Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchCh.8 / 36
Chapter 8

Cơn Giận Của Người Mẹ

Cuốn truyện tranh bìa màu rơi bộp xuống nền gạch tàu, văng tung một làn bụi giấy li ti ngay dưới chân Tuệ Anh giữa lúc tiếng quát tháo the thé làm chấn động cả một khúc đường Trần Nhân Tôn vốn đang thưa thớt bóng người.

Gió chiều thổi thốc từ mé kênh Tàu Hủ ngược lên, mang theo cái hâm hấp oi nồng của mặt đường nhựa bốc lên sau một ngày nắng cháy da thịt, cuộn theo vài cọng rác khô và xác lá me xào xạc nơi bậc thềm xi măng loang lổ. Mấy đứa nhỏ xóm lao động đang xúm xít quanh chiếc quầy gỗ thông thấp lè tè giật bắn mình. Chúng đồng loạt lùi giạt về hai phía góc tường như bầy chim sẻ non vừa chạm trán bóng diều hâu, đứa nào đứa nấy mắt tròn xoe, nín thở, nép sát vào nhau sau những tấm bìa carton dựng tạm. Một thằng bé chừng tám tuổi, đầu đinh lởm chởm, rụt cổ lại vì hoảng hốt khiến ngón tay run rẩy làm rơi cả đồng năm trăm lẻ bằng nhôm xuống đất. Tiếng kim khí mỏng manh va lanh canh trên nền gạch đỏ rờn rợn, lăn lông lốc một đoạn rồi đứng sững bên mép chân bàn, lạc lõng giữa bầu không khí căng như dây đàn sắp đứt.

Người đàn bà vừa lao vào tiệm thở dốc từng cơn nặng nhọc, lồng ngực phập phồng sau lớp vải mỏng. Hai bắp tay gầy guộc chằng chịt những đường gân xanh nổi cộm dưới lớp áo bà ba vải ú cũ mèm, màu vải đã bạc phếch vì dầm mưa dãi nắng, hai bên vai và sau lưng loang lổ những vệt mồ hôi muối khô lại thành từng mảng viền trắng xóa cứng đờ. Đôi dép mủ màu cháo lòng mòn vẹt gót quẹt lê thô bạo trên sàn gạch tàu, để lại những vệt nước đục ngầu lẫn đất cát của một buổi chiều mưu sinh vất vả.

Đó là chị Thu Cúc.

Cả xóm nghèo này chẳng ai lạ gì chị—người đàn bà ngày ngày quảy đôi gánh bắp luộc nóng hổi và chiếc xe đẩy nước sâm rong ruổi khắp các ngõ ngách, từ chợ Nancy, men qua hẻm Ba Cu, vòng ra tận chân cầu Chữ Y rồi tạt về mạn chuồng bò cũ. Gương mặt chị xạm đen vì nắng gió Sài Gòn hun đốt qua bao năm tháng cùng cực. Hai gò má nhô cao, khô khốc và bóng nhẫy dầu mỡ, hai đuôi mắt hằn sâu những rãnh nhăn xô lệch—dấu tích khắc nghiệt của một kẻ chưa từng có lấy một ngày thảnh thơi nhắm mắt ngủ yên trọn giấc mà không phải thảng thốt giật mình lo đến tiền đong gạo cho ngày mai.

Một bàn tay thô ráp, nứt nẻ với những kẽ móng bám đầy mảng đen kịt của tro than và muội nồi luộc bắp, chộp phắt lấy cổ tay khẳng khiu của bé Hạnh lôi giật ngược lại. Cú giật thô bạo và bất ngờ đến nỗi khiến con bé lảo đảo, chiếc dép tổ ong đứt quai trượt dài trên gạch, trán suýt va sầm vào góc nhọn của cạnh bàn gỗ thông.

"Mày giỏi lắm Hạnh! Mày trốn tao ở đây hả?"

Giọng Thu Cúc the thé xé toạc không gian tĩnh lặng, vỡ ra thành những chuỗi âm thanh khé rát, chói buốt màng nhĩ như tiếng kim loại rỉ sét cọ xát vào nhau.

"Tao biểu mày đi giao cọc vé số trưa cho bà Ba béo bên hẻm rồi mau về quạt than luộc bắp, mà mày chui đầu vô cái ổ này! Mày mê mấy cái thứ vẽ bùa vẽ rắn này đặng sau này cạp đất mà ăn hả con? Hả?! Có mở mồm ra nói được không?!"

Hạnh co rúm người lại như một con sâu nhỏ giẫm phải gai nhọn. Bờ vai gầy guộc dưới lớp áo thun cổ tròn ngả màu ố vàng run lên bần bật dưới bàn tay kẹp cứng như gọng kìm sắt của mẹ. Con bé cắn chặt môi dưới đến mức rớm máu, hai hốc mắt sâu hoắm ngân ngấn nước nhưng tuyệt nhiên không dám giãy giụa hay vùng vằng. Nó biết quá rõ tính mẹ; mỗi lần chị Cúc bốc hỏa giữa đường, bất kỳ sự chống cự nào cũng sẽ đổi lại bằng những lằn roi mây tóe máu hoặc cái tát trời giáng. Nó chỉ biết nghẹn ngào, giọng run rẩy đứt quãng:

"Mẹ... mẹ buông con ra... con đau... Con giao vé số xong hết rồi mà mẹ ơi... Con đếm đủ tiền giao cho bà Ba rồi..."

"Giao xong cái gì? Tiền đâu? Mày dồn tiền bán vé số đưa cho người ta đặng thuê mấy cuốn giấy lộn này về rồi lêu lổng đúng hôn?"

Thu Cúc gầm lên, chẳng buồn nghe lấy một lời phân bua. Cơn giận tích tụ từ buổi sáng ế ẩm, từ sự kiệt quệ thể xác khi phải quạt lò than đỏ rực giữa trưa nắng bốn mươi độ, cộng hưởng với nỗi sợ hãi mơ hồ về tương lai tăm tối của đứa con gái duy nhất, đã bốc lên thành ngọn lửa hung hãn, mù quáng. Chị quay ngoắt sang nhìn Tuệ Anh.

Ánh mắt người đàn bà đỏ ngầu, quắc lên tia nhìn căm phẫn tột cùng như thể vừa bắt quả tang kẻ trộm trèo vào gian buồng rách nát của mình. Chị buông cổ tay con bé ra, nhưng ngay lập tức chĩa thẳng ngón tay trỏ chai sần, móng tay thâm đen vì khói bếp về phía sau quầy thu ngân, nơi Tuệ Anh đang đứng:

"Còn cô nữa! Cô chủ tiệm Mộc! Cô coi cái bộ mặt sáng sủa, ăn mặc đàng hoàng, coi bộ học thức dữ lắm mà sao thất đức vậy hả? Con nít xóm nghèo, đầu tắt mặt tối chạy ăn từng bữa toát mồ hôi hột, kiếm được ba cắc bạc lẻ đắp đổi chén cơm qua ngày, mà cô nỡ lòng nào bày trò dụ dỗ nó? Cô thấy nó con nít dễ gạt, cô giữ chân nó ở đây đặng sai vặt, bắt nó quét dọn, bóc lột sức lao động của nó để trừ tiền mấy cuốn truyện tranh rách này hả? Phường bất nhân! Bày đặt mở tiệm mở tạ làm sang, rốt cuộc cũng chỉ là quân hút máu trẻ con nghèo khó!"

Những lời kết tội đanh thép, cay độc trút xuống xối xả giữa không gian chật hẹp của tiệm sách, dội chan chát vào những bức tường quét vôi vàng ố cũ kỹ. Từng câu chữ xé toạc sự thanh bình vốn có của buổi chiều muộn, biến gian phòng nồng nàn mùi gỗ thông và giấy cũ trở nên ngột ngạt, bức bối như một phiên tòa dựng vội ngoài đầu đường xó chợ.

Mấy người dân buôn bán lặt vặt quanh khúc đường Trần Nhân Tôn bắt đầu dỏng tai, hiếu kỳ ngó nghiêng sang. Bà bán chè chuối nướng bên kia đường dừng tay quạt than, ngỏng cổ nhìn qua làn khói ngút ngàn. Ông thợ sửa xe đạp đầu hẻm buông chiếc cờ-lê dính đầy dầu mỡ, chống tay lên đùi đứng dậy dòm dòm. Xa hơn một chút, ngay dưới bóng râm của mái hiên tôn rỉ sét phía đối diện, bà Tư Lành cũng vừa hãm phanh chiếc xe Cub xám cũ kỹ. Bà không xuống xe, chỉ gạt chân chống nghiêng, khoanh hai tay trước ngực tựa lưng vào cây cột điện xi măng. Cặp mắt sắc lẹm, sâu hoắm của bà chủ nhà khó tính dõi qua khung cửa tiệm Mộc với vẻ mặt dò xét, lạnh lùng và kín đáo, tựa như một người quan sát vô tình đang chờ xem đứa con gái trẻ từ đâu tới sẽ xoay xở ra sao trước đòn dư luận nghiệt ngã của chốn giang hồ vỉa hè.

Từ góc sau của tiệm, nơi chiếc kệ sách đóng dở còn thơm mùi dăm bào, Vĩnh bước vội lên. Chân mày anh nhíu chặt, gương mặt chàng sinh viên kiến trúc đỏ ửng vì bức xúc. Anh cầm chặt chiếc giẻ lau bụi trong tay, định bước vòng qua quầy cất tiếng can thiệp:

"Chị ơi, chị hiểu lầm rồi! Chị đừng có nói bậy bạ, cô Tuệ Anh không có—"

Tuệ Anh khẽ đưa một bàn tay lên ngang tầm ngực, ra hiệu dứt khoát cho Vĩnh lùi lại. Đôi mắt cô thoáng xao động một nhịp rất khẽ trước cơn thịnh nộ bất thần từ trên trời rơi xuống, nhưng bản lĩnh tự chủ được tôi luyện qua hàng chục năm đối mặt với những cuộc khủng hoảng truyền thông khốc liệt, những buổi họp báo căng thẳng đến ngạt thở ở năm 2026 lập tức kéo tâm trí cô trở về trạng thái thăng bằng tuyệt đối.

Cô nhìn vào đôi mắt đỏ ngầu của Thu Cúc, nhìn vệt áo ướt đẫm mồ hôi lưng và đôi vai gầy đang rung bần bật vì kiệt sức của chị. Tuệ Anh hiểu. Sâu thẳm dưới lớp vỏ xù xì, gắt gỏng, cay nghiệt và vô lý của người đàn bà này không phải là dã tâm hay lòng ác độc bẩm sinh, mà chính là sự hoảng loạn, bất lực của một người mẹ nghèo cùng quẫn. Đó là nỗi sợ hãi truyền đời của những kẻ dưới đáy xã hội: luôn nơm nớp sợ đứa con ruột thịt của mình sẽ vì một phút lơ là mà trượt chân vào những thứ phù phiếm, xa hoa vô bổ, để rồi đánh mất miếng cơm manh áo mong manh chực chờ đứt gãy từng ngày.

Dưới nền đất, bé Hạnh vừa khóc nức nở vừa quỳ sụp một bên gối xuống sàn gạch tàu bám bụi. Bất chấp cổ tay vừa bị giằng kéo đến rát buốt, đỏ ửng một vệt hằn ngón tay, con bé vẫn vươn đôi bàn tay khẳng khiu, đen nhẻm vì bụi than và mực in của những tờ vé số, cố sống cố chết chộp lấy cuốn truyện tranh *Hesman* vừa bị hất văng.

Tấm bìa màu bóng lộn—báu vật rực rỡ mà cả buổi chiều nay em nâng niu, gìn giữ như ngọc quý—giờ đã dính một vệt bụi xám ngoét vắt ngang qua lồng ngực chàng hiệp sĩ robot dũng mãnh. Hạnh ôm chặt cuốn sách nhỏ vào lòng, cong lưng lấy chính thân hình gầy còm của mình che chở trước những bước chân dậm dọa dẫm của mẹ. Nước mắt con bé tuôn rơi lã chã, nhỏ từng giọt tròn xoe xuống vạt áo vá vai sờn chỉ, thấm ướt cả góc giấy mỏng manh.

"Mẹ đừng đạp sách... mẹ đừng xé mà mẹ ơi..." Tiếng khóc của con bé nghẹn tắc lại trong cuống họng, vỡ vụn thành từng tiếng nấc xót xa, hoảng loạn cùng cực. "Sách của tiệm... con làm hư là đền hổng nổi đâu mẹ ơi! Tiền đâu mà đền... mẹ ơi tha cho con..."

Tuệ Anh bước vòng qua quầy gỗ pallet thấp. Cô không hề vội vã, không có nửa phần hấp tấp, cũng không quát tháo hay phản ứng gay gắt để thanh minh cho bản thân. Từng bước chân cô đặt trên nền gạch tàu cũ kỹ vững chãi, nhẹ nhàng và êm ái đến lạ kỳ.

Cô đi đến bên cạnh Hạnh, từ từ ngồi xổm xuống ngang tầm với đứa nhỏ. Đưa bàn tay mềm mại, sạch sẽ đỡ lấy bờ vai đang co rúm vì run rẩy, Tuệ Anh nhẹ nhàng gỡ từng ngón tay gầy guộc của con bé đang bấm chặt đến trắng bệch vào mép bìa giấy.

"Hạnh, ngoan nào, để chị."

Giọng Tuệ Anh cất lên, trầm ấm và dày dặn, đượm một luồng năng lượng bình yên lạ lùng xoa dịu cơn hoảng loạn trong không gian.

Cô đón lấy cuốn truyện tranh từ tay Hạnh, cẩn thận đặt nó lên đùi mình. Tuệ Anh khẽ kéo vạt áo sơ mi trắng đã sờn mép của mình ra, dùng mặt vải mềm mại nhẹ nhàng lau đi từng hạt bụi bẩn bám trên lớp bìa bóng kiếng. Ngón tay thon dài của cô miết nhẹ nhàng, kiên nhẫn làm phẳng lại một góc trang ruột vừa bị quăn mép do va đập xuống sàn. Từng động tác của cô đều tỉ mỉ, tôn kính và khoan thai, trân trọng như thể thứ đang nằm trên tay cô không phải một cuốn truyện tranh ba xu in trên loại giấy bãi bằng xỉn màu lem nhem của thập niên chín mươi, mà là một pho cổ thư vô giá cần được bảo tồn nguyên vẹn.

Làm xong việc đó, Tuệ Anh mới chậm rãi đứng thẳng dậy. Cô quay sang nhìn thẳng vào đôi mắt long sòng sọc đầy căm phẫn của Thu Cúc.

Không có một tia giận dữ nào trong mắt cô. Không có một thoáng khinh miệt, cũng chẳng có chút kiêu hãnh trịch thượng của một trí thức nhìn kẻ ít học. Trên gương mặt người thiếu nữ trẻ chỉ hiện hữu một sự thấu hiểu sâu xa, một lòng trắc ẩn tĩnh lặng như mặt hồ không gợn sóng.

"Chị Cúc," Tuệ Anh cất giọng, âm sắc tròn vành, rõ ràng, đủ lớn để át đi tiếng xì xào bàn tán của mấy người hiếu kỳ ngoài hè, nhưng lại đủ mềm mỏng, từ tốn để không đẩy ngọn lửa xung đột lên cao thêm một phân nào. "Trời chiều nay hầm hập quá, chị quảy gánh buôn bán cả ngày khắp các ngõ hẻm chắc rã rời cả chân tay rồi. Chị đứng ngoài nắng to tiếng thế này vừa hại sức khỏe của chị, mà người lớn tụ tập nhìn vào, tụi nhỏ trong xóm xúm lại coi cũng tội nghiệp con bé Hạnh lắm. Em mời chị bước vô trong tiệm, ngồi xuống chiếc ghế gỗ này nghỉ chân chút đã."

Thu Cúc hơi sững người lại. Toàn bộ cơ thể đang căng như dây đàn của chị bỗng hẫng đi một nhịp trước thái độ điềm đạm đến khó tin của cô chủ tiệm trẻ tuổi. Người đàn bà lao động lam lũ, cả đời quen với những cuộc cãi vã chan chát nảy lửa ngoài chợ trời, quen với việc người ta chửi bới, xua đuổi hoặc đay nghiến nhau từng câu từng chữ, bỗng thấy đòn tấn công dữ dội của mình như đâm sầm vào một bức tường bông êm ái, hoàn toàn không có lực phản hồi.

Cảm giác hụt hẫng ấy khiến chị bối rối trong một thoáng, nhưng thói quen phòng vệ gai góc lập tức khiến chị xù lông nhím trở lại. Chị giằng mạnh tay Hạnh về phía mình, bĩu môi một cách cay độc:

"Cô khỏi có giở cái giọng ngon ngọt ra đây mà ru ngủ tui! Ghế tiệm sách sang trọng, chữ nghĩa cao su của cô dân bán bưng mạt hạng như tui hổng dám đặt mông ngồi đâu! Tui bước vô đây là để bắt con tui về, tui hổng để con tui làm con ở không công cho người ta lừa gạt, bóc lột! Cô đừng tưởng tui nghèo mà cô muốn làm gì thì làm!"

Tuệ Anh không hề nao núng trước những lời lẽ xỉa xói ấy. Cô khẽ gật đầu, xoay người bước lại chiếc bàn tròn nhỏ bằng gỗ tạp kê sát vách tường phía trong, nơi có đặt một chiếc bình tích ủ ấm trong giỏ nan bọc vải đỏ hoa văn cũ kỹ. Cô mở nắp chiếc ca men da lươn màu xanh rêu đã tróc vài mảng men ở miệng, dùng chiếc kẹp sắt gắp mấy viên đá lạnh trong chiếc xô nhôm bên cạnh thả vào nghe lách cách, rồi nghiêng bình rót ra một dòng nước trà lài vàng óng, thơm ngát. Hơi lạnh lập tức bốc lên, làm mặt ngoài chiếc ca men đọng lại một lớp sương mịn màng, mát rượi.

Tuệ Anh bưng ly nước bằng cả hai tay, bước chậm rãi đến trước mặt Thu Cúc. Cô hơi cúi đầu xuống, cử chỉ cung kính và chân thành:

"Chị Cúc, chị có mắng mỏ, có bắt tội em điều gì, em cũng xin lắng nghe và nhận hết. Nhưng chị quảy đôi gánh nặng đi dưới trời nắng từ trưa trờ trưa trật tới giờ, họng chị khô cháy rát hết cả rồi, giọng chị khản đặc lại rồi kìa. Em xin chị uống một ngụm nước trà đá mát này cho hạ hỏa đã. Chuyện con cái học hành, chuyện tiền nong hay chuyện lao động, chúng ta đều là người lớn với nhau, ba mặt một lời đứng đây nói chuyện cho ra lẽ, có sổ sách phân minh rõ ràng, không ai lừa gạt được của ai nửa đồng nửa cắc đâu chị."

Hơi lạnh phả ra từ thành chiếc ca men da lươn chạm nhẹ vào mu bàn tay đang nóng hừng hực vì nắng gió của Thu Cúc.

Cơn khát cháy bỏng tích tụ suốt cả buổi trưa—cái khát của một người đàn bà chắt bóp từng đồng bạc lẻ, tiếc năm trăm đồng không dám ghé vào quán nước mía ven đường để dành tiền mua gạo—bỗng nhiên cồn cào trỗi dậy trong lồng ngực, phản bội lại vẻ mặt hung hăng, dữ tợn của chị. Thu Cúc nhìn chằm chằm vào ly nước trà đá ăm ắp sương lạnh, rồi lại ngước lên nhìn thẳng vào đôi mắt phẳng lặng, kiên định nhưng chan chứa lòng tôn trọng thực sự của Tuệ Anh.

Trong ánh mắt cô gái trẻ, không hề có sự ghê tởm đối với lớp mồ hôi muối nhầy nhụa hay mùi tro than khét lẹt trên người chị. Sự tôn trọng chân thành ấy như một mũi kim chọc thủng quả bóng giận dữ đang căng phồng.

Cánh tay gân guốc đang gồng cứng của người mẹ nghèo từ từ chùng xuống. Thu Cúc giật phắt lấy chiếc ca men từ tay Tuệ Anh, ngửa cổ ực một hơi dài ngấu nghiến. Dòng nước trà mát lạnh, đượm chút vị chát nhẹ và hương lài thoang thoảng tràn qua cổ họng khô khốc, trôi tuột xuống lồng ngực như muốn dập tắt ngọn lửa uất nghẹn và sự bế tắc triền miên đang thiêu đốt bên trong.

"Cạch!"

Thu Cúc đặt mạnh chiếc ca men xuống mặt quầy gỗ thông, phát ra một âm thanh khô khốc. Chị quẹt ngang tay áo lau đi dòng nước còn rỉ nơi khóe miệng, thở hắt ra một hơi dài. Giọng chị tuy vẫn còn gay gắt, chỏng lỏn, nhưng những âm sắc the thé rát tai ban nãy đã dịu đi vài phần:

"Uống thì uống! Cô đừng có tưởng một ly nước lã của cô mà mua chuộc được cái miệng tui! Cô nói sổ sách phân minh là sao? Cô bóc lột con Hạnh chuyện gì, cô nói rõ ràng trước mặt bà con chòm xóm ở đây coi! Tui nghe mà hổng lọt lỗ tai là tui hổng để yên đâu!"

Tuệ Anh khẽ đưa mắt ra hiệu cho Vĩnh. Vĩnh hiểu ý ngay, anh tiến lại gần, nhẹ nhàng nắm lấy bờ vai nhỏ của bé Hạnh, dắt con bé sang chiếc ghế đẩu gỗ ở góc trong cùng của quầy thu ngân, đưa cho nó một chiếc khăn vải sạch để lau nước mắt và phủi bụi đất bám trên gối.

Tuệ Anh bước thong thả về lại vị trí phía sau quầy thu ngân.

Từ trên mặt bàn gỗ thông mộc mạc, cô đưa tay cầm lên cuốn sổ khổ A4 dày dặn bọc bìa giấy xi măng xiết nếp cẩn thận—cuốn sổ nhật ký theo dõi bạn đọc mà cô đã tự tay kẻ từng cột, lập ra từ sáng nay theo đúng các quy chuẩn quản trị dòng thông tin chặt chẽ của một biên tập viên xuất bản chuyên nghiệp. Cây bút bi Bến Nghé màu xanh cài ngay ngắn ở mép gáy sổ. Tuệ Anh lật mở từng trang giấy kẻ ô carô thẳng thớm, phẳng phiu, xoay cuốn sổ lại và đặt ngay ngắn trước tầm mắt của Thu Cúc.

"Chị Cúc, chị nhìn kỹ giúp em," Tuệ Anh đặt đầu ngón tay thon thả lên từng hàng mục được phân chia rành mạch, "đây là nhật ký bạn đọc và sổ chấm công phân ban của tiệm Mộc. Em là người làm nghề chữ nghĩa, từng con số, từng dòng tên, từng mốc thời gian đều được ghi chép lại minh bạch, không mập mờ, không giấu giếm bất kỳ một chữ nào."

Ánh mắt Thu Cúc nhìn lướt qua những dòng chữ mực xanh đều tăm tắp, thẳng tắp như kẻ chỉ trên mặt giấy trắng. Thế nhưng, trong đáy mắt người đàn bà bỗng thoáng qua một tia bối rối, chột dạ và ngượng ngùng. Đôi mí mắt sưng húp chớp chớp liên tục. Bàn tay chai sần bất giác mân mê vạt áo bà ba sờn mép, đầu chị hơi nghiêng sang một bên, vẻ mặt căng thẳng cố làm ra vẻ đang săm soi từng nét chữ, nhưng thực chất là đang bất lực che giấu một sự thật: chị không biết chữ.

Nhận ra sự lúng túng kín đáo và nỗi mặc cảm ngấm ngầm đang làm bẽ bàng người mẹ nghèo, Tuệ Anh khéo léo không để lộ bất kỳ sự chú ý nào vào điểm yếu ấy. Cô không hỏi chị có đọc được không, mà chủ động dùng chất giọng từ tốn, ấm áp và rõ ràng của mình đọc to từng dòng, biến trang giấy thành lời nói minh bạch:

"Ở trang này, mục số bốn ghi rất rõ ràng:

Người đọc: Nguyễn Thị Hạnh.

Ngày mười tám tháng Năm năm 1996.

Giờ có mặt tại tiệm: đúng mười sáu giờ mười lăm phút.

Giờ kết thúc: đúng mười bảy giờ không không phút.

Tổng thời gian phụ giúp: đúng bốn mươi lăm phút đồng hồ.

Nhiệm vụ phân công: quét sạch bụi bặm ở hai kệ sách thiếu nhi phía ngoài và xếp lại các gáy sách cho ngay ngắn theo số thứ tự."

Tuệ Anh dừng lại một nhịp, ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào ánh mắt đang dao động của Thu Cúc:

"Chị Cúc, con bé Hạnh tan lớp học tình thương lúc ba giờ chiều. Em đã hỏi rất kỹ và nắm rõ lịch trình của con bé: từ ba giờ chiều đến bốn giờ mười lăm phút, nó đã đi bộ rảo một vòng từ ngã tư Nguyễn Tri Phương, men qua chợ Nancy để bán cho kỳ hết sáu mươi tờ vé số trưa, rồi chạy về nộp đủ cả tiền gốc lẫn tiền cọc cho đại lý của bà Ba béo đầu hẻm. Em là người lớn, em mở tiệm sách ở đây để làm ăn lâu dài, em tuyệt đối không bao giờ cho phép bé Hạnh bước chân vào tiệm sách này nếu con bé chưa hoàn thành việc học chữ ở lớp và việc mưu sinh phụ giúp mẹ nó. Con bé chỉ có mặt ở tiệm Mộc đúng bốn mươi lăm phút vào khung giờ tan tầm—thời điểm mà chính chị cũng biết rõ là đường xá xe cộ đông đúc, kẹt cứng, người ta lo chạy về nhà chứ chưa ai dừng lại mua vé số chiều cả."

Nói đoạn, Tuệ Anh kéo nhẹ ngăn kéo bàn thu ngân bằng gỗ thông, lấy ra chiếc hộp thiếc Danisa tròn màu xanh dương đựng tiền lẻ và thẻ mượn sách, đặt nhẹ lên mặt bàn cạnh cuốn sổ nhật ký:

"Chị nói em dụ dỗ con nít để bóc lột sức lao động của nó? Chị Cúc ơi, một đứa nhỏ mười hai tuổi như bé Hạnh, đáng lẽ ra ở cái tuổi này, nếu sinh ra trong một gia đình đủ đầy êm ấm, bổn phận của nó chỉ là ăn no, cắp sách tới trường và được đọc những cuốn truyện tranh tuổi thơ để bồi đắp tâm hồn. Nhưng Hạnh sinh ra trong cảnh ngặt nghèo, phải bươn chải bưng từng cọc vé số đi khắp đầu đường xó chợ từ sáng sớm. Em thương con bé không phải chỉ vì nó nghèo, mà vì nó có lòng tự trọng rất cao."

Ánh mắt Tuệ Anh thoáng chùng xuống, giọng cô như thì thầm nhưng vang vọng từng chữ:

"Trưa nay, vì quá mê mẩn cuốn truyện tranh dở dang mà Hạnh đã lỡ phạm lỗi mang lén một cuốn về nhà đọc. Nhưng chỉ một tiếng sau, con bé đã tự giác đem cuốn sách trả lại tiệm, đứng ngay trước mặt em khóc nức nở xin lỗi đàng hoàng. Một đứa trẻ biết nhận lỗi và biết xấu hổ vì hành vi sai trái của mình là một đứa trẻ có nhân cách vô cùng trong sáng. Thay vì mắng mỏ, thay vì đuổi xua hay cấm cửa con bé vĩnh viễn, em và Hạnh đã cùng nhau lập ra một bản quy ước lao động danh dự."

Tuệ Anh xoay người, chỉ tay về phía tấm bảng gỗ nhỏ quét sơn đen treo trang trọng ngay bên hông quầy thu ngân, nơi những dòng phấn trắng được viết bằng nét chữ nắn nót, thanh tú:

"Chị nhìn tấm bảng quy chế bạn đọc này xem: Quy định của tiệm Mộc ghi rất rõ, bất kỳ đứa trẻ nào muốn thuê truyện tranh mang về nhà đều phải đặt cọc một trăm phần trăm giá bìa, tức là từ một ngàn đến hai ngàn rưỡi đồng cho mỗi cuốn sách. Em hỏi thật chị, gia đình chị chắt bóp từng lon gạo, chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, lấy đâu ra số tiền cọc bạc ngàn đó để cho con bé thuê sách mang về nhà đọc? Bốn mươi lăm phút quét bụi hai cái kệ gỗ của bé Hạnh không phải là làm con ở bóc lột hay sai vặt không công! Đó là sự lao động chân chính, đàng hoàng để con bé có thể ngẩng cao đầu đổi lấy quyền mượn một cuốn sách về đọc mỗi tối bằng chính mồ hôi, công sức sạch sẽ của mình! Nó không phải đi xin xỏ ai, không phải quỳ lụy ai, và quan trọng nhất, nó không phải lén lút giấu giếm như một kẻ trộm cắp!"

Từng lời nói của Tuệ Anh thấu tình đạt lý, đanh thép mà chan chứa ân tình, rành rọt như từng tiếng chuông đồng ngân vang giữa không gian tiệm sách đang im phăng phắc.

Gió chiều từ ngoài đường lại thổi vào qua khe cửa liếp, làm lay động vài sợi tóc mai xõa bên gò má thanh tú của người con gái trẻ. Sự đàng hoàng, minh bạch đến từng con số, từng dòng ghi chép tỉ mỉ trên trang giấy kẻ ô năm 1996, kết hợp cùng phong thái đĩnh đạc, chừng mực và thái độ tôn trọng tuyệt đối của Tuệ Anh đã tạo nên một sức mạnh vô hình, đánh bạt hoàn toàn mọi sự hung hãn, ngờ vực vô căn cứ của Thu Cúc.

Bên ngoài bậu cửa, mấy người hàng xóm đứng hóng chuyện bắt đầu nghiêng ngả, gật gù tán đồng.

"Con nhỏ chủ tiệm Mộc nó nói chí lý quá chừng đó chị Cúc ơi," bà bán chè chuối nướng bên kia đường bước hẳn sang mép vỉa hè, cất giọng sang sảng phụ họa, "tui thấy con Hạnh trưa trưa bán vé số ngang qua quán tui, nó ngoan ngoãn lễ phép thấy mồ. Có bốn mươi lăm phút quét mấy cái kệ gỗ thông mà được mượn cuốn truyện tranh mang về coi, chớ người ta có ăn giựt hay bóc lột công quả của nó đâu mà chị chạy tới đây làm ầm ĩ, nhục nhã con nhỏ vậy chị Cúc!"

Ông thợ sửa xe đầu hẻm cũng chép miệng, lắc đầu:

"Phải đó, chị Cúc làm rùm beng quá. Người ta mở tiệm chữ nghĩa đàng hoàng, có sổ sách ghi tên con nít rõ ràng như trường học vậy mà bóc lột cái gì!"

Thu Cúc đứng chết trân bên cạnh quầy gỗ.

Toàn bộ sự bốc hỏa, hung hăng dữ dội ban nãy như vừa bị tạt một gáo nước lạnh buốt, tan biến sạch sành sanh vào thinh không, chỉ để lại một nỗi ngượng ngùng, xấu hổ và tủi cực chát đắng dâng lên nghẹn ứ nơi cuống họng. Đôi bàn tay chai sần bám đầy muội than buông thõng xuống hai bên hông, run rẩy nắm chặt lấy mép vạt áo bà ba cũ sờn đến rách chỉ.

Chị nhìn trân trân vào cuốn sổ nhật ký đang mở toang trước mặt. Những con chữ màu mực xanh ngay ngắn, thẳng tắp như hàng rào danh dự mà cả đời chị chưa từng có cơ hội chạm tay tới để học lấy một mặt chữ. Chị quay đầu nhìn sang góc phòng, nơi đứa con gái nhỏ của mình đang ngồi co ro trên chiếc ghế đẩu, hai mắt sưng húp đỏ hoe, khóe mi còn ướt đẫm nước mắt nhưng hai bàn tay gầy gò vẫn ôm chặt cuốn truyện tranh *Hesman* vào lòng, ép sát vào ngực như đang cố giữ lấy một giấc mơ trẻ thơ tội nghiệp giữa cuộc đời đầy giông bão.

Cơn giận dữ trong lòng người mẹ nghèo hoàn toàn sụp đổ, nhường chỗ cho sự mệt mỏi rệu rã của một kiếp người cùng quẫn. Thu Cúc từ từ hạ giọng, thanh âm khàn đặc đi, vỡ vụn ra thành những tiếng thở dài cay đắng:

"Tui... tui phận đàn bà ít học... buôn thúng bán bưng ngoài đầu đường xó chợ... tui đâu có biết chữ nghĩa, sách vở của mấy người học thức ra sao đâu cô... Tui dốt nát, tui chỉ thấy nó cắm đầu cắm cổ vô mấy cái hình vẽ quỷ ma này, tui sợ... tui sợ nó lêu lổng rồi hư thân mất nết... mai mốt lại khổ, lại dốt như cái đời tui..."

Chị ngước đôi mắt đục ngầu, hằn sâu những tia máu đỏ quạch nhìn Tuệ Anh. Nhưng ẩn sâu bên dưới sự dịu giọng ấy, trong đáy mắt người đàn bà vẫn lộ rõ một nỗi hoài nghi cố hữu, dai dẳng và cay đắng của một tầng lớp sống dưới đáy xã hội suốt bao nhiêu năm:

"Nhưng mà cô chủ tiệm ơi... cô nói nghe hay lắm, nhưng cô cho tui hỏi một câu thiệt lòng... Đọc mấy cái thứ truyện tranh này rồi có no được cái bụng hông cô? Mấy cái chữ nghĩa trong cuốn sách này mai mốt có đổi ra được lon gạo, manh áo ấm cho nó mặc hông cô? Nhà tui nghèo rớt mồng tơi, chạy ăn bữa trưa đã lo ngay ngáy hụt bữa tối. Tui hổng có dám mơ mộng nó làm ông nọ bà kia, tui chỉ cần nó biết đếm tiền vé số cho trúng, hổng bị người ta giựt, đặng đi bán kiếm cơm nuôi thân thôi. Chữ nghĩa viển vông quá cô ơi... chữ nghĩa đâu có sinh ra cơm áo được đâu cô!"

Câu hỏi của Thu Cúc buông xuống giữa không gian tiệm sách, trần trụi, đau đớn và thực tế đến nhói buốt tâm can.

Đó không còn là sự bắt bẻ vô cớ hay lời cãi cùn của một kẻ hung hăng ngoài chợ. Đó là tiếng kêu than xé ruột của cả một thế hệ lao động nghèo giữa thời kỳ chuyển giao đầy nhọc nhằn, ngổn ngang của những năm chín mươi. Trong thế giới nghiệt ngã của cơm áo gạo tiền, nơi mỗi ngày mở mắt ra là một cuộc chiến sinh tồn khốc liệt trên từng mét vuông vỉa hè đầy bụi bặm, những trang sách thơm tho, những câu chuyện phiêu lưu kỳ ảo bỗng chốc trở thành một thứ xa xỉ phẩm xa lạ, thậm chí là tội lỗi đối với những kẻ đang đói ăn.

Vĩnh đứng lặng người bên chiếc kệ gỗ thông, bàn tay anh siết chặt chiếc giẻ lau bụi đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Là một sinh viên kiến trúc nghèo từ Cai Lậy lên Sài Gòn trọ học, từng trải qua không biết bao nhiêu đêm dài nhịn đói uống nước lã cầm hơi để dành dụm từng đồng bạc mua giấy vẽ và lén đứng ngoài cửa tiệm sách đọc ké từng trang tiểu thuyết, Vĩnh hiểu đến tận cùng đáy lòng nỗi cay đắng, xót xa nghẹn ngào trong câu hỏi của người đàn bà bán bắp luộc.

Bên ngoài đường, dưới mái hiên tôn rỉ sét, bà Tư Lành vẫn đứng khoanh hai tay trước ngực tựa lưng vào cột điện. Nghe thấy câu hỏi chát chúa của Thu Cúc dội ra từ trong tiệm, đôi mắt sắc sảo của bà khẽ nheo lại. Khóe môi nhăn nheo của người chủ nhà khó tính bỗng giật giật một thoáng như thể câu nói ấy vừa chạm vào một vết thương, một ký ức xa xăm sâu kín nào đó trong cuộc đời bà. Bà đứng lặng im thêm một vài giây, rồi khẽ buông tay, lặng lẽ gạt chân chống chiếc xe Cub xám, đạp nổ máy rồi hòa vào dòng xe cộ hối hả trên phố, để lại làn khói xe mỏng manh tan dần trong ráng chiều.

Tuệ Anh im lặng nhìn Thu Cúc trong một thoáng dài.

Cô không vội vàng đem những lý lẽ cao siêu của thời đại tương lai ra để thuyết giảng. Cô không nói về văn hóa đọc, không nói về sự khai phóng tinh thần, cũng không đem những triết lý giáo điều trừu tượng ra để tranh luận—bởi cô hiểu rất rõ, mọi thứ lý thuyết hoa mỹ đều trở nên rỗng tuếch và tàn nhẫn trước một cái dạ dày đang cồn cào vì đói.

Tuệ Anh bước tới gần hơn nửa bước, đưa bàn tay ấm áp của mình nhẹ nhàng đặt lên bàn tay thô ráp, nứt nẻ và đầy vết chai sạn của Thu Cúc.

"Chị Cúc, chữ nghĩa không thể nấu lên thành cơm ăn thay bữa được, điều đó chị nói hoàn toàn đúng," Tuệ Anh cất lời, giọng cô chân thành, mộc mạc và tha thiết từ tận đáy lòng, "nhưng nếu một đứa trẻ lớn lên mà chỉ biết mỗi việc đếm tiền vé số, thì cả cuộc đời nó sau này sẽ mãi mãi bị giam hãm trong cái vòng luẩn quẩn tăm tối của đôi gánh hàng rong, của những con hẻm lầy lội và những lời mắng chửi ngoài vỉa hè. Chữ nghĩa và những câu chuyện trong cuốn sách này quả thật không làm đầy bụng bé Hạnh ngay trong chiều hôm nay, nhưng nó cho con bé biết rằng ngoài những góc phố chật hẹp, lam lũ này, thế giới ngoài kia còn rất rộng lớn. Nó dạy cho con bé biết thế nào là lòng dũng cảm, sự tử tế và ước mơ, để con bé có động lực mà cố gắng vươn lên, không cam chịu cái nghèo."

Tuệ Anh quay đầu nhìn về phía Hạnh, ánh mắt chan chứa sự dịu dàng và tin tưởng:

"Hạnh biết đọc chữ thông thạo, biết làm toán rành rọt, con bé mới không bị kẻ xấu lừa gạt tráo vé số giả, sau này lớn khôn mới có thể tìm được một cái nghề đàng hoàng, sạch sẽ trong nhà máy, xí nghiệp để nuôi sống bản thân và phụng dưỡng chị khi chị già yếu, đau ốm. Chị ráng nhịn ăn nhịn mặc để cho con bé đi học lớp tình thương mỗi chiều, em biết sâu thẳm trong lòng chị thương con hơn bất kỳ ai trên đời này. Vậy thì bốn mươi lăm phút con bé ở tiệm Mộc mỗi ngày, chị cứ coi như là thời gian con bé vừa rèn luyện thêm mặt chữ, vừa có một chỗ trú chân an toàn, sạch sẽ và mát mẻ, không bị đám du côn, tụi bụi đời đầu đường xó chợ rủ rê lôi kéo vào những trò hư hỏng. Em cam đoan với chị Cúc, chính em sẽ là người kèm cặp con bé đọc chữ, giữ đúng ranh giới thời gian nghiêm ngặt, tuyệt đối không để việc đọc sách ảnh hưởng đến việc bán vé số hay sức khỏe của con bé dù chỉ một chút."

Thu Cúc đứng chết lặng.

Đôi bàn tay thô ráp, sần sùi của người đàn bà lao động khẽ run lên bần bật trong lòng bàn tay mềm mại, ấm áp của Tuệ Anh. Cả cuộc đời hơn bốn mươi năm chìm nổi giữa chốn vỉa hè buôn bưng bán gánh, chịu đủ mọi sự xua đuổi, khinh khi của người đời, chưa từng có một ai—chưa từng có một người buôn bán, một chủ tiệm hay một kẻ có học thức nào—nói chuyện với chị bằng một thái độ tôn trọng, chân thành và thấu suốt đến tận tâm can như cô gái trẻ này.

Những lớp vỏ bọc định kiến chai sạn, những ngờ vực phòng thủ cay nghiệt bấy lâu nay bỗng chốc nứt toác, rạn vỡ, tan chảy thành một thứ cảm xúc nghẹn ngào, cay xè nơi sống mũi. Hai hốc mắt trũng sâu của người mẹ nghèo đỏ hoe, giọt nước mắt nhọc nhằn ứa ra, lăn dài qua những nếp nhăn khắc khổ trên gò má xạm đen.

Chị quay sang nhìn con gái. Bé Hạnh vẫn đang ngồi trên chiếc ghế đẩu, hai tay ôm chặt cuốn truyện tranh trước ngực, đôi mắt ngây thơ ngước nhìn mẹ vừa van lơn, vừa ánh lên một ngọn lửa khát khao được học, được đọc đến cháy bỏng.

Thu Cúc hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng cố nén lại tiếng nấc nghẹn ngào chực trào ra. Chị buông một tiếng thở dài thườn thượt—tiếng thở dài như thể vừa trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân đã đè trĩu trên đôi vai còm cõi suốt bao nhiêu năm tháng.

Chị quay sang nhìn Tuệ Anh, gật đầu một cái thật khẽ, giọng nói nghẹn lại trong cổ:

"Thôi... cô chủ đã nói tới mức đó thì tui biết vậy... Tui gửi con bé Hạnh cho cô trông nom, coi sóc giùm mấy mươi phút mỗi chiều... Miễn sao... miễn sao cô giữ đúng lời hứa với tui, hổng để nó chểnh mảng việc học chữ với việc kiếm cơm là tui đội ơn cô lắm rồi..."

Nói dứt câu, như sợ người khác nhìn thấy sự yếu lòng và những giọt nước mắt hiếm hoi của mình, người đàn bà vội vã quay ngoắt người lại. Chị với tay nhấc chiếc đòn gánh tre cong vút cùng đôi thùng bắp luộc lên vai một cách cập rập. Đôi quang gánh kĩu kịt nghiêng nghiêng theo từng bước chân vội vã. Trước khi bước qua bậu cửa, chị quay phắt lại, xua tay lia lịa về phía góc phòng, gắt lên bằng cái giọng quen thuộc nhưng đã mất hẳn vẻ cay độc:

"Hạnh! Mày ở đó quét dọn cho đàng hoàng, sạch sẽ nghe hôn! Xong việc một cái là phải chạy biến về nhà quạt than luộc bắp liền cho tao, hổng có được la cà nghe chưa!"

"Dạ! Con nghe rồi mẹ ơi! Con quét xong con chạy về liền!"

Bé Hạnh mừng rỡ nhảy cẫng lên khỏi chiếc ghế đẩu, hai dòng nước mắt trên má còn chưa kịp khô ráo đã nở một nụ cười rạng rỡ, trong veo như ánh ban mai sau cơn mưa rào.

Bóng dáng gầy guộc, lam lũ của Thu Cúc cùng đôi gánh hàng rong nghiêng nghiêng khuất dần sau khúc quanh ngã tư đường Trần Nhân Tôn, chìm dần vào làn khói lam chiều và dòng người tan tầm đang hối hả ngược xuôi. Bầu không khí căng thẳng, nghẹt thở bao trùm tiệm Mộc suốt nửa giờ qua cuối cùng cũng hoàn toàn được giải tỏa, nhường chỗ cho sự thanh thản, ấm áp và bình yên của một buổi chiều tà Sài Gòn mùa hạ năm 1996.

Mấy đứa nhỏ xóm nghèo nãy giờ nép sau kệ sách thấy "cơn bão" đã tan, liền rụt rè bước lại gần quầy gỗ thông. Đứa thì chìa ra tờ hai trăm đồng gấp tư, đứa thì xòe đồng năm trăm lẻ bằng nhôm để Tuệ Anh ghi tên vào thẻ mượn truyện. Tiếng cười nói bi bô, tiếng lật giở những trang giấy bãi bằng soạt soạt lại vang lên rộn rã khắp gian phòng ngập tràn ánh hoàng hôn.

***

Đêm hôm đó, Sài Gòn buông xuống một màn đêm mát dịu hiếm hoi sau cơn giông chuyển mùa bất chợt lúc chập tối. Mưa rào đã gột rửa sạch lớp bụi bặm bám trên những tàng cây me cổ thụ, trả lại cho không gian một bầu không khí trong lành, ẩm ướt mùi đất ngai ngái.

Đường Trần Nhân Tôn về khuya thưa thớt bóng người qua lại. Thi thoảng mới có tiếng xích lô đạp lạch cạch trên mặt đường ướt nước, hay tiếng còi xe máy Honda Cub nổ giòn tan rồi xa dần về phía ngã sáu An Phú. Ánh đèn đường vàng vọt hắt qua khung cửa liếp bằng gỗ thông của tiệm Mộc, rọi những vệt sáng dài lên những gáy sách cũ xếp ngay ngắn, thẳng tắp trên từng tầng kệ.

Vĩnh đã đạp chiếc xe đạp sườn ngang cọc cạch về lại căn phòng trọ sinh viên chật chội bên quận Năm sau khi giúp Tuệ Anh gia cố lại chiếc bản lề cánh cửa sau kho sách và quét dọn sạch sẽ đống dăm bào dưới sàn.

Tiệm Mộc lúc này chỉ còn lại một mình Tuệ Anh.

Cô ngồi tĩnh lặng bên chiếc bàn thu ngân, dưới quầng sáng vàng ấm áp tỏa ra từ chiếc đèn bàn học Liên Xô chụp sắt cũ kỹ. Cô đang cặm cụi đối chiếu lại sổ quỹ tiền mặt và nhật ký mượn sách trong ngày. Tiếng ngòi bút bi Bến Nghé màu xanh cọ nhẹ trên mặt giấy kẻ ô carô phát ra những âm thanh soạt soạt đều đặn, êm ái. Chiếc hộp thiếc Danisa đặt bên cạnh khẽ rung rinh, vang lên tiếng lách cách kim khí vui tai mỗi khi cô phân loại những đồng tiền xu và những tờ tiền giấy lẻ nhàu nát—tiền cọc và phí thuê truyện tích cóp từng trăm đồng một của bọn trẻ xóm lao động. Dòng tiền nhỏ bé, khiêm nhường ấy tựa như những giọt máu tươi nguyên đầu tiên, đang chậm rãi nhưng vững chắc hồi sinh sức sống cho tiệm sách Mộc giữa một góc phố nghèo.

Bỗng nhiên, một bóng đen ngập ngừng dừng lại ngay trước bậu cửa gỗ.

Tuệ Anh dừng ngòi bút, khẽ ngẩng đầu lên.

Dưới quầng sáng mờ ảo của ánh đèn đường hắt qua mái hiên, một người phụ nữ mặc bộ áo bà ba màu vải ú quen thuộc, đầu đội chiếc nón lá rách tơi tả vành đang đứng tần ngần ngoài thềm gạch. Hai bàn tay chị bấu chặt lấy quai chiếc giỏ xách bện bằng dây nhựa rỗng không, đôi mắt lúng túng, ngập ngừng nhìn vào khoảng sáng ấm áp bên trong tiệm. Người phụ nữ ấy dường như muốn cất bước bước vào, nhưng đôi bàn chân đi đôi dép mủ mòn vẹt lại chần chừ thụt lùi lại nửa bước, như thể đang sợ hãi một điều gì đó vô hình.

Là chị Thu Cúc.

Tuệ Anh thoáng ngạc nhiên, nhưng ngay lập tức, một nụ cười dịu dàng nở trên môi cô. Cô nhẹ nhàng đặt cây bút bi xuống mặt sổ, từ tốn đứng dậy bước ra phía cửa:

"Chị Cúc? Đã khuya khoắt thế này rồi mà chị chưa về nghỉ ngơi sao? Có chuyện gì quên dặn con bé Hạnh hả chị?"

Thu Cúc giật mình đánh thót một cái như kẻ làm việc vụng trộm bị bắt quả tang. Chị vội vàng cởi chiếc nón lá rách vành ra, ôm ghì trước ngực như một tấm lá chắn che đi sự bối rối tột cùng. Chị thụt lùi thêm một bước xuống mép bậc thềm, đôi mắt đảo quanh nhìn dạt về hai phía con đường vắng hoe, vắng ngắt như sợ có người quen nào trong xóm tình cờ đi ngang nhìn thấy cảnh này.

Dưới ánh sáng vàng nhạt của bóng đèn tròn hắt ra từ tiệm, gương mặt xạm đen, khắc khổ của người đàn bà bán bắp luộc bỗng chốc ửng đỏ lên một cách kỳ lạ. Đôi môi nứt nẻ, thâm sì vì nắng gió mấp máy liên hồi, run rẩy mãi một lúc lâu mà không thốt nên lời.

"Chị Cúc, có chuyện gì chị cứ vào trong nhà nói chuyện với em, ngoài này gió đêm lạnh lắm," Tuệ Anh bước tới mép thềm, khẽ nghiêng người mời đón.

"Hổng... hổng dám... tui đứng đây được rồi..." Thu Cúc xua tay lia lịa, giọng run run nghẹn lại nơi cổ họng. "Cô... cô Tuệ Anh... Tui... tui đứng đây tui muốn hỏi cô cái này một chút thôi..."

"Dạ, chị cứ hỏi đi, em nghe đây," Tuệ Anh dừng lại ở bậu cửa, giữ khoảng cách vừa đủ để người đàn bà không cảm thấy bị áp bách, ánh mắt cô chân thành và kiên nhẫn đợi chờ.

Người đàn bà bán hàng rong đưa bàn tay thô ráp, chai sạn với những kẽ móng bám đầy muội than lên gãi gãi vành tai một cách lúng túng. Ánh mắt chị hoàn toàn dán chặt xuống mũi đôi dép mủ mòn vẹt dưới chân mình, không dám ngước lên nhìn thẳng vào cô gái trẻ. Chị nuốt nước bọt một cái thật khan, bờ vai gầy guộc khẽ rung lên theo từng nhịp thở ngắt quãng.

Sau một thoáng ngập ngừng tưởng chừng như dài vô tận, chị lấy hết can đảm, hạ giọng xuống thật nhỏ, thốt ra từng tiếng run rẩy như rút ruột rút gan:

"Cô chủ... ở trong tiệm của cô... có cuốn sách vỡ lòng nào... dạy cho người lớn học đánh vần từng chữ một hông cô? Với lại... giá của nó... có mắc lắm hông cô chủ?..."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories