Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchCh.5 / 36
Chapter 5

Vị Khách Già Và Cô Bé Vé Số

Buổi sáng đường Trần Nhân Tôn bắt đầu bằng tiếng chuông xe đạp lanh canh hòa lẫn tiếng gõ lách cách của người bán hủ tiếu dạo từ phía đầu hẻm sâu vọng ra. Mùi cà phê bắp rang bơ cháy xém, nồng đượm khói củi và khen khét vị đắng gắt từ chiếc ấm nhôm đóng muội đen sì của quán cóc đối diện, cứ thế lững lờ trôi theo từng làn gió sớm, lùa qua vỉa hè còn sũng nước. Ánh ban mai đầu ngày trải đều một sắc vàng sánh như mật ong non lên những tảng tường vôi loang lổ rêu xanh, rồi rọi xiên qua kẽ lá râm bụt, chiếu rực rỡ lên tấm biển hiệu bằng gỗ gõ đã bạc phếch, nứt nẻ bởi mưa nắng dập vùi, nơi chỉ còn trơ lại duy nhất một chữ “Mộc” khắc chìm bằng sơn ta màu nâu sẫm.

Không khí sau trận mưa dầm dề trút xuống đêm qua vẫn còn đọng lại một chút mát lành hiếm hoi, bàng bạc khắp lòng một đô thị phương Nam vốn dĩ luôn hầm hập hơi nóng. Mặt đường nhựa lỗ chỗ ổ gà phản chiếu bầu trời xanh ngắt, loang loáng những vệt váng dầu ngũ sắc dưới làn khói xả phì phèo, xanh lét và khét lẹt của những chiếc Honda Cub 81 kim vàng giọt lệ, những chiếc Chaly cúc cu bé choắt hay chiếc Simson gầm rú nặng nề. Từ góc ngã tư giao với đường Hùng Vương, mùi mỡ lợn sôi sùng sục cùng hương bột chiên trứng giòn rụm từ chiếc xe đẩy bọc tôn của một gia đình người Hoa bốc lên ngào ngạt, quyện chặt lấy nhịp mưu sinh vội vã. Giữa cái dòng chảy cuồn cuộn, ồn ã và đầy biến động của Sài Gòn những năm giữa thập niên chín mươi, tiệm sách Mộc nằm nép mình bên vỉa hè lát gạch tàu vỡ vụn nham nhở, trông chẳng khác nào một chứng nhân trầm mặc, một nốt lặng đầy cam chịu đang cố níu giữ chút dư ba của dĩ vãng.

Ngay từ lúc trời còn tờ mờ sương, khi những chuyến xe lam chở rau củ từ mạn Hóc Môn, Củ Chi còn lục cục chạy qua trước cửa, Phạm Hoàng Vĩnh đã có mặt. Chàng sinh viên năm thứ ba khoa Kiến trúc của Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh mặc chiếc áo thun công nhân màu xanh thợ điện đã sờn rách hai bên cầu vai, lưng áo ướt đẫm mồ hôi dính bết vào da thịt. Cạnh đống dăm bào và mùn cưa vương vãi, anh ngồi xổm trên đôi guốc mộc, bàn tay thô ráp đầy vết chai sần thoăn thoắt cầm chiếc kìm mỏ quạ và búa đinh, gõ từng nhát chắc nịch để nhổ phăng những cây đinh bảy phân gỉ sét ngoằn ngoèo khỏi mấy thanh gỗ thông pallet tháo dỡ mà anh đã nhọc công xin chở bằng xe đạp từ bến Phú Định về lúc chập tối hôm qua.

Dưới hiên tiệm, đặt ngay ngắn trên chiếc chõng tre đã mòn vẹt nước nan, xấp truyện tranh thiếu nhi bọc trong mấy lớp giấy dầu chống ẩm được hai chị em tìm thấy dưới đáy rương đêm qua đã được hong gió cho ráo hẳn hơi sương. Chúng được chia thành từng chồng vuông vức, thơm thoang thoảng mùi bột giấy cũ và mùi mực in đặc trưng của những năm đầu mở cửa.

Tuệ Anh ngồi bệt trên ngạch cửa gỗ lim bóng nhẵn, mái tóc đen buộc vội sau gáy bằng một chiếc kẹp ba lá bằng nhựa đồi mồi. Trên tay cô là một chiếc khăn vải xô mềm nhúng nước ấm vắt ráo kiệt, cẩn thận miết nhẹ từng đường gân, từng góc mép bị quăn của tập *Dũng sĩ Hesman*. Dưới ánh sáng ban mai tinh khôi rọi xiên qua khung cửa chớp, bìa sách in offset bốn màu hiện lên rực rỡ, sống động lạ thường: hình ảnh người máy không gian khổng lồ vung thanh gươm ánh sáng chém ngang thân con rồng sắt giữa bầu trời tinh vân tím thẫm, nét vẽ hào hùng đậm chất phóng tác của họa sĩ Hùng Lân như kéo cả một khung trời tuổi thơ ùa về. Ngay bên cạnh tập sách ấy là những cuốn *Doraemon* mỏng dính do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành từ năm 1992, bìa vẽ chú mèo máy màu lam ôm chiếc bánh rán cười tít mắt, các trang ruột ngả sang màu vàng ngà của giấy bãi bằng thô ráp nhưng nét chữ chân phương đến nao lòng; rồi cả mấy tập *Bảy viên ngọc rồng* thời kỳ đầu do Nhà xuất bản Kim Đồng dịch thuật, nơi cậu bé Son Goku với chiếc đuôi khỉ tinh nghịch đang cưỡi Cân Đẩu Vân bay lượn qua những rặng núi mờ sương.

"Chị Tuệ Anh coi nè, đống truyện tranh này mà kê thêm cái kệ thấp ngoài hiên cho tụi nhỏ thuê đọc tại chỗ, bảo đảm sáng nào tụi con nít quanh xóm chuồng bò với xóm chợ Trần Bình Trọng cũng bu nghẹt cho coi," Vĩnh vừa đặt thanh gỗ thông đã bào nhẵn mặt lên đầu gối, vừa đưa tay quệt vệt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán. Nụ cười rạng rỡ làm lộ rõ hàm răng trắng bóng tương phản với nước da bánh mật rám nắng. "Hồi tôi còn ở dưới quê Cai Lậy, mê bộ Hesman này dữ dội lắm. Cả xóm mấy chục nóc nhà mà chỉ có thằng con ông chủ tiệm xay lúa có trọn bộ. Mỗi lần nó mang ra bờ mương khoe là cả đám bu lại coi ké, đứa này cầm góc trên, đứa kia níu mép dưới, chuyền tay nhau đọc tới mức nát tươm, gáy sách rách bươm phải lấy mủ mít dán lại, sau này có băng keo trong thì dán chằng chịt như xác ướp mà vẫn nâng niu như báu vật."

"Tôi cũng mong là việc cho thuê truyện này sẽ đỡ đần được phần nào," Tuệ Anh khẽ thở dài, tay vẫn nhẹ nhàng nắn lại chiếc gáy sách bị gãy nếp của tập truyện tranh. Ánh mắt cô nhìn ra vỉa hè đầy âu lo. "Nhưng ngặt một nỗi, bà Tư Lành chỉ cho chúng ta đúng bảy ngày để thanh toán. Tính đến sáng nay, sau khi mua ít đinh với lưỡi cưa cho anh, tiền ăn uống dè sẻn thì trong túi tôi chỉ còn vỏn vẹn năm mươi mốt ngàn năm trăm đồng. Với số tiền còm cõi đó, nếu không tận dụng từng trang sách, từng cuốn tạp chí cũ trong tiệm để xoay xở bán buôn, thì làm sao gom đủ một triệu đồng tiền cọc trước mười hai giờ trưa ngày thứ bảy?"

Vĩnh ngừng tay búa, tiếng gõ kim loại sắc lạnh bỗng im bặt. Anh ngước nhìn cô gái đối diện, ánh mắt thoáng chốc chùng xuống đầy ái ngại. Anh hiểu rõ gánh nặng khủng khiếp đang đè nặng lên đôi vai mảnh khảnh ấy. Một triệu đồng vào năm 1996 là một gia tài không hề nhỏ đối với người lao động nghèo, nó tương đương với gần ba chỉ vàng, bằng cả năm tiền trợ cấp sinh viên của anh gộp lại. Thế nhưng, nhìn thấy vẻ kiên cường ẩn sau nét mặt điềm đạm của Tuệ Anh, Vĩnh lại siết chặt cán búa, giọng chắc nịch:

"Chị đừng nản. Trưa nay tôi quyết tâm gia cố xong toàn bộ mấy cái thanh giằng cho dãy kệ bên hồi phải, rồi đóng thêm mấy cái đôn gỗ kê chân chống ẩm sát vách. Lối đi giữa hai gian nhà sẽ được dọn quang đãng, thoáng đãng hẳn ra. Khách bộ hành hay mấy ông giáo già đi ngang qua ghé vào tìm sách sẽ không còn phải chịu cái cảm giác ngột ngạt như bước chân vô một cái nhà kho phế liệu sắp sập nữa đâu."

Tuệ Anh gật đầu, toan nói thêm đôi điều thì nơi khóe mắt cô bỗng bắt gặp một bóng người nhỏ thó đang lấp ló, ngập ngừng phía sau cây cột điện bê tông tróc lở trước cửa tiệm.

Đó là một bé gái chừng mười một, mười hai tuổi, vóc dáng gầy gò, khẳng khiu hệt như một nhánh củi khô trôi dạt sau mùa nước nổi. Con bé mặc một chiếc áo bà ba vải ú màu xanh da trời đã bạc thếch, sờn rách tả tơi ở hai bên mép cổ áo và được vá víu vụng về bằng những đường chỉ dù thô màu xám. Chiếc quần tây đen của người lớn quá khổ quét lê thê dưới đất được con bé xắn cao lên quá mắt cá chân đến ba bốn nếp gấp vụng về, để lộ ra đôi bàn chân trần đen nhẻm, gân guốc, xỏ tạm bợ trong đôi dép nhựa Tiền Phong màu mỡ gà đã mòn vẹt cả phần gót.

Dưới vành nón lá rách tươm, tơi tả từng cọng lá cọ, đôi mắt con bé to tròn, đen láy và sâu hoắm dán chặt vào những cuốn truyện tranh bìa màu đang nằm phơi mình trên chiếc chõng tre. Hai cánh tay khẳng khiu, nổi rõ từng khớp xương của em đang ôm ghì trước ngực một xấp vé số Kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh. Tập vé số được kẹp cẩn thận trong một miếng bìa các-tông cứng cáp xé ra từ thùng các-tông thuốc lá Craven "A", bọc bên ngoài bằng một lớp túi nilon trong suốt đã ngả màu ố đục để đề phòng những cơn mưa rào bất chợt có thể làm hỏng vốn liếng mưu sinh.

Mỗi khi có một chiếc xe đạp của người đi chợ hay một người đàn ông mặc quần tây áo cộc tay dừng lại bên quán cà phê cóc kế bên, con bé lại giật nảy mình, vội vã lùi lũi nép sâu vào vùng bóng râm mỏng manh của cột điện, bờ vai khẽ run rẩy. Nhưng rồi chỉ vài giây sau, khi người ta quay lưng đi, con bé lại rướn cái cổ gầy nhẳng lên, đôi mắt thèm thuồng nhìn trộm cuốn bìa màu đỏ chót in hình hiệp sĩ không gian. Ánh nhìn ấy chan chứa một niềm khao khát thuần khiết, trong trẻo đến thắt lòng, nhưng đồng thời cũng trĩu nặng sự sợ hãi, tự ti và mặc cảm của một đứa trẻ đường phố đã quá quen với những cái xua tay xua đuổi cộc cằn của người đời.

Nhìn dáng vẻ thập thò đầy khổ sở và ánh mắt bừng sáng trước những trang vẽ của đứa trẻ, trong lồng ngực Tuệ Anh dâng lên một nỗi xót xa tê tái. Ở thế giới hiện đại của năm 2026 mà cô từng sống, trẻ con sinh ra đã ngập chìm trong sự đủ đầy của màn hình cảm ứng, của máy tính bảng, của điện thoại thông minh và những kho nội dung số vô tận đến mức chúng trở nên thờ ơ, lãnh đạm với từng trang sách in; còn ở góc phố Sài Gòn của ba mươi năm về trước này, giữa những nhọc nhằn cơm áo gạo tiền thời kỳ đầu đổi mới, một cuốn truyện tranh mỏng manh in trên giấy bãi bằng thô ráp lại là cả một giấc mơ xa xỉ, diệu kỳ mà một đứa bé bán vé số dạo dẫu có gom góp bao nhiêu ngày bán rong cũng chẳng dám ước ao chạm tới.

Tuệ Anh khẽ buông chiếc khăn xô xuống ngạch cửa, đứng dậy thật nhẹ nhàng. Cô với tay nhấc chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít vuông vắn—chiếc ghế con mà dì Mộc Lan ngày xưa vẫn hay ngồi tựa lưng vào tường để kiểm tra sổ sách mỗi buổi chiều tà—rồi bước chậm rãi, khoan thai ra phía bóng mát trước hiên nhà.

Thấy bóng người lớn tiến lại gần, con bé bán vé số giật thót mình. Nó hoảng hốt lùi thụt lùi lại hai bước, lưng đập nhẹ vào thân cột điện nham nhở những mẩu quảng cáo khoan cắt bê tông, hai bàn tay gầy guộc ôm chặt lấy xấp vé số trước ngực như sợ bị giật mất, mặt mày tái mét:

"Dạ... dạ con lạy cô, con không có tiền mua truyện đâu cô ơi!" Tiếng con bé thảng thốt, lắp bắp, giọng nói mang đậm âm sắc miền Tây sông nước hơi khàn đục vì phải dầm sương dãi nắng và cất tiếng rao suốt từ tờ mờ sáng. "Con... con chỉ đứng nép nhờ bóng mát nghỉ chân một chút xíu thôi hà, con không có phá phách gì đâu... Chiều nay xổ số đài Thành phố nè cô, cô... cô mua giùm con một tờ lấy hên đầu ngày đi cô, hai ngàn một vé hà cô..."

Tuệ Anh dừng lại ở khoảng cách chừng hai bước chân, cẩn thận đặt chiếc ghế đẩu gỗ mít xuống dưới vòm bóng râm râm mát của tán cây bàng cổ thụ, rồi khẽ nghiêng đầu nở một nụ cười ấm áp, hiền hậu:

"Cô không xua đuổi con đâu. Lại đây ngồi nghỉ chân một lát đi con, ngoài đường bắt đầu nắng gắt rồi đó, đứng mãi ở cột điện hầm hập thế kia mệt lắm."

Con bé ngơ ngác nhìn Tuệ Anh, đôi mắt to tròn mở lớn đầy vẻ hoang mang, nửa tin nửa ngờ. Hai bàn tay khẳng khiu của nó vẫn bấu chặt lấy mép túi nilon bọc vé số, bàn chân trần ngập ngừng miết nhẹ trên nền đất cát ven vỉa hè.

"Con tên là Hạnh phải không?" Tuệ Anh dịu giọng hỏi, nhớ lại tiếng gọi thân quen của mấy bà bán rau bán cá trong con hẻm nhỏ thỉnh thoảng vẫn gọi với theo đứa nhỏ.

"Dạ... dạ phải, con tên Hạnh, con má Cúc bán bắp luộc đầu hẻm Ba Cu nè cô." Hạnh lí nhí đáp, ánh mắt vẫn không kìm được mà len lén liếc về phía chồng truyện tranh nằm phơi mình dưới nắng sớm trên chõng tre.

"Hạnh lại đây ngồi đi," Tuệ Anh kéo chiếc ghế đẩu lại sát cạnh mép chõng, rồi bước vào góc hiên, cầm chiếc cốc nhựa màu xanh múc một ly nước vối mát rượi từ chiếc vò sành da lươn đưa cho con bé. "Uống miếng nước cho mát cổ họng đã con. Tiệm sách của cô lúc này còn sớm, vắng khách lắm, con cứ ngồi đây nghỉ chân cho ráo mồ hôi. Cô không bắt con phải mua truyện, cũng không xua đuổi con đi đâu cả."

Hạnh rụt rè đưa hai bàn tay run rẩy đón lấy ly nước vối. Con bé ngửa cổ uống một hơi dài, từng ngụm nước mát lành trôi xuống cổ họng khô khát làm lồng ngực gầy guộc của nó phập phồng nhẹ nhõm. Đôi môi khô nẻ, nứt nẻ vì gió bụi dường như mềm mại trở lại. Khi Tuệ Anh với tay cầm cuốn *Dũng sĩ Hesman* tập ba—tập truyện có nhan đề *Tia sáng tử thần*—đưa ra trước mặt nó, hai tròng mắt Hạnh bỗng bừng sáng lên rực rỡ, lấp lánh như có hai đốm than hồng vừa được thổi bùng giữa đêm tối.

"Cô... cô cho con coi thiệt hả cô? Mà... mà tay con dơ lắm nè cô ơi..." Hạnh bối rối giấu hai bàn tay đen nhẻm vệt bụi đường và mực in vé số ra sau lưng, ngượng ngùng chùi lấy chùi để vào ống quần tây đã bạc màu.

"Không sao đâu, chỉ cần con lật nhẹ tay từng trang là được rồi," Tuệ Anh mỉm cười dịu dàng, kéo chiếc ghế con bằng tre lại gần rồi ngồi xuống bên cạnh. "Cứ ngồi đây đọc cho xong tập này rồi hãy đi bán tiếp, chưa trưa đâu mà sợ trễ. Sách in ra là để cho mọi người cùng đọc, để mang lại niềm vui, đâu có phân biệt tay dơ hay tay sạch làm chi con."

Hạnh rón rén đặt mông ngồi lên mép chiếc ghế đẩu, cẩn thận đặt xấp vé số ngay ngắn trên đùi mình, rồi nâng cuốn truyện tranh lên bằng cả hai bàn tay nâng niu như cầm một báu vật thiêng liêng. Đầu ngón tay gầy guộc của nó nhẹ nhàng, chậm rãi lật từng trang giấy xốp mỏng. Đôi mắt con bé dán chặt vào từng khung tranh đen trắng, hơi thở khẽ nín lại theo từng đường kiếm của chàng hiệp sĩ, thỉnh thoảng khóe môi nứt nẻ lại khẽ mấp máy reo lên khe khẽ khi thấy robot Hesman dũng mãnh biến hình giữa lằn ranh sinh tử.

Vĩnh đứng dựa lưng vào cột hiên gỗ, nhìn cảnh tượng ấy mà khóe mắt cay cay. Anh buông chiếc búa xuống sàn xưởng, quệt mồ hôi trán rồi khẽ cười đùa bằng giọng rặt Nam Bộ:

"Đọc từ từ thôi nha cô nương, đừng có phấn khích quá mà bẻ gãy gáy sách của anh mày nghe hôn! Lát nữa anh còn phải lấy chỉ dù với keo mủ bồi lại cái gáy cho chị Tuệ Anh đem ra cho mấy đứa xóm trên thuê lấy tiền mua gạo đó."

"Dạ, con biết rồi chú Vĩnh! Con lật nhẹ hều nè, con đâu có dám làm rách trang nào đâu!" Hạnh ngẩng đầu lên cười toe toét, nét e dè, sợ sệt ban nãy dường như đã tan biến đi đâu mất, chỉ còn lại sự hồn nhiên, lanh lợi đúng với lứa tuổi mười hai của một đứa trẻ xóm lao động.

Đọc được chừng mươi trang giấy, đến đoạn robot Hesman giải cứu công chúa Yura khỏi hang ổ quái vật, Hạnh bỗng dừng phắt lại. Con bé ngước nhìn quanh quất ra phía mặt đường vắng lặng, rồi nghiêng đầu, ghé sát lại gần tai Tuệ Anh, hạ giọng thì thào đầy vẻ bí mật:

"Cô Tuệ Anh ơi..."

"Sao thế con? Chữ in bị mờ hay con không hiểu đoạn nào?" Tuệ Anh ân cần hỏi.

"Dạ hổng phải..." Hạnh chớp chớp mắt, vẻ mặt bỗng chốc trở nên nghiêm nghị lạ thường. "Hồi sáng sớm tinh mơ, lúc trời còn nhá nhem tối, con ghé lại góc ngã tư Nguyễn Tri Phương để lãnh xấp vé số này từ đại lý của chú Bảy, con thấy có chuyện này kỳ cục lắm cô."

Tuệ Anh hơi nhíu mày, trực giác nhạy bén của một người làm công tác xuất bản lâu năm lập tức mách bảo có điều gì đó chẳng lành: "Chuyện gì vậy con? Con thấy ai?"

"Dạ, con thấy có một chú mặc đồ âu phục màu xám tro láng coòng, thắt cà vạt màu đỏ bầm đàng hoàng dữ dội lắm, chân mang giày da bóng loáng soi gương được luôn á cô. Chú đó chạy chiếc xe Honda Dream II mới cáu cạnh, le lói cùng mình, dừng xe lại ngay chỗ gốc cây me nói chuyện với mấy cô chú đẩy xe ba gác với mấy người đi gom ve chai quanh khu chợ này nè."

Bàn tay Vĩnh đang cầm chiếc cưa gỗ bỗng khựng lại giữa chừng. Anh ngước mắt lên, lắng tai nghe từng lời của cô bé bán vé số.

"Rồi người ta nói những gì, con có nghe rõ không?" Tuệ Anh gặng hỏi, giọng chùng xuống đầy cảnh giác.

"Dạ nghe rõ mồn một luôn cô! Lúc đó con đứng nép ngay cột đèn đón mấy người đi tập thể dục buổi sáng để mời vé số mà," Hạnh gật đầu lia lịa, hai bím tóc ngắn ngủn lắc lư theo nhịp nói. "Chú mặc âu phục đó hỏi mấy người ve chai xem dạo này tiệm sách Mộc của dì Lan có dọn dẹp kho, có thải ra đống giấy vụn hay sách cũ nào đem bán theo ký không. Chú đó còn dặn đi dặn lại là nếu tiệm này có bán tống bán tháo sách cũ hay giấy tờ mục nát gì ra ve chai thì phải chạy tới báo cho chú liền, chú trả giá cao gấp rưỡi, gấp đôi giá thị trường cho. Chú đó còn hỏi han lung tung xem tiệm Mộc này chừng nào thì bị chủ nhà tống cổ ra đường, chừng nào thì bà Tư Lành xiết nhà nữa..."

Nghe đến đó, mặt Vĩnh biến sắc. Anh ném phịch khúc gỗ thông xuống nền gạch, bước vội lại gần ngạch cửa: "Một người mặc âu phục sang trọng, đi Dream lùn láng bóng mà lại đi la cà khắp các ngã tư để dặn dò dân ve chai ve chén gom giấy vụn của tiệm Mộc? Chuyện này nghe sặc mùi mờ ám, chị Tuệ Anh! Người đàng hoàng ai lại đi làm cái trò rình rập đê tiện như vậy?"

Tuệ Anh siết chặt chiếc khăn xô trong lòng bàn tay, những ngón tay cô bấu chặt vào thớ vải ẩm ướt. Lòng cô cuộn lên những mối nghi ngờ dồn dập. Người đàn ông mặc âu phục lịch sự... Liệu có phải là người của Nhà sách Minh Châu bề thế nằm ở mặt tiền đường lớn phía quận Nhất, hay một tay lái buôn sách cổ sành sỏi nào đó đang đánh hơi thấy mùi tài sản còn sót lại của dì Mộc Lan? Việc bà Tư Lành sang đây đập bàn đập ghế đe dọa đòi lại mặt bằng chỉ mới diễn ra vào chiều hôm qua, vậy mà tin tức đã rò rỉ nhanh đến mức khó tin như thế này. Rõ ràng, có kẻ đang chực chờ từng giờ, từng phút để nhìn thấy tiệm sách Mộc sụp đổ hoàn toàn, chỉ đợi khoảnh khắc tiệm bị niêm phong để nhảy vào xâu xé, thu mua rẻ như cho toàn bộ những gì mà dì Lan đã dành cả cuộc đời chắt chiu, gìn giữ.

"Cảm ơn Hạnh nhiều lắm nhé," Tuệ Anh nhẹ nhàng xoa mái tóc cháy nắng khét lẹt của cô bé, nén nỗi bất an vào trong đáy mắt. "Chuyện này rất quan trọng với cô. May mà có con để ý báo cho cô biết sớm."

"Dạ hổng có chi đâu cô! Thấy cái mặt chú đó hách dịch, dòm ngó tiệm mình với cặp mắt ti hí gian manh thấy ghét dữ lắm, nên con nhớ mặt liền à! Để lát trưa con đi bán vòng vòng quanh mấy quán nước, hễ thấy ổng lảng vảng là con chạy về méch cô liền!" Hạnh toe toét cười, hàm răng sún để lộ nét ngây ngô tội nghiệp, rồi nó lại cúi gập người, say sưa đắm chìm vào thế giới viễn tưởng kỳ ảo của tập truyện Hesman.

Khoảng hơn nửa tiếng sau, khi ánh mặt trời đã leo lên quá ngọn cây bàng cổ thụ, rọi những vệt nắng gắt gao xuống lòng đường nhựa bốc khói hầm hập, thì từ phía đầu ngõ một bóng người cao gầy, bước đi khoan thai và đĩnh đạc xuất hiện.

Đó là một ông cụ tóc bạc phơ như cước, vóc người quắc thước dù chiếc lưng đã hơi còng xuống vì sức nặng của năm tháng và những đêm dài thức trắng bên trang giáo án. Ông mặc một chiếc áo sơ mi cộc tay màu cỏ úa đã sờn mép túi nhưng được cài khuy chỉnh tề đến tận cổ họng, chiếc quần tây màu ghi xám đã mòn sợi vải ở hai bên gấu nhưng vẫn giữ nguyên nếp ủi thẳng tắp, tươm tất. Trên sống mũi thanh tú gầy guộc là cặp kính lão gọng đồi mồi dày cộp, được cố định bằng một sợi dây dù mảnh màu đen vắt qua sau gáy. Tay phải ông chống một chiếc gậy ba-toong bằng gỗ mun đen nhánh, đầu gậy tiện tròn bóng loáng theo từng bước chân gõ nhịp đều đặn, vững chãi trên vỉa hè: *cộc... cộc... cộc...*

Vừa nhìn thấy bóng dáng quen thuộc ấy, Vĩnh liền vội vã buông chiếc cưa trên tay xuống, phủi vội lớp mùn cưa bám đầy trên vạt áo thun rồi đứng thẳng người dậy, cúi đầu chào cung kính:

"Dạ, cháu kính chào thầy Trịnh ạ! Bữa nay trời nắng sớm mà thầy đi bộ ra phố chi vậy thầy?"

Ông giáo Trịnh Văn Nghiêm dừng bước trước bậc thềm hiên, đưa bàn tay gầy gò nổi rõ những đường gân xanh chỉnh lại gọng kính lão. Ánh mắt ông lướt qua tấm biển gỗ mang chữ "Mộc", nhìn lên mái ngói âm dương phủ đầy rêu phong ẩm ướt, rồi khẽ buông một tiếng thở dài trầm buồn, thườn thượt. Đã nhiều tháng trôi qua kể từ cái ngày định mệnh khi cô Mộc Lan trút hơi thở cuối cùng trong căn phòng bệnh vắng lặng ở bệnh viện Chợ Rẫy, ông chưa từng đủ can đảm để quay trở lại nơi này. Nỗi day dứt khôn nguôi của một người bạn tri âm tri kỷ không kịp gặp mặt để nói lời vĩnh biệt, hòa lẫn với mối bất hòa dang dở chưa từng được hóa giải về số phận của những pho sách cổ quý hiếm, dường như vẫn còn là một vết thương mưng mủ đè nặng lên tâm can người thầy giáo hưu trí.

"Chào anh Vĩnh," giọng ông Trịnh trầm ấm, sang sảng nhưng có phần đùng đục vì chứng ho khan tuổi già. "Sáng nay tôi đi bộ ngang qua ngã tư, nghe người ta kháo nhau rầm rĩ là tiệm Mộc sắp sửa dẹp tiệm, lại nghe thấy tiếng búa đục đẽo vang ra tận ngoài đường nên tôi tạt qua xem thực hư thế nào... Cô Lan mất đi rồi, cái tiệm sách này coi như cũng đến hồi..."

Lời nói của ông bỗng ngưng bặt khi ánh mắt ông chạm phải bóng dáng của Tuệ Anh đang đứng bên ngạch cửa.

Tuệ Anh bước xuống bậc thềm, hai tay khép nép trước tà áo, khẽ cúi đầu chào theo đúng lễ nghi truyền thống: "Dạ, cháu chào thầy Trịnh ạ. Cháu là Tuệ Anh, cháu gái gọi dì Lan bằng dì ruột. Mời thầy vào trong nhà tệ xá uống một chén trà nóng cho ráo mồ hôi ạ."

Ông Trịnh ngơ ngẩn nhìn cô gái trẻ trước mặt. Đôi mắt trong veo, ánh nhìn điềm đạm, sâu thẳm cùng phong thái đĩnh đạc, ung dung toát ra từ cử chỉ của Tuệ Anh khiến ông không khỏi ngỡ ngàng. Nó vừa mang nét quen thuộc phảng phất hình bóng người bạn quá cố của ông, lại vừa mang một khí chất hoàn toàn khác biệt so với cô thiếu nữ nhút nhát, khép nép, chỉ biết cắm cúi quét dọn mà ông từng thoáng gặp vài lần cách đây cả năm trời.

"Cô là... Tuệ Anh?" Ông Trịnh nhíu đôi lông mày bạc trắng, bước từng bước chậm rãi qua ngưỡng cửa gỗ lim bóng loáng. "Tôi nhớ ngày trước cô đâu có màng tới mấy cái đống giấy cũ mục nát này..."

Thế nhưng, ngay khi vừa đặt chân qua khỏi tấm rèm vải thô bước vào gian phòng trước, ông giáo già bỗng khựng người lại, chiếc gậy mun trên tay bất giác dừng sững giữa không trung.

Khung cảnh hỗn độn, ngột ngạt và ẩm mốc từng khiến ông phải lắc đầu ngán ngẩm mỗi lần ghé thăm tiệm trước đây đã hoàn toàn biến mất như một phép màu. Thay vào đó là một trật tự khoa học, ngăn nắp và vô cùng thanh lịch đang hiện hữu. Dù những chiếc kệ gỗ dầu vẫn còn loang lổ những vết ố của thời gian và những thanh giằng mới đóng còn ngổn ngang mùi gỗ thông mới, nhưng toàn bộ sách trên các tầng kệ đã được sắp xếp lại một cách mạch lạc đến mức khó tin.

Trên từng góc cạnh của các dãy kệ, Tuệ Anh đã cẩn thận dán những mảnh giấy các-tông nhỏ cắt vuông vức, nắn nót ghi tên từng phân loại bằng nét bút mực tím học trò đều đặn: *Khảo cứu - Địa chí*, *Văn học phương Tây*, *Thi ca tiền chiến*, *Văn học dịch miền Nam (1954–1975)*, và *Tạp chí chuyên khảo*. Mỗi một cuốn sách đều được xếp đứng thẳng thớm, gáy quay đều tăm tắp ra phía ngoài theo một đường thẳng tắp, phân định rõ ràng theo kích thước khổ in và thời kỳ xuất bản với một sự chuẩn xác đến kinh ngạc.

"Đây là..." Ông Trịnh run rẩy tháo cặp kính lão xuống, rút chiếc khăn tay bằng vải hoa đã ố vàng trong túi áo sơ mi cẩn thận lau qua mặt kính, rồi vội vã đeo lại lên mắt. Ông bước vội tới sát kệ sách văn học dịch, những ngón tay gầy guộc, nhăn nheo đầy những nốt đồi mồi của ông khẽ chạm vào từng gáy sách bọc giấy kính cẩn thận. "Ai... ai là người đã xếp đặt lại toàn bộ kho sách này theo hệ thống thập phân giản lược thế này? Chẳng lẽ là... anh Vĩnh?"

"Dạ lạy thầy, cháu làm sao mà biết mấy cái thứ cao siêu đó được thầy ơi!" Vĩnh đứng ngoài hiên với đầu vào, vừa cười vừa xua hai bàn tay lấm lem mùn cưa. "Cháu chỉ biết cưa cây đóng đinh, gia cố giằng kệ cho nó khỏi sập xuống đầu khách thôi. Còn cái chuyện phân chia sách vở, tác giả tác phẩm, sắp xếp từng ngăn từng hộc này là một tay chị Tuệ Anh thức trắng cả đêm qua tới giờ làm đó thầy."

Ông Trịnh quay phắt người lại, ánh mắt sau tròng kính lão nhìn xoáy vào Tuệ Anh với vẻ dò xét gắt gao pha lẫn sự chấn động không giấu giếm:

"Cô học ngành thư viện lưu trữ ở trường nào ra? Hay trước đây cô từng làm việc cho Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố?"

Tuệ Anh giữ vẻ mặt khiêm nhường, nhẹ nhàng rót một tách trà vối ấm đưa bằng hai tay dâng lên trước mặt ông giáo: "Dạ thưa thầy, cháu không học trường lớp chính quy nào về thư viện cả, chỉ là do lúc sinh thời dì Lan hay chỉ dạy, rồi cháu tự mày mò tìm hiểu thêm qua sách vở thôi ạ. Cháu nghĩ, sách cũ nếu cứ để chất đống ngổn ngang như củi mục dưới gầm sàn thì người yêu sách bước vào sẽ thấy ngột ngạt, muốn tìm một tài liệu cần thiết cũng chẳng khác nào mò kim đáy bể. Huống hồ, làm như vậy thì vô tình chôn vùi mất cái giá trị văn hóa và văn bản học của từng ấn bản. Phân loại rành mạch theo thời kỳ, theo dịch giả và đặc tính văn bản sẽ giúp mỗi cuốn sách tìm lại đúng người thực sự cần nó."

"Văn bản học?" Ông Trịnh nhắc lại ba chữ ấy bằng một giọng điệu đầy kinh ngạc, đôi lông mày bạc khẽ nhướng cao. Đó là một thuật ngữ học thuật chuyên sâu của giới nghiên cứu văn học hàn lâm, mà ngay cả những sinh viên năm cuối khoa Ngữ văn của Trường Đại học Tổng hợp thời bấy giờ cũng hiếm khi sử dụng một cách tự nhiên và chính xác đến như vậy trong đời sống thường nhật.

Ông giáo già đưa mắt nhìn dọc theo kệ sách thứ hai, rồi bất chợt vươn cánh tay gầy guộc rút nhẹ một cuốn sách dày cộp, bìa giấy màu nâu xỉn đã sờn rách ở bốn góc gáy. Đó là một bản dịch cuốn tiểu thuyết *Dịch hạch* của đại văn hào Albert Camus, do một nhà xuất bản tư nhân tại Sài Gòn ấn hành vào năm 1966.

"Nếu cô đã nhắc đến khái niệm văn bản học," ông Trịnh nheo mắt nhìn cô, giọng điệu chuyển sang vẻ thử thách cố hữu của một nhà giáo lão thành vốn cả đời khắt khe với chữ nghĩa, "vậy cô thử nói cho tôi nghe xem, bản dịch *Dịch hạch* này là của ai dịch, và văn bản của nó có điểm gì dị biệt so với những bản in được tái bản sau năm một chín bảy lăm?"

Tuệ Anh nhìn lướt qua độ dày của gáy sách, kiểu chữ morasse in nổi trên trang bìa lót và chất giấy xốp ngả màu vàng sậm, toàn bộ kho tàng tri thức của một biên tập viên xuất bản kỳ cựu từng lăn lộn hàng chục năm trong nghề lập tức tái hiện mồn một trong tâm trí:

"Dạ thưa thầy, đây là bản dịch của học giả Võ Văn Dung, do Nhà xuất bản Giao Điểm ấn hành lần đầu tại Sài Gòn vào mùa thu năm 1966. Điểm đặc sắc nhất của bản dịch này nằm ở chỗ cụ Võ Văn Dung đã chuyển ngữ khái niệm triết học 'absurde'—sự phi lý của Camus—bằng một hệ thống thuật ngữ mang đậm âm hưởng triết lý nhân sinh của miền Nam thập niên sáu mươi, văn phong trầm mặc và giàu chất thế sự. Khác hẳn với các bản dịch được hiệu đính và tái bản sau năm 1975 vốn bám rất sát ngữ pháp tiếng Pháp hiện đại cũng như chuẩn hóa các thuật ngữ dịch tễ y khoa, bản dịch năm 1966 giữ lại nguyên vẹn những đoạn chú giải mang màu sắc tôn giáo và nỗi khắc khoải thời chiến. Tuy nhiên, bản in đầu tiên này có một lỗi morasse khá trớ trêu ở trang tám mươi chín: người thợ sắp chữ chì của nhà in Kim Lai đã vô tình đảo ngược hai dòng chữ trong đoạn đối thoại then chốt giữa bác sĩ Bernard Rieux và Jean Tarrou khi hai người nói về sự thánh thiện không cần đến Thượng đế."

Không gian trong gian phòng bỗng chốc rơi vào một sự im lặng tuyệt đối.

Ông Trịnh đứng chết trân như một pho tượng đá. Tách trà trên tay ông khẽ sóng sánh, làm rớt vài giọt nước ấm xuống sàn gạch. Đôi mắt già nua của ông mở to hết cỡ sau tròng kính lão, bàn tay cầm cuốn sách khẽ run lên bần bật. Như một phản xạ vô thức, ông vội vã lật giở từng trang sách đã ngả màu ố vàng, tìm đến trang tám mươi chín, rồi đưa sát cuốn sách lại gần ánh sáng le lói rọi qua khung cửa chớp.

Từng con chữ in bằng mực chì đen sậm hiện lên rõ mồn một. Quả đúng như lời Tuệ Anh vừa dứt, hai dòng chữ ở đoạn giữa trang sách đã bị người thợ sắp chữ chì xếp lộn ngược vị trí trật tự, khiến cho cấu trúc ngữ pháp của câu thoại bị xáo trộn hoàn toàn!

"Cô... làm sao cô có thể..." Giọng ông giáo Trịnh lạc hẳn đi, run rẩy vì một cơn chấn động tâm lý quá lớn. Ông ngẩng phắt đầu lên, nhìn chằm chằm vào người con gái mảnh mai trước mặt như thể đang chứng kiến một điều kỳ diệu vượt ra ngoài mọi quy luật thông thường. "Cô nhớ rành rọt đến từng chi tiết vụn vặt, từng lỗi sắp chữ chì của một ấn bản tư nhân đã xuất bản cách đây đúng ba mươi năm ư? Ngay cả những tay 'săn' sách cổ sành sỏi, lọc lõi bậc nhất ở khu chợ sách cũ Đặng Thị Nhu hay phố đồ cổ Lê Công Kiều, tôi dám chắc cũng chưa có một ai tường tận đến cái chân tơ kẽ tóc của văn bản này như cô!"

Tuệ Anh khẽ cúi đầu, che giấu đi sự bối rối bằng một nụ cười khiêm tốn: "Dạ thưa thầy, cháu chỉ là người may mắn được đọc qua nhiều tài liệu và có thói quen ghi nhớ chi tiết thôi ạ. Dì Lan lúc sinh thời là một người vô cùng cẩn trọng, dì lưu giữ rất nhiều bản in thử morasse và các dị bản quý hiếm. Cháu may mắn được ở bên cạnh dì trong những năm tháng ấy nên được thừa hưởng lại phần nào cái kho tàng tri thức vô giá mà dì đã để lại."

Nghe Tuệ Anh nhắc đến người bạn cũ, ánh mắt ông Trịnh bỗng chùng xuống, một nỗi buồn sâu thẳm lại dâng lên, phủ mờ đôi mắt đã mờ đục theo năm tháng. Ông thở dài một tiếng não nùng, buông cuốn *Dịch hạch* xuống mặt bàn gỗ, rồi đưa mắt nhìn lên góc cao nhất của chiếc tủ gỗ lim nằm sâu trong góc tối của gian nhà trong:

"Cô Lan cả một đời gắn bó với sách, mê sách đến mức cố chấp, mù quáng... Năm ngoái, bà ấy từng tìm đến tận nhà tôi, hồ hởi khoe rằng mình đang lần theo manh mối của một tác phẩm văn học tuyệt bản. Đó là một tập di cảo văn xuôi trước năm một chín bốn lăm của một văn sĩ tài hoa thời tiền chiến, từng bị bom đạn chiến tranh làm thất lạc gần như toàn bộ các bản in gốc, trên cõi đời này chỉ còn lưu lại vài chương mục rải rác dưới dạng bản thảo viết tay và một bản in thử morasse chưa từng được công bố. Bà ấy bảo với tôi rằng, nếu đời này bà ấy có thể gom đủ các mảnh vỡ ấy, hiệu đính trọn vẹn văn bản để xin phép xuất bản lại một cách đường hoàng, đàng hoàng, thì coi như cái kiếp làm nghề sách của bà ấy không còn điều gì phải ân hận hay tiếc nuối nữa..."

Ông Trịnh dừng lại, giọng nghẹn ngào như có vật gì chẹn ngang cổ họng: "Vậy mà trời xanh khéo trớ trêu, người tính không bằng trời tính. Bà ấy ra đi đột ngột quá, để lại bao nhiêu dự định dở dang... Cuốn sách tuyệt bản ấy đến nay vẫn bặt vô âm tín, chưa một ai trong giới sưu tầm được tận mắt nhìn thấy bản thảo hoàn chỉnh của nó mặt mũi ra sao..."

Tuệ Anh đứng lặng người đi, từng lời từng chữ của ông giáo Trịnh như những tia chớp xé toang bức màn sương mù bấy lâu nay trong tâm trí cô.

Tác phẩm tuyệt bản... bản in thử morasse... di cảo văn xuôi tiền chiến...

Những mảnh ghép rời rạc bỗng chốc khớp lại với nhau một cách hoàn hảo! Ký ức về trang nhật ký nội bộ cuối cùng đề ngày 20 tháng 4 năm 1996 của dì Mộc Lan lập tức hiện về rõ mồn một trong tâm trí Tuệ Anh. Trong trang sổ ấy, dì Lan đã ghi chép lại chi tiết khoản tiền tạm ứng khổng lồ lên tới mười lăm triệu đồng tiền mặt chuyển cho Xưởng in An Thành để mua giấy ngoại nhập và đặt làm một bộ chữ chì đúc mới hoàn toàn. Hóa ra, cái canh bạc tài chính nghiệt ngã khiến cho tiệm Mộc rơi vào cảnh nợ nần chồng chất, khánh kiệt tài chính đến mức không còn tiền trả tiền thuê nhà, hoàn toàn không phải do dì Lan làm ăn thua lỗ hay đầu cơ mù quáng như lời bà Tư Lành và miệng lưỡi người đời cay nghiệt thêu dệt! Đó là một sự hy sinh thầm lặng, một canh bạc sinh tử cho một lý tưởng văn hóa thiêng liêng mà người phụ nữ kiên cường ấy đã âm thầm theo đuổi cho đến tận hơi thở cuối cùng trên giường bệnh!

"Cháu tin là... tâm nguyện cả đời của dì Lan rồi nhất định sẽ có ngày được hoàn thành, thưa thầy," Tuệ Anh nói, giọng cô khẽ run lên nhưng ánh mắt lại bừng lên một ngọn lửa kiên định lạ thường.

"Mong là được như lời cô nói, để hương hồn cô Lan dưới suối vàng cũng được ngậm cười..." Ông Trịnh lắc đầu ngao ngán, buông một tiếng thở dài thườn thượt.

Thế nhưng, ngay khi vừa dứt lời, ánh mắt của ông giáo già bỗng trượt xuống góc sàn nhà ngay sát cạnh bậu cửa ra vào.

Tại nơi đó, Tuệ Anh đã gom sẵn ba chồng sách dày cộp, mỗi chồng cao ngất ngưởng đến ngang đầu gối một người lớn. Những cuốn sách trong ba chồng này đều được bó chặt, trói nghiến lại bằng những sợi dây chuối khô và dây nilon đỏ thô kệch. Cắm nghiêng bên trên đỉnh của chồng sách thứ nhất là một tấm bìa các-tông xé vội từ vỏ thùng mì tôm Miliket, bên trên viết ngoằn ngoèo bằng những nét bút dạ đen đậm nét: *"Sách thanh lý vỉa hè – Đồng giá 3.000đ – 5.000đ"*.

Đó chính là những cuốn sách mà sáng sớm nay, Tuệ Anh đã cùng Vĩnh bàn bạc định bụng sẽ khuân ra trải bạt bán tháo ngay lề đường Trần Nhân Tôn để gom nhặt từng đồng bạc lẻ, nhằm đối phó với hạn chót một triệu đồng tiền cọc của bà Tư Lành.

Khoảnh khắc nhìn thấy ba chồng sách ấy cùng tấm biển thanh lý đồng giá, sắc mặt của ông giáo Trịnh Văn Nghiêm đột ngột biến đổi hoàn toàn. Gương mặt quắc thước, hiền từ của ông bỗng chốc tối sầm lại, đôi lông mày bạc trắng chau chặt vào nhau, ánh mắt thoáng chốc tràn ngập vẻ bàng hoàng, xót xa và đau đớn tột cùng, hệt như người ta vừa tận mắt chứng kiến một vết thương rỉ máu trên da thịt người thân.

"Cộc!"

Chiếc gậy ba-toong bằng gỗ mun trong tay ông chống mạnh xuống nền gạch tàu nghe một tiếng khô khốc, chát chúa vang dội khắp gian phòng. Ông Trịnh bước vội về phía trước, bước chân dồn dập đến mức suýt vấp ngã nếu không có Vĩnh nhanh tay đỡ lấy cánh tay ông.

"Thầy... thầy bình tĩnh, cẩn thận kẻo ngã thầy ơi!" Vĩnh hốt hoảng kêu lên.

Thế nhưng ông Trịnh dường như không còn nghe thấy gì nữa. Ông gạt tay Vĩnh ra, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy sờ soạng lên từng gáy sách đang bị trói chặt trong mớ dây nilon thô kệch. Chiếc kính lão trên sống mũi ông tụt xuống tận chóp mũi, nhưng ông cũng chẳng buồn đưa tay đẩy lên.

"Cô Tuệ Anh... cô... cô định đem đống sách này ra vỉa hè bán tháo đồng giá ba ngàn, năm ngàn thật sao?" Giọng ông giáo già run lên bần bật, vừa nghẹn ngào, vừa uất ức như thể đang cất lên một lời trách móc xé ruột xé gan.

Tuệ Anh bối rối bước vội lại gần, nhìn thấy vẻ mặt đau đớn của ông mà lòng cô không khỏi thắt lại: "Dạ thưa thầy, tiệm đang đứng trước nguy cơ bị bà Tư Lành tịch thu lại mặt bằng và tống toàn bộ sách vở ra ngoài đường chỉ trong vòng vài ngày tới nếu cháu không gom đủ một triệu đồng tiền cọc. Cháu... cháu trong bước đường cùng, buộc phải lựa ra những cuốn sách bìa rách nát, giấy đã mục ố, long gáy này để đem ra vỉa hè bán thanh lý nhanh, đặng kiếm chút tiền mặt trang trải nợ nần trước mắt..."

"Bán nhanh? Kiếm chút tiền mặt?" Ông Trịnh run rẩy lặp lại từng lời của cô, giọng nghẹn lại.

Ông run rẩy quỳ một bên gối xuống nền đất lạnh, chiếc gậy mun buông rơi cành cạch bên cạnh. Bằng những ngón tay gầy guộc đầy đồi mồi đang run lên bần bật, ông cẩn thận lách nhẹ qua khe hở của sợi dây nilon đỏ, lật mép bìa của một cuốn sách bìa xám nằm lọt thỏm ở giữa chồng thứ hai—một cuốn sách gáy đã bong tróc hoàn toàn, mép giấy xơ tơi tả và loang lổ những vệt ẩm mốc đen sì của thời gian dập vùi.

Khi ngón tay ông lật nhẹ trang bìa lót bên trong, để lộ ra dòng chữ in bằng khuôn chữ chì mờ nhạt cùng một con dấu triện son đỏ thẫm đã phai màu, lồng ngực gầy guộc của ông giáo già phập phồng dữ dội. Hơi thở của ông dồn dập, đứt quãng như người vừa trải qua một cơn đột quỵ nhẹ.

Ông ngẩng phắt đầu lên nhìn Tuệ Anh. Ánh mắt ông lúc này không còn là sự kinh ngạc hay thán phục như vài phút trước nữa, mà thay vào đó là một sự bàng hoàng, đau đớn và phẫn nộ tột cùng của một bậc túc nho đang nhìn thấy di sản thiêng liêng bị đem ra chà đạp:

"Cô có biết mình đang làm cái việc điên rồ gì không hả cô Tuệ Anh? Cô vừa mới thao thao bất tuyệt về văn bản học, cô tỏ ra hiểu biết sâu sắc tường tận đến từng con chữ chì, vậy mà cô lại mù quáng, u mê đến mức định đem những thứ này ra vỉa hè bán tháo như mớ rau muống, mớ rác rưởi ngoài chợ hay sao?"

Ông giáo Trịnh chỉ thẳng ngón tay run rẩy vào ba chồng sách Tuệ Anh định bán thanh lý đồng giá, lắc đầu bảo cô đang suýt vứt đi một gia tài văn hóa.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories