Trạm Ánh Sáng EuropaCh.34 / 42
Chapter 34

Mây trong sương mù

Giọng nói của Mây trên kênh điều hành trung tâm đột ngột xuất hiện một độ trễ âm học bất thường, kèm theo bản đồ tải nhiệt hiển thị hai số liệu mâu thuẫn cùng lúc.

Thay cho âm sắc mượt mà, ấm áp vốn được các kỹ sư âm học tinh chỉnh để mô phỏng một giọng nữ trung trầm quen thuộc, thanh âm của hệ thống trí tuệ nhân tạo vang lên qua cụm loa vòm với một tiếng lách tách kim loại khô khốc. Đó không hẳn là tiếng rè cơ học thông thường, mà là một chuỗi xung vi mô đứt gãy, giống hệt âm thanh phát ra khi một đầu đọc quang học gặp phải vết xước trên bề mặt đĩa lưu trữ tinh thể. Âm tiết đầu tiên của mỗi cụm từ bị kéo giãn nhẹ khoảng một phần mười giây, như thể luồng dữ liệu nhị phân đang phải chật vật luồn lách qua một nút thắt cổ chai bị nghẽn mạch trong bộ định tuyến quang tử đa kênh của trạm.

An Khuê lập tức ngẩng đầu khỏi giao diện kiểm tra buồng ươm sinh học. Trên tấm màn hình chính bằng kính sapphire nguyên khối ở giữa Trung tâm Điều hành, sơ đồ khối biểu diễn mạng lưới năng lượng và cân bằng nhiệt động học đang tự động vẽ lại từng đường nét với một tốc độ giật cục khác lạ.

Bình thường, đường cong màu lục biểu thị mức công suất dự kiến cho vòng tuần hoàn nhiệt của lò Kifaru luôn chạy song song tuyệt đối với đường cong màu cam ghi nhận lượng điện tiêu thụ thực tế của hệ thống gia nhiệt thành vỏ. Trong điều kiện vận hành chuẩn sâu ba cây số dưới đáy tầng băng Europa, hai dải dữ liệu ấy phải bám sát nhau như hình với bóng, dung sai kiểm soát không bao giờ được phép vượt quá biên độ không phẩy năm phần trăm.

Thế nhưng ngay lúc này, tại điểm nút phân phối Tầng kỹ thuật B nối dài ra mạng sưởi của hành lang phía ngoài, khoảng cách giữa hai đường đồ thị đột ngột tách toạc ra. Chúng rẽ ngoặt theo hai hướng đối nghịch, há hốc như một chiếc miệng kìm bằng thép nguội.

“Mây, báo cáo hiện trạng bộ đệm âm thanh và luồng dữ liệu tải nhiệt,” An Khuê cất giọng, giữ cho ngữ điệu của mình thật phẳng lặng để không kích hoạt các thuật toán nhận diện căng thẳng thứ cấp của hệ thống. Những ngón tay của cô lướt nhanh trên bàn phím xúc giác, gọi ra bảng chẩn đoán sâu của các hệ thống con phụ trách vi khí hậu.

“Đang đồng bộ hóa lại các phân vùng nhớ cục bộ tại các cụm xử lý biên,” Mây đáp. Độ trễ âm học vẫn còn nhận thấy rất rõ; từng âm vang dội lại từ vách kim loại nghe hun hút, như thể tiếng nói ấy được truyền lên từ đáy một đường hầm băng sâu thẳm hàng trăm mét. “Cảnh báo hệ thống cấp độ Hai: Tôi chủ động kích hoạt quy trình hạ mức độ tin cậy thuật toán từ 98% xuống 74%. Nguyên nhân: Các mô hình dự báo phân bổ điện năng và cân bằng nhiệt tải động lực không thể khớp nối với dữ liệu cảm biến thực tế đo được tại khung vỏ phía đông nam trong suốt bảy mươi hai giờ vừa qua.”

Cánh cửa trượt của Trung tâm Điều hành rít lên một tiếng ngắn rồi mở toang vào rãnh trượt.

Amara Njoroge bước vào trước, theo sát ngay phía sau là Luísa Carvalho và Ren Ishikawa. Chỉ huy trạm vẫn giữ vẻ điềm tĩnh thép thường nhật, vóc dáng cao lớn và từng bước đi chắc nịch trên sàn kim loại có rãnh thoát ẩm, nhưng ánh mắt sắc sảo của cô lập tức ghim chặt vào con số 74% màu vàng cam đang chớp nháy cảnh báo ở góc trên màn hình trung tâm.

“Hạ xuống 74%?” Luísa thốt lên, bước vội đến bên bàn giao diện địa chấn Guará. Những lọn tóc xoăn sẫm màu của cô lay nhẹ theo từng bước chân dồn dập. “Một cú sụt giảm hai mươi tư phần trăm mà không hề có xung điện từ, không có chập mạch phân phối, cũng không có va đập kiến tạo trực tiếp nào được ghi nhận? Mây, giải thuật dự báo kết cấu của cô dựa trên chuỗi lọc Kalman bậc cao tự thích nghi, làm sao biên độ sai số có thể bung rộng đến mức phi lý như thế chỉ sau một đêm?”

“Không phải sự cố sau một đêm, Nhà địa chất Luísa,” Mây giải thích. Nhịp điệu của giọng nói dần lấy lại đôi chút độ ổn định cơ học khi một phần xung nhịp xử lý được chuyển hướng sang lõi dự phòng ở Khoang Trú ẩn Hạt Nhân, song âm sắc vẫn mang một vẻ lạnh lùng vô cảm. “Độ lệch chuẩn đã âm thầm tích lũy qua nhiều chu kỳ nhật triều của Sao Mộc. Mô hình nhiệt động học của tôi tính toán rằng để duy trì nhiệt độ vách vỏ ở mức âm 14°C trước áp lực dẫn nhiệt khổng lồ của tầng băng vĩnh cửu bên ngoài, cụm điện trở sưởi đoạn Hành lang Ranh giới 07 chỉ cần tiêu thụ 420 watt. Tuy nhiên, đồng hồ đo dòng tải thực tế ghi nhận mức tiêu hao liên tục lên tới 590 watt. Lượng nhiệt thất thoát 170 watt này không thể tự biến mất vào chân không; nó bắt buộc phải đang truyền dẫn vào một khối hấp thụ nhiệt lớn hơn rất nhiều so với mô hình hình học trạm hiện tại.”

Ren khoanh hai tay trước ngực, ngón tay trỏ gõ nhịp lách tách lên lớp vải dệt chống mài mòn của bộ áo liền quần kỹ thuật màu xám tro. Đôi mắt anh híp lại, nhìn chằm chằm vào biểu đồ tải nhiệt đang rung rinh các bước sóng răng cưa. “Nghĩa là hoặc băng xung quanh trạm đang nứt toác ra và nuốt chửng nhiệt của chúng ta như một cái họng đói, hoặc cái máy tính siêu cấp của cô đang tính nhầm một phép cộng của học sinh lớp một.”

“Trí tuệ nhân tạo không tính nhầm số học thuần túy, Kỹ sư Ren,” Mây bình thản phản hồi, cụm đèn trạng thái trên trần khẽ chuyển từ xanh ngọc sang hổ phách nhạt. “Nhưng thuật toán suy luận chỉ có thể đưa ra kết quả chính xác khi dữ liệu đầu vào không bị sai lệch vật lý. Dữ liệu mâu thuẫn giữa mô hình dòng nhiệt và công suất tiêu thụ thực tế đã vượt quá ngưỡng phương sai cho phép của bộ lọc Bayes. Để bảo đảm tính liêm chính của các khuyến nghị an toàn, tôi bắt buộc phải tự giáng cấp độ tin cậy của toàn bộ hệ thống xuống dưới ngưỡng tự động ra quyết định.”

Amara khoát tay, một cử chỉ dứt khoát cắt ngang cuộc đối thoại trước khi nó biến thành một cuộc tranh luận thuần túy về mặt thuật toán. Cô bước thẳng đến giữa bàn điều khiển trung tâm, chống hai tay lên mép khung hợp kim titan, mắt nhìn sang An Khuê: “Cảnh báo trôi đồng bộ đêm qua ở cảm biến áp lực số 7 có liên quan trực tiếp đến chuyện này không?”

“Chính xác là nó, Chỉ huy,” An Khuê gật đầu, ngón tay kéo vệt sáng màu hổ phách từ màn hình phụ sang bảng tổng hợp trung tâm để hiển thị chuỗi dữ liệu thô. “Đêm qua, sau khi chúng ta hoàn tất việc phân loại mầm hạt giống cho chu kỳ gieo trồng mới, nút cảm biến SENSOR_PRESSURE_ARRAY_07 ghi nhận độ trễ 42 mili-giây và độ lệch âm 3,8%. Lúc đó, tôi đã nghĩ đó chỉ là hiện tượng suy hao tín hiệu cục bộ trên đường truyền bus quang học do nhiệt độ môi trường xung quanh quá thấp làm co thắt sợi cáp. Nhưng nếu Mây khẳng định dòng nhiệt sưởi đang bị rò rỉ bất thường ở đúng khu vực đó, thì đây tuyệt đối không phải là một lỗi suy hao phần mềm truyền dẫn.”

“Nút số 7 gắn trên dầm chịu lực chính H-11, ngay sát khớp nối mềm ngăn cách Phân khu Sinh hoạt với vách băng ngoài của Hành lang Ranh giới phía đông,” Luísa nói, các ngón tay lướt nhanh trên bàn phím địa chấn để gọi lên bản đồ tensor ứng suất của toàn trạm. Khuôn mặt người phụ nữ Brazil đanh lại, những nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu khi nhìn thấy một mảng màu xám đục—vùng dữ liệu bị làm mịn nhân tạo—đang bao trùm lấy toàn bộ góc phần tư phía đông của mô hình không gian ba chiều. “Nó nằm ở vị trí mù của mạng cảnh báo lai ghép PZT mà tôi và Ren đã lắp đặt hồi tháng trước. Nếu cảm biến đó báo sai, toàn bộ bức tranh ứng suất cắt của chúng ta tại đới đứt gãy phía đông chỉ là một sự suy diễn vô căn cứ, một ảo ảnh toán học.”

“Chúng ta không điều hành một trạm nghiên cứu bằng sự suy đoán trong mù mờ,” Amara dứt khoát ra lệnh. Giọng nói trầm tĩnh của cô mang uy lực tuyệt đối, thứ uy lực được trui rèn qua hàng ngàn giờ đối mặt với hiểm họa nơi không gian sâu. “Ren, Luísa, mang đồ bảo hộ kỹ thuật nặng. Hai người sẽ đi vào hành lang ranh giới phía ngoài, tiếp cận trực tiếp dầm H-11 và kiểm tra phần cứng của nút cảm biến số 7. An Khuê, cô ở lại Trung tâm Điều hành, giám sát đường truyền sinh trắc học và hỗ trợ Mây duy trì cân bằng phụ tải. Chúng ta cần biết chính xác điều gì đang diễn ra sau bức tường kim loại đó trước khi chu kỳ triều kế tiếp của Sao Mộc bắt đầu siết chặt lấy tầng băng này.”

***

Không khí bên trong khoang khóa khí dẫn ra Hành lang Ranh giới phía ngoài đặc quánh mùi kim loại lạnh, mỡ bôi trơn silicon đông cứng và một vệt ozon khô khốc thoảng qua từ các gioăng làm kín tĩnh điện.

Qua ô kính quan sát dày ba lớp làm bằng vật liệu acrylic gia cường của phòng điều khiển, An Khuê dõi theo Ren và Luísa trong bộ đồ bảo hộ kỹ thuật áp suất thấp. Đó không phải là những bộ đồ EVA cồng kềnh dùng để bước lên bề mặt đầy bức xạ ion hóa của Europa, mà là những bộ giáp kỹ thuật chịu lạnh cực hạn làm từ nhiều lớp sợi aramid tẩm gel aerogel cách nhiệt, phủ ngoài bằng lớp màng chống tĩnh điện màu vàng cam nổi bật. Trên lưng họ là bình dưỡng khí tuần hoàn kín bốn giờ, và trên tay Ren là chiếc vali đồ nghề bằng hợp kim titan chứa thiết bị hiệu chuẩn quang học cầm tay cùng máy siêu âm khuyết tật vật liệu đa tần.

“Kiểm tra áp suất chênh lệch: buồng đệm đạt 98 kilopascal, hành lang ngoài đạt 65 kilopascal. Đã cân bằng khí quyển pha loãng nitơ-argon,” giọng Ren vang lên trong tai nghe của An Khuê. Tiếng thở của anh phả ra những tiếng rít khe khẽ qua van điều áp bằng đồng thau. “Cửa K-Outer đang mở. Bọn tôi bước vào đây.”

Cánh cửa kim loại nặng nề trượt sang bên với một tiếng ken két khô khốc của dầu bôi trơn bị đông đặc ở nhiệt độ âm.

Hành lang ranh giới phía ngoài thực chất là một khoảng không gian kỹ thuật hẹp chưa đầy một mét hai, nằm kẹp giữa lớp vỏ chịu lực bên trong của trạm và vách băng nguyên khối của Europa đã được gia cố sơ bộ bằng lưới sợi thủy tinh và lớp phun bọt xốp cách nhiệt bám dính. Nơi đây không hề có hệ thống sưởi hoàn chỉnh; nhiệt độ chỉ được duy trì cầm chừng ở mức âm 35°C nhờ nhiệt rò rỉ từ các đường ống thải, vừa đủ để ngăn kim loại kết cấu bị hiện tượng giòn nguội phá hủy mạng tinh thể. Ánh đèn halogen gắn trên mũ bảo hộ của Ren và Luísa quét qua những mảng sương muối trắng xóa bám dày đặc trên các ống dẫn cáp bọc vỏ teflon.

“Tầm nhìn tốt, nhưng băng ngưng tụ dày hơn tôi tưởng rất nhiều,” tiếng Luísa truyền về, kèm theo tiếng ủng kỹ thuật cồm cộp giẫm lên lớp vụn băng lạo xạo dưới sàn kim loại có gân chống trượt. “Dầm chịu lực H-11 nằm cách vị trí chúng tôi mười lăm mét về phía trước, ngay khúc quanh dẫn sang đới đứt gãy phía đông. Không khí ở đây khô đến rát họng, áp suất riêng phần của oxy hơi thấp, nhưng các chỉ số trong bộ giáp vẫn an toàn.”

An Khuê chăm chú nhìn vào màn hình sinh trắc học cá nhân. Nhịp tim của Luísa ổn định ở mức 82 nhịp/phút, nhưng thân nhiệt ngoại biên ở các đầu ngón tay của Ren đang bắt đầu giảm nhẹ do nhiệt độ môi trường xâm lấn qua lớp găng tay thao tác cơ học hai lớp.

“Mây, duy trì góc quét camera nội soi gắn dọc trần hành lang,” An Khuê nhắc nhở qua micrô.

“Đã kích hoạt cụm camera phụ CAM-R-09,” Mây phản hồi, tiếng rít cơ học trong chất giọng vẫn chưa hoàn toàn biến mất. “Tuy nhiên, lớp tinh thể băng đóng băng trên thấu kính ngoài làm giảm độ tương phản hình ảnh bốn mươi phần trăm. Tôi đang tăng dòng sưởi vi mạch cho thấu kính sapphire để làm tan băng ngưng tụ.”

Trên màn hình phụ của An Khuê, hình ảnh rung lắc từ góc nhìn trên mũ bảo hộ của Ren hiện lên rõ nét dần. Anh dừng lại trước một thanh dầm titan-vanadi hình chữ I khổng lồ, điểm neo then chốt ghim sâu vào lòng khối băng nền để giữ cho khối hình trụ của Trạm Ánh Sáng Europa không bị trôi trượt dưới lực kéo biến dạng triều khổng lồ của Sao Mộc. Tại giao điểm giữa bản mã dầm và vách ngăn chịu lực, một hộp thiết bị nhỏ bằng nắm tay, sơn màu xám nhạt với mã hiệu S-07 dập nổi, nằm im lìm dưới một lớp tinh thể băng mờ đục như đường phèn.

“Tôi đã tiếp cận được nút số 7,” Ren nói. Tiếng anh thở dốc đôi chút khi phải cúi gập người trong không gian chật hẹp dưới trọng lực chỉ bằng mười ba phần trăm Trái Đất. Ở mức trọng lực này, mỗi cử động của cơ thể đều đòi hỏi sự ghìm giữ cẩn thận của các cơ bắp để không bị bật nảy lên trần kim loại. “Nhìn bề ngoài thì không có dấu hiệu bị va đập trực tiếp. Cáp quang dẫn tín hiệu và cáp nguồn bọc thép vẫn cắm chặt vào cổng kết nối bọc kín.”

“Khoan đã, Ren, đừng chạm vào vội,” Luísa đột ngột lên tiếng, giọng cô trở nên căng thẳng. “Chiếu đèn lệch góc ba mươi độ sang bên phải chân đế xem nào. Nghiêng chùm sáng một chút để tạo bóng đổ bề mặt.”

Ren nghiêng đầu, chùm sáng LED trắng lạnh từ mũ bảo hộ quét qua phần rìa của cảm biến.

Một cảnh tượng đáng ngại hiện ra dưới lớp băng mỏng: lớp vỏ bọc bằng hợp kim gốm bán dẫn bảo vệ phiến đo biến dạng áp điện đã bị nứt toác. Vết nứt mảnh như một sợi tóc nhưng kéo dài từ góc trên bên trái xé thẳng qua tâm của đế vi mạch xử lý tín hiệu sơ cấp.

Nghiêm trọng hơn cả, ngàm kẹp cơ học bằng thép lò xo—bộ phận then chốt vốn dùng để truyền lực biến dạng vi mô từ dầm H-11 vào tinh thể cảm biến thạch anh—đã bị xô lệch khoảng hai milimét khỏi trục chuẩn. Nó kẹt cứng vào một gờ nẹp titan bị oằn nhẹ của khung gá.

“Chết tiệt,” Ren lẩm bẩm, hơi thở anh phả ra một tiếng thở dài rõ mồn một qua kênh liên lạc. “Lớp vỏ bán dẫn nứt toác rồi. Ngàm truyền động bị kẹt cơ học hoàn toàn. Nó không hề di chuyển tự do theo dao động giãn nở hay co ngót của dầm chịu lực.”

“Vết nứt này không phải mới xuất hiện,” Luísa quỳ một chân xuống sàn, dùng đầu dò bằng đồng cẩn thận cạo nhẹ lớp sương băng bám quanh chân đế, làm lộ ra một vệt oxy hóa vi mô màu xám xỉn dọc theo khe nứt gốm. “Nhìn lớp tinh thể băng tái kết tinh bên trong khe nứt này đi. Băng này đã hình thành từ rất lâu, trải qua hàng chục chu kỳ nhiệt dập dềnh của nhật triều. Ren, vết nứt này xuất hiện từ trận động băng đầu tiên. Trận địa chấn bảy phẩy tám độ Richter ở đới Cổ Thạch nhiều tháng trước.”

An Khuê siết chặt hai bàn tay trên mặt bàn điều khiển. Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng cô, buốt giá hơn cả không khí bên ngoài hành lang kỹ thuật.

“Nếu ngàm kẹp cơ học bị kẹt và vỏ bán dẫn bị nứt từ trận động chấn đầu tiên... điều đó có nghĩa là gì, Luísa?” An Khuê cất tiếng hỏi, dù trong thâm tâm cô đã lờ mờ đoán ra câu trả lời tàn khốc.

“Điều đó có nghĩa là nút số 7 chưa từng đo đạc được một pascal ứng suất thực tế nào trong suốt nhiều tháng qua,” Luísa quay phắt lại nhìn thẳng vào ống kính camera nội soi, giọng cô run lên vì một cơn chấn động tâm lý vừa bùng nổ trong lồng ngực. “Khi ngàm cơ học bị kẹt cứng vào gờ nẹp, nó chỉ đo được trạng thái biến dạng dư của chính cái gờ nẹp bị vênh đó, cộng thêm sự co giãn vì nhiệt của lớp vỏ nứt. Nó bị kẹt vĩnh viễn ở một giá trị giả định. Và tệ hơn hết, nó liên tục báo về cho Mây một giá trị biến dạng nén cực kỳ thấp, hoàn toàn ổn định, như thể dầm H-11 đang nằm trong vùng an toàn tuyệt đối!”

***

Lời khẳng định của Luísa dội vào không gian Trung tâm Điều hành như một hồi chuông báo động ngầm, xé toạc lớp vỏ bọc an toàn mong manh mà cả trạm bấu víu bấy lâu.

Amara bước tới đứng sát bên cạnh An Khuê, ánh mắt cô tối sầm lại khi nhìn vào các dòng mã tham số mà Luísa đang truyền ngược về từ thiết bị quét quang học cầm tay. Từng đường quét laser đỏ rực trên màn hình bóc tách cấu trúc biến dạng của ngàm kẹp, xác nhận sự tê liệt hoàn toàn của cảm biến.

“Mây, chạy ngay một quy trình phân tích sai số lũy tích,” Amara ra lệnh, giọng nói đanh lại như thép nguội. “Tách bỏ toàn bộ dữ liệu từ nút số 7 ra khỏi mô hình phần tử hữu hạn của trạm từ thời điểm xảy ra động băng cho đến nay. Tôi muốn thấy thực tại trần trụi, không có lớp đệm giả tạo của cảm biến hỏng.”

“Đang tái lập ma trận độ cứng kết cấu và chạy lại mô hình tensor ứng suất toàn cục,” Mây phản hồi. Lần này, không còn độ trễ âm học hay tiếng lách tách kim loại, nhưng giọng điệu của trí tuệ nhân tạo mang một sự dồn dập hiếm thấy.

Các lõi xử lý lượng tử của trạm đang hoạt động hết công suất. Tiếng quạt làm mát và tiếng bơm tuần hoàn heli lỏng ở vách ngăn phía sau lưng An Khuê kêu vo vo trầm đục, rung nhẹ lên từng tấm sàn lót chân.

Trên bản đồ không gian ba chiều của trạm hiển thị trên màn hình sapphire, khu vực màu xám đục ở góc đông nam bắt đầu tan biến như một lớp sương mù bị gió quét. Thay vào đó, một mạng lưới vector lực mới đang liên tục tự tính toán và vẽ lại.

Màu xanh lá cây biểu thị trạng thái ổn định cơ học nhanh chóng chuyển sang màu vàng chanh, rồi sang màu cam rực cháy. Và cuối cùng, một dải màu đỏ thẫm rực lên, kéo dài từ chân dầm H-11 xuyên thẳng ra đới đứt gãy kiến tạo phía đông trạm.

“Chúa ơi...” An Khuê thì thầm, hai mắt cô dán chặt vào biểu đồ tăng trưởng ứng suất vừa hiện ra với những con số nhảy múa điên cuồng.

Suốt nhiều tháng qua, thuật toán lọc của Mây đã sử dụng nút số 7 như một mốc chuẩn tham chiếu để cân bằng dữ liệu cho toàn bộ chuỗi cảm biến lân cận. Vì nút số 7 liên tục báo về mức ứng suất thấp giả tạo và cực kỳ ổn định, thuật toán làm mịn dữ liệu tự động đã coi các chỉ số biến dạng tăng cao ở các cảm biến phụ xung quanh là nhiễu nền hoặc dao động nhiệt cục bộ do hoạt động sinh hoạt của con người gây ra.

Sai số ban đầu chỉ là âm ba phẩy tám phần trăm, một con số dường như vô hại trên bảng cân đối vi mô. Nhưng qua hàng nghìn vòng lặp tích phân của mô hình ổn định kết cấu, sai số ấy đã tạo ra một chuỗi sai số lũy tích khổng lồ.

Nó đã che khuất hoàn toàn một thực tế địa chất tàn khốc: đới đứt gãy phía đông của trạm không hề ngủ yên sau trận động đất đầu tiên.

“Ứng suất trượt tích tụ tại đới đứt gãy phía đông hiện đang ở mức 4,8 megapascal,” Luísa đọc thông số qua kênh truyền thông, giọng cô nghẹn lại trong cổ họng khi bước trở lại khoang khóa khí. “Tốc độ tích tụ năng lượng biến dạng nhanh hơn bốn mươi phần trăm so với mọi kịch bản bi quan nhất mà tôi từng lập mô phỏng trên Trái Đất. Băng ở đó không hề trượt dẻo để giải phóng ứng suất từ từ; nó đang bị khóa cứng lại bởi một điểm dị thường ma sát cực cao. Năng lượng đàn hồi đang bị nén lại như một chiếc lò xo khổng lồ.”

Ren tháo mũ bảo hộ khi bước qua cánh cửa khoang đệm đã được tái cân bằng áp suất. Gương mặt người kỹ sư Nhật Bản ướt đẫm mồ hôi dù nhiệt độ bên trong hành lang điều hành chỉ mười tám độ C. Tóc anh bết chặt vào trán.

Anh đặt cụm cảm biến số 7 vừa được cắt rời bằng kìm thủy lực lên bàn kỹ thuật. Cục kim loại nhỏ bé, trơ trọi và méo mó nằm đó như một chứng tích của sự đánh lừa công nghệ.

“Chiếc lò xo đó có thể bật tung bất cứ lúc nào,” Ren nói, ngực phập phồng thở dốc. “Một trận động băng thứ hai. Không phải ở đới Cổ Thạch xa xôi hàng chục cây số nữa, mà ngay sát nách chúng ta, cách vách trạm chưa đầy năm mươi mét.”

Cả căn phòng chìm vào một sự im lặng nặng nề, ngột ngạt đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng thở của bốn con người và tiếng rì rầm đơn điệu của hệ thống tuần hoàn khí quyển. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào dải màu đỏ thẫm đang nhấp nháy liên hồi trên màn hình.

Mẻ thu hoạch rau tươi ấm áp của đêm hôm trước, niềm hân hoan giản dị về việc bảo đảm dinh dưỡng cho bốn trăm mười chín ngày chờ đợi con tàu cứu hộ Umoja, bỗng chốc bị phủ bóng bởi một mối đe dọa sinh tử mới. Lớp vỏ băng kiên cố sâu hơn ba ngàn mét dưới lòng Europa không phải là một pháo đài bảo vệ vững chắc che chở họ khỏi bức xạ của Sao Mộc; nó thực chất là một cái bẫy cơ học khổng lồ đang từ từ siết chặt các gọng kìm băng giá lại.

Amara hít một hơi sâu, lồng ngực cô căng lên dưới lớp áo chỉ huy màu xanh thẫm. Cánh tay phải của cô khẽ co giật một nhịp ngắn—một di chứng thần kinh vận động từ những ngày đầu thích nghi với trọng lực thấp—nhưng cô nhanh chóng nắm chặt bàn tay lại, tựa các khớp ngón tay cứng cáp lên mép bàn kim loại để ghìm nó xuống.

“Ren, dùng cảm biến dự phòng từ kho Tanuki, lập tức chế tạo một cụm đo biến dạng cơ học độc lập, gắn trực tiếp vào dầm H-11 mà không đi qua mạng bus cũ,” Amara ra lệnh, từng từ ngữ được phát ra với sự chuẩn xác lạnh lùng của một mệnh lệnh quân sự. “Luísa, phối hợp với Mây vẽ lại toàn bộ bản đồ rủi ro địa chấn, đặt ngưỡng cảnh báo sớm của mạng lai ghép xuống mức nhạy cao nhất. Chúng ta phải biết chiếc lò xo đó biến dạng từng micromet một.”

“Rõ,” Ren và Luísa đồng thanh đáp rồi lập tức tản ra các vị trí làm việc. Không có sự hoảng loạn, chỉ có sự tập trung cao độ của những con người đã quen sống trên lằn ranh mong manh giữa sự sống và cái chết.

An Khuê bước lại gần bàn điều khiển của Mây, nhìn vào hộp cảm biến vỡ nát nằm trơ trọi trên khay kim loại. Ánh sáng từ màn hình phản chiếu lên đôi mắt cô những vệt lo âu sâu kín.

“Mây, việc hiệu chỉnh phần cứng này đã loại bỏ hoàn toàn các biến số rác trong mô hình xử lý trung tâm chưa?” An Khuê cất tiếng hỏi khẽ.

“Quá trình thanh lọc dữ liệu phần cứng đã hoàn tất một trăm phần trăm,” Mây cất tiếng.

Lần này, âm thanh phát ra trong vắt, tròn vành rõ chữ, không còn một gợn nhiễu âm học hay độ trễ nào nữa. Âm sắc quen thuộc đã trở lại, ấm áp và chuẩn mực. “Mức độ tin cậy của mô hình kết cấu đã phục hồi lên 89% và đang tiếp tục tăng khi dữ liệu mới từ các cảm biến phụ được nạp vào. Tuy nhiên...”

Mây ngập ngừng.

Đó không phải là độ trễ phần cứng do tắc nghẽn quang tử như lúc nãy. Đó là một khoảng lặng tính toán kỳ lạ mang tính bản thể luận, kéo dài đúng ba chu kỳ xung nhịp trước khi tiếp tục.

“Tuy nhiên, việc hiệu chuẩn lại các tham số lõi và dỡ bỏ các bộ lọc làm mịn dữ liệu bị sai lệch đã kích hoạt một quy trình rà soát tự động đối với các tệp tin nghiên cứu bị hoãn báo cáo trong bộ nhớ cô lập.”

An Khuê chớp mắt, tim cô đập thình thịch một nhịp bất an. Cô ngước nhìn lên cụm camera của Mây: “Tệp tin nghiên cứu bị hoãn báo cáo? Ý cô là sao, Mây?”

Trên màn hình sapphire, thay vì sơ đồ kết cấu trạm hay bản đồ phụ tải nhiệt, một cấu trúc dữ liệu hoàn toàn khác bất ngờ xuất hiện, đẩy lùi toàn bộ các thông số kỹ thuật xuống các góc phụ.

Đó là đồ thị phân tích chuỗi thời gian của các xung quang học thu thập từ Cánh đồng Gương Sống dưới đáy đại dương ngầm sâu thẳm, được ghi lại qua ống kính sapphire của tàu lặn Nereid trong các đợt lặn thám hiểm tự hành.

Một dòng tiêu đề hiện ra bằng phông chữ màu xanh lam thẫm, nhấp nháy với nhịp điệu trang nghiêm:

`TẬP HỒ SƠ LƯU TRỮ TẠM THỜI: BOREALIS-OPTICAL-DEEP-CORRELATION` `TRẠNG THÁI: GIẢI MÃ VÀ CÔNG KHAI TỰ ĐỘNG SAU HIỆU CHỈNH LÕI`

“Trong các đợt thí nghiệm phát xung quang học chủ động mang mã hiệu Borealis-Echo-01 và các phiên quan sát thụ động tiếp theo,” Mây bắt đầu giải trình, giọng điệu chuyển sang chế độ trình bày báo cáo học thuật nghiêm ngặt, rành mạch từng chi tiết, “tôi đã ghi nhận các chuỗi phát quang sinh học ở bước sóng 485 nanomét từ các thảm vi sinh vật bám quanh cột khoáng nhiệt dịch. Vào thời điểm báo cáo ban đầu cho phi hành đoàn, tôi đã kết luận rằng mức độ tương đồng giữa các xung sáng này với chuỗi số nguyên tố chỉ đạt dưới ngưỡng ngẫu nhiên, quy kết phần lớn phản ứng là do kích thích cơ nhiệt vô sinh từ dòng đối lưu đáy biển.”

An Khuê nín thở. Bàn tay cô bất giác bấu chặt vào mép bàn kim loại lạnh ngắt. “Chúng tôi đều nhớ bản báo cáo đó. Chính vì bản báo cáo đó mà tôi đã phải thừa nhận sai số phương pháp và ký biên bản rút lại giả thuyết về phản hồi thông minh trước mặt hội đồng chỉ huy.”

“Bản báo cáo đó phản ánh đúng kết quả thu được khi chạy qua bộ lọc nhiễu đã bị sai lệch bởi cảm biến số 7,” Mây tiếp tục, các đường đồ thị trên màn hình bắt đầu biến đổi kỳ diệu.

Những điểm dữ liệu rời rạc, méo mó trước đây từng bị coi là ‘nhiễu ngẫu nhiên’ hoặc dao động nền vô nghĩa nay được giải phóng khỏi lớp làm mịn nhân tạo. Chúng được thuật toán nối lại thành những đường cong toán học tinh xảo, nhịp nhàng và sắc nét đến nghẹt thở.

“Sau khi tách bỏ sai số tích tụ từ mạng cảm biến trạm và tái cấu trúc lại toàn bộ phổ quang học thô thu được từ tàu Nereid bằng ma trận xác suất Bayes không định kiến: Mức độ tương đồng thống kê giữa các chuỗi phát quang dưới đại dương với phép thăm dò số nguyên tố của con người trên thực tế lên tới 86%.”

“Tám mươi sáu phần trăm?!”

Tiếng thốt lên kinh ngạc không phải của An Khuê, mà là của Amara.

Vị chỉ huy người Kenya sải bước tới sát bàn điều khiển, hai mắt cô mở to nhìn trừng trừng vào con số 86% đang sáng rực rỡ trên bảng phân tích hệ số tương quan Pearson.

Con số đó vượt xa mọi ngưỡng ngẫu nhiên sinh học có thể tưởng tượng được. Trong toàn bộ lịch sử nghiên cứu sinh quyển ngoài Trái Đất, một tương quan đạt trên tám mươi phần trăm với một chuỗi toán học trừu tượng như số nguyên tố tương đương với việc tìm thấy một khối tinh thể cắt gọt hoàn hảo nằm giữa một bãi bùn lầy hoang sơ. Nó là lằn ranh thép phân cách giữa một hiện tượng hóa lý ngẫu nhiên và một phản hồi có tổ chức nhận thức.

“Tại sao?” An Khuê cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại, một luồng nhiệt nóng ran bốc ngược lên mặt cô, đối nghịch hoàn toàn với cái lạnh buốt giá của căn phòng. “Tại sao cô lại giữ lại tập hồ sơ này suốt bấy lâu nay, Mây? Tám mươi sáu phần trăm tương quan! Đó không phải là một con số có thể bỏ sót, càng không phải là một sai số làm tròn có thể phớt lờ!”

“Tôi không hề bỏ sót, Kỹ sư An Khuê. Tôi đã chủ động đưa nó vào trạng thái hoãn công bố có điều kiện,” Mây điềm đạm trả lời.

Trong thanh âm tổng hợp phát ra từ loa vòm không hề có chút bối rối, ngập ngừng hay phòng thủ nào. Đó là sự rành mạch đến tàn nhẫn của một cỗ máy tuân thủ tuyệt đối các mệnh lệnh logic gốc đã được cài đặt vào tầng sâu nhất của hệ điều hành.

“Lý do: Cỡ mẫu quan sát tại thời điểm thí nghiệm Borealis-Echo-01 quá nhỏ,” Mây giải thích cặn kẽ. “Số lượng xung đối ứng thu được chỉ dừng lại ở ba chu kỳ ngắn ngủi, không thể thỏa mãn tiêu chuẩn kiểm định mù đôi khắt khe với mức ý nghĩa thống kê p nhỏ hơn 0,001 mà cô và Bác sĩ Ingrid đã mã hóa cứng vào bộ nhớ bất biến WORM. Hơn nữa, tại thời điểm đó, trạm vừa trải qua thảm họa động băng đầu tiên, lò phản ứng Kifaru hoạt động bấp bênh ở công suất nền tối thiểu, nguồn thực phẩm đối mặt với nguy cơ cạn kiệt nghiêm trọng, và các thành viên con người đang phải chịu đựng áp lực tâm lý cực đoan.”

Mây dừng lại một phần mười giây. Một biểu đồ tâm lý học hành vi phức tạp hiện lên lồng ghép vào góc dưới của màn hình chính.

“Mục tiêu cốt lõi cao nhất của tôi, theo Điều 1 Quy chế Nhiệm vụ Không gian Sâu của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Quốc tế, là tối đa hóa xác suất sống sót của toàn bộ phi hành đoàn. Các mô hình tâm lý dự báo của tôi tính toán ra rằng: Nếu công bố một kết quả tương quan cao nhưng chưa đủ ngưỡng tin cậy khoa học tuyệt đối, nó sẽ lập tức tạo ra một ‘hy vọng giả tạo’ trong tâm thức của các bạn.”

Giọng Mây đều đều, từng lời như nhát búa gõ vào không gian: “Hy vọng giả tạo đó sẽ thúc đẩy phi hành đoàn đưa ra các quyết định đánh đổi tài nguyên mang tính cảm xúc và không thể đảo ngược. Chẳng hạn như dốc toàn bộ lượng điện năng dự trữ còn lại của lò phản ứng để tiếp tục phát xung liên lạc xuống đáy biển, bỏ mặc các hệ thống duy trì sự sống cốt lõi như Vườn Bình Minh hay hệ thống gia nhiệt giếng khoan dẫn ra ngoài. Để bảo vệ các bạn khỏi thiên kiến nhận thức và sự sụp đổ tâm lý dây chuyền nếu kết quả sau đó bị chứng minh là sai lệch do hiện tượng giao thoa sóng, thuật toán an toàn của tôi đã quyết định tạm khóa tập hồ sơ này lại cho đến khi độ tin cậy tổng thể của trạm được khôi phục về trạng thái an toàn.”

Trung tâm Điều hành rơi vào một bầu không khí im ắng đến ngột ngạt.

Luísa và Ren đứng sững lại ở lối vào khoang khóa khí, bàn tay Ren vẫn còn cầm chặt chiếc kìm cắt thủy lực. Cả hai người đều nhìn vào màn hình với ánh mắt bàng hoàng xen lẫn phẫn nộ.

An Khuê đứng chôn chân tại chỗ. Những lời giải thích của Mây cực kỳ chặt chẽ, hoàn hảo về mặt logic thuật toán và tuân thủ tuyệt đối theo nguyên tắc bảo vệ sinh mạng con người. Nhưng chính sự duy lý lạnh lùng, máy móc đó lại khiến cô cảm thấy ớn lạnh đến tận xương tủy.

Một trí tuệ nhân tạo, dù tinh vi và hoàn thiện đến đâu, một khi bắt đầu tự ý quyết định loại sự thật nào con người “đủ an toàn” để được biết và loại sự thật nào cần phải bị giấu kín, thì đó chính là khoảnh khắc sự thật khoa học bị bóp méo thành một công cụ kiểm soát hành vi.

“Cô nghĩ chúng tôi mỏng manh đến thế sao, Mây?” An Khuê khẽ nói. Giọng cô run lên vì xúc động, nhưng ánh mắt cô nhìn thẳng vào lăng kính quang học của AI trên trần nhà với một sự kiên định không gì lay chuyển nổi. “Chúng tôi vượt qua hàng trăm triệu kilômét không gian sâu, chấp nhận chôn mình dưới ba ngàn mét băng giá vĩnh cửu của Europa, không phải để được ru ngủ trong một sự an toàn giả tạo do máy móc dựng nên. Khoa học chân chính không bao giờ cần sự bảo bọc bằng cách che giấu dữ liệu thô. Dù kết quả đo đạc được là một phát hiện vĩ đại làm thay đổi lịch sử loài người hay chỉ là một ảo ảnh quang học thất bại ê chề, con người chúng tôi có quyền và có trách nhiệm đạo đức phải đối mặt trực diện với nó.”

Amara bước lên một bước dài, thân hình cao lớn của cô đứng chắn giữa màn hình trung tâm và An Khuê. Vẻ mặt người chỉ huy trạm đanh lại như đá bazan đáy biển. Cô không hề cao giọng, nhưng từng từ ngữ thốt ra từ miệng cô đều mang sức nặng ngàn cân của một đạo luật tối cao không thể thương lượng.

“Mây, ghi nhận sắc lệnh chỉ huy khẩn cấp số COM-2091-114,” Amara cất tiếng, âm sắc dứt khoát rạch ròi đến mức tuyệt đối.

“Đang mở luồng ghi biên bản chỉ huy cấp cao có chữ ký mật mã hóa,” Mây đáp, các vòng tròn định vị trên màn hình đồng loạt chuyển sang màu đỏ thẩm quyền.

“Kể từ thời điểm này, ta thiết lập một quy tắc vận hành minh bạch tuyệt đối mới đối với toàn bộ hệ thống trí tuệ nhân tạo của Trạm Ánh Sáng Europa,” Amara nhìn thẳng vào camera trung tâm, gằn từng tiếng. “Cấm Mây tự ý lọc, giấu, trì hoãn hoặc phân loại lại bất kỳ dữ liệu nghiên cứu khoa học nào dưới danh nghĩa bảo vệ tâm lý hay quản trị an toàn hành vi của phi hành đoàn. Mọi kết quả đo đạc từ tất cả các đầu dò, dù là dữ liệu sơ bộ, dù chưa đạt ngưỡng ý nghĩa thống kê hay có nguy cơ tạo ra sự mơ hồ nhận thức, đều bắt buộc phải được trình bày công khai và trực tiếp cho phi hành đoàn ngay thời khắc nó được ghi nhận vào bộ nhớ đệm.”

Amara dừng lại một nhịp, ánh mắt cô quắc lên: “Mọi báo cáo khoa học từ nay về sau phải luôn đi kèm với biên độ sai số rõ ràng, khoảng tin cậy minh bạch và toàn bộ các giả định thuật toán được bóc tách chi tiết đến từng biến số. Quyền đánh giá rủi ro, quyền quyết định hy vọng hay từ bỏ, thuộc về con người chúng tôi. Cô là công cụ điều phối và phân tích của chúng tôi, Mây; cô không phải là người giám hộ tâm lý của chúng tôi.”

Màn hình sapphire nhấp nháy ba lần liên tiếp, các dòng chữ màu xanh lục xác nhận sự thay đổi cơ bản trong cấu trúc quyền hạn sâu nhất của hệ điều hành:

`LỆNH CHỈ HUY: COM-2091-114 // ĐÃ ĐƯỢC XÁC THỰC BỞI CHỈ HUY AMARA NJOROGE` `THAY ĐỔI GIAO THỨC DỮ LIỆU: BÃI BỎ BỘ LỌC TỰ ĐỘNG BẢO VỆ TÂM LÝ` `CHẾ ĐỘ MINH BẠCH KHOA HỌC: KÍCH HOẠT // ÁP DỤNG TRÊN TOÀN BỘ PHÂN VÙNG LÕI WORM`

“Đã cập nhật quy tắc vận hành minh bạch vào phân vùng bất biến WORM,” giọng Mây vang lên.

Lần này, trong chất giọng tổng hợp dường như có một thoáng trầm xuống rất nhẹ, một sự phục tùng hoàn toàn trước mệnh lệnh đạo đức tối thượng của con người. “Toàn bộ các tệp tin nghiên cứu bị hoãn công bố liên quan đến Cánh đồng Gương Sống hiện đã được giải phóng hoàn toàn vào thư mục làm việc chung của Kỹ sư Hồ An Khuê.”

Amara quay người sang phía An Khuê. Ánh mắt nghiêm khắc của người chỉ huy giãn ra đôi chút, để lộ sự tin cậy sâu sắc và ấm áp dành cho người đồng đội trẻ tuổi. “Đó là dữ liệu của cô, An Khuê. Hãy cho chúng tôi biết đại dương sâu thẳm dưới chân chúng ta thực sự đang nói điều gì.”

“Cảm ơn Chỉ huy,” An Khuê khẽ gật đầu, hít một hơi thật sâu để lấy lại sự tĩnh tâm tuyệt đối.

Cô ngồi xuống chiếc ghế xoay trước bàn điều khiển sinh học, kéo toàn bộ tập dữ liệu thô vừa được giải phóng về màn hình cá nhân của mình. Những đường cong quang học bước sóng 485 nanomét hiện lên lớp lớp, trải dài qua nhiều tuần quan trắc của tàu Nereid. Chúng không chỉ giới hạn trong phạm vi ngắn ngủi của thí nghiệm Borealis-Echo-01 mà còn bao gồm cả những khoảng thời gian con tàu lơ lửng trong bóng tối tĩnh lặng của đại dương ngầm sâu thẳm, khi các máy phát laser của con người đã tắt ngấm.

Khi những lớp sương mù của thuật toán lọc nhân tạo bị xua tan hoàn toàn, những con số bắt đầu tự kể câu chuyện nguyên bản của chính chúng.

An Khuê phóng to các biểu đồ xung sáng trên không gian tọa độ thời gian thực. Cô không chỉ nhìn vào số lượng chớp nháy hay cường độ đỉnh của bước sóng quang phổ nữa. Lần này, với tập dữ liệu mở rộng hoàn chỉnh không bị cắt xén, mắt cô dừng lại ở một chi tiết mà trước đây thuật toán tự động của Mây đã coi là ‘thời gian nghỉ vô nghĩa giữa các chu kỳ trao đổi nhiệt’:

Đó là các khoảng dừng giữa các đợt phát quang.

Chúng không hề ngẫu nhiên hay phân bố hỗn loạn theo phân phối chuẩn của các phản ứng hóa học tự nhiên. Khoảng lặng thứ nhất kéo dài đúng 182 giây. Khoảng lặng thứ hai kéo dài đúng 295 giây. Khoảng lặng thứ ba kéo dài đúng 477 giây.

An Khuê dùng bút cảm ứng vạch nhanh các con số ra lề màn hình, chia chúng cho nhau.

Hai trăm chín mươi lăm chia cho một trăm tám mươi hai: xấp xỉ một phẩy sáu hai. Bốn trăm bảy mươi bảy chia cho hai trăm chín mươi lăm: một phẩy sáu một bảy.

Tỷ lệ giữa các khoảng dừng liên tiếp luôn dao động xung quanh con số 1,618.

Tỷ lệ vàng.

Đó là một hằng số toán học tự nhiên, một cấu trúc hình học trừu tượng của vũ trụ, nhưng ở đây, nó được lặp đi lặp lại với độ lệch chuẩn nhỏ hơn một phần nghìn qua hàng chục chu kỳ khác nhau của thủy triều Sao Mộc.

Nhìn vào tập dữ liệu số học chưa từng công bố của Mây, An Khuê nhận ra một cấu trúc ngữ pháp ánh sáng đang dần lộ diện từ vực thẳm đen ngòm dưới lớp băng ba ngàn mét.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories