé ruột xé gan. Âm thanh ấy như được cất lên từ tận đáy một chiếc giếng sâu ngập bùn, vang vọng và run rẩy. Minh loạng choạng bước tới, từng bước chân nặng nề như đeo đá. Vạt áo dài gấm đỏ thêu chữ Hỷ bằng chỉ vàng bay phần phật trong cơn gió sông lạnh buốt. Những giọt nước mắt đen đúa màu phù sa chảy ròng ròng từ khóe mắt trũng sâu, lăn dài trên gương mặt trắng bệch phù thũng của người anh họ:

"Em đã hứa ở lại với anh mà An! Dưới đó lạnh lắm... tối tăm lắm... mười hai năm rồi anh nằm dưới đáy sông, không thấy ánh mặt trời, rêu bám đầy mắt mũi... Cứu anh với An ơi! Ở lại với anh một đêm thôi!"

Tiếng van xin thảm thiết, nghẹn ngào ấy như hàng ngàn mũi gai nhọn móc thẳng vào tim An, kéo giật từng bước chân đang toan tháo chạy của cậu lại. Lương tâm, ký ức tuổi thơ tươi đẹp và hình ảnh người anh từng nhường cho mình manh áo ấm duy nhất trong mùa đông giá rét, từng dùng hết sức bình sinh đẩy cậu lên mép chiếc thuyền cứu hộ trong đêm bão lũ kinh hoàng năm ấy bỗng chốc ùa về dữ dội. Trái tim An co thắt lại trong nỗi đau đớn giằng xé tột cùng. Một nửa trong cậu muốn quay lại, muốn ôm lấy người anh bất hạnh, muốn chia sẻ phần nào nỗi thống khổ lạnh lẽo mười hai năm qua.

"Đừng nghe anh ta! An, tỉnh lại đi!"

Vy giật mạnh vai An, một cái tát trời giáng vào thực tại nghiệt ngã. Bàn tay Vy ấm nóng, dù đang run rẩy kịch liệt nhưng siết chặt đến mức móng tay bấm sâu làm bầm tím da thịt An. Ánh mắt Vy rực lên sự tỉnh táo đến tàn nhẫn:

"Đó không còn là anh họ của cậu nữa! Hãy nhìn kỹ đi! Họ chết rồi! Họ đã chết mười hai năm trước rồi! Họ không muốn cứu ai cả, họ muốn lấy mạng sống của chúng ta để làm vật thế mạng!"

Lời cảnh tỉnh của Vy như một luồng điện giật khiến An bừng tỉnh khỏi cơn mê muội u ám. Cậu nhìn lại: dưới tà áo gấm đỏ rực của Minh, những ngón chân người anh họ nhợt nhạt, trơ trọi đang lơ lửng cách mặt đất nửa đốt ngón tay, và từ gấu quần, từng giọt nước bùn thối vẫn đều đặn rỏ xuống tí tách.

Chung quanh sân tiệc, không khí bỗng nhiên đặc quánh lại như keo dán.

Những người họ hàng thân thuộc thuở ấu thơ – bác Cảnh, thím Thuận, chú Điền, cùng hàng chục dân làng khác đang ngồi lặng lẽ quanh các dãy bàn tiệc – đồng loạt đứng dậy. Không một tiếng xì xào bàn tán, không một tiếng động của khớp xương hay tiếng bước chân dẫm lên sỏi đá. Họ di chuyển nhẹ bẫng như những chiếc bóng lướt đi trên mặt đất phủ đầy sương ẩm. Lớp da thịt trắng bệch như sáp nến của họ dưới ánh sáng đỏ quạch, chập chờn từ những chiếc đèn lồng treo quanh đình lộ rõ những mảng thối rữa, hoại tử tím ngắt và những vết rách da thịt rỉ nước vàng đục. Những đôi mắt đục ngầu, không có con ngươi dán chặt vào bốn vị khách sống.

"Ở lại uống chén rượu mừng đã các cháu..."

Bác Cảnh bước ra chắn ngang lối đi lát gạch. Cánh tay cứng đờ như thanh củi khô của ông giơ cao chiếc chén sứ cáu bẩn chứa thứ nước xỉn màu bốc mùi tanh tưởi:

"Rượu hỷ họ hàng cất bằng nếp cái hoa vàng của đất này đấy... Uống đi rồi hãy đi đâu thì đi..."

"Chưa tàn tiệc mà đi đâu vội thế con ơi? Ở lại với họ hàng một đêm thôi..." Thím Thuận bước tới từ mép sân bên kia, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười mừng rỡ. Nhưng nụ cười méo mó, quái đản ấy làm rách toạc khóe môi khô khốc nứt nẻ của thím, để lộ ra hàm răng đen sì bám đầy rong rêu đáy sông và một nắm bùn nhão nhoét đang trào ra khỏi vòm họng.

Họ không lao vào cắn xé hay dùng thứ bạo lực hung tợn của loài dã thú. Họ di chuyển chầm chậm, mềm oặt nhưng đồng loạt, vây kín lại thành một bức tường người lạnh ngắt không có nhịp thở, bịt kín mọi ngả đường thoát hiểm trên khoảng sân đình hẹp. Từng cánh tay dài ngoằng, nhợt nhạt và nhớp nhúa bùn đất vươn ra từ mọi phía. Những bàn tay ấy tìm cách níu lấy vạt áo, kéo giật quai ba lô, vuốt ve khuôn mặt, mơn trớn qua làn da ấm nóng của những người sống bằng những cử chỉ vừa ân cần, lưu luyến, vừa ghê rợn đến cùng cực. Hơi lạnh từ những thân xác chết ngâm lâu ngày phả ra nồng nặc mùi bùn thối, mùi cá chết và tử khí đặc quánh, xộc thẳng vào khoang mũi khiến An buồn nôn cồn cào ruột gan.

"Cút ra! Tránh xa tôi ra! Lũ ma quỷ chúng mày tránh xa tao ra!"

Phúc gào lên điên dại như một con thú bị dồn vào chân tường. Đôi mắt cậu ta vằn lên những tia máu đỏ lòm. Trong cơn hoảng loạn tột độ, Phúc vớ lấy một chiếc ghế đẩu bằng gỗ lim nặng trịch đặt ở góc sân, vung loạn xạ thành những vòng tròn điên cuồng về phía trước.

Bốp!

Chiếc ghế đập trúng bả vai chú Điền. Nhưng thay vì tiếng xương gãy giòn tan, một âm thanh trầm đục vang lên, tựa hồ như một thanh gỗ vừa nện thẳng vào một bao tải chứa đầy bùn nhão lâu năm. Cả thân xác chú Điền chỉ hơi chao đảo sang một bên, lớp thịt mềm nhũn lõm sâu xuống một mảng lớn nhưng tuyệt nhiên không hề ngã, và khuôn mặt chú vẫn giữ nguyên nụ cười nhăn nhở vô hồn. Tuy vậy, cú va chạm mạnh cũng đủ tạo ra một khe hở nhỏ giữa hai bóng người. Lợi dụng khoảnh khắc đó, Phúc cúi gập người lao vụt qua như một mũi tên.

An cắn chặt môi đến bật máu. Vị tanh mặn, ấm nóng của giọt máu nơi đầu lưỡi kéo giật thần trí cậu hoàn toàn thoát khỏi sự dùng dằng tội lỗi cuối cùng. Cậu nắm chặt lấy bàn tay lạnh ngắt đang run bần bật của Loan, cùng với Vy dùng hết sức bình sinh xô mạnh qua khoảng trống giữa đôi vợ chồng thím Thuận. Một bàn tay lạnh buốt như tảng băng trôi quẹt ngang qua gáy An, những móng tay sắc nhọn để lại một vệt xước buốt rát thấu tận xương tủy, làm rùng mình rợn ốc khắp toàn thân.

Cả bốn người cắm đầu chạy tháo thân ra khỏi khoảng sân đình ngập ngụa ánh sáng đỏ ma quái của đèn lồng. Phía sau lưng họ, tiếng kèn đám ma ai oán, não nề bỗng rộ lên từng hồi rền rĩ, hòa lẫn với tiếng khóc ròng thảm thiết, nghẹn ngào của Hoàng Minh đang dội vào màn đêm sâu thẳm:

"An ơi... sao em nỡ bỏ anh... dưới này lạnh lắm em ơi..."

***

Con đường lát gạch nghiêng ngả dẫn từ sân đình ra cổng làng dường như dài hơn bình thường gấp bội phần.

Gió đêm từ khúc sông Vĩnh Trầm thốc ngược vào mặt họ từng cơn dữ dội, mang theo những hạt mưa phùn li ti buốt giá như những mũi kim châm vào da thịt. Loan vừa chạy vừa thở dốc, hai lá phổi rát bỏng như có than hồng thiêu đốt. Nước mắt hòa lẫn mồ hôi và nước mưa làm nhòe nhoẹt khuôn mặt tái mét của cô gái trẻ. Chiếc khăn quàng cổ màu xám tuột ra, bay phấp phới rồi rơi biến vào bóng tối sau lưng nhưng Loan không dám quay đầu lại nhìn lấy một cái. Phúc chạy phía trước tiên phong, vừa chạy vừa liên tục ngoái đầu lại nhìn với đôi mắt dại đi vì kinh hoàng, miệng không ngừng lẩm bẩm những lời cầu khẩn thần Phật vô nghĩa, hổn hển từng tiếng đứt quãng.

"Cổng làng kia rồi! Nhìn thấy hai cái trụ vôi rồi!" Vy thở hổn hển, một tay kéo chặt An, một tay chỉ thẳng về phía trước qua màn đêm dày đặc.

Trong bóng tối nhờ nhợ của màn sương ẩm, hai trụ cổng bằng vôi vữa nứt nẻ của làng Vĩnh Trầm hiện ra lờ mờ, sừng sững như hai chiếc bia mộ khổng lồ cắm thẳng vào nền trời đêm đen đặc. Vết ngấn bùn lũ màu nâu xám hằn ngang đầu người trên thân trụ vẫn còn nguyên vẹn, trơ trọi và câm lặng, một chứng tích rùng rợn ghi dấu thảm họa mười hai năm trước. Ngay bên cạnh trụ cổng bên trái, cây bàng cổ thụ xòe những cành lá khẳng khiu, xơ xác trơ trụi như những cánh tay quỷ gầy guộc đang vươn lên cào xé bầu không khí tĩnh mịch.

Một tia hy vọng sống sót bùng lên dữ dội trong lồng ngực An. Chỉ cần vượt qua hai trụ vôi nứt nẻ kia, bước chân ra khỏi ranh giới địa phận của ngôi làng này, vượt qua bãi sình lầy cỏ dại mọc lút đầu người là họ có thể đặt chân lên triền đê đất nện kiên cố, quay trở về với thế giới của những người đang sống.

"Chạy nhanh lên! Đừng dừng lại! Cứ nhắm thẳng cổng mà lao qua!" An hét lớn, bàn tay siết chặt lấy những ngón tay nhỏ nhắn, đẫm mồ hôi của Loan.

Bốn người họ dồn hết tàn lực của đôi chân, lao qua khoảng đất trống ngập đầy lá mục dưới gốc cây bàng cổ thụ. Tiếng lá khô vỡ vụn dưới đế giày giòn tan, lộp cộp trong màn đêm vắng lặng. Họ lướt qua khe hẹp đen ngòm giữa hai trụ vôi nứt nẻ. An cảm nhận rõ ràng luồng gió lạnh buốt từ hai bên trụ vôi phả vào má mình khi thân thể vượt qua ranh giới ấy. Họ cắm đầu chạy tiếp trên con đường mòn đất nện dẫn ra bãi bồi ven sông.

Mười bước. Hai mươi bước. Năm mươi bước.

An cắm cúi chạy, hai mắt dán chặt xuống mặt đất đen nhờ nhợ, lồng ngực phập phồng đau nhói vì thiếu dưỡng khí trầm trọng. Cậu đinh ninh rằng bàn chân mình đã chạm vào lớp bùn nhão quen thuộc của bãi cỏ lau dẫn ra đầm lầy, nơi mùi bùn chua của ruộng hoang thường bốc lên ngai ngái. Thế nhưng, bỗng nhiên mũi giày cậu vấp phải một gờ đá cứng cáp, quen thuộc đến lạnh người.

Cộc!

Một âm thanh vang lên khô khốc, đanh gọn. Đó tuyệt đối không phải là nền đất bùn lầy xốp nhão của bãi sông hoang vu.

An sững sờ dừng phắt bước chân lại, quán tính khiến cậu suýt chúi nhủi về phía trước. Cậu từ từ ngẩng đầu lên, hơi thở nghẽn lại nơi cuống họng. Không khí chung quanh dường như đông cứng lại thành một khối băng giá vô hình.

Trước mắt họ không có con đê nào cả. Không có cánh đồng hoang ngút ngàn cỏ dại, cũng chẳng có lối mòn quanh co dẫn về khu tái định cư Đồng Mới.

Ngay dưới chân họ là những viên gạch Bát Tràng viền rêu xanh xám quen thuộc, từng viên gạch mòn vẹt xếp nghiêng hình xương cá thẳng tắp. Phía trước mặt, cách chưa đầy mười bước chân ngắn ngủi, là dãy bậc tam cấp bằng đá xanh dẫn thẳng lên gian tiền tế của ngôi đình làng. Hai ngọn nến đỏ rực cắm trên bàn hương án vẫn đang cháy bập bùng, ngọn lửa ma quái không hề lay động trước gió, soi rõ mâm cỗ ngổn ngang bát đĩa vỡ nát và những bóng người họ hàng trong trang phục liệm tang vẫn đang đứng yên bất động thành một hàng dài, lặng lẽ dõi theo từng cử động của họ bằng những đôi mắt đục ngầu!

Họ vừa chạy qua cổng làng, chạy miệt mài đến đứt hơi trong bóng tối mịt mùng, nhưng con đường mòn lại uốn cong một cách ma quái, đưa cả bốn người quay ngược trở lại đúng điểm xuất phát nơi sân đình!

"Không... không thể nào... chuyện gì thế này..."

Loan khuỵu hai đầu gối xuống nền gạch lạnh buốt, hai tay ôm chặt lấy đầu, toàn thân run rẩy nấc lên từng tiếng nghẹn ngào, tuyệt vọng:

"Chúng ta vừa chạy ra ngoài rồi mà... Em thề là em vừa nhìn thấy hai cái trụ cổng vôi mà... Em thấy cành cây bàng quét qua đầu em mà!"

Phúc đứng chết trân ở mép sân, hai tròng mắt trợn trừng nhìn trừng trừng vào bậc thềm đá của gian tiền tế. Mặt cậu ta xám ngoét như tro tàn của một đám ma vừa tàn, hai môi run rẩy mấp máy không thành lời:

"Đường... con đường bị bẻ cong rồi! Ma giấu đường rồi! Ma làng nó giấu đường rồi! Chúng ta bị nhốt rồi, không bao giờ ra được nữa đâu!"

"Im đi Phúc! Đừng có nói gở mồm gở miệng!" Vy gắt lên, dù chính giọng nói sắc sảo thường ngày của cô lúc này cũng bắt đầu run rẩy vì một nỗi kinh hãi không thể che giấu. Cô đưa mắt nhìn quanh quất, đảo qua những mái ngói rêu phong và bức tường gạch đổ nát, cố dùng tư duy khoa học duy lý của một cán bộ nghiên cứu địa lý để tìm ra lời giải:

"Có thể do sương mù quá dày đặc làm chúng ta mất phương hướng trong đêm tối. Con đường mòn quanh cây bàng cổ thụ vốn dĩ có khúc cua hình chữ U rất rộng, trong lúc hoảng loạn chạy tháo thân, mắt không nhìn rõ nên chúng ta đã chạy vòng ngược lại mà không hề hay biết!"

"Không phải chạy vòng lại!" An thở dốc, lồng ngực phập phồng dữ dội, cậu chỉ tay về phía bóng cây bàng lờ mờ cách đó chừng năm chục thước sau lưng họ:

"Chúng ta chạy thẳng một mạch, tôi nhớ rất rõ tôi nhìn thấy hai trụ vôi ở hai bên vai mình khi lao qua! Cảm giác bước chân hoàn toàn là đường thẳng! Không gian ở đây... nó đã bị khóa chặt rồi. Nó không cho chúng ta thoát ra."

"Xe máy!" Phúc bỗng nhiên hét toáng lên như một kẻ chết đuối vớ được cọc gỗ giữa dòng nước xoáy. Đôi mắt dại đi của cậu ta bỗng lóe lên một tia sáng cuồng loạn:

"Chiếc xe máy của tôi! Tôi để nó ở bờ rào dâm bụt ngay dưới gốc cây bàng! Đi xe máy thì không thể nào nhầm đường được! Bật đèn pha lên, cứ nhắm thẳng đường bờ đê mà vít hết ga! Phóng thẳng một mạch ra đường nhựa liên huyện!"

Không đợi bất kỳ ai kịp trả lời hay ngăn cản, Phúc quay ngoắt người lại, điên cuồng lao ngược trở lại phía cây bàng cổ thụ. Đôi chân cậu ta giẫm đạp lên lá khô sột soạt trong đêm. An và Vy nhìn nhau trong tích tắc, sự căng thẳng tột độ đè nặng lên từng hơi thở, rồi họ vội vã kéo tay Loan đuổi theo sau. Trong tình cảnh quỷ dị này, chia rẽ lực lượng đồng nghĩa với việc tự nộp mạng cho bóng tối, họ tuyệt đối không thể để Phúc hành động một mình trong cơn mê sảng hoảng loạn.

Chiếc xe máy Dream II cà tàng của Phúc vẫn dựng nghiêng ở mép bờ rào dâm bụt xơ xác, phủ một lớp sương đêm ẩm ướt, lạnh ngắt như kim loại ngâm dưới nước đá. Phúc nhào tới, nhảy tót lên yên xe, bàn tay run bần bật cắm chìa khóa vào ổ rồi dùng hết sức bình sinh đạp liên hồi vào cần khởi động.

Cạch! Cạch! Tạch... Bành... bành bành bành!

Tiếng động cơ hai thì cũ kỹ nổ giòn giã vang lên, phá tan bầu không khí u uất, tĩnh mịch đến rợn người của ngôi làng hoang phế. Luồng khói xám khét lẹt phả ra từ ống bô mang theo mùi xăng dầu nồng nặc—thứ mùi trần tục duy nhất mang lại chút cảm giác thực tế của cõi sống giữa chốn âm ty này. Ánh đèn pha vàng vọt, tù mù quét một vệt sáng yếu ớt xuyên qua màn sương đêm đùng đục, rọi thẳng vào con đường đất gồ ghề phía trước.

"Lên xe mau! Cả ba người bám chặt vào tôi, tôi chở hết một chuyến!" Phúc gào lên qua tiếng máy nổ ầm ĩ, hai tay ghì chặt ghi-đông, mắt mở to trừng trừng.

"Xe này không thể chở bốn người qua bãi đầm lầy trơn trượt được đâu Phúc! Lầy bánh là kẹt lại hết đấy!" Vy lao tới cố túm lấy tay lái ngăn lại, nhưng Phúc đã hoàn toàn mất kiểm soát lý trí. Nỗi sợ hãi cái chết đã biến cậu ta thành một kẻ điên cuồng mù quáng.

"Mặc kệ chúng mày! Ai không lên thì ở lại đây mà chết với lũ ma này!"

Phúc gầm lên một tiếng, vặn kịch tay ga rồi nhả côn đánh xoạch một cái. Chiếc xe Dream chồm giật lên phía trước như một con ngựa bất kham. Bánh xe sau cày nát lớp sỏi đá dưới lòng đường, bắn tung tóe bùn đất vào ống quần An và Vy, rồi chiếc xe lao vút đi xé gió theo hướng bờ đê ven sông. Ánh đèn xe chao đảo dữ dội giữa màn đêm đặc quánh, rẽ màn sương mù xám đục mà phóng thục mạng về phía trước trong tiếng máy gầm rú xé tai.

Thế nhưng, một cảnh tượng kinh hoàng vượt ngoài mọi quy luật vật lý của nhân gian lại tái diễn ngay trước mắt An và Vy.

Họ đứng lặng người bên gốc cây bàng, dõi mắt nhìn theo chiếc xe của Phúc đang lao thẳng một đường tắp về phía bờ đê. Ánh đèn pha vàng vọt rọi thẳng vào bóng tối... nhưng rồi kỳ lạ và rùng rợn thay, vệt sáng ấy không hề đi xa dần hay nhỏ lại theo luật viễn cận, mà dường như bị một lực hút vô hình cực kỳ khủng khiếp bẻ cong sang một góc chín mươi độ giữa không trung. Tiếng máy xe gầm rú đinh tai nhức óc chỉ vang lên được chừng hai mươi giây ngắn ngủi thì vệt sáng đèn pha bỗng nhiên quay ngoắt một vòng tròn hoàn hảo trong màn sương mù, rồi từ phía bên kia rặng tre đổ nát, ánh đèn ấy rọi thẳng ngược lại vào mặt An và Vy!

Kééét!

Tiếng phanh xe nghiến ken két rợn người trên mặt đá xanh ẩm ướt. Chiếc xe Dream trượt bánh trên lớp rêu trơn tuột, lộn nhào một vòng rồi đổ rầm xuống ngay mép bậc tam cấp của gian tiền tế đình làng. Phúc ngã lăn long lóc trên nền gạch, cả thân người va đập mạnh vào thành đá, trầy trụa rớm máu khắp hai cánh tay và đầu gối. Chiếc xe máy nằm chỏng chơ bên cạnh, bánh sau vẫn còn quay tít mù trong không khí phát ra tiếng rè rè ma quái, còn đầu xe thì chỉ thẳng vào hai ngọn nến đỏ rực đang cháy lập lòe trên bàn hương án!

Phúc nằm sấp dưới đất, hai bàn tay đập thùm thụp xuống nền gạch Bát Tràng, bật khóc nức nở, thảm thiết như một đứa trẻ bị bỏ rơi trong bãi tha ma:

"Không ra được... Tôi đã lái thẳng một đường mà... Tôi thề có trời đất chứng giám là tôi vít ga đi thẳng, tôi không hề bẻ lái một ly nào... Tại sao lại quay về đây?! Tại sao?!"

Vy nghiến chặt răng đến mức quai hàm bạnh ra, trên trán cô lấm tấm những giọt mồ hôi lạnh ngắt dù ngọn gió đêm thổi qua rét buốt thấu xương. Cô hít sâu một hơi, cố đè nén sự hoang mang đang dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng, đưa mắt nhìn về phía dòng sông Vĩnh Trầm đang lấp loáng những vệt nước đen sì sau những rặng lau sậy rậm rạp.

"Đường đê bị chặn thì đi đường sông!" Vy dứt khoát nói, giọng nói cô đanh lại như thép nguội. "Tôi đã nghiên cứu rất kỹ bản đồ trắc địa và bình đồ địa hình của vùng này trước khi thực địa. Men theo triền đồi thấp ven sông, đi ngược dòng nước về phía thượng lưu chừng hai cây số là sẽ gặp mỏm đá ranh giới giữa Vĩnh Trầm và xã bên. Nước sông Vĩnh Trầm chảy xiết theo hướng cố định từ bắc xuống nam, chúng ta chỉ cần lần theo tiếng nước chảy ngược dòng thì tuyệt đối không một thứ tà thuật nào có thể đánh lừa được phương hướng!"

"Vy nói đúng đấy," An bước tới đỡ Phúc dậy, túm chặt lấy cổ áo người bạn kéo đứng thẳng lên. Ánh mắt An rực lên sự kiên quyết: "Đứng dậy đi Phúc! Khóc lóc không cứu được mạng mày đâu! Muốn sống thì phải bước tiếp! Đi theo Vy!"

Lần này, bốn người họ không dám chạy thục mạng trong mù quáng nữa. Họ bám sát lấy nhau thành một hàng dọc chặt chẽ, tạo thành một khối thống nhất: Vy cầm la bàn và đèn pin nhỏ dẫn đầu, Loan đi ngay sau nắm chặt vạt áo Vy, Phúc lầm lũi đi giữa, còn An đi sau cùng để bọc lót và quan sát mọi động tĩnh phía sau. Họ dứt khoát rẽ khỏi con đường gạch Bát Tràng, đâm xuyên qua bãi cỏ dại rậm rạp, tụt xuống triền đồi thấp thoai thoải dẫn ra mép nước sông Vĩnh Trầm.

Mùi bùn non tanh tưởi bốc lên nồng nặc, xộc thẳng vào cuống họng họ theo từng bước chân lún sâu.

Khi bước chân đầu tiên chạm vào dải đất phù sa ẩm ướt, nhão nhoét ven bờ sông, An bất giác rùng mình một cái, theo bản năng liếc mắt nhìn xuống mặt nước đen ngòm.

Dưới lòng sông sâu thẳm, dòng nước đục ngầu cuộn sóng dữ dội một cách bất thường. Những xoáy nước đen ngòm như những chiếc phễu khổng lồ cuộn tròn, sủi bọt trắng xóa va đập dữ dội vào các thân cây mục trôi dạt từ thượng nguồn. Nhưng điều kỳ quái đến rợn tóc gáy, khiến da gà da vịt An nổi đứng lên là: gió đêm lúc này bỗng nhiên tắt lịm hoàn toàn. Không một ngọn cỏ lau nào lay động, không một cành cây nào rung rinh, không khí chung quanh tĩnh lặng, ngột ngạt như tờ, nhưng mặt sông Vĩnh Trầm lại cuộn trào, sôi sục như thể có hàng ngàn cánh tay vô hình, nhợt nhạt dưới đáy sâu tăm tối đang điên cuồng quẫy đạp, cào xới, khuấy đảo dòng nước phù sa.

Một luồng hơi lạnh ngắt thấu xương, mang theo mùi nồng nặc của xác chết thối rữa lâu ngày và mùi rong rêu ngâm trong hầm mộ, từ mặt nước đen bốc thẳng lên phả vào mặt họ.

"Đừng nhìn xuống sông! Tuyệt đối không được nhìn xuống!" Vy gắt khẽ qua kẽ răng, mắt cô dán chặt vào triền đồi dốc thoai thoải lờ mờ phía trước. "Cứ bám theo sườn đồi mà bước! Nghe tiếng nước chảy, ngược dòng nước mà tiến!"

Họ cắn răng bước đi trong im lặng. Bùn nhão ngập sâu đến tận mắt cá chân, dính dớp như nhựa đường, níu chặt lấy từng bước di chuyển nặng nề. Loan thở hồng hộc từng cơn ngắn, hai bàn tay bám chặt lấy thắt lưng Vy như bám vào chiếc phao cứu sinh duy nhất. Phúc lầm lũi cúi đầu bước đi ở giữa, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng kêu khô khốc. An liên tục ngoái lại phía sau, đôi mắt căng ra cảnh giác nhìn vào bóng tối mịt mùng, hoang phế của ngôi làng sau lưng, nơi những rặng tre xơ xác đang đứng im lìm như những hàng cọc cắm trên bãi tha ma.

Thế nhưng, chỉ sau chừng trăm bước chân, màn sương mù từ mặt sông bỗng dâng lên nhanh một cách dị thường.

Nó không phải là thứ sương mù tự nhiên mỏng manh, bảng lảng thường thấy của những đêm đông đồng bằng Bắc Bộ. Màn sương này đặc quánh, nặng trịch, có màu xám đục nhờ nhờ như nước bùn loãng. Màn sương ấy trườn bò qua những bụi lau sậy, uốn éo như những dải lụa ma quái bao vây lấy bốn người họ, nuốt chửng từng mét đất dưới chân trong chớp mắt. Tầm nhìn bị thu hẹp lại một cách tàn nhẫn, chỉ còn chưa đầy nửa sải tay. Vy không còn nhìn thấy gờ đất của triền đồi, An không còn nhìn thấy rặng lau ven bờ, tất cả những gì bao bọc lấy họ lúc này là một màu xám đục ma quái, ngột ngạt và lạnh lẽo cùng cực.

Cảm giác về không gian, trọng lực và phương hướng của họ hoàn toàn bị xáo trộn, đảo lộn một cách kỳ dị. Mặt đất dưới chân dường như nghiêng ngả, uốn éo như một tấm thảm bị kéo giật. Họ ngỡ rằng mình đang gồng sức leo lên một con dốc cao, nhưng bàn chân lại có cảm giác hẫng hụt như đang bước xuống một cái hố sâu; họ ngỡ rằng mình đang đi song song với dòng sông bên tay trái, nhưng tiếng nước cuộn chảy ầm ào bỗng nhiên vang lên từ phía trên đỉnh đầu, rồi thoắt cái lại róc rách ngay sau gót chân.

"Dừng lại... mọi người dừng lại một chút..." Vy thở hổn hển, giơ cánh tay run rẩy ra hiệu cho cả nhóm dừng bước. "Hình như... có gì đó không đúng... Tiếng nước không còn ở bên trái nữa..."

Ngay khoảnh khắc lời nói của Vy vừa dứt, màn sương mù xám đục bao quanh họ bỗng nhiên rẽ sang hai bên, hệt như một bức rèm sân khấu bằng vải liệm vừa được một bàn tay vô hình kéo toang ra.

Trước mắt họ, những phiến đá xanh rêu phong ẩm ướt lại sừng sững hiện ra dưới ánh sáng leo lét.

Dưới chân họ không còn là bùn nhầy trơn trượt của triền đồi ven sông nữa, mà lại là những viên gạch Bát Tràng đỏ sẫm xếp nghiêng thẳng tắp.

Họ đang đứng ngay trước cửa đình làng Vĩnh Trầm.

Một lần nữa.

Ba lần cố gắng trốn chạy bằng ba con đường hoàn toàn khác biệt: đi bộ qua cổng làng vôi nứt, phóng xe máy theo đường bờ đê, men theo triền đồi ngược dòng sông. Nhưng mọi nỗ lực, mọi tính toán duy lý của con người đều trở nên vô nghĩa, nực cười trước một sức mạnh tà thuật cổ xưa. Toàn bộ không gian địa lý của làng Vĩnh Trầm dường như đã bị một bàn tay vô hình bẻ cong, vặn xoắn thành một vòng tròn khép kín tuyệt đối, một mê cung âm dương không lối thoát, mà tâm điểm chết chóc không thể trốn khỏi của nó chính là cái đình làng hoang phế này.

"Vô ích thôi..." Phúc buông thõng hai cánh tay buông xuôi, cả người đổ sụp xuống đất như một bao tải rách, ánh mắt dại đi, hoàn toàn rơi vào vực thẳm của sự tuyệt vọng: "Đây là đất của người chết rồi... Làng đã đóng cửa ranh giới rồi... Không ai thoát được đâu..."

Vy không chịu đầu hàng số phận một cách dễ dàng như thế. Cô thở dốc từng hồi ngắt quãng, bàn tay run rẩy thọc sâu vào túi áo khoác gió rút chiếc điện thoại thông minh ra. Màn hình điện thoại bật sáng chói lòa, ánh sáng xanh trắng 6500K lạnh lẽo, sắc nét rọi thẳng lên khuôn mặt đẫm mồ hôi và đất cát của cô.

Ở góc trên cùng bên phải màn hình: cột sóng hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại một dấu gạch chéo trơ trọi. Không một vạch sóng di động nào sót lại. Dòng chữ "Chỉ cuộc gọi khẩn cấp" nhấp nháy một cách tuyệt vọng trên nền đen.

Vy cắn chặt môi, ngón tay bấm vội vã số khẩn cấp 112, rồi đổi sang 113. Cô áp chặt chiếc loa thoại vào tai.

Tút... tút... tút...

Một hồi tút dài nghẽn mạch vang lên khô khốc, rồi ngay sau đó là một chuỗi âm thanh rè rè chói tai, rợn người như tiếng kim loại sắc nhọn cào cấu lên mặt kính vỡ. Âm thanh ấy giần giật từng hồi trong ống nghe rồi màn hình lập tức vụt tắt cuộc gọi, hiện lên một dòng thông báo viền đỏ chót: "Cuộc gọi thất bại".

Không nản lòng, cô mở ứng dụng nhắn tin, ngón tay run lẩy bẩy gõ vội từng ký tự gửi cho nhóm nghiên cứu viện địa lý và các đồng nghiệp ở thành phố: "CỨU VỚI. CHÚNG TÔI BỊ MẮC KẸT Ở ĐÌNH VĨNH TRẦM. ĐÂY LÀ BẪY...", nhưng khi ngón tay cô ấn vào phím gửi, biểu tượng vòng tròn tải dữ liệu vĩnh viễn xoay tròn trong vô tận, để rồi vài giây sau biến thành một dấu chấm than màu đỏ rực báo lỗi gửi tin. Mọi liên lạc vô tuyến, mọi tín hiệu kỹ thuật số từ nền văn minh hiện đại bên ngoài đều bị chặn đứng hoàn toàn bởi một bức tường sương mù vô hình và lạnh lẽo.

An vô thức liếc nhìn xuống cổ tay trái của mình.

Cậu đang đeo chiếc đồng hồ cơ Orient cũ kỹ mạ vàng đã sờn góc—di vật duy nhất mà người cha quá cố để lại trước khi mất. Dưới ánh sáng le lói hắt ra từ màn hình điện thoại của Vy, chiếc kim giây mảnh dẻo bằng thép không gỉ vẫn đang nhích từng nhịp, từng nhịp đều đặn trên mặt số màu trắng ngà.

Tích tắc. Tích tắc. Tích tắc.

Âm thanh cơ học nhỏ bé, đanh gọn ấy vang lên đều đặn giữa không gian chết chóc. Kim phút đã nhích qua vạch số hai mươi của canh giờ Tý.

Thời gian không hề dừng lại.

Đây không phải là một ảo giác ngưng đọng thời gian hay một vòng lặp vô tận của tiềm thức. Đêm vẫn đang trôi đi thật. Từng giây, từng phút của thế giới trần gian vẫn đang âm thầm, lạnh lùng đếm ngược tiến dần về phía rạng sáng. Và sự thật tàn nhẫn ấy chỉ có một ý nghĩa duy nhất: cái chết và sự trừng phạt của giao ước ma quái đang đếm ngược từng khắc một để tiến tới tiếng gà gáy thứ hai và thứ ba!

Cạch!

Một tiếng then cài bằng gỗ nặng nề va đập vào cánh cửa vang lên từ sâu bên trong gian tiền tế, xé toạc sự im lặng nghẹt thở đang bao trùm lấy khoảng sân đình.

Toàn bộ đám đông dân làng không có hơi thở đang đứng im lìm quanh sân bỗng nhiên đồng loạt chuyển động. Họ từ từ dạt sang hai bên mép sân gạch, cúi rạp đầu xuống đất trong một tư thế cung kính, sợ sệt tuyệt đối, tựa như những bầy tôi trung thành đang đón chào sự xuất hiện của một vị chúa tể cai quản cõi âm ty.

Từ phía sau bức tường ngăn cách hậu cung tối tăm, ông Từ Lẫm chậm rãi bước ra.

Bộ áo dài the thâm thụng thịu, bạc màu trên người ông ta không hề vương một hạt bụi trần gian, nhưng tà áo rủ xuống nặng trĩu, sũng nước như vừa được vớt lên từ đáy sông sâu. Khuôn mặt già nua với những nếp nhăn sâu hoắm như những rãnh cày trên ruộng đất khô cằn hoàn toàn bất động, không một gợn biểu cảm, lạnh lùng và uy nghiêm đến mức khiến người đối diện phải nghẹt thở. Đôi mắt sâu hoắm, đục ngầu của người giữ đình quét chầm chậm qua bốn vị khách sống đang đứng co cụm dưới chân bậc thềm đá, mang theo một thứ uy quyền áp chế tuyệt đối của kẻ đang nắm giữ sinh sát trong tay.

Bên cạnh ông, gã tuần đinh Bảy lừng lững bước theo sau như một pho tượng hộ pháp ác thần bằng đất nung. Cổ tay thối rữa, chảy nước vàng của Bảy được giấu kín bên trong ống tay áo vải thô rộng thùng thình, nhưng đôi mắt trắng dã, đục ngầu đầy vẻ dâm dật, thèm thuồng của gã thì dán chặt vào thân hình của Vy không rời một tích tắc nào, khóe miệng gã rỉ ra một dòng dãi nhớp nháp.

Ông Từ Lẫm dừng bước ở bậc thềm đá cao nhất của gian tiền tế, ngay dưới đôi câu đối cổ thếp vàng đã tróc lở. Ông chắp hai bàn tay gầy guộc sau lưng, ngẩng đầu lên nhìn vào khoảng không vô định giữa sân đình rồi cất giọng.

Thanh âm trầm đục, vang rền như tiếng sấm gầm sâu dưới đáy giếng cổ ngàn năm, dội thẳng vào tâm can, màng nhĩ của từng người sống:

"Hỡi các vị quan khách!"

Không gian chung quanh nín bặt. Gió sông ngừng thổi, tiếng lá rơi cũng bặt tăm. Đến cả tiếng thở dốc đầy hoảng loạn của Phúc cũng nghẹn ứ lại nơi lồng ngực.

"Lệ làng Vĩnh Trầm từ ngàn xưa truyền lại, trên thuận ý trời, dưới hạp lòng đất. Một khi tên họ đã do chính tay các vị ghi vào sổ danh bộ dâng cáo tổ tiên nơi bàn thờ tiền tế, vệt son đỏ đã nối liền vào sổ hộ gốc cất giữ trong khám thiêng hậu cung, và con gà trống tế của làng đã cất tiếng gáy canh một... thì đất Vĩnh Trầm đã chính thức khép cửa ranh giới âm dương!"

Ông Từ Lẫm bước thêm một bước xuống mép bậc thềm đá xanh. Chiếc bóng dài ngoằng, đen đúa của ông ta đổ sụp xuống sân, phủ trùm lên thân hình của An và Vy:

"Các vị là khách quý, là người ruột thịt được chính con em trong làng tha thiết mời về dự ngày đại hỷ. Tiệc cưới chưa tàn, chén rượu giao bôi chưa cạn, cớ sao lại toan bỏ trốn lén lút như những kẻ trộm đêm? Đạo lý họ hàng để ở đâu? Luân thường đạo lý gia tộc vứt đi đâu? Lệ làng ngàn năm đã định rõ: khách sống một khi đã bước chân qua cổng đình, đã tự tay đặt bút ghi danh vào sổ họ, thì phải ở lại chung vui cho trọn vẹn đủ ba tiếng gà gáy trước lúc bình minh ló rạng!"

Ông ta hơi nghiêng đầu, đôi mắt đùng đục nhìn xoáy vào từng người:

"Tiếng thứ nhất điểm canh một là khóa cặp hội ngộ, nhận mặt người xưa. Tiếng thứ hai điểm canh ba là tỏ lòng tâm giao, chia sẻ hơi ấm cõi trần. Tiếng thứ ba điểm lúc rạng đông là hoàn tất ngày đại hỷ đoàn tụ, vĩnh viễn quy về một mối tộc họ nơi đất thiêng này!"

Khóe miệng nhăn nheo của ông Từ Lẫm khẽ giật giật, để lộ một nụ cười thâm độc, lạnh lẽo ẩn giấu sau vẻ trang nghiêm, đạo mạo của lễ nghi gia tộc:

"Không một ai... tuyệt đối không một ai có thể bước chân ra khỏi ranh giới làng Vĩnh Trầm trước khi con gà tế cất tiếng gáy thứ ba. Đó không phải là lời hăm dọa của kẻ già này. Đó là giao ước máu thịt mà chính tay các vị đã tự nguyện ký kết với tổ tiên mảnh đất này!"

Từng lời, từng chữ của ông Từ Lẫm giáng xuống đầu An như những nhát búa tạ nện thẳng vào thanh sắt nung đỏ. Đầu óc cậu ong ong, ngực nghẹn đắng lại vì uất ức và kinh hãi.

Trong khoảnh khắc nghiệt ngã ấy, toàn bộ bức màn sương mù dối trá, lừa lọc được che đậy công phu suốt mười hai năm qua bỗng chốc sụp đổ hoàn toàn trong tâm trí An.

Một chiếc bẫy.

Một chiếc bẫy tinh vi, hoàn hảo, tàn nhẫn và lạnh lùng đến tột cùng man rợ!

Chiếc bẫy ấy không phải mới bắt đầu giăng ra từ lúc họ bước chân qua hai trụ cổng vôi nứt nẻ của ngôi làng hoang phế này vào chập tối nay. Nó đã âm thầm bắt đầu từ buổi chiều mưa rào tầm tã ở thành phố xa xôi, khi Phúc run rẩy tìm đến phòng trọ của cậu, trao vào tay cậu phong bao thiệp cưới màu đỏ thô ráp nồng nặc mùi bùn phù sa. Nó tiếp tục được giăng mắc tinh vi ở căn nhà cấp bốn ẩm thấp tại khu tái định cư Đồng Mới, nơi dì Thoa săm soi từng tấc xương thịt, từng đường gân thớ thịt của cậu bằng ánh mắt lạnh tanh của một kẻ đang ướm đo kích thước hình nhân thế mạng. Chiếc bẫy ấy được bọc kín một cách hoàn hảo bằng những giọt nước mắt nghẹn ngào, xót xa của mẹ Lan, bằng những câu chuyện kể nửa vời, đầy vẻ thương cảm về người anh họ đi làm ăn xa bặt vô âm tín suốt mười hai năm trời đằng đẵng.

Và tàn độc nhất, hiểm ác nhất chính là thứ vũ khí mà họ đã chọn để dẫn dụ cậu vào tròng: sự nể nang họ hàng và lòng trắc ẩn của tình máu mủ.

Họ biết rõ An là một đứa con có hiếu, một đứa em mang nặng mặc cảm tội lỗi của kẻ sống sót sau thảm họa. Suốt mười hai năm qua, An luôn sống trong nỗi ám ảnh day dứt vì mình đã sống sót trên chiếc thuyền cứu hộ mà chính Hoàng Minh đã nhường lại trước khi bị dòng nước lũ cuốn trôi. Họ biết chắc chắn rằng cậu sẽ không bao giờ có thể chối từ một lời mời dự đám cưới của người anh họ ruột thịt sau hơn một thập kỷ xa cách ngỡ như đã chết.

Họ đã dùng chính cái thứ luân lý gia tộc thiêng liêng ấy, dùng chữ "nghĩa", chữ "tình", chữ "hiếu" để trói chặt tay chân, bịt mắt lương tri của cậu. Để rồi khi bước chân vào gian tiền tế, chính sự nể nang và phép tắc lễ nghi đã buộc cậu phải tự mình cầm lấy cây bút lông cán trúc, tự mình chấm mực son, và tự mình viết nắn nót cái tên Hoàng Văn An vào cuốn sổ danh bộ bọc gấm điều đỏ thắm!

Chính khoảnh khắc ngòi bút lông hạ xuống trang giấy bản, họ đã không chỉ ghi danh dự tiệc. Họ đã tự tay ký vào bản án tử hình, tự tay dâng hiến thân xác và sinh mạng của mình cho cõi âm, tước đoạt toàn bộ đường lui của chính bản thân và những người bạn đồng hành. Sự cả nể mù quáng, sự nhượng bộ nhu nhược trước những lễ nghi hình thức phong kiến hủ bại đã đẩy cả bốn người sống vào miệng hùm của cõi chết.

An ngước đôi mắt đỏ hoe nhìn lên thềm đình.

Phía sau lưng ông Từ Lẫm, Hoàng Minh vẫn đang đứng sừng sững ở đó trong bộ áo gấm đỏ thẫm thêu chữ Hỷ. Gương mặt người anh họ vẫn giàn giụa những vệt nước mắt bùn đen đúa. Đôi mắt đỏ ngầu, đục ngầu của Minh nhìn trừng trừng vào An với một nỗi khát khao điên dại, cháy bỏng được sống lại, được hít thở khí trời, được làm một con người bằng xương bằng thịt trên trần thế—dẫu cho cái giá phải trả để đổi lấy sự tái sinh ấy là tước đoạt toàn bộ sinh mạng và cướp lấy thân xác của đứa em họ ruột thịt mà gã từng yêu thương nhường sự sống.

Xa hơn một chút bên mép hiên, cô dâu Lê Thị Hạnh vẫn đứng im lìm như một pho tượng đá vô hồn phủ khăn voan đỏ thẫm. Nhưng dưới tà áo cưới rực rỡ, đôi bàn tay gầy guộc của cô đang run rẩy siết chặt lấy nhau đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, và qua làn khăn voan mỏng, ánh mắt đau đớn, giằng xé tột cùng của cô đang găm thẳng vào thân hình nhỏ bé của người em gái Lê Thị Loan.

Gió từ khúc sông Vĩnh Trầm lại thốc lên từng đợt lạnh buốt thấu xương tủy, mang theo hơi thở tanh tưởi của dòng nước xiết. Màn sương mù xám đục vần vũ, cuộn xoáy quanh những mái đao cong vút rêu phong của ngôi đình cổ, phong tỏa hoàn toàn mọi ngả đường thoát hiểm ra thế giới bên ngoài.

An nhìn quanh những người bạn đồng hành đang đứng bên cạnh mình: Vy đang nắm chặt chiếc điện thoại mất sóng trong lòng bàn tay với đôi môi mím chặt kiên cường, ánh mắt chưa hề chịu khuất phục; Loan đang run rẩy nép sát vào người cô, đôi vai gầy rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn; và Phúc thì ngồi bệt dưới nền gạch lạnh, ôm đầu trong nỗi tuyệt vọng cùng cực của một kẻ đã đầu hàng số phận.

Họ đã bị nhốt chặt giữa lằn ranh mỏng manh của hai thế giới âm dương. Mỗi một bước chân chạy trốn vào bóng tối mịt mùng chỉ dẫn họ quay trở lại đứng sững trước hai ngọn nến đỏ rực đang cháy bập bùng ở cửa đình.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn