Sự Thật Dưới Mái Tôn Dột
Không khí tiệm Mộc ngập ngụa mùi ẩm mốc của giấy ướt pha lẫn bùn sình, ba chiếc quạt máy cóc chạy hết công suất phả gió phù phù vào từng trang sách đang được kẹp giấy thấm cẩn thận.
Tiếng cánh quạt nhựa màu xanh ngọc chém vào bầu không khí đặc quánh nghe rè rè, thỉnh thoảng lại rung bần bật trên bệ gỗ thông kê tạm. Trên sàn nhà, lớp phù sa non quánh dẻo sau trận triều cường lẫn mưa dông đêm qua đã bắt đầu se mặt, bốc lên cái thứ mùi tanh nồng ngai ngái của bùn cống rãnh quyện với mùi bột giấy mục rữa. Bên ngoài hiên, trời đã hửng lên thứ ánh sáng bàng bạc nhờ nhợt của buổi sớm sau bão, từng giọt nước mưa còn đọng trên máng xối tôn thi thoảng lại gieo xuống nền xi măng những tiếng *tõm, tõm* đều đặn và lạnh lẽo. Gió sớm thốc qua con hẻm ngoằn ngoèo, mang theo hơi ẩm lạnh buốt từ phía bờ kênh Nhiêu Lộc thổi thốc vào lòng tiệm, làm những dải rèm vải thô cũ kỹ bay phần phật, cuốn theo những vụn giấy bở tơi bay lơ lửng giữa không trung.
Tuệ Anh quỳ gối trên một tấm ván gỗ pallet khô, hai đầu gối đã mỏi nhừ và tê dại sau một đêm thức trắng chống chọi với cơn hồng thủy cục bộ. Trước mặt cô là chiếc bàn thấp bằng gỗ thao lao kê san sát ba mươi cuốn sách bìa mềm thuộc tủ sách văn học dịch xuất bản từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Phần lớn các cuốn sách quý nằm trên những tầng giá cao từ một mét hai trở lên đều bình an vô sự nhờ nỗ lực che chắn, bọc ni-lông kịp thời của cả nhóm, nhưng một số cuốn ở tầng kệ thứ hai phía góc kho sau đã không tránh khỏi việc bị những luồng nước mưa tạt xéo từ góc mái tôn rách làm ẩm ướt phần viền gáy và mép giấy phía dưới.
Đôi bàn tay cô thoăn thoắt nhưng nhẹ nhàng chuẩn xác đến từng cử động nhỏ. Một biên tập viên chuyên nghiệp hay một người phục chế tư liệu đều hiểu rõ: giấy bãi rơm và giấy in nội địa những năm sau giải phóng một khi ngấm nước sẽ mủn ra như bánh đa ngâm, nếu vội vã dùng khăn chà xát hoặc đem phơi dưới nắng gắt thì thớ sợi cellulose sẽ co rút đột ngột, làm cong vênh vĩnh viễn và khiến lớp keo dán gáy bằng mủ cây hay keo da trâu bong tróc thành từng mảng không cách nào cứu vãn. Tuệ Anh khẽ dùng đầu dao trổ cạy nhẹ từng mép giấy dính bết, sau đó cẩn thận lót vào giữa từng trang một tờ giấy thấm mộc xốp mịn. Mỗi lần kẹp xong một tập mười trang, cô lại đặt một thanh gỗ phẳng có bọc vải nỉ đè lên, chặn bằng một viên gạch thẻ sạch để tạo áp lực phẳng đều tự nhiên.
Hơi lạnh từ nền đất bốc lên ngấm dần qua lớp áo mỏng, len lỏi vào từng khớp xương sống lưng đã căng cứng vì cúi gập suốt mười mấy tiếng đồng hồ. Những ngón tay cô lem nhem vệt mực lem và bụi bùn, móng tay hằn sâu những vết xước nhỏ do dằm gỗ pallet cào phải trong lúc khiêng vác tủ sách rạng sáng nay. Mỗi lần mở nhẹ một trang sách ẩm, Tuệ Anh lại nín thở, lắng nghe tiếng sợi giấy rách khẽ như tiếng tơ đứt đoạn; chỉ cần sơ sẩy một phần mười mi-li-mét, lớp chữ in chì mỏng manh sẽ dính chặt sang trang đối diện, biến một đoạn văn của cụ Duyên Anh hay một trang dịch thuật của học giả Nguyễn Hiến Lê thành một vệt mực đen loang lổ vô phương phục hồi.
“Em hong xong năm cuốn tiểu thuyết của cụ Khái Hưng rồi chị Tuệ Anh,” Vĩnh từ góc quầy bước lại, giọng khàn đặc vì khói nhang muỗi và hơi lạnh suốt đêm dài.
Gương mặt chàng sinh viên kiến trúc năm thứ tư lấm lem những vệt bùn khô và bồ hóng, hai hốc mắt trũng sâu vì thiếu ngủ nhưng ánh nhìn vẫn giữ nguyên nét sắc sảo, trầm tĩnh của một kẻ quen việc tính toán kết cấu. Trên tay anh là chiếc kẹp gỗ tự chế bằng tre ngâm, dùng để cố định những tập morasse thử nghiệm của xưởng in An Thành đang được hong gió trên những sợi dây kẽm giăng ngang tiệm như người ta phơi ảnh trong buồng tối.
Tuệ Anh ngẩng lên, khẽ vuốt lọn tóc bết dính bên thái dương bằng mu bàn tay sạch, mỉm cười mệt mỏi: “May mà đống morasse và toàn bộ bản thảo *Hồn Đất Phù Sa* được bọc trong vải nhựa đưa lên gác lửng từ sớm. Nếu chỗ đó mà dính một giọt nước bùn, chắc chị không còn mặt mũi nào nhìn bác Huỳnh Tấn Sĩ với ông giáo Trịnh nữa.”
“Cái tủ gỗ sồi ở kho sau dày dặn, lại có chân đế cao nên phần chân tường ẩm không liếm tới được,” Vĩnh vừa nói vừa ngồi xổm xuống cạnh cô, đôi bàn tay gầy gầy đầy những vết dằm gỗ cẩn thận lật mép một cuốn tạp chí *Bách Khoa* cũ. “Nhưng số sách tạp chí với mấy bộ truyện thiếu nhi để ở giàn chân kệ gỗ tạp kho sau thì ướt mép nhiều lắm. Nãy giờ em với chị Cúc lọc ra được hơn bốn chục cuốn bị dính phèn ở chân bìa. Em phải dùng dao lam rọc tách nhẹ từng lớp bồi mới gỡ ra được.”
Cách đó vài bước chân, tiếng xô nhựa va chạm lách cách hòa lẫn tiếng chổi tre quét sàn sột soạt. Chị Thu Cúc đang xắn cao ống quần quá gối, hai bàn chân nứt nẻ bì bõm lội trong vũng nước xả cặn, miệt mài dùng cái xẻng tôn gãy cán hốt từng mảng bùn non đóng dày trên nền gạch bông cổ.
Nền gạch men hoa văn màu vàng đất và xanh cổ vịt của tiệm Mộc vốn có từ thời Pháp, qua mấy mươi năm đã mòn vẹt mép nhưng vẫn giữ được nét cổ kính trang nhã. Lúc này, lớp phù sa nhầy nhụa phủ kín bề mặt khiến nó trơn trượt như đổ mỡ. Chị Cúc vừa còng lưng cạo bùn vừa quệt mồ hôi trán, chốc chốc lại quay sang dặn con gái: “Hạnh! Múc thêm thùng nước giếng khoan ngoài lối đi lại đây cho má mau lên con. Cạo tới đâu dội tới đó bùn mới trôi tuột ra rãnh thoát nước, để khô lại nó bết như xi măng là chà tróc da tay cũng hổng ra đâu nghen!”
“Dạ! Con xách liền nè má!” Bé Hạnh lăng xăng bưng chiếc xô tôn nhỏ, đôi chân thoăn thoắt bước né những chồng sách đang hong gió. Dù mắt kèm nhèm vì cay gió và mệt, gương mặt đứa bé mười hai tuổi vẫn sáng bừng nét hăng hái. Với nó, việc tiệm sách vượt qua được trận bão đêm qua tựa như một phép màu, và mỗi vệt bùn non được dội sạch khỏi sàn nhà chính là một bước giữ lại căn tiệm thân thương này.
Chiếc xô tôn va lách cách vào thành lu nước bên góc sân, tiếng nước xối rào rào trên nền gạch như một nhịp điệu lao động gấp gáp xua bớt đi cái u ám của buổi sớm tàn sau bão. Chị Cúc gạt mạnh lưỡi xẻng vào bao tải rách, thở dốc: “Trời đất ơi, nước ngập tới nửa ống chân mà mấy cuốn tập tô màu của đám con nít hổng bị thúi quắc là phước đức ba đời. Hồi hôm tui tưởng nước cống tràn vô là tiệm mình dẹp tiệm luôn chớ. May mà có cậu Vĩnh lanh trí kê mấy két vỏ chai bia lên làm đôn, chớ không là công cốc cả đám.”
Tuệ Anh đặt cuốn sách đã kẹp giấy thấm sang một bên, cầm cuốn sổ tay bìa da lấm tấm vài giọt nước mưa lên kiểm kê. Cô thở phào một hơi dài, dù lồng ngực vẫn còn nhói lên từng cơn căng thẳng: “Thiệt hại về sách đọc được xem như nằm trong tầm kiểm soát. Chúng ta chỉ bị ẩm khoảng năm mươi cuốn sách đại chúng và truyện tranh loại hai, chịu khó hong khô trong bóng râm thêm hai ngày rồi dùng bàn ủi nhiệt độ thấp lót giấy can ủi phẳng là phẳng phiu lại bảy, tám phần mười. Nhưng sàn nhà và tường kho…”
Cô ngập ngừng nhìn về phía khoảng tối u ám của gian kho phía sau. Nơi đó, dù đã ngắt điện tổng nhưng mùi khét lẹt của lớp vỏ bọc cao su dây điện bị chập cháy lúc rạng sáng vẫn còn vương vất nồng nặc trong không khí. Bức tường gạch đinh rỗng ruột ở góc nam kho sau trông như một tấm giẻ rách ướt sũng, những đường nứt chân chim giờ đây đã biến thành những rãnh nứt rộng bằng ngón tay út, rỉ ra từng vệt nước nhờ nhờ màu gỉ sắt quyện với vữa vôi vụn nát.
Mỗi khi có một chiếc xe tải chở hàng chạy qua con đường nhựa lớn ngoài đầu hẻm, cả mảng tường kho sau lại rung lên bần bật, rớt xuống những mảng vôi chết lả tả như vảy cá. Vĩnh nhìn theo ánh mắt của Tuệ Anh, giọng chùng hẳn xuống: “Hệ xà gồ đỡ mái tôn phía trên bị mục gần hết rồi chị. Đêm qua em leo lên chèn bao cát mới thấy rui mè bằng gỗ dầu tạp đã bị mọt ăn rỗng ruột từ nhiều năm trước. Trận mưa đêm qua khiến mái tôn võng xuống một đoạn hơn mười phân. Nếu chiều nay trời lại đổ thêm một cơn dông lớn nữa, em sợ toàn bộ mảng mái đó sẽ sụp xuống đè nát dãy kệ lưu trữ hồ sơ phía dưới.”
Tuệ Anh mím chặt môi, ngón tay cái miết mạnh lên mép bìa da của cuốn sổ tay. Tiền thuê nhà tháng này còn chưa trả xong, món nợ một triệu tám trăm ngàn đồng của bà Tư Lành hẹn đúng trưa nay phải giải quyết dứt điểm. Trong két sắt của tiệm chỉ còn vỏn vẹn vài trăm ngàn tiền mặt dự phòng để mua giấy nhám, hồ dán và trả tiền cọc mực in cho bên An Thành. Nếu kho sau sập, họ lấy tiền đâu ra để bồi thường cho chủ nhà, chưa nói đến việc toàn bộ sách vở tài liệu sẽ không còn nơi nương náu?
Đúng lúc ấy, ngoài bậu cửa tiệm vang lên tiếng lách cách kim loại va vào nhau, kèm theo tiếng bước chân nặng nề nện trên nền đất ướt.
Một bóng người cao lớn chắn ngang ánh sáng ban mai lọt qua cửa cuốn. Võ Quốc Dũng vác trên vai chiếc thang nhôm ba khúc đã cũ mòn, tay kia xách chiếc hộp đồ nghề bằng sắt tây nặng trịch sơn màu xanh rêu. Anh mặc chiếc áo bảo hộ thợ điện ngắn tay màu chàm đã bạc thếch ở cầu vai, ống quần dính đầy vết dầu máy và nước bùn, vạt áo còn ướt đẫm mồ hôi quyện với mùi thuốc lá Bastos khét lẹt.
“Chào cô Tuệ Anh… Vĩnh, chị Cúc… Mọi người ổn cả chứ?” Dũng hạ chiếc thang nhôm xuống góc tường hiên, tiếng kim loại va vào bậc thềm kêu lên một tiếng *chát* khô khốc, làm bầy chim sẻ đang rỉa lông trên dây điện giật mình vỗ cánh bay vụt lên trời xám.
Ánh mắt người thợ điện đảo quanh gian phòng ngổn ngang sách vở và xô chậu, thoáng qua một tia bối rối lẫn ân hận khó che giấu. Anh đặt hộp đồ nghề xuống, lúng túng rút chiếc khăn tay màu cháo lòng lau mồ hôi bết trên trán, giọng ngập ngừng: “Nghe tin triều cường bể bờ bao dưới Bình Triệu dâng ngược vô cống nội thành, sáng sớm tôi đã sốt ruột tính chạy qua ngay, nhưng má tôi cứ cằn nhằn chuyện cái máy bơm nước bên nhà lớn bị kẹt rác… Mấy người… không ai bị sao chứ? Đường dây điện trong kho ban đêm có bốc cháy không?”
Vĩnh đứng thẳng dậy, đôi mày khẽ nhíu lại. Anh không đáp lời ngay mà chỉ lẳng lặng nhìn Dũng bằng ánh mắt lạnh lùng, nghiêm nghị của một người làm nghề kỹ thuật vừa phải chứng kiến đồng nghiệp của mình làm ẩu. Bàn tay Vĩnh siết chặt lấy chiếc kẹp tre, đốt ngón tay trắng bệch ra dưới ánh sáng nhợt nhạt.
Tuệ Anh gác chiếc dao trổ xuống bàn, từ từ đứng lên. Cô phủi nhẹ lớp bụi giấy bám trên vạt áo bà ba đen, bước từng bước dứt khoát về phía Dũng. Không hề có sự giận dữ bộc phát, không có tiếng gắt gỏng hay những lời than vãn chì chiết thường thấy ở những cuộc cãi vã xóm giềng năm 1996. Bằng phong thái điềm tĩnh, đĩnh đạc nhưng mang một uy lực vô hình của một biên tập viên từng đối mặt với hàng chục cuộc khủng hoảng xuất bản lớn nhỏ, cô dừng lại cách Dũng hai bước chân, nhìn thẳng vào mắt người đàn ông trước mặt.
“Anh Dũng, chúng ta cần nói chuyện nghiêm túc về hệ thống của căn nhà này.” Tuệ Anh nói, giọng cô trầm và rõ ràng đến từng âm tiết. “Đêm qua, nếu bạn Khang không nhanh tay gạt chiếc cầu dao chống giật do anh gắn đợt trước, thì cả căn tiệm Mộc này, cùng hàng ngàn cuốn sách và cả mạng sống của sáu con người ở đây đã bị thiêu rụi bởi dòng điện hai trăm hai mươi vôn truyền qua mảng tường ẩm ướt rồi.”
Quốc Dũng khựng người lại, yết hầu giật giật. Gương mặt rám nắng của anh thoáng chốc biến sắc. Anh mở miệng định phân bua, hai bàn tay quờ quạng trong không khí: “Cô Tuệ Anh… cái cầu dao đó tôi đã lắp loại tốt nhất của Nhật bãi… Tôi lựa cái National chống rò giật hai mươi lăm am-pe, thử nút test nhảy tanh tách đàng hoàng mới dám bàn giao…”
“Chiếc cầu dao đó hoạt động tốt, tôi ghi nhận công sức của anh,” Tuệ Anh cắt ngang, lời nói của cô đanh thép nhưng sắc lạnh như lưỡi dao cạo. “Nhưng thứ suýt giết chết chúng tôi không phải là chiếc cầu dao, mà là những gì anh đã giấu nhẹm bên trong bức tường kho sau và trên lớp mái tôn!”
Cô quay sang gật đầu với Vĩnh. Chàng sinh viên kiến trúc bước tới, trên tay cầm một đoạn dây điện dài chừng hai gang tay vừa được anh cắt ra từ hốc tường kho rạng sáng nay. Lớp vỏ cao su màu đen bên ngoài đã mủn nát, bong tróc từng mảng lớn, để lộ phần lõi đồng oxy hóa xỉn màu xanh rêu, nhiều đoạn chỉ được quấn tạm bợ bằng vài vòng băng keo vải cách điện thô sơ đã mục rữa từ đời nào.
“Anh Dũng, anh là thợ điện bậc năm, anh rành nghề hơn ai hết,” Vĩnh giơ đoạn dây lên sát mặt Dũng, giọng nói chất chứa sự bức xúc bị kìm nén bấy lâu. “Đợt sửa chữa tháng trước, anh báo với chúng tôi và bác Tư rằng anh đã thay mới toàn bộ trục dây nguồn âm tường bằng dây bọc đôi Cadivi đi trong ống ghen PVC chịu lực. Nhưng sự thật là anh chỉ thay đúng đoạn dây nổi dài chưa đầy ba mét từ bảng điện chính dẫn ra ngoài vách ván ép, còn toàn bộ mạng lưới âm tường chạy dọc theo cột gạch rỗng ruột dẫn về phía sau kho, anh vẫn giữ nguyên hệ thống dây cổ lỗ sĩ từ trước năm 1975! Anh chỉ nối đầu dây mới vào đoạn dây mục nát cũ rồi nhét đại vào trong kẽ nứt của tường gạch, trám vữa xi măng mỏng dính bên ngoài để che mắt mọi người!”
Gương mặt Quốc Dũng tái mét đi. Những ngón tay thô ráp của anh bấu chặt vào quai túi đồ nghề đến mức khớp xương trắng bệch. Anh lúng túng nhìn đoạn dây điện gỉ sét trên tay Vĩnh, đôi môi mấp máy nhưng không thốt nên lời.
“Chưa hết đâu anh Dũng,” Tuệ Anh tiếp tục, bước thêm một bước dồn anh vào góc cột hiên. “Trận bão đêm qua gió giật cấp bảy, mái tôn kho sau bị tốc toác một mảng lớn ngay tại vị trí mối nối giáp ranh với nhà bên cạnh. Khi Vĩnh leo thang lên chèn bạt giữa mưa gió, Vĩnh đã nhìn thấy rõ mười mươi: các mối giáp mí không hề được bắt vít có đệm cao su chịu lực, cũng chẳng hề có máng xối chống tràn bằng inox như trong dự toán bóc tách anh từng đưa cho tôi. Anh chỉ dùng những tấm tôn vụn chắp vá lại, rồi quét lên đó một lớp hắc ín mỏng dính trộn dầu hôi để chống thấm tạm bợ! Lớp hắc ín đó gặp nắng gắt mấy tuần qua đã giòn rụm, bão vừa tạt nước vào là nứt toác ra ngay lập tức, biến toàn bộ mái kho thành một cái phễu hứng nước trút thẳng xuống đầu chúng tôi!”
Mỗi lời Tuệ Anh thốt ra đều có chứng cứ kỹ thuật rành rọt, không hề mang tính chất chụp mũ hay vu khống. Từng chi tiết bóc tách vật tư, từng thông số kỹ thuật mà cô cùng Vĩnh chỉ ra chính xác đến mức khiến một người thợ lành nghề như Dũng không thể tìm được một kẽ hở nào để ngụy biện. Ánh mắt cô không trừng phạt, nhưng sự cương trực rực sáng trong đó như một tấm gương phản chiếu trần trụi sự dối trá của anh.
Chị Thu Cúc đứng tựa cán chổi bên cạnh, nghe đến đâu mặt mày tái mét đến đó, tức giận chen vào: “Trời đất quỷ thần ơi! Cậu Dũng… cậu làm ăn cái kiểu gì mà coi rẻ tánh mạng người ta dữ vậy hả cậu? Đêm qua con Hạnh nhà tui với mấy cậu sinh viên lặn ngụp dưới sàn nước ngập tới đầu gối, dây điện mà chập một cái là coi như bữa nay tui với con tui thành tro rồi chớ đâu còn đứng đây cạo bùn cho cậu coi! Cậu ăn học đàng hoàng, có bằng thợ điện nhà nước cấp mà sao cậu thất đức quá vậy cậu Dũng?”
Bé Hạnh cũng nép sát vào lưng má, tròn xoe đôi mắt nhìn người chú thợ điện quen thuộc mà thường ngày vẫn hay ghé tiệm cho em vài cục kẹo dừa Bến Tre. Bầu không khí ấm ức, phẫn nộ lan tỏa trong gian tiệm hẹp, biến từng giọt nước rơi từ mái hiên thành những âm thanh đanh thép gõ vào lương tâm kẻ có lỗi.
Không gian tiệm Mộc chìm vào một sự im lặng nặng nề đến nghẹt thở. Chỉ còn tiếng vo ve đơn điệu của ba chiếc quạt cóc và tiếng nước nhỏ giọt đều đặn từ mái hiên.
Quốc Dũng cúi gằm mặt xuống. Đôi vai vạm vỡ của người đàn ông ngoài ba mươi tuổi bỗng sụp xuống như vừa bị rút cạn toàn bộ sinh lực. Chiếc hộp đồ nghề bằng sắt tây trên tay anh trượt khỏi những ngón tay, rơi *choảng* một tiếng khô khốc xuống nền gạch bông còn loang lổ bùn đất. Những chiếc kìm bấm, tuốc-nơ-vít, cuộn băng keo điện và đồng hồ đo vạn năng văng ra ngoài, nằm ngổn ngang bên chân anh.
“Tôi… tôi xin lỗi…” Giọng Dũng run rẩy, khàn đặc và nghẹn ứ nơi cổ họng.
Anh đưa hai bàn tay thô ráp lên ôm lấy mặt, những ngón tay run rẩy cào vào mái tóc ướt đẫm mồ hôi. Một lúc lâu sau, anh mới chầm chậm ngẩng đầu lên, trong đôi mắt đỏ hoe ngập tràn sự dằn vặt và nỗi sợ hãi tột cùng. Đôi môi thâm sì vì khói thuốc run bần bật, lồng ngực phập phồng như người vừa thoát chết dưới đáy sông.
“Cô Tuệ Anh… Vĩnh… chị Cúc… Tôi sai rồi. Tôi thực sự có tội với mọi người…” Dũng nghẹn ngào, từng câu chữ thốt ra như một gánh nặng bị đè nén bấy lâu nay bùng vỡ. “Tôi biết… tôi biết hệ thống mái tôn và đường dây âm tường đó đã nát bét từ cuối năm ngoái rồi. Lúc tháo vách ván ép ra kiểm tra, tôi thấy mấy mối nối gỉ sét bốc mùi ẩm, tôi biết nó nguy hiểm dữ lắm. Nhưng… nhưng tôi không dám làm lớn chuyện, tôi không dám nói thật với má tôi…”
Tuệ Anh nhìn sâu vào mắt Dũng, giọng cô dịu xuống một nhịp nhưng vẫn giữ nguyên sự nghiêm cẩn: “Vì sao anh lại giấu? Vì muốn bớt xén tiền vật tư để bỏ túi riêng, hay vì điều gì khác?”
“Không! Thề có trời đất chứng giám, tôi không hề có ý ăn chặn một đồng cắc nào tiền sửa nhà của cô Tuệ Anh hết!” Dũng vội vàng xua tay, gương mặt co rúm lại vì sợ bị hiểu lầm. “Là vì má tôi… Vì má tôi khó tính quá, mà căn nhà này lại đang đứng trước nguy cơ mất trắng!”
Anh ngồi phịch xuống bậc thềm cửa, hai tay chống lên đầu gối, đầu rũ rượi, giọng nói chìm vào sự bế tắc cùng cực: “Mọi người đâu có biết, từ hồi đầu tháng năm tới giờ, cái thằng cha Ba môi giới nhà đất đi chiếc xe Dream II màu nho đó… hắn ngày nào cũng lởn vởn quanh quán cà phê cóc đầu hẻm để tiếp cận má tôi. Hắn đại diện cho cái đám bên công ty điện máy ngoài quận Nhất, muốn mua đứt căn nhà này hoặc thuê lại với giá cao gấp đôi tiệm Mộc để đập thông tường làm kho chứa tủ lạnh, máy giặt nghĩa địa nhập lậu từ Nhật về.”
Dũng nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, mắt đăm đăm nhìn vào vũng bùn non loang lổ dưới chân: “Má tôi cả đời ky cóp giữ căn nhà này đặng sau này cưới vợ cho tôi, nhưng bà già rồi, tính tình lại sòng phẳng tới mức cay nghiệt. Bà sợ nhà xuống cấp tốn tiền sửa chữa, mà tiền nợ của tiệm Mộc thì cứ dây dưa. Tháng trước, lúc tường kho bị nứt, thằng cha môi giới đó đã tới tận nhà rỉ tai má tôi, bảo căn nhà này móng yếu, cột mục ruỗng hết trơn rồi, nếu bỏ ra tiền triệu để gia cố thì thà bán đứt lấy mấy chục cây vàng gửi ngân hàng ăn lãi cho khỏe thân. Má tôi nghe bùi tai, đã mấy lần cầm sổ đỏ ra ngắm nghía rồi…”
Ánh mắt Dũng nhìn Tuệ Anh, chan chứa sự thống khổ của một người con trai bất lực trước sự độc đoán của mẹ già: “Tôi biết nếu tôi nói thật tình trạng mái tôn phải thay mới toàn bộ tốn hai triệu bạc, rồi dây điện âm tường phải đục tung ra làm lại tốn thêm cả triệu nữa… má tôi sẽ nổi một trận lôi đình. Bà sẽ lập tức viện cớ nhà hư hỏng nặng để hủy hợp đồng thuê, tống khứ tiệm Mộc ra đường ngay trong đêm đặng bán đứt căn nhà cho bên điện máy! Tôi… tôi không muốn má bán đi căn nhà hương hỏa của tía tôi để lại. Tôi cũng thấy cô Tuệ Anh làm ăn tử tế, mấy đứa nhỏ trong xóm có chỗ học hành đàng hoàng, tôi không nỡ nhìn tiệm Mộc bị người ta bóp chết…”
Anh thở dài một hơi não nuột, giọng run run: “Tôi nghĩ dại… tôi tưởng mình dùng tôn cũ chắp vá lại, quét hắc ín dán chặt, rồi nối đoạn dây điện mới che ngoài thì có thể cầm cự qua được mùa mưa năm nay. Đợi tới cuối năm tôi lãnh tiền công trình sửa điện bên Chợ Lớn về, tôi sẽ lén má tự mua vật tư tốt về thay mới toàn bộ… Ai ngờ… trận bão đêm qua nó dữ dằn quá. Suýt chút nữa là tôi đã hại chết mọi người… Tôi hèn nhát, tôi sai rồi!”
Những lời thú nhận gan ruột của Dũng phơi bày toàn bộ sự thật trần trụi đằng sau những mối chắp vá cẩu thả. Đó không phải là lòng tham lam bủn xỉn của một kẻ bất lương, mà là sự bất lực, sợ hãi và tính toán luẩn quẩn của một người thợ nghèo bị kẹt giữa sự áp chế của người mẹ độc đoán và áp lực cơm áo gạo tiền thời mở cửa. Khi nền kinh tế thị trường ùa vào từng ngõ hẻm Sài Gòn, giá đất tăng vọt từng ngày, những kẻ đầu cơ rình rập khắp nơi sẵn sàng nuốt chửng những không gian văn hóa nhỏ nhoi, thì một người thợ như Dũng đã chọn cách thỏa hiệp vụng về, suýt chút nữa biến sự nhút nhát của mình thành một thảm kịch đẫm máu.
Vĩnh đứng bên cạnh, nét giận dữ trên gương mặt anh dần dần chùng xuống, thay vào đó là một tiếng thở dài thấu hiểu. Là một người con miền Tây tha hương lên thành phố trọ học, anh hiểu quá rõ cái cảm giác nghẹt thở khi phải gồng gánh kỳ vọng của gia đình và nỗi sợ hãi khi tài sản duy nhất của cha ông có nguy cơ rơi vào tay kẻ khác. Cái nghèo và nỗi sợ hãi thường khiến con người ta đưa ra những quyết định mù quáng, nhưng ít ra, tận sâu trong đáy lòng người thợ điện này vẫn còn sót lại một chút lòng trắc ẩn đối với tiệm sách.
Tuệ Anh im lặng nhìn Dũng một lúc lâu. Trong thâm tâm cô, sự phẫn nộ ban đầu đã nhường chỗ cho sự tỉnh táo của lý trí. Cô hiểu rằng nếu lúc này cô làm ầm ĩ lên, bắt đền Dũng một cách gay gắt hoặc tố cáo chuyện này với bà Tư Lành, thì kết cục duy nhất xảy ra là bà Tư sẽ mượn cớ đó để bán nhà, và tiệm Mộc sẽ vĩnh viễn mất đi mặt bằng trước khi kịp tái bản cuốn sách của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa. Một cuộc đôi co hả giận sẽ chẳng mang lại điều gì ngoài sự đổ vỡ hoàn toàn cho cả hai phía.
“Anh Dũng,” Tuệ Anh bước lại gần, cúi xuống nhặt chiếc kìm bấm và cuộn băng keo điện rơi dưới đất đưa lại tận tay anh. “Tôi hiểu hoàn cảnh của anh. Nhưng anh phải nhớ kỹ một điều: lòng tốt mà xây dựng trên sự dối trá và cẩu thả thì luôn mang lại hậu quả tàn khốc hơn cả sự độc ác. Đêm qua chúng tôi may mắn thoát nạn, nhưng mạng sống con người và chữ nghĩa của tiệm sách này không thể dựa vào sự may mắn thêm một lần nào nữa.”
Dũng ngơ ngác đón lấy chiếc kìm, hai mắt rưng rưng nhìn cô: “Cô Tuệ Anh… cô… cô không đuổi tôi đi sao? Cô không tính báo với má tôi sao?”
“Tôi không làm ầm ĩ chuyện này để đẩy anh và gia đình vào chân tường,” Tuệ Anh dứt khoát nói, ánh mắt cô kiên định và bao dung. “Nhưng chúng ta phải giải quyết triệt để mối nguy hiểm này ngay hôm nay. Tiệm Mộc không thể hoạt động dưới một mái nhà có thể đổ sập hay bốc cháy bất cứ lúc nào. Nếu muốn giữ căn nhà này cho tía anh, và muốn giữ tiệm Mộc cho bà con lối xóm, anh phải sửa chữa nó bằng cái tâm của một người thợ chân chính.”
Dũng quệt vội nước mắt, lập tức đứng bật dậy, giọng nói tràn đầy sự quả quyết lẫn lòng biết ơn sâu sắc: “Tôi hiểu rồi! Cô Tuệ Anh, Vĩnh… tôi xin cam kết! Toàn bộ số tôn kho sau, tôi sẽ tự bỏ tiền túi ra đại lý sắt thép ngoài đường Ba Tháng Hai mua tôn kẽm sóng vuông loại dày nhất, loại không gỉ sét. Toàn bộ xà gồ gỗ mục, tôi sẽ thay bằng thép hộp mạ kẽm. Còn hệ thống dây điện, tôi sẽ tự tay đục tường, thay bằng dây đồng bọc đôi Cadivi mới một trăm phần trăm, luồn toàn bộ trong ống ghen chống cháy đạt chuẩn an toàn của sở điện lực! Tiền vật tư này, tôi tự chịu hết, không lấy của tiệm Mộc một cắc, cũng tuyệt đối không tính vô tiền nhà của má tôi! Tôi sẽ làm từ trưa nay tới sáng mai, chừng nào an toàn tuyệt đối tôi mới nghỉ!”
“Em sẽ phụ anh một tay,” Vĩnh bước tới, vỗ nhẹ lên vai Dũng, ánh mắt đã lấy lại sự tin cậy của một người đồng nghiệp. “Em có bản vẽ tính toán độ dốc thoát nước của mái tôn và cách đi giằng chữ X chịu lực cho hệ đà kiềng. Hai anh em mình cùng làm thì chỉ mất một ngày một đêm là xong xuôi, vừa an toàn cho tiệm mà bác Tư nhìn vào cũng không thể bắt bẻ được.”
Dũng nhìn Vĩnh, rồi nhìn sang Tuệ Anh, nghẹn ngào gật đầu lia lịa: “Cảm ơn… cảm ơn hai người nhiều lắm… Tôi đội ơn mọi người đã không dồn tôi vô đường cùng…”
Họ không hề hay biết rằng, ngay từ lúc Dũng hạ chiếc thang nhôm xuống trước hiên tiệm Mộc, một bóng người gầy guộc trong chiếc áo bà ba lụa màu tro đã lặng lẽ đứng nép sau tấm liếp cửa gỗ kéo hờ của tiệm tạp hóa đối diện.
Bà Tư Lành đứng đó, tay cầm chiếc nón lá rách vành che nghiêng nửa mặt, đôi mắt sắc lẹm thường ngày giờ đây đờ đẫn đi vì kinh ngạc.
Bà đã nghe thấy hết. Từng lời đối chất sắc bén, đanh thép nhưng chuẩn xác của Tuệ Anh; từng câu chữ thú nhận tội lỗi trong nước mắt của đứa con trai duy nhất mà bà luôn ngỡ là ngoan ngoãn, an phận; và cả âm mưu chèo kéo mua nhà của gã môi giới đi xe Dream II mà con trai bà đã âm thầm cắn răng chịu đựng để bảo vệ mảnh đất của dòng họ.
Bà Tư Lành nắm chặt vành nón lá, những khớp ngón tay gầy guộc run rẩy. Suốt bao nhiêu năm góa bụa, một mình buôn bán tảo tần nuôi con khôn lớn giữa đất Sài Gòn xô bồ, bà đã trui rèn cho mình một lớp vỏ bọc cay nghiệt, nghi kỵ và tính toán chi li từng hào cắc để không ai có thể lừa gạt hay ức hiếp được mẹ con bà. Bà cứ ngỡ Tuệ Anh sẽ như bao người thuê nhà khác khi gặp sự cố: gào thét ăn vạ, đòi bồi thường thiệt hại sách vở, thậm chí chửi rủa mẹ con bà là quân lừa đảo vô lương tâm. Thế nhưng, cô chủ trẻ ấy không hề buông một lời thóa mạ. Cô vạch trần sai phạm bằng lý lẽ đàng hoàng, rồi lại chọn cách chìa tay ra gánh vác, cùng tìm giải pháp cứu lấy sự an toàn cho căn nhà thay vì biến nó thành một cuộc chiến tương tàn.
Một cảm giác bùi ngùi, xót xa xen lẫn sự hổ thẹn dâng lên nghẹn ứ nơi lồng ngực người đàn bà góa bụa khó tính. Cái nhìn khắt khe, đầy nghi kỵ mà bà dành cho Tuệ Anh suốt những tuần qua dường như đã nứt ra một mảng lớn, mềm lại trước sự tử tế và bản lĩnh vững vàng của cô gái trẻ. Hóa ra, những kẻ nói lời ngon ngọt hứa hẹn tiền rừng bạc biển như gã Ba môi giới mới là phường lang sói rắp tâm cướp đi căn nhà kỷ niệm của chồng bà, còn những người làm chữ nghĩa nghèo khó này lại đang liều mình che chở cho từng tấc đất, từng viên gạch của gia đình bà.
Bà Tư Lành hít một hơi sâu, chỉnh lại chiếc nón lá, chậm rãi bước qua vũng nước mưa đọng giữa hẻm, tiến thẳng vào cửa tiệm Mộc.
Tiếng dép nhựa lẹt xẹt trên thềm cửa khiến mọi người giật mình quay lại.
“Má…” Dũng thảng thốt kêu lên, mặt mày cắt không còn giọt máu, lùi lại nửa bước như một đứa trẻ phạm tội bị bắt quả tang. Chiếc kìm trên tay anh lại run lên bần bật.
Bà Tư Lành không nhìn con trai. Bà bước vào giữa gian phòng sực mùi bùn và giấy ướt, ánh mắt đảo qua những chồng sách được kẹp giấy thấm ngay ngắn, nhìn những xô nước đục ngầu mà chị Thu Cúc và bé Hạnh đang còng lưng dọn dẹp. Đôi mắt già nua lướt qua những tập morasse phơi trên dây kẽm, nhìn bức tường nứt nẻ và mùi khét lẹt còn vương nơi góc kho. Cuối cùng, ánh mắt bà dừng lại trên gương mặt mệt mỏi nhưng kiên nghị của Tuệ Anh.
Cả căn phòng im phăng phắc. Tiếng quạt máy cóc dường như cũng nhỏ lại. Chị Cúc nín thở nắm chặt lấy tay con gái, lo sợ một trận lôi đình quen thuộc của bà chủ nhà khét tiếng sẽ nổ ra nhấn chìm tất cả. Ai trong xóm này cũng biết tính bà Tư: một khi bà đã nổi giận thì trời long đất lở, đến cán bộ phường cũng phải e dè ba phần.
Nhưng bà Tư Lành chỉ im lặng hồi lâu. Khóe miệng nghiêm nghị của bà khẽ giật giật, rồi bà quay sang nhìn Dũng, buông một câu cộc lốc bằng cái giọng khàn khàn đặc trưng: “Mày làm bậy thì mày phải dọn cho sạch. Chút nữa tao về mở tủ lấy cho mày một triệu bạc tiền mặt đặng đi mua tôn với sắt hộp loại tốt nhất. Đừng có mua đồ phế liệu rẻ tiền nữa, nghe chưa thằng kia?”
Dũng trố tròn mắt, không tin vào tai mình: “Má… má cho con mượn tiền thiệt hả má?”
“Tao cho mày mượn chớ không có cho không!” Bà Tư gắt nhẹ một tiếng để giấu đi sự xúc động đang chực trào, rồi quay ngoắt sang nhìn Tuệ Anh.
Ánh mắt bà nhìn cô chủ tiệm sách đã không còn vẻ lạnh lùng, dò xét như những ngày trước, mà ẩn chứa một sự nể trọng kín đáo: “Còn cô Tuệ Anh… Cái chuyện tiền nhà nợ cũ một triệu tám trăm ngàn tới hạn trưa nay…”
Tuệ Anh khẽ siết chặt cuốn sổ tay trong ngực, chuẩn bị tinh thần đón nhận một lời nhắc nhở sòng phẳng. Nhưng những lời tiếp theo của bà Tư Lành lại khiến cô hoàn toàn sững sờ.
“Cứ lo dọn dẹp cho xong xuôi bùn sình, sửa sang lại cái kho cho an toàn đàng hoàng đi rồi tính sau,” bà Tư nói chậm rãi, giọng điệu vẫn bằng phẳng nhưng đã vơi đi chín phần gay gắt. “Tao hổng phải quân cướp ngày mà đi đòi tiền lúc người ta đang ngập ngụa trong hoạn nạn. Lo cứu lấy mấy cuốn sách của dì Lan cô trước đi.”
Nói dứt lời, không đợi Tuệ Anh kịp lên tiếng cảm ơn, bà Tư Lành quay lưng rảo bước ra cửa, chiếc nón lá che khuất gương mặt đang thoáng đỏ lên vì ngượng ngùng của người đàn bà cả đời chưa từng quen nói lời mềm mỏng. Tiếng dép nhựa lẹt xẹt khuất dần nơi đầu ngõ, để lại sau lưng một luồng sinh khí nhẹ nhõm đến ngỡ ngàng.
“Trời phật ngó xuống mà coi… bà Tư Lành bữa nay đổi tính thiệt rồi…” Chị Thu Cúc buông một tiếng thở phào nhẹ nhõm, đưa tay quẹt giọt nước mắt lăn trên gò má sạm đen vì nắng gió. “Tui sống ở cái xóm này mười mấy năm trời, lần đầu tiên mới thấy bả nói chuyện có tình có nghĩa như vậy đó cô Tuệ Anh!”
Vĩnh và Tuệ Anh nhìn nhau, một nụ cười ấm áp hiếm hoi sau đêm dông bão bừng nở trên môi cả hai người. Gánh nặng nghìn cân về thời hạn nộp tiền nhà trưa Chủ nhật tạm thời được dỡ bỏ, mở ra một khoảng không gian quý báu để họ tập trung toàn lực vào việc dọn dẹp và chuẩn bị cho khoản cọc in sách sống còn ở xưởng An Thành.
“Thôi, bắt tay vô việc thôi mọi người!” Dũng hào hứng xách thang lên, tinh thần như được tái sinh. Anh quệt ngang mồ hôi trán, ánh mắt sáng rực sự quyết tâm: “Tôi đi đo đạc lại toàn bộ khung xà gồ liền đây! Vĩnh, lấy giùm anh cây thước dây với cuốn sổ ghi kích thước, trưa nay anh em mình ra tiệm sắt kéo vật tư về liền!”
“Có ngay đây anh Dũng!” Vĩnh vui vẻ rút cây thước cuộn bằng thép bên hông túi quần, thoăn thoắt trèo lên chân thang phụ giữ thăng bằng cho người thợ điện.
Mọi người lại tiếp tục công việc dọn dẹp với một sinh khí hoàn toàn mới. Tiếng chổi quét rào rạt, tiếng nước dội sủi bọt xà phòng trên nền gạch và tiếng quạt gió quay đều xua tan đi cái ảm đạm của buổi sáng hậu thiên tai. Mặt trời đã bắt đầu nhô cao sau rặng mây xám, rọi những vệt nắng ấm áp đầu tiên qua khe cửa cuốn, dát một màu vàng tươi lên những trang sách đang dần hồi sinh.
Gần trưa, khi gian tiệm phía trước đã được cạo sạch lớp bùn non, để lộ ra những bông hoa văn rực rỡ của nền gạch bông cũ, Tuệ Anh cùng bé Hạnh và chị Cúc chuyển vào dọn dẹp khu vực ngóc ngách của kho sau.
Nơi đây ẩm thấp và tối tăm hơn nhiều. Không khí vẫn còn vương mùi ẩm mốc nồng nặc của vách tường ngấm nước và mùi khét của mảng điện chập. Chiếc tủ gỗ sồi ba buồng nặng trịch của dì Mộc Lan kê sát bức tường góc trong cùng là nơi tích tụ nhiều rác rưởi và phù sa nhất do dòng nước xoáy đêm qua dồn về. Chiếc tủ này vốn là vật gia bảo mà dì Lan trân quý nhất, được đóng bằng gỗ sồi Nga nguyên khối từ những năm bảy mươi, nặng đến mức bốn thanh niên lực lưỡng mới nhấc nổi một đầu. Vì quá nặng nên khi nước tràn vào tiệm đêm qua, mọi người chỉ kịp kê kích phần chân trước lên gạch thẻ, còn phần đáy phía sau vẫn nằm sát mặt sàn.
“Chị Tuệ Anh ơi, ở dưới kẽ chân tủ này có đống rác bết dữ lắm nè, chổi quét hổng có lọt vô được!” Bé Hạnh ngồi thụp xuống đất, tay cầm chiếc đèn pin con cóc rọi vào khoảng hẹp tối om chỉ rộng chừng một gang tay giữa đáy tủ sồi và chân tường gạch. Ánh đèn vàng vọt lướt qua những búi mạng nhện đóng cặn phù sa và những mẩu gỗ mục rữa trôi dạt vào từ kẽ hở vách ngăn.
“Để đó cho má, con thò tay vô trúng miểng chai hay đinh rỉ là uốn ván chết đó con!” Chị Cúc vội la lên, tay cầm chiếc xẻng sắt toan bước lại gần.
“Hổng có miểng chai đâu má, con thấy có cái bọc nhựa gì dầy cui kẹt cứng ngắc ở trỏng nè!”
Bé Hạnh nhanh nhẹn nằm rạp người xuống nền gạch còn ẩm ướt, đôi tay nhỏ nhắn thò sâu vào khe hẹp đen ngòm dưới đáy tủ. Các ngón tay em lần mò qua lớp bùn nhão nhoét, bám chặt vào một vật thể cứng và dẹt đang bị chèn chặt giữa chân đế gỗ sồi và thanh nẹp chân tường mục nát. Nước lũ đêm qua đã làm bong tróc lớp ván gỗ ép chắn bụi ở đáy tủ, vô tình đẩy vật này trượt ra mé ngoài một đoạn.
“Dô… một, hai, ba… ra rồi!”
Hạnh reo lên một tiếng đầy đắc thắng, cả người em lùi ngoằn ngoèo ra ngoài. Trên đôi bàn tay lấm lem bùn đất của cô bé là một chiếc cặp đựng tài liệu bằng vải bạt tráng nhựa màu xanh rêu đã cũ kỹ, các góc nẹp bằng đồng đã lên ten xanh, mép khóa kéo bị kẹt cứng bởi một lớp phù sa non quánh đặc.
“Cái gì vậy con?” Chị Cúc ngạc nhiên hỏi, tay chống xẻng nhìn đứa con gái đầu tóc rối bù.
“Con hổng biết nữa, nó nằm sâu hoắm dưới chân tủ của dì Lan á má!” Bé Hạnh cẩn thận ôm chiếc cặp tài liệu ướt sượt đứng dậy, chạy lon ton lại đưa tận tay cho Tuệ Anh: “Chị Tuệ Anh coi nè! Nước bão nó cuốn trôi lớp ván mục dưới gầm tủ nên nó mới lòi ra đó chị!”
Tuệ Anh đỡ lấy chiếc cặp vải bạt tráng nhựa. Tim cô bỗng đập thịch một tiếng mạnh mẽ trong lồng ngực. Một cảm giác quen thuộc đến rợn ngợp dâng lên. Đây chính là chiếc cặp mà rạng sáng nay Vĩnh đã thoáng nhìn thấy mép vải của nó lộ ra khi nước rút! Khi ấy, giữa cơn hoảng loạn cứu sách và ngăn chặn chập điện, họ đã không thể kéo nó ra vì bị kẹt dưới chân tủ nặng hàng trăm ký.
Cô vội vã lấy một chiếc khăn vải khô lau sạch lớp bùn đất bên ngoài vỏ bạt. Lớp nhựa tráng tuy đã cũ, nhiều chỗ rạn chân chim nhưng vẫn giữ được độ chống thấm tương đối tốt, bảo vệ phần nào những thứ bên trong khỏi dòng nước lụt hung hãn. Tuệ Anh cẩn thận dùng đầu mũi kéo nạy nhẹ con trượt của chiếc khóa kéo bằng đồng đã bị gỉ sét ăn mòn.
*Xoẹt…*
Chiếc khóa kéo bung ra, phát ra một mùi thơm hăng hắc của long não cổ quyện với mùi ẩm của giấy lâu năm. Bên trong là một xấp giấy tờ dày cộp được bọc thêm một lớp giấy dầu bên ngoài. Lớp giấy dầu chống ẩm vàng óng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ: những trang giấy tuy có bị ẩm nhẹ ở bốn góc mép do ngâm nước nhiều giờ, nhưng phần chữ viết bên trong vẫn còn nguyên vẹn, sắc nét đến từng đường nét mực cửu long.
Tuệ Anh kéo xấp tài liệu ra đặt lên mặt bàn làm việc khô ráo. Tay cô khẽ run lên khi lật giở từng trang.
Đó không phải là bản thảo văn chương dang dở hay những bức thư tình cũ kỹ của dì Mộc Lan như cô từng dự đoán trong những đêm ngồi canh tiệm một mình. Ngay trên trang bìa của tập tài liệu là những bản kê danh sách khách hàng đặt sách của tiệm Mộc từ đầu năm 1996, kèm theo các hóa đơn đối chiếu công nợ của các nhà xuất bản lớn trong thành phố: từ Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản Văn Nghệ cho đến các xưởng in tư nhân uy tín ở khu vực Chợ Lớn.
Thế nhưng, khi lật mở những trang giấy ẩm ướt tiếp theo, ánh mắt Tuệ Anh đột ngột đông cứng lại. Hơi thở cô nghẹn lại nơi cuống họng, hai bàn tay vô thức siết chặt mép bàn gỗ đến mức đầu ngón tay trắng bệch.
Trên những trang danh sách khách hàng thân thiết đặt mua những bộ sách chuyên khảo giá trị cao, những pho tiểu thuyết quý hiếm và toàn bộ danh mục truyện tranh thiếu nhi ăn khách nhất của tiệm Mộc… xuất hiện chi chít những dấu tích bằng bút bi đỏ gạch chéo một cách cố ý.
Từng cái tên quen thuộc hiện lên rõ mồn một: Giáo sư Lâm bên Đại học Tổng hợp đặt mua trọn bộ *Đại Việt Sử Ký Toàn Thư*; bác sĩ Vĩnh Khang bên Chợ Rẫy đặt mua toàn bộ tuyển tập dịch thuật y văn Pháp; các trường tiểu học tư thục đặt mua hàng trăm cuốn truyện tranh danh nhân… Tất cả đều bị đánh dấu gạch chéo màu đỏ đậm, kèm theo lý do ghi vắn tắt bên cạnh: *“Báo hết hàng”*, *“Nguồn cung đứt gãy”*, *“Khách hủy đơn do chậm giao”*.
Nhưng sự thật không phải vậy. Tuệ Anh nhớ như in những ngày đầu năm, dì Lan đã khóc ròng rã vì các đối tác lớn bỗng dưng đồng loạt cắt đứt liên lạc, các đơn hàng đặt trước bị hủy bỏ không một lời giải thích thỏa đáng, đẩy tiệm Mộc vào cảnh nợ nần chồng chất và suýt phải đóng cửa.
Và ngay bên lề của từng mục sách bị hủy đơn một cách bất thường, bên cạnh những con dấu điều phối nguồn hàng quen thuộc, là nét chữ ký nháy sắc nhọn, nguệch ngoạc cùng dòng ghi chú viết tay bằng mực đỏ rành rành:
*“Đã chuyển tiếp nguồn đơn và chặn cung ứng từ đầu nguồn. Bàn giao danh sách cho L.B.K. khai thác độc quyền.”*
Dưới góc cuối cùng của trang giấy còn đóng một con dấu mộc vuông màu xanh lè đã nhòe mép của Phòng Quản lý Nguồn hàng thuộc Nhà sách Minh Châu.
Lật mở tập tài liệu dính bùn mà Hạnh đưa, Tuệ Anh sững người khi thấy danh sách các khách đặt sách của Mộc bị ai đó cố tình đánh dấu và chuyển giao cho Lê Bá Khôi.