Đêm Nước Tràn Kho Cũ
Tiếng tôn đập rầm rập trên nóc nhà đột ngột bị giật phắt bởi một luồng gió xoáy cực mạnh từ hướng tây nam thốc tới, kéo theo tiếng nước tuôn xối xả như thể ai đó vừa lật úp cả một bể nước khổng lồ xuống ngay trên trần gác lửng.
Tuệ Anh bật choàng dậy khỏi chiếc phản gỗ hẹp. Lồng ngực cô thắt lại, trái tim đập dồn dập từng hồi loạn xạ như muốn nhảy khỏi cuống họng. Cả gian gác ngột ngạt đến nghẹt thở, nồng nặc mùi ẩm mốc kinh niên của những thớ ván ép cũ kỹ mục ruỗng, quyện đặc với cái mùi tanh lợm, khăm khẳm của bùn đáy cống rãnh đang bốc ngược lên từ dưới lòng đường qua từng kẽ sàn. Bên ngoài, trời đất đen kịt như một hũ mực tàu bị đánh đổ, gầm thét không ngơi nghỉ. Gió rít từng cơn dài qua những khe liếp nứa và vách ván ép, âm thanh nghe sắc lạnh, rợn người tựa tiếng còi tàu hụ dài xé toạc màn đêm đông buốt giá. Cứ mỗi đợt gió giật, khung cửa sổ chớp gỗ đã mọt rỗng của gian gác lại rung lên bần bật, từng mảng sơn xanh bong tróc rơi lả tả xuống mặt chiếu cói.
Một ánh chớp xanh lè, chói gắt bất thần chém ngang bầu trời qua ô thông gió sát trần, soi rõ một vệt nước ngoằn ngoèo đang rỉ nhanh từ xà gồ mái tôn, men theo thân cột gỗ rồi chảy ròng ròng xuống nền gác lửng. Chưa kịp định thần để lau vệt nước mưa vừa tạt ướt đẫm một bên gối, hai tai Tuệ Anh đã bị bủa vây bởi một thứ âm thanh ùng ục, lép bép ghê rợn vọng lên từ khoảng tối dưới tầng trệt. Đó không phải tiếng mưa rơi trên mái. Đó là âm thanh của nước tù đọng đang bị dồn ứ, sôi sục đội nắp cống ngoi lên.
Cô vơ vội cây đèn pin vỏ sắt Liên Xô nặng trịch đặt nơi đầu giường, gạt mạnh chốt công tắc đã rỉ sét rồi trượt vội xuống những bậc cầu thang gỗ dốc đứng. Vừa đặt chân xuống bậc thang cuối cùng, Tuệ Anh thảng thốt rụt phắt chân lại, một tiếng kêu nghẹn ứ nơi cuống họng.
Một làn nước lạnh buốt, nhớp nháp và nhờn ngậy đã dâng lên ngập qua mắt cá chân cô tự lúc nào. Ánh đèn pin vàng vọt quét một vệt run rẩy qua mặt sàn: dòng nước đen ngòm, sủi bọt trắng xóa đang cuồn cuộn trào ngược lên từ miệng cống thoát nước ở góc sàn sau. Nước cuốn theo rác rưởi trôi lềnh bềnh, những mảnh xốp vỡ vụn, túi ni-lông bết bùn và những vệt váng dầu mỡ lấp loáng ánh xà cừ ma quái dưới quầng sáng le lói.
Triều cường sông Sài Gòn đã đạt đỉnh kết hợp với trận bão đêm cuối mùa hung hãn. Nước từ con rãnh thoát nước đường Trần Nhân Tôn không kịp tiêu thoát ra các kênh rạch lớn, đã tràn ứ qua bậc tam cấp cao ngất, rồi hung hãn nuốt chửng toàn bộ diện tích sàn gạch bông cũ kỹ hình hoa văn chữ thập của tiệm Mộc. Nước dâng lên theo từng nhịp thở, từng thớ gạch men rêu phong chìm dần vào làn nước đục ngầu phù sa và xú uế.
“Trời ơi…” Tuệ Anh thốt lên một tiếng nghẹn ngào, hai bờ môi khô khốc run rẩy bần bật.
Một tiếng *xoảng* rợn người kèm theo tiếng kim loại xé toạc vang lên đinh tai nhức óc từ phía kho sau, át hẳn tiếng mưa dập dồn. Gió bão ngoài trời đã bứt tung một mảng đinh vít han gỉ bám vào rui mè mục ải, giật phăng một góc mái tôn lợp gian phụ phía sau tiệm. Cơn gió lốc ngoài trời như chỉ chờ có thế, thốc ngược hung hãn vào bên trong, quất tung tấm bạt nhựa che tạm bợ mà ông giáo Trịnh đã cẩn thận chằng néo bằng mấy sợi dây thừng hồi chiều muộn. Nước mưa trên trời như tìm được lối mở không đáy, trút thẳng từng dòng trắng xóa như một con thác dữ dội đổ ập xuống cụm kệ gỗ lưu trữ bên dưới — nơi đang xếp hàng trăm cuốn sách văn học, tạp chí định kỳ và các tập san nghiên cứu quý giá chưa kịp bọc màng kiếng bảo quản.
Mùi giấy ướt sũng rã mục, mùi mực in lem luốc tan rữa trong nước lạnh và mùi bùn cống hôi tanh hòa lẫn vào nhau trong một khoảnh khắc tàn nhẫn, xộc thẳng vào cánh mũi, tạo thành một thứ mùi tanh nồng xé ruột xé gan đối với một người trót mang cái nghiệp giữ chữ. Tuệ Anh không kịp suy nghĩ, cô lao băng qua làn nước ngập lúc này đã dâng lên chạm bắp chân, bỏ mặc cái lạnh buốt thấu xương đang cắn vào da thịt. Hai bàn tay trần run rẩy bấu chặt lấy thành kệ gỗ đang rung lắc dữ dội dưới sức nặng của nước, cô cố gắng gập cong người lại, dùng chính tấm lưng và bờ vai mảnh khảnh của mình để làm tấm lá chắn che chở cho những chồng sách đang oằn mình run rẩy dưới làn mưa xối. Nước mưa tạt rát rạt vào mặt, chảy tràn vào hốc mắt cay xè buốt giá. Cô quáng quàng lấy hai bàn tay trần gạt nước trên từng gáy sách, nhưng nước đổ xuống quá nhanh, quá tàn bạo. Từng tập sách dày bắt đầu sũng nước, nặng trĩu dần và mềm nhũn ra như những tảng bùn non dưới tay cô.
“Tuệ Anh! Tuệ Anh ơi!”
Tiếng đập cửa sắt ầm ầm hòa lẫn trong tiếng sấm rền vang rách toang màn đêm ngoài mặt tiền căn nhà. Tuệ Anh giật mình quay phắt lại, mắt hoa đi vì nước và bóng tối. Qua những khe hở của liếp gỗ cửa cuốn bên ngoài, từng vệt ánh sáng đèn pin chao đảo điên cuồng rọi vào, xé rách không gian hỗn độn từng mảng sáng hối hả.
“Vĩnh! Tôi ở trong này! Cứu sách với!” Cô hét lên bằng tất cả sức tàn trong lồng ngực, giọng lạc đi giữa tiếng mưa gầm và tiếng nước réo ùng ục dưới chân.
Thanh then sắt nặng trịch bên ngoài được giật mạnh kêu loảng xoảng, tiếng kim loại cọ vào nhau rát buốt. Cánh cửa cuốn bằng tôn cũ được gồng sức kéo giật lên một nửa, kẹt lại kêu một tiếng *két* chói tai. Khoảng trống bên dưới để lộ bóng dáng Vĩnh ướt sũng từ đầu đến chân, chiếc áo sơ mi màu cỏ úa bạc màu dính chặt vào lồng ngực gầy guộc đang phập phồng thở dốc. Bùn non bám đầy hai bắp chân trần của anh. Theo sát ngay sau lưng anh là chị Thu Cúc trong bộ đồ bộ hoa nhăn nhúm ướt đẫm bùn đất sình lầy, bé Hạnh trùm kín một góc bao tải dứa rách trên đầu chỉ chừa lại đôi mắt tròn xoe kinh hãi, cùng ba cậu sinh viên kiến trúc trọ ở đầu hẻm — Tuấn, Nam và Khang. Người thì vác theo xô nhựa gom vội, người ôm cuộn bạt sọc dứa dày cộm, người vác những thanh nẹp gỗ thông và xẻng sắt to bản.
“Nước ngoài đường ngập ngang đùi rồi! Cống Ba Đình vỡ bờ kè, tràn hết vào hẻm rồi!” Vĩnh hét lớn át tiếng sấm, lao ngay vào dòng nước đen ngòm trong tiệm, hai chân rẽ nước bì bõm làm sóng nước dập dềnh xô vào vách tường. “Tuấn, Nam, vác bạt với thang tre ra kho sau! Khang, phụ chị Cúc đắp bờ ngăn cửa chính! Nhanh lên, nước ngoài lộ đang dâng theo từng đợt sóng xe chạy ngoài đường cái!”
Sự xuất hiện đột ngột của họ tựa như một luồng điện cực mạnh giáng thẳng vào cơn tê dại đang bóp nghẹt tâm trí Tuệ Anh. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, cô không còn tâm trí để tự hỏi bằng cách nào, giữa một đêm bão bùng ngập lụt kinh hoàng như tận thế thế này, họ lại có thể tề tựu đông đủ và kịp thời đến thế. Nhìn thấy ánh mắt rực lửa kiên định của Vĩnh và đôi bàn tay gân guốc thoăn thoắt của chị Thu Cúc đang thoăn thoắt dọn vật cản, một luồng sinh khí mạnh mẽ bất ngờ bùng lên trong huyết quản cô, xua tan nỗi tuyệt vọng đang đóng băng nơi đáy tim.
“Sách quý ở gian giữa và góc kho sau!” Tuệ Anh giơ cao cây đèn pin vỏ sắt, chỉ thẳng về phía bóng tối sâu thẳm trong tiệm, giọng cô đanh lại, mạch lạc và đầy dứt khoát như một mệnh lệnh nơi trận tiền. “Ưu tiên số một: toàn bộ bản thảo và tài liệu gốc chuyển hết lên gác lửng! Ưu tiên số hai: di tản các kệ sách văn học tiền chiến và sách khảo cứu lên tầng ba của giá pallet! Kệ truyện thiếu nhi và tạp chí cũ chuyển hết lên quầy bar và mặt bàn đọc sách! Tuyệt đối không để một trang nào chạm nước!”
“Nghe rõ!” Ba cậu sinh viên kiến trúc đồng thanh đáp, không một chút ngần ngại hay ghê tởm, lập tức lội sâu vào dòng nước hôi hám, chia nhau xông về các góc tiệm như những người lính xung trận.
Chị Thu Cúc vừa thoăn thoắt xắn ống quần bộ đồ hoa lên quá đầu gối, vừa quay sang giục giã con gái bằng chất giọng the thé quen thuộc: “Hạnh! Mày chạy lẹ lại góc hiên bốc mấy bao cát hôm bữa thợ trát tường còn để lại đằng kia! Lấy thêm mấy cái bao dứa xúc bùn đất chèn chân cửa cuốn, lẹ lên con, chậm là nước nó cuốn trôi hết sách vở của cô Tuệ Anh bây giờ!”
Bé Hạnh đưa cánh tay gầy quẳng phắt góc bao dứa che mưa, quệt ngang dòng nước mưa đang chảy ròng ròng trên mặt. Hàm răng con bé va vào nhau lập cập vì lạnh, nhưng đôi mắt sáng quắc lạ thường: “Dạ, con làm liền! Cô Tuệ Anh đừng sợ, con với má giữ cửa cho, nước không vô thêm được đâu!”
Gian nhà tiệm Mộc trong chớp mắt biến thành một trận địa khẩn cấp, nơi ranh giới giữa sự cứu chuộc và hủy diệt chỉ tính bằng từng giây. Nước cống từ các lỗ thoát sàn tiếp tục ùng ục trào ngược lên dữ dội, dâng lên nhanh đến chóng mặt. Chẳng mấy chốc, làn nước tanh tưởi đã ngập chạm đầu gối Tuệ Anh. Nước lạnh buốt như ngấm thẳng qua da thịt, luồn sâu vào tận tủy xương, khiến từng khớp ngón chân cô tê dại. Thế nhưng mồ hôi trên trán cô vẫn túa ra ròng ròng, chảy dài qua sống mũi rồi hòa cùng làn nước mưa chát mặn trên môi.
Tuệ Anh lội ngược dòng nước xiết, tiến sâu vào góc kho trong cùng. Dưới chân kệ gỗ sát góc tường ẩm mục, hai chiếc thùng các-tông dày bọc ngoài bằng lớp bao ni-lông lớn đang chao đảo, bập bềnh nguy hiểm trên mặt nước ngập. Trái tim cô như thắt lại. Đó chính là nơi lưu giữ những tài liệu tối quan trọng, linh hồn sống còn của tiệm Mộc: xấp bản thảo đánh máy gần bốn trăm trang của tác phẩm *Hồn Đất Phù Sa* do chính tay cụ Huỳnh Tấn Nghĩa trao gửi, tài liệu mà ông giáo Trịnh vừa tỉ mẩn khảo dị xong ba chương đầu tiên; những tập tài liệu cổ về phong thổ Lục tỉnh Nam Kỳ in bằng chữ Nôm trên giấy dó mỏng manh; cùng toàn bộ những tờ giấy in thử nghiệm và các bản vẽ bông morasse mà Ngô Thành An vừa đích thân chuyển từ xưởng in An Thành sang hồi đầu tuần. Nếu hai chiếc thùng giấy này bị làn nước cống đen ngòm nuốt chửng, toàn bộ công sức miệt mài của cả tháng trời qua, toàn bộ di nguyện mà dì Mộc Lan trăn trở trước lúc nhắm mắt, và cả giấc mơ tái bản một ấn phẩm để đời sẽ hoàn toàn tan thành mây khói trong đêm nay.
Làn nước đen ngòm đã mấp mé mép đáy thùng các-tông, lớp băng keo dán vội bắt đầu bong ra từng mảng. Tuệ Anh nghiến chặt răng, bất chấp làn nước bẩn dâng lên sát hông, luồn cả hai cánh tay trần xuống tận đáy thùng ướt sũng. Cô gồng hết sức bình sinh, vận toàn bộ sức nặng cơ thể để nhấc bổng chiếc thùng lên khỏi mặt nước. Chiếc thùng nặng trịch bởi chứa đầy giấy định lượng cao và các bản lưu chữ chì mẫu thử, đè nghiến vào lồng ngực cô khiến hơi thở tắc nghẽn. Dưới chân, dòng nước xiết từ cống cuộn xoáy khiến bước chân Tuệ Anh trượt dài trên lớp rong rêu trơn tuột của nền gạch cũ, cả thân người cô chao đảo nghiêng ngả về phía sau.
“Cẩn thận!”
Một bàn tay thô ráp, chằng chịt gân guốc kịp thời luồn xuống, đỡ trọn lấy phần đáy nặng nề của chiếc thùng các-tông ngay trước khi nó tuột khỏi tay cô. Vĩnh đã đứng sát bên cạnh cô từ lúc nào, hơi thở của anh phả ra nóng rực giữa không gian lạnh buốt. Khuôn mặt người thợ mộc trẻ tái nhợt vì ngâm nước, nhưng ánh mắt anh rực sáng lên một vẻ kiên định phi thường: “Đưa tôi! Để tôi chuyển thùng này lên bậc thang gác lửng cho! Cô với Tuấn lo bọc kiếng cụm sách văn học trước năm 75 ở dãy kệ C đi, nước tạt tới nơi rồi!”
“Không, thùng này phải để đích thân tôi kiểm tra độ ẩm từng tờ một!” Tuệ Anh thở dốc, hai bàn tay vẫn bấu chặt lấy mép thùng các-tông ẩm ướt, lắc đầu kiên quyết, từng thớ cơ trên mặt căng cứng. “Anh cao hơn, mau ra giữ lấy xà gồ mái tôn kho sau giùm tôi! Tấm bạt lật rồi, nước đang xối thẳng vào tủ sách miền Nam kìa!”
Vĩnh nhìn xoáy sâu vào đôi mắt ngập tràn lo âu nhưng kiên quyết đến cùng của cô trong một giây ngắn ngủi. Anh hiểu, sự bướng bỉnh này không phải là cố chấp vô lý, mà là sinh mạng, là máu thịt của một người làm nghề giữ sách đối với từng con chữ. Anh không đôi co thêm, chỉ gật mạnh đầu: “Được! Giữ chặt lấy mép dưới!”
Vĩnh ghé cả bờ vai vạm vỡ đỡ lấy phần lớn trọng lượng của chiếc thùng, dùng thân mình che chắn làn sóng nước đang dập dềnh, dìu Tuệ Anh nhích từng bước qua dòng nước ngập ngang đầu gối. Từng bước chân bì bõm nặng nề tiến dần về phía chân cầu thang, đưa chiếc thùng gỗ giấy an toàn đặt lên bậc thứ ba của gác lửng — nơi mực nước chưa thể liếm tới. Ngay khi đáy thùng vừa chạm vào mặt gỗ khô ráo, hai cánh tay Tuệ Anh run lên bần bật như co giật, các đầu ngón tay trắng bệch, tê dại hoàn toàn vì lạnh và vì sức ép đè nén. Cô chỉ kịp thở hắt ra một hơi run rẩy, nuốt vội ngụm không khí ẩm ướt vào buồng phổi rồi lập tức quay ngoắt trở lại làn nước đen ngòm, tiếp tục lao về phía chiếc thùng thứ hai đang bập bềnh trong góc kho.
Ở phía kho sau, tình thế lúc này đã rơi vào hiểm cảnh ngàn cân treo sợi tóc.
Một tiếng sấm sét rạch đôi màn đêm đen đặc, kéo theo tiếng nổ vang rền như bom dội khiến toàn bộ căn nhà rung chuyển bần bật. Luồng gió xoáy hung tợn thốc mạnh từ khoảng không rách toạc trên mái tôn, làm tấm tôn hở giật nảy lên bần bật, rên rỉ ken két trên những thanh xà gồ gỗ đã mục nát vì mối mọt lâu năm. Nước mưa từ cả khoảng trần dồn về một góc trũng, biến thành một máng xối tự nhiên khổng lồ, trút thẳng một luồng nước trắng xóa như thác đổ xuống cụm sách văn học giai đoạn 1954–1975. Những ấn phẩm vô giá của các nhà xuất bản Lá Bối, Giao Điểm, Nam Sơn nằm trên các tầng kệ giữa đang run rẩy, oằn mình dưới làn mưa bụi mịt mù và những dòng nước xối xả.
“Thang tre đây! Đưa bạt nhựa cho tôi!” Tiếng Vĩnh hét át cả tiếng gió rít điên cuồng.
Anh vần chiếc thang tre ba gióng nặng trịch, dựng nghiêng một góc vững chắc vào cột chịu lực bằng bê tông cốt thép ở gian sau. Vĩnh ngậm chặt chiếc đèn pin kim loại giữa hai hàm răng, ánh sáng vàng quét qua quét lại theo từng nhịp thở dồn dập. Một tay anh vác cuộn bạt nhựa sọc dứa dày cộm trĩu nặng trên vai, tay kia kẹp chặt một bó dây kẽm đã cắt sẵn thành từng đoạn ngắn. Phía dưới chân thang, Nam và Tuấn dầm mình trong làn nước đen ngập ngang đùi, dùng hết sức bình sinh đè nghiến hai chân thang xuống nền gạch trơn tuột để giữ thăng bằng cho người bên trên.
“Anh Vĩnh! Coi chừng xà gồ mục đó, bước cẩn thận!” Nam hét tướng lên, nước mưa xối xả tạt thẳng vào mặt khiến cậu sinh viên trẻ không thể nào mở trọn hai mắt, chỉ biết cắn răng dùng cả thân mình ghì chặt thân tre.
Vĩnh thoăn thoắt leo lên từng gióng thang tre dốc đứng. Mỗi bước chân của anh khiến các đốt tre kêu cọt kẹt rợn người dưới sức nặng cơ thể. Khi đầu anh nhô lên sát mép mái tôn bị tốc, luồng gió lạnh buốt từ ngoài trời tạt bạt mạng vào mặt khiến anh chao đảo, suýt nữa mất đà rơi xuống. Mảnh tôn sắc nhọn bị gió giật phần phật trong đêm, mép tôn gỉ sét bén ngọt như một lưỡi dao khổng lồ chực cứa rách da thịt bất cứ ai chạm vào. Giữa tiếng sấm chớp sáng lòa rạch ngang đầu, Vĩnh nheo mắt nhìn vết rách toang hoác đang phun nước như xối xả trên mái. Anh vung tay tung mạnh cuộn bạt nhựa, dùng cả ngực và trọng lượng của mình đè nghiến mép bạt trùm phủ lên phần tôn bị tốc, rồi nhanh thoăn thoắt luồn từng sợi dây kẽm quanh thanh xà gồ gỗ thông, dùng kìm siết chặt từng nút buộc thép.
Đúng vào khoảnh khắc ấy, một tia chớp chói lòa giáng thẳng xuống trạm biến áp ở đầu đường Trần Nhân Tôn. Tiếng nổ *bụp* khô khốc và chói tai vang lên, toàn bộ hệ thống đèn đường và mạng lưới điện sinh hoạt của khu phố vụt tắt ngấm trong tích tắc. Bóng tối đen đặc quánh như mực lập tức đổ ụp xuống, nuốt chửng toàn bộ không gian tiệm Mộc.
Ánh sáng duy nhất còn le lói trong căn nhà lúc này chỉ là vệt sáng vàng vọt từ cây đèn pin kẹp trên miệng Vĩnh và đốm sáng chập chờn từ cây đèn sắt trên tay Tuệ Anh dưới sàn gạch.
Giữa bóng tối mịt mùng và tiếng mưa rơi rào rạt, một mùi khét lẹt nồng nặc bất chợt xộc thẳng vào cánh mũi Vĩnh — đó không phải là mùi khét của sấm sét xé rách không khí ngoài trời, mà là mùi cháy khét lẹt đặc trưng của lớp vỏ nhựa cách điện ngâm trong nước lũ.
“Đứng im hết!”
Vĩnh hét thất thanh từ trên đỉnh thang tre xuống, tiếng hét lạc đi, xé toạc cả tiếng gió mưa rầm rập: “Có mùi chập điện! Đừng ai nhúc nhích! Giữ nguyên vị trí!”
Tuệ Anh khựng phắt lại giữa dòng nước buốt giá, cả sống lưng cô lạnh toát, lông tơ toàn thân dựng đứng. Dưới ánh đèn pin quét vội của cô, một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra: một đoạn dây điện âm tường thời Pháp thuộc — vốn đã bị bong tróc toàn bộ lớp vữa mục nát sát chân tường góc kho sau — đang thòi ra những tao dây đồng trần trụi, chìm ngập một nửa trong làn nước đen ngòm. Những bọt khí nhỏ li ti đang sôi lục bục sủi lên quanh mép tường gạch ẩm ướt, bốc lên một làn khói mỏng khét lẹt mùi nhựa cháy. Đó chính là nhánh điện cũ nát mà trước đây Quốc Dũng từng cảnh báo gay gắt là cực kỳ nguy hiểm nếu tiệm bị ngập lũ. Dòng điện đang rò rỉ trực tiếp vào khối nước bao quanh họ.
“Cầu dao! Dập cầu dao tổng ngay lập tức!” Tuệ Anh hét lên, tim cô như ngừng đập hoàn toàn trong lồng ngực.
“Để tôi!”
Khang — cậu sinh viên kiến trúc đang đứng gần quầy thu ngân ở gian trước nhất — không màng đến dòng nước bẩn dưới chân, nhanh trí lao vọt tới chiếc hộp cầu dao chống giật bằng nhựa PVC màu trắng mà Quốc Dũng đã tỉ mẩn lắp mới cách đây ít tuần ở khoảng tường khô ráo phía trước. Bằng một cú đập dứt khoát của lòng bàn tay ướt đẫm, chiếc cần gạt rơi xuống cái *cạch* dòn tan.
Mùi khét lẹt lập tức dịu đi. Những bọt khí li ti đang sôi lục bục quanh mép tường ngưng bặt hoàn toàn. Một sự im lặng chết chóc bao trùm trong tích tắc, chỉ còn lại tiếng nước mưa rào rạt trút trên nóc nhà và tiếng thở dốc nghẹn ngào của sáu con người đang đứng chôn chân giữa làn nước lạnh.
Mọi người thở phào một tiếng run rẩy, tưởng chừng như vừa bước hụt một chân qua cửa tử. Trên thang tre, Vĩnh đưa mu bàn tay quệt vệt mồ hôi lạnh toát đang chảy ròng ròng trên trán, bàn tay anh dính đầy gỉ sắt đỏ quạch và bùn đất đen sì. Không chần chừ thêm một giây nào, anh tiếp tục dùng những thanh gỗ thông thừa chèn cứng mép bạt nhựa vào khung xà gồ, vung búa gõ đanh gọn từng chiếc đinh mười phân giữ chặt mép bạt chống gió giật. Dòng thác nước xối xả trên trần lập tức bị chặn đứng, chuyển hướng chảy tràn ra máng xối phía sau nhà, giải cứu hoàn toàn cụm kệ sách văn học miền Nam đang nằm ngay bên dưới lớp bạt dã chiến.
“Xong mái rồi!” Vĩnh tụt nhanh xuống thang tre, chân vừa chạm vào mặt nước đã loạng choạng suýt khuỵu xuống vì kiệt sức, nhưng anh cắn răng gượng đứng vững ngay lập tức. “Tuấn, Nam, vần mấy cái kệ thấp lên ghế đôn ngay! Khang, phụ cô Tuệ Anh lau sách!”
Ở phía trước cửa tiệm, trận chiến cam go với con nước cũng đang diễn ra quyết liệt không kém.
Đường Trần Nhân Tôn lúc này đã hoàn toàn biến thành một con sông đục ngầu phù sa, rác thải và dầu mỡ. Thỉnh thoảng, một chiếc xe tải chở hàng chạy cố qua đêm bão rẽ sóng cuồn cuộn, đánh những đợt sóng nước đen ngòm cao đến nửa mét dội thẳng vào các căn nhà hai bên mặt phố.
“Má ơi, sóng đánh kìa má!” Bé Hạnh hét lên thất thanh, hai bàn tay nhỏ xíu bấu chặt lấy một bao cát nặng gần bằng nửa thân người em.
Chị Thu Cúc một tay ghì chặt mép cánh cửa xếp bằng sắt rỉ sét, một tay dùng chiếc xẻng sắt to bản điên cuồng gạt phăng những mảng rác rưởi, túi ni-lông bẩn thỉu và xác chuột chết trôi lềnh bềnh ngoài lộ đang theo đợt sóng tràn vào. Bé Hạnh lanh lẹ quăng bao cát xuống chèn kín khe hở dưới chân cửa cuốn, rồi thoăn thoắt lèn thêm hai lớp bao tải dứa đã dán chặt bùn đất ướt nhão. Đợt sóng nước ngoài đường ập mạnh vào hàng bao cát kêu *ùm ụp*, bọt nước bẩn bắn tung tóe lên mặt, lên tóc hai mẹ con, nhưng con đê dã chiến bằng bao cát của cô bé mười hai tuổi và người mẹ nghèo đã kiên cường chặn đứng lớp rác rưởi hôi hám, làm giảm đi quá nửa lực sóng hung hãn chực tràn vào lòng tiệm.
“Con giỏi lắm Hạnh!” Chị Thu Cúc thở hổn hển, quệt ngang dòng nước mắt lẫn nước mưa đang chảy ròng ròng trên má, quay đầu nhìn sâu vào bên trong tiệm gào lớn: “Cô Tuệ Anh ơi! Ngoài này tụi tui chặn được con sóng lớn rồi! Mau cứu hết sách bên trong đi, đừng lo phía trước!”
Bên trong, Tuệ Anh cùng ba cậu sinh viên không ngừng tay một phút giây nào. Đôi chân cô ngâm trong làn nước cống lạnh buốt suốt nhiều giờ liền đã bắt đầu tê cóng hoàn toàn, mất hết cảm giác đau đớn, từng bước di chuyển nặng nề như đang đeo những tảng chì ngàn cân. Thế nhưng, mỗi khi nhìn thấy những gáy sách giấy mộc mạc, những dòng chữ in Typo tinh tế trên từng trang sách cũ vẫn còn khô ráo nguyên vẹn, trong lòng cô lại dâng lên một ngọn lửa ấm nóng lạ kỳ, xua tan cái giá lạnh của da thịt.
Từng chồng, từng chồng sách được chuyền tay nhau một cách nhịp nhàng, cẩn trọng như chuyền những báu vật vô giá. Tuấn và Nam chuyển sách từ các kệ thấp lên các tầng kệ pallet cao quá đầu người; Khang dùng những mảnh giẻ khô lau sạch từng giọt nước bắn vương vãi trên các màng kiếng bọc sách; Tuệ Anh đích thân kiểm tra từng cuốn sách cổ, phân loại cẩn thận những cuốn bị ẩm nhẹ mép giấy để xếp riêng vào khu vực hong gió trên các bậc thang gác lửng.
Đến khoảng bốn giờ sáng, cơn cuồng nộ của gió bão ngoài trời bắt đầu có dấu hiệu suy yếu dần. Tiếng gầm rú man dại trên mái tôn chuyển dần thành tiếng mưa rả rích, đều đặn và buồn tẻ.
Vĩnh cùng Nam dùng những chiếc xô nhựa múc từng xô nước cống đọng trong nhà đổ ngược ra rãnh thoát ngoài đường cái để hạ nhanh mực nước. Trong lúc cúi gập người cào lớp bùn đất nhầy nhụa đọng lại ở chân chiếc tủ gỗ sồi ba buồng ở góc kho sau — chiếc tủ tài liệu mà dì Mộc Lan từng dùng để lưu trữ hồ sơ tiệm sách suốt nhiều năm trước khi qua đời — mũi xẻng sắt của Vĩnh bất chợt vấp phải một vật cứng bị kẹt chặt dưới khe hở hẹp giữa đáy tủ và gờ tường gạch mục.
“Ủa, cái gì cấn ở đây nè…” Vĩnh lầm bầm trong miệng, hạ thấp ngọn đèn pin xuống sát mặt lớp bùn non.
Dưới ánh sáng vàng vọt quét ngang, lớp bùn non bị dòng nước xiết xói mòn đã làm lộ ra mép của một chiếc cặp hồ sơ cũ kỹ bằng vải bạt tráng nhựa màu xanh rêu, bốn góc bọc bằng kim loại đã rỉ sét hoen ố theo năm tháng. Chiếc cặp bị kẹt sâu trong khe nứt chân tường, phủ đầy mạng nhện và lớp bùn khô đóng kết từ nhiều năm trước, dường như đã vô tình rơi vào góc chết này từ thời dì Mộc Lan còn khỏe mạnh mà không một ai trong tiệm hay biết.
Tuệ Anh vừa bưng một chồng tạp chí cũ đi ngang qua, thấy Vĩnh đứng sững lại nhìn chăm chú xuống chân tường thì khẽ dừng bước, cất giọng hỏi: “Có chuyện gì vậy Vĩnh? Chân tủ gỗ sồi bị mục hả anh?”
Vĩnh khẽ lắc đầu, đầu ngón tay dính đầy bùn đất của anh lần theo mép vải bạt đã sờn rách: “Không phải… hình như là một cái cặp tài liệu cũ của dì Lan bị rớt kẹt ở đây từ hồi nào rồi. Nước xói lớp bùn trôi đi mới lòi ra một góc. Để nước rút hẳn rồi mình dùng kìm nạy từ từ ra coi sao, chớ giờ bùn rít quá, kéo mạnh sợ rách hết giấy tờ bên trong.”
Tuệ Anh nhìn mép cặp hồ sơ dính bùn đen nằm im lìm dưới góc tường ẩm thấp, một linh cảm mơ hồ, khó tả bỗng thoáng qua trong tâm trí cô. Thế nhưng sự kiệt quệ tột cùng của thể xác lúc này không cho phép trí não cô suy nghĩ quá nhiều. Cô khẽ gật đầu: “Dạ, để sáng mai nước rút cạn rồi tính tiếp. Giờ mình ráng dọn cho xong chỗ nước tù đọng này đã anh.”
Gần năm giờ sáng, ngoài trời mưa đã ngớt hẳn, chỉ còn lại những hạt mưa bụi lất phất bay nghiêng trong làn gió sớm lạnh buốt thấu xương. Mặt nước ngoài đường Trần Nhân Tôn bắt đầu rút đi một cách chậm chạp, để lại một lớp bùn non đen sì, nhầy nhụa và rác rưởi ngổn ngang dạt vào hai bên vỉa hè nham nhở.
Trong tiệm Mộc, mực nước cũng đã hạ dần xuống dưới mắt cá chân, để trần ra nền gạch bông hoa văn cổ loang lổ bùn đất sình lầy và những vệt váng dầu loang lổ trơn trượt.
Mọi người không ai bảo ai, kiệt sức hoàn toàn, ngồi bệt xuống những bậc cầu thang gỗ khô ráo còn lại của căn gác lửng. Quần áo của cả sáu con người đều ướt sũng, bết chặt vào da thịt, lem luốc bùn đất từ đầu đến chân. Mặt mũi ai nấy tái nhợt vì lạnh, đôi môi thâm tím lại, từng hơi thở dốc hắt ra thành những làn khói mỏng manh giữa bầu không khí ẩm ướt, lạnh lẽo của buổi ban mai.
Bé Hạnh ngồi nép trọn vào lòng mẹ, hai bàn chân nhỏ xíu dính đầy bùn đất gác lên chiếc bao tải khô ráo, đôi mắt con bé lim dim vì mệt lả sau nhiều giờ gồng mình phụ giúp người lớn. Chị Thu Cúc khẽ đưa bàn tay chai sần vuốt ve mái tóc ướt bết vào trán của con gái, những ngón tay run run vì ngâm nước quá lâu. Ba cậu sinh viên kiến trúc — Tuấn, Nam và Khang — ngồi tựa lưng vào giàn lan can cầu thang, hai tay buông thõng giữa hai đầu gối, mệt đến mức không còn buồn tháo đôi ủng cao su rách mép đang sũng nước.
Vĩnh ngồi ở bậc thang dưới cùng, ngay bên cạnh Tuệ Anh. Anh im lặng nhìn bờ vai đang khẽ run lên của cô, rồi chậm rãi đưa bàn tay chai sạn quệt nhẹ vệt bùn vương trên gò má cô bằng mu bàn tay run rẩy. Anh khẽ mỉm cười, một nụ cười hiền lành, ấm áp nhưng đượm vẻ mệt mỏi cùng cực: “Cô chủ… kiểm tra lại xem, gia tài chữ nghĩa của tiệm mình còn nguyên vẹn không?”
Tuệ Anh ngước đôi mắt ngấn lệ nhìn quanh toàn bộ gian tiệm.
Cảnh tượng hiện ra trước mắt cô vừa điêu tàn, hoang phế, lại vừa kỳ diệu đến không tưởng. Dưới sàn nhà là cảnh tượng hoang tàn sau một trận đại hồng thủy kinh hoàng: bùn đất nhầy nhụa, rác rưởi đọng lại thành từng vệt, những chiếc xô nhựa nằm lăn lóc ngổn ngang và những tấm giẻ lau ướt sũng bết chặt vào chân cột. Nhưng khi ngước nhìn lên cao — trên các giàn kệ gỗ thông vững chãi do chính tay Vĩnh đóng nẹp chịu lực suốt những tuần qua, trên chiếc quầy bar chữ L, trên mặt bàn đọc sách bằng gỗ sồi và dọc khắp các bậc cầu thang gác lửng — hàng ngàn cuốn sách vẫn nằm ngay ngắn, phẳng phiu và hoàn toàn khô ráo.
Từng cuốn sách được bọc màng kiếng cẩn thận lấp lánh phản chiếu ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn dầu hột vịt vừa được thắp lại. Cụm sách văn học miền Nam giai đoạn trước năm 1975 được che chắn an toàn tuyệt đối dưới tấm bạt sọc dán chặt của Vĩnh. Và đặc biệt, trên chiếc phản gỗ hẹp của căn gác lửng, chiếc hộp thiếc và thùng các-tông đựng toàn bộ bản thảo đánh máy của thiên tiểu thuyết *Hồn Đất Phù Sa*, những tờ giấy in mẫu thử nghiệm sắc nét của xưởng An Thành cùng những trang khảo dị chữ Nôm tỉ mỉ của ông giáo Trịnh vẫn nằm nguyên vẹn, thơm nồng mùi giấy mộc tinh khôi, không hề dính lấy một giọt nước bẩn của dòng lũ.
Một cảm giác nghẹn ngào mãnh liệt từ đáy lòng dâng lên ứ nghẹn nơi cổ họng Tuệ Anh. Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài qua vệt bùn trên má cô, rơi xuống mu bàn tay lạnh ngắt đang run rẩy.
Họ đã làm được. Giữa đêm bão lụt kinh hoàng nhất của Sài Gòn trong suốt nhiều năm qua, một tiệm sách cũ nghèo nàn, ọp ẹp nằm lọt thỏm giữa con hẻm lầy lội đã không bị con nước dữ nhấn chìm. Những con người nhỏ bé, lam lũ nhất của xóm lao động nghèo — một anh thợ mộc trẻ tha hương, một người mẹ đơn thân bán hàng rong, một đứa bé bán vé số dạo và những cậu sinh viên nghèo xa quê — đã cùng nhau thức trắng đêm, đem mồ hôi, sức lực và cả máu thịt của mình ra để bảo bọc, chở che cho từng trang chữ mỏng manh.
“Tất cả còn nguyên…” Tuệ Anh thì thầm, giọng cô nghẹn lại trong tiếng nấc nhưng ánh mắt ngập tràn niềm xúc động vô bờ bến. “Không mất một cuốn nào hết… Cảm ơn mọi người. Cảm ơn anh Vĩnh, cảm ơn chị Cúc, bé Hạnh… cảm ơn các bạn nhiều lắm…”
Chị Thu Cúc cười xòa, tiếng cười xua tan đi sự ngột ngạt đang đè nặng: “Trời đất ơi, ơn nghĩa gì cô Tuệ Anh ơi! Tiệm sách này là chỗ con Hạnh nó tới học chữ, là chỗ mấy đứa nhỏ trong xóm có chỗ nương thân đàng hoàng, sạch sẽ. Tụi tui không xúm vô cứu nó thì cứu ai bây giờ!”
Tuấn vươn vai đánh một tiếng *rắc*, cười hì hì để lộ hàm răng trắng: “Tụi em còn phải giữ chỗ này đặng mốt tới uống cà phê đọc ké sách kiến trúc chớ chị! Mệt rã rời thiệt mà vui quá trời vui luôn!”
Vĩnh không nói thêm lời nào. Anh chỉ lặng lẽ nhìn Tuệ Anh, ánh mắt ấm áp xuyên qua quầng sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hột vịt, như muốn nói với cô rằng dù có bao nhiêu cơn bão dữ dội hơn nữa ập đến con hẻm này, anh vẫn sẽ luôn đứng ở đây, giữ chặt chiếc thang này cho cô.
Tuệ Anh gượng đứng dậy, bước chầm chậm qua những vũng nước đọng ra phía trước cửa tiệm, nơi cánh cửa cuốn vừa được kéo lên một nửa để đón ngọn gió sớm trong lành.
Ánh bình minh màu xám chì bắt đầu ló dạng ở phía chân trời đằng đông, hắt những vệt sáng nhạt nhòa, ảm đạm lên con phố Trần Nhân Tôn đang ngập ngụa rác rưởi, những cành me gãy nằm la liệt và những vũng nước đen sì còn sót lại sau cơn đại hồng thủy. Cả con phố xơ xác, hoang tàn như vừa trải qua một cơn ác mộng dài kinh hoàng.
Tuệ Anh chống hai bàn tay run rẩy lên khung cửa gỗ còn ẩm ướt, nhìn khoảng không gian điêu tàn trước mắt mà lồng ngực bỗng thắt lại thành từng cơn đau nhói buốt.
Cơn bão hung hãn đã tạm thời đi qua, kho sách quý giá đã được bảo toàn một cách kỳ diệu nhờ tình người, thế nhưng hiện thực khốc liệt của đời sống năm 1996 lại lập tức đổ ập xuống đôi vai gầy của cô: Nền nhà ngập đầy bùn non tanh tưởi này sẽ phải mất nhiều ngày trời cọ rửa, tiêu độc và khử trùng; quầy thuê truyện tranh và góc cà phê mưu sinh của tiệm sẽ phải tạm ngưng hoạt động ít nhất ba ngày tới để hong khô toàn bộ cơ sở vật chất. Dòng tiền mặt ít ỏi thu vào hằng ngày của tiệm Mộc sẽ hoàn toàn bị đứt gãy.
Mà tờ lịch treo tường lấm lem bùn đất bên góc cột nhà đang chỉ vào những ngày đầu tiên của tháng Sáu. Kỳ hạn nộp đủ số tiền một triệu năm trăm ngàn đồng tiền cọc giấy cho Ngô Thành An tại xưởng in An Thành — khoản tiền sống còn để giữ lấy ca máy dập thủ công và bộ chữ chì Didot thiêng liêng — đã cận kề ngay trước mắt, trong khi chiếc hộp thiếc Danisa cất giấu dưới đáy tủ vẫn còn thiếu hụt một khoản tiền quá lớn.