Trạm Ánh Sáng EuropaCh.16 / 42
Chapter 16

Những bí mật trong y xá

Tiếng thở dốc nghẹn ngào dội qua vách ngăn composite của khoang ngủ bên cạnh khiến An Khuê không thể nào chợp mắt. Đó không phải là tiếng rên rỉ vô thức của một người đang chìm trong cơn mộng mị thông thường, mà là thanh âm của một buồng phổi đang bị chèn ép dữ dội, một nhịp thở rách nát, đứt quãng của ai đó đang cố nuốt từng ngụm khí lạnh vào lồng ngực trong tuyệt vọng mà không dám phát ra tiếng động lớn.

An Khuê nằm bất động trên tấm đệm bọt biển định hình thêm vài giây, mắt đăm đăm nhìn lên trần khoang ngủ cá nhân hẹp chưa đầy một mét vuông. Lớp bọc cách âm bằng sợi bazan dường như đã bão hòa sau những chuỗi chấn động địa chất triền miên của Europa, để mặc cho từng rung động cơ học nhỏ nhất từ khung sườn trạm truyền thẳng vào màng nhĩ. Khi tiếng sột soạt của vải bạt đồng phục cọ xát vào khung giường vang lên, tiếp nối bằng tiếng then cài chốt cửa khoang số hai bật mở thật khẽ, cô lập tức chống tay ngồi dậy. Bờ vai trái nhói buốt—vết rách bán phần cơ trên gai bộc phát dữ dội sau sáu tiếng đồng hồ dùng tay siết van áp lực dập sự cố nấm men hồi trưa—nhưng cô cắn răng, không để bật ra một tiếng xuýt xoa.

Cô đẩy nhẹ cánh cửa trượt của mình, bước ra ngoài.

Hành lang mô-đun sinh hoạt chìm ngập trong thứ ánh sáng khẩn cấp màu xanh lục nhợt nhạt, ma quái. Đó là thứ quang phổ tiết kiệm năng lượng mà trí tuệ nhân tạo Mây tự động thiết lập chính xác sau hai mươi giờ mỗi tối theo thiết quân luật lao động thời chiến, cắt giảm triệt để từng lumen không cần thiết để dồn điện cho các cuộn cảm điện từ giữ ấm đường ống tuần hoàn nước. Không gian ngột ngạt, khô khốc và lạnh lẽo. Cảm biến gắn trên vách hiển thị nhiệt độ chỉ vừa ngấp nghé mười tám phẩy hai độ C, độ ẩm rớt xuống mức ba mươi phần trăm, một bầu khí quyển nhân tạo gắt gao được duy trì cầm cự nhờ vòng làm mát sơ cấp số một của lò phản ứng Kifaru đang hoạt động ở mức đáy ba mươi lăm phần trăm công suất định mức.

Ở phía trước, cách cô chừng mười lăm mét, bóng lưng cao lớn của Amara Njoroge đang chậm chạp tiến về phía Y xá Svalbard. Dáng dấp quen thuộc của người chỉ huy trạm—người phụ nữ Kenya từng sải những bước chân tự tin, đĩnh đạc như một cột trụ không thể lay chuyển giữa mọi cơn bão bức xạ của Sao Mộc—giờ đây cong vênh một cách thảm hại. Amara bước đi chênh vênh, gót chân dường như không bám nổi mặt sàn. Một bên vai cô lệch hẳn về phía bên phải, cánh tay co quắp ghì chặt lấy ngực áo khoác đồng phục, các đốt ngón tay siết chặt đến mức lớp vải dệt sợi aramid căng nhô lên từng đường gân trắng bệch. Cô đang dùng chính sức nặng của cánh tay ấy để ghìm lại những cơn co thắt cơ học ngoài tầm kiểm soát đang giật liên hồi nơi cơ hoành và cơ liên sườn.

Từng bước chân của Amara mang đôi dép xốp chống trượt gõ những âm thanh khô khốc, rời rạc xuống các tấm sàn bằng hợp kim nhôm định hình rỗng ruột. Trong trường gia tốc chỉ bằng không phẩy một ba bốn lần trọng lực Trái Đất, cơ thể con người rất dễ mất điểm tựa; mỗi bước hụt của Amara đều khiến thân người cô bồng bềnh trôi nhẹ lên vài centimet trước khi bị quán tính kéo giật xuống, va đập vụng về vào tay vịn dọc vách hành lang.

An Khuê nín thở, giữ nguyên khoảng cách mười mét phía sau. Để triệt tiêu hoàn toàn tiếng bước chân trong môi trường vi trọng lực đòi hỏi sự phối hợp cực kỳ tinh tế của các nhóm cơ mu bàn chân và ngón chân—cô phải miết nhẹ các đầu ngón xuống mặt sàn nhám, triệt tiêu quán tính rơi tự do bằng khớp gối chùng thấp. Mỗi lần chuyển trọng tâm, khớp vai trái của cô lại co giật từng chặp như có mũi kim nung cắm sâu vào gân cơ. Mùi cồn sát trùng nồng nặc quyện chặt với mùi ozon tanh nồng từ các phiến lọc tĩnh điện công nghiệp đang trôi lơ lửng trong hành lang hẹp, pha lẫn một luồng hơi lạnh buốt giá rỉ ra từ các vách ngăn chân không kép tiếp giáp trực tiếp với khối băng dày ba cây số bên ngoài. Cái lạnh của Europa không giống cái lạnh mùa đông Trái Đất; nó là một thực thể vô hình, kiên nhẫn và tàn nhẫn, luôn chực chờ rò rỉ qua từng khe hở vi mô của lớp vỏ hợp kim để đóng băng từng giọt chất lỏng hữu cơ.

Bóng Amara dừng lại trước cánh cửa thép dày của Y xá Svalbard. Cánh cửa trượt khí nén mở ra sau một tiếng *xì* ngắn gọn, sắc lẹm của gioăng cao su chịu nhiệt, nuốt chửng bóng lưng cô độc của người chỉ huy rồi lập tức khép lại. Đèn báo điện tử gắn trên khung cửa titan tức thì chuyển từ màu vàng tĩnh sang màu đỏ thẫm nhấp nháy liên hồi: *Buồng Thăm khám Kín — Miễn làm phiền*.

An Khuê rón rén tiến tới sát khung cửa bọc titan. Cửa quan sát hai lớp có chèn màng dẫn điện chống bức xạ hạt nhân đã hoàn toàn mờ đục do bác sĩ Ingrid Solberg kích hoạt lớp màng tinh thể lỏng phân cực bảo mật từ bên trong. Nhưng trạm ngầm Borealis không còn nguyên vẹn. Trận động chấn bảy phẩy tám độ Richter cách đây hai tuần không chỉ làm nứt trần khoang năng lượng mà còn làm biến dạng cấu trúc hình học của các khung cửa mô-đun sinh hoạt; lớp gioăng cách âm bằng cao su silicon chịu lạnh ở mép cửa phía dưới đã bị xô lệch, để lộ một khe nứt vi mô chưa đầy một milimét.

Áp sát tai vào gờ kim loại lạnh ngắt, An Khuê có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng bíp gấp gáp, khô khốc của máy đo nhịp tim và áp lực nội sọ, cùng với chuỗi âm thanh đối thoại bằng thứ tiếng Anh pha thổ ngữ Swahili căng thẳng, chọi chan chát với chất giọng Bắc Âu lạnh lùng, dứt khoát của Ingrid Solberg.

"Cô không thể tiếp tục lừa dối bộ vi xử lý sinh trắc học của Mây bằng cách dùng miếng dán ức chế xung thần kinh cục bộ nữa, Amara," tiếng Ingrid vang lên, sắc nhọn và đanh thép như mũi dao mổ rạch qua bầu không khí vô trùng. Không hề có lấy một chút nể sợ hay kính cẩn thường thấy của một sĩ quan cấp dưới trước người chỉ huy tối cao. "Ngồi xuống ghế áp lực ngay lập tức! Đừng có bám víu vào cái thanh vịn đó nữa. Nếu cô còn đứng thêm một phút nào nữa, áp lực nội sọ cùng các đợt co thắt mạch ngoại vi sẽ bẻ gãy hệ tuần hoàn của cô. Cô sẽ đột quỵ và chết dí trên sàn nhà trước khi kịp bước sang ca trực sáng mai!"

Qua khe hở phân cực của tấm rèm che mờ ảo, An Khuê nhìn thấy bóng Amara vẫn đứng sừng sững. Người phụ nữ Kenya cao lớn tựa một cánh tay run rẩy vào thanh giằng bằng thép không gỉ bắt chết vào sàn tàu. Dưới ánh đèn huỳnh quang y tế dội thẳng từ trần xuống, làn da nâu sẫm của cô tái nhợt như màu tro nguội, làm lộ rõ hai hố mắt trũng sâu thâm quầng và những rãnh nhăn căng thẳng hằn sâu từ cánh mũi kéo dài xuống tận khóe môi khô khốc nứt nẻ.

"Ingrid... trạm vừa mất đứt bốn mươi lít sinh khối nấm men Y-44," giọng Amara khàn đặc, trầm thấp đến mức rung bần bật, nhưng cô vẫn gồng từng thớ thịt ở thanh quản để duy trì cái uy quyền sắt đá của mình. "Khẩu phần calo của toàn trạm vừa bị cắt giảm thêm năm phần trăm kể từ bữa ăn tối nay. Giếng Borealis thì đang tái đông từng giờ ở độ sâu hai nghìn mét vì chúng ta không đủ điện duy trì đầu dò nhiệt. Nếu lúc này tôi để lộ ra dù chỉ một tích tắc do dự, hay tệ hơn là ngã quỵ xuống giường bệnh, cái niềm tin mong manh còn sót lại của Luísa và Ren sẽ vỡ vụn ngay tức khắc. Cô có hiểu tâm lý của họ không? Cô nghĩ họ có thể tiếp tục siết từng con ốc dưới hầm máy ở âm hai mươi độ C nếu họ biết người nắm giữ sinh mạng của trạm này đang run rẩy như một chiếc lá rách không?"

"Tôi không quan tâm đến cái ảo tưởng về tính bất khả chiến bại của cô!"

*Rầm!*

Ingrid đập mạnh một tập hồ sơ bằng nhựa tổng hợp xuống mặt bàn kim loại. Tiếng va đập vang dội khô khốc trong không gian hẹp.

"Tôi là Sĩ quan Y tế Trưởng của trạm này theo Hiệp định Không gian Geneva 2078! Nhiệm vụ tối thượng của tôi, điều duy nhất tôi phải chịu trách nhiệm trước pháp luật quốc tế, là giữ cho năm con người bằng xương bằng thịt này không phát điên, không gãy nát xương cốt, và không chết rũ rượi vì sự kiêu ngạo bệnh hoạn của người chỉ huy! Cô nhìn vào đây đi!"

Tiếng lách cách cơ học của màn hình y tế phụ bật mở. Một dải ánh sáng xanh lơ lạnh lẽo hắt ngược lên trần buồng khám. An Khuê nép sát hơn, mắt dán chặt vào khe hở nhỏ hẹp.

"Trước khi nói về cái đầu đang bốc hỏa và những mạch máu não sắp vỡ tung của cô, hãy nhìn vào bản kiểm kê vật tư mà tôi vừa hoàn thành độc lập bằng tay," giọng Ingrid đột ngột hạ thấp xuống, nhưng sức nặng của từng âm tiết chẳng khác nào chì nóng đổ vào tai người nghe. "Tôi đã cố tình ngắt kết nối, không đồng bộ dữ liệu này vào lõi của Mây suốt ba mươi sáu giờ qua, bởi vì tôi muốn dùng chính hai bàn tay mình để đếm, để cân, để đối chiếu vật lý từng lọ thuốc một trong kho lạnh sâu ở tầng ba. Và đây là kết quả thực tế: toàn bộ kho thuốc chống thoái hóa xương và loãng xương dự phòng của chúng ta—toàn bộ lô Bisphosphonate thế hệ bốn và kháng thể đơn dòng Romosozumab dạng đông khô—thực tế đã bị hụt mất hai mươi phần trăm."

Một khoảng lặng chết chóc ập xuống buồng khám. Sự tĩnh lặng đột ngột đến mức An Khuê nghe thấy rõ cả tiếng rít vi mô của máy tạo oxy đang bơm từng xung khí qua màng xốp. Ngay cả tiếng thở dốc của Amara cũng dường như ngưng bặt.

"Hụt hai mươi phần trăm?" Cuối cùng Amara cũng lên tiếng, giọng run lên một nhịp rất khẽ, một sự rạn nứt hiếm hoi trong tông giọng thép. "Làm sao có thể như thế được? Quy trình niêm phong vật tư y tế tại bãi phóng Thumba đã được kiểm tra qua ba tầng giám sát độc lập của Ủy ban Hàng không Ấn Độ Dương trước khi khoang hàng Umoja cất cánh ba năm trước cơ mà?"

"Biến tính nhiệt," Ingrid nói thẳng đuột, không một chút nể nang. Đầu ngón tay thô ráp của vị bác sĩ gõ mạnh lên đồ thị phân tích khối phổ đang nhấp nháy trên màn hình. "Trong chặng bay chuyển tiếp qua quỹ đạo Sao Mộc, cụm khoang làm mát thụ động số bốn từng gặp sự cố đoản mạch điều nhiệt cục bộ kéo dài suốt bốn mươi tám giờ. Hồ sơ kỹ thuật từ mặt đất khẳng định nhiệt độ không vượt quá giới hạn phân hủy sinh học, nhưng đó chỉ là lời dối trá trắng trợn của đám thanh tra an toàn mặt đất để giữ đúng tiến độ phóng và bảo toàn hợp đồng nghìn tỷ! Hai mươi phần trăm protein vận chuyển canxi và các chuỗi kháng thể đơn dòng đã bị cuộn gập sai cấu trúc không gian, biến tính hoàn toàn và vón cục lại thành những khối cặn vô giá trị. Chúng không còn là thuốc nữa, Amara. Chúng chỉ là nước muối vô trùng đắt đỏ nhất hệ Mặt Trời!"

Ingrid khoanh hai tay trước ngực, đôi mắt xám tro găm thẳng vào người phụ nữ Kenya:

"Ở Trái Đất, việc mất số thuốc đó chỉ là một tổn thất kinh tế. Nhưng ở đây, trong môi trường trọng lực chỉ bằng một phần bảy Trái Đất của Europa, cơ thể con người không hề có cơ chế tự nhiên để giữ canxi trong khung xương. Không có đủ lượng Bisphosphonate này để ức chế các tế bào hủy xương đang hoạt động điên cuồng, mật độ khoáng xương của cả năm chúng ta sẽ sụt giảm với tốc độ không tưởng: một phẩy tám phần trăm mỗi tháng. Cứ tính đi! Đến tháng thứ mười, bất kỳ một cú trượt chân nhẹ nào trên sàn băng trơn trượt, hay chỉ là một cú giật áp suất đột ngột khi xả khí trong khoang Kifaru, cũng đủ sức bẻ gãy cổ xương đùi của Ren, hoặc làm lún xẹp toàn bộ các đốt sống thắt lưng của Luísa."

"Giải pháp của cô là gì?" Amara hỏi, giọng chùng hẳn xuống. Cô từ từ buông thanh vịn, ngồi sụp xuống mép chiếc giường bệnh bọc da tổng hợp, hai bàn tay siết chặt lấy hai đầu gối để ngăn chúng run rẩy.

"Tái phân bổ lại toàn bộ định mức điều trị y tế cho cả trạm," Ingrid trả lời không một giây chần chừ. "Tôi buộc phải cắt giảm liều thuốc duy trì của tất cả mọi người xuống còn sáu mươi phần trăm so với mức tiêu chuẩn y khoa Trái Đất. Đó là mức sàn tuyệt đối để không ai bị hoại tử xương hàm hay gãy xương tự phát. Nhưng để bù đắp cho sự thiếu hụt sinh hóa nghiêm trọng đó, chúng ta không còn lựa chọn nào khác: buộc phải tăng thời lượng tập luyện kháng lực cơ học trong máy ly tâm y tế. Thay vì bốn mươi lăm phút mỗi ngày như lịch trình cũ, bắt đầu từ năm giờ sáng mai, mỗi thành viên trong phi hành đoàn phải trải qua đúng chín mươi phút chịu gia tốc một phẩy năm g trong buồng quay Svalbard."

"Chín mươi phút?" Amara ngẩng phắt đầu lên, trong ánh mắt hốc hác bùng lên ngọn lửa phản đối dữ dội. "Công suất tiêu thụ điện của máy ly tâm khi chạy tải người là một phẩy sáu kilowatt! Lò phản ứng Kifaru hiện chỉ đang chạy cầm cự ở mức ba mươi lăm phần trăm, toàn bộ tua-bin khí heli chỉ cấp ra vỏn vẹn hai mươi tư phẩy năm kilowatt điện cho toàn bộ trạm! Nếu trích thêm điện cho máy ly tâm chạy liên tục năm lượt mỗi ngày—tổng cộng là hơn bảy tiếng rưỡi ngốn điện—chúng ta sẽ lấy năng lượng từ đâu ra? Chúng ta sẽ phải tắt thêm một cụm đèn LED quang hợp ở Vườn Bình Minh, bỏ mặc cho lứa đậu tương tiếp theo chết héo, hoặc tệ hơn, phải ngắt hoàn toàn hệ thống sưởi vỏ ngoài của Khoang Trú ẩn Hạt Nhân!"

"Đó là bài toán điều phối của cô, Amara, không phải của tôi!" Ingrid bước dấn tới một bước, cúi gập người xuống sát khuôn mặt hốc hác của người chỉ huy. "Trách nhiệm của tôi là giữ cho xương của các cô không gãy vụn thành bột! Nhưng trước khi cô lo lắng cho chiếc lò phản ứng chết tiệt hay mấy cây đậu tương non nớt đó, hãy nhìn lại chính cái bản mặt tàn tạ của mình đi, Amara Njoroge!"

Vị bác sĩ người Na Uy thọc tay vào túi áo choàng xốc ra một chiếc máy tính bảng y khoa bọc cao su chống sốc màu đen. Ngón tay cô quẹt mạnh lên bề mặt cảm ứng, mở ra hàng loạt biểu đồ sóng sin dày đặc đan xen những mảng màu đỏ rực cảnh báo nguy cơ sinh học cấp bốn.

"Đây là bản ghi điện não đồ gián tiếp thu thập qua các cảm biến áp điện gắn ngầm trong gối ngủ của cô suốt mười bốn ngày qua. Và đây nữa: đồ thị áp lực động mạch cảnh ghi nhận từ vòng cổ sinh học mà cô tưởng rằng mình đã ngắt kết nối truyền dẫn. Đúng, Mây không nhận được tín hiệu vì cô đã tắt quyền truy cập mạng của nó, nhưng bộ nhớ phần cứng cục bộ của trạm y tế thì lưu giữ từng byte một!"

Ingrid gằn từng từ, mỗi câu nói như một nhát búa nện xuống không gian ngột ngạt:

"Cô không hề có nổi một giấc ngủ sinh học nào kéo dài quá chín mươi phút trong suốt ba tuần lễ vừa qua! Pha sóng chậm—giai đoạn duy nhất để não bộ đào thải độc tố chuyển hóa—đã biến mất hoàn toàn. Thay vào đó là gì? Là các đợt bộc phát sóng delta biên độ cao bất thường khu trú ở thùy trán bên phải. Đó là dấu hiệu kinh điển của chứng phù não nhẹ và thiếu máu cục bộ thoáng qua do các mạch máu nuôi não bị co thắt liên tục dưới áp lực stress cực độ! Những cơn đau nửa đầu dữ dội mà cô đang phải chịu đựng không phải là do mệt mỏi thông thường. Đó là các cơn co mạch tiền đình cấp tính!"

Ingrid chĩa thẳng ngón tay trỏ vào bàn tay phải của Amara—bàn tay lúc này đang co giật từng nhịp giật cục trên đùi:

"Các dây thần kinh vận động ngoại biên của cô đang phát ra những xung điện lạc vị. Cô mất dần quyền kiểm soát các nhóm cơ nhỏ ở bàn tay. Sáng nào cô cũng phải lao vào bồn rửa nôn mửa dịch mật trước khi bước ra khỏi phòng ngủ. Cô tự ý tăng liều thuốc giảm đau opioid tổng hợp vượt quá ba mươi phần trăm định mức an toàn cho phép... Và cô vẫn mở miệng nói rằng mình đủ tỉnh táo, đủ năng lực để giữ quyền phê chuẩn sinh tử duy nhất cho cái trạm này sao?"

Amara nhắm nghiền mắt lại. Dưới ánh sáng trắng lạnh lẽo, bờ môi nứt nẻ của cô run rẩy bần bật, lồng ngực phập phồng sau lớp áo đồng phục:

"Tôi... tôi chưa từng ký sai bất kỳ một thông số an toàn nào... kể từ sau trận địa chấn đó."

"Đó là vì cô ăn may! Vì An Khuê và Ren đã liều mạng bò vào đường ống làm mát, dùng thân mình trám kín cái van xả số ba trước khi khối nêm băng đè bẹp trần Kifaru!" Giọng Ingrid bỗng vút lên, xé toạc sự kìm nén bấy lâu nay thành một cơn thịnh nộ bộc phát. "Một người chỉ huy bị co mạch máu não, mất ngủ trường diễn và ngộ độc thuốc giảm đau sẽ đưa ra những quyết định sai lầm chết người chỉ trong vòng một phần mười giây khi áp suất khoang tụt dốc! Và một phần mười giây ngu xuẩn đó sẽ chôn sống toàn bộ năm người chúng ta dưới ba cây số băng vĩnh cửu này! Nghe cho rõ đây, Amara Njoroge: Với tư cách là Sĩ quan Y tế Trưởng của Trạm Borealis, tôi có toàn quyền pháp lý theo Điều 42 của Quy chế Nhiệm vụ Không gian Sâu để tuyên bố cô 'Không đủ năng lực thể chất và hành vi', và tôi sẽ đình chỉ quyền chỉ huy của cô ngay trong đêm nay!"

Phía sau khe cửa hẹp, tim An Khuê như ngừng đập. Toàn thân cô lạnh toát.

Đình chỉ quyền chỉ huy? Tước bỏ quyền lực của Amara ngay lúc này ư?

Trong hoàn cảnh trạm nghiên cứu hoàn toàn bị cô lập dưới đáy sâu của lớp vỏ băng Europa, sợi cáp quang truyền dẫn tín hiệu lên đài chuyển tiếp Kepler trên quỹ đạo đã bị đứt gãy hoàn toàn sau trận động chấn, và tàu vận tải tiếp tế Umoja sớm nhất cũng phải mười bốn tháng nữa mới có thể tiếp cận... một cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ hay một cuộc chuyển giao quyền lực cưỡng chế bằng lý do y tế sẽ là đòn đánh sụp đổ hoàn toàn chút nhuệ khí mong manh còn sót lại của phi hành đoàn. Nếu Luísa và Ren biết Amara bị phế truất vì kiệt sức và rối loạn tâm thần, nỗi hoảng loạn sẽ lan nhanh như một đám cháy trong môi trường thuần oxy.

Bên trong buồng bệnh, Amara từ từ mở mắt ra.

Kỳ lạ thay, ngọn lửa giận dữ hay sự phản kháng quyết liệt ban nãy đã hoàn toàn biến mất khỏi ánh nhìn của cô. Thay vào đó chỉ còn lại một nỗi kiệt quùng sâu thẳm, một sự trống rỗng và bất lực đến cùng cực. Đôi mắt người phụ nữ Kenya đục ngầu, mờ đục như làn nước đóng băng dưới đáy giếng khoan.

"Đình chỉ tôi... rồi sao nữa đây, hở Ingrid?" Giọng Amara chùng xuống đáy vực, nghẹn ứ nhưng không hề buông xuôi. "Cô sẽ ngồi vào chiếc ghế chỉ huy đó sao? Cô sẽ là người đối mặt với Luísa khi cô ấy khóc lóc van xin cấp thêm năm trăm watt điện để giữ ấm cho mạng cảm biến địa chấn Cổ Thạch đang chết dần ngoài kia? Cô sẽ là người nhìn thẳng vào mắt Ren và lạnh lùng ra lệnh cấm cậu ấy không được phép phóng robot lặn xuống đáy giếng Borealis nữa? Hay là cô định giao toàn bộ quyền điều hành sinh tử của trạm này cho AI Mây?"

Amara gượng đứng dậy. Hai đầu gối cô run lên bần bật, nhưng bằng một nỗ lực phi thường của ý chí, cô vẫn kéo thẳng cột sống của mình lên, đối diện trực tiếp với vị bác sĩ:

"Để Mây nắm quyền ư? Để một cỗ máy xử lý dữ liệu bằng những dòng thuật toán vô hồn quyết định ai được thở, ai phải chết dựa trên biểu đồ xác suất sinh tồn lạnh ngắt—thứ thuật toán sẵn sàng cắt dưỡng khí của khoang ngủ số ba nếu điều đó làm tăng cơ hội sống sót của toàn trạm thêm không phẩy một phần trăm? Ingrid, tôi biết cơ thể tôi đang rệu rã từng ngày! Tôi cảm nhận được từng cơn búa bổ nổ tung trong hộp sọ mỗi khi áp suất trạm suy chuyển chỉ nửa kilopascal! Nhưng tôi không thể buông tay! Tôi đã đứng trước Hội đồng Không gian ở Nairobi, tôi đã nhìn thẳng vào mắt cha mẹ, nhìn vào mắt con cái của từng người trong các cô trước giờ bước lên bệ phóng Thumba và thề rằng: Tôi sẽ đưa trọn vẹn cả năm con người này trở về Trái Đất an toàn! Nếu trạm này mất đi một người cầm lái duy nhất dù chỉ trong ba ngày, sự nghi kỵ và hoảng loạn sẽ xé nát chúng ta từ bên trong trước khi lớp băng Europa kịp nghiền nát lớp vỏ titan này!"

Ingrid đứng sững sững, im lặng lắng nghe. Cơn giận dữ bừng bừng trên gương mặt góc cạnh của người phụ nữ Na Uy dần dần lụi tàn, nhường chỗ cho một nỗi xót xa đắng chát. Cô nhìn người chỉ huy của mình—người phụ nữ kiên cường đang tự biến bản thân thành một thanh giằng chịu lực quá tải, sẵn sàng để cho những thớ thép sinh học trong cơ thể mình nứt toác ra từng giờ, chỉ để giữ cho chiếc trần băng vô hình đừng sụp đổ xuống đầu đồng đội.

"Tôi không muốn ngồi vào chiếc ghế chết tiệt đó," Ingrid thở dài, một hơi thở nặng trọc mang theo mùi mệt mỏi cùng cực. Giọng cô chùng xuống, nhưng những nguyên tắc thép của một bác sĩ phẫu thuật thì vẫn vẹn nguyên: "Và tôi cũng không bao giờ có ý định giao phó mạng sống của chúng ta cho những thuật toán của Mây. Nhưng tôi dứt khoát không thể đứng nhìn cô tự sát trong ca trực tiếp theo. Tôi sẽ không ký lệnh đình chỉ cô đêm nay... chỉ với một điều kiện duy nhất."

Amara ngước nhìn Ingrid, ánh mắt dò hỏi: "Điều kiện gì?"

"Cô phải chia sẻ quyền lực ngay lập tức. Cô không được phép một mình ôm giữ bảng phân phối năng lượng, kế hoạch cấp phát vật tư và quyền phê duyệt kỹ thuật nữa. Cô phải bàn giao toàn bộ quyền kiểm soát tài nguyên sinh tồn và điều phối kỹ thuật dự phòng cho một người thứ hai."

"Cho ai?" Khóe môi Amara giật nhẹ. "Ren ư? Cậu ấy là một kỹ sư cơ khí thiên tài, nhưng cậu ấy hành động hoàn toàn bằng trực giác và cảm xúc; cậu ấy sẵn sàng đốt sạch số điện dự trữ chỉ để cứu vớt một cánh tay robot bị kẹt dưới giếng. Luísa thì đang rơi vào trạng thái ám ảnh cưỡng chế sau những sai số trong mô hình đứt gãy địa chấn Cổ Thạch. Ai có thể gánh được?"

"Cho người đang nín thở đứng rình ngoài cửa kia kìa," Ingrid đột ngột quay ngoắt đầu lại, ánh mắt sắc bén như chim ưng đâm xuyên qua lớp kính mờ phân cực, găm thẳng vào vị trí khe hở nơi An Khuê đang đứng chết lặng. "Vào đi, Kỹ sư Hồ. Tôi biết cô đã đứng chôn chân ở đó từ giây phút Amara bước chân qua bậu cửa này."

Tim An Khuê đập dồn dập vào lồng ngực. Biết mình không thể che giấu được nữa, cô không hề lùi bước hay tìm cách trốn chạy. Cô đưa bàn tay run nhẹ lên bảng cảm ứng bên ngoài, nhấn nút mở cửa.

Cánh cửa trượt êm ái lướt sang một bên. Một luồng không khí ấm áp hơn, nồng nặc mùi cồn i-ốt, thuốc sát trùng bay hơi và mùi mồ hôi lạnh toát ra từ cơ thể Amara phả thẳng vào mặt cô.

An Khuê bước qua bậu cửa kim loại, khép nép bên cạnh vách ngăn titan chịu lực. Cơn đau nhức nhối nơi khớp vai trái như một lời nhắc nhở tàn nhẫn về thực tại trần trụi mà họ đang cùng nhau đối mặt dưới tầng băng vĩnh cửu này.

"Em xin lỗi... Em nghe thấy tiếng động bất thường từ khoang ngủ bên cạnh," An Khuê nói nhỏ, giọng cô tuy khẽ nhưng mạch lạc, ánh mắt cô chuyển từ vẻ mặt căng thẳng của Ingrid sang đôi mắt trũng sâu, đỏ ngầu của Amara.

Amara nhìn cô gái trẻ người Việt Nam, vẻ mặt thoáng chút bàng hoàng, rồi một nụ cười cay đắng hiện lên trên bờ môi nhợt nhạt. Cô đưa bàn tay trái lên ôm lấy trán, day day thái dương:

"Khuê... cô đã nghe được những gì rồi?"

"Đủ để hiểu rằng trạm của chúng ta không thể tiếp tục vận hành theo phương thức cũ thêm một ngày nào nữa, thưa Chỉ huy," An Khuê thẳng thắn đáp lại, ánh mắt cô không hề né tránh. Cô không còn là cô kỹ sư sinh học trẻ tuổi, rụt rè chỉ biết cắm cúi bên những khay nuôi cấy vi tảo trong những tuần đầu tiên tàu đáp xuống Europa. Trải qua những thời khắc sinh tử—từ vụ rò rỉ amoniac ở khoang thủy canh, cuộc chiến nghẹt thở cứu vớt bể sinh khối nấm men, cho đến những giờ phút căng mình siết từng con ốc dưới hầm máy Kifaru—cô đã hiểu cái giá thực sự của từng lít oxy và từng watt điện ở nơi này. "Bác sĩ Ingrid nói hoàn toàn đúng. Nếu chị gục ngã vì đột quỵ hay co thắt mạch não trong khoang chỉ huy, trạm sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn không thể cứu vãn. Nhưng nếu chị bị đình chỉ quyền lực bằng một quyết định y tế cưỡng chế, tinh thần của cả đội sẽ sụp đổ ngay trong bữa ăn sáng mai."

Ingrid kéo mạnh một chiếc ghế xoay bọc thép lại gần, ngồi xuống và khoanh tay trước ngực, ánh mắt quan sát An Khuê như muốn soi thấu từng suy nghĩ:

"Vậy cô có dám nhận lấy trách nhiệm này không, An Khuê? Tiếp nhận quyền điều phối tài nguyên không phải là một vinh dự, càng không phải là việc ngồi gõ bàn phím chia điện như trong các bài thực hành mô phỏng ở Trung tâm Huấn luyện Mặt Đất. Đó là việc cô sẽ phải lạnh lùng nói 'Không' khi Luísa khóc lóc xin thêm năm trăm watt cho mạng cảm biến địa chấn; đó là việc cô phải thẳng tay cắt giảm khẩu phần nước ngọt của Ren khi anh ấy làm việc quá giờ trong xưởng cơ khí Tanuki; và đó là việc cô phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lương tâm nếu những phép tính phân bổ calo nghiệt ngã của cô khiến một ai đó ngất xỉu vì kiệt sức trong ca trực dưới đáy giếng khoan."

An Khuê hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô căng lên dưới lớp vải bạt bảo hộ mỏng manh. Cô cảm nhận rõ ràng sức nặng ngột ngạt của ba cây số băng bên trên đầu mình, cảm nhận được sự hữu hạn đến tàn nhẫn của từng nguồn tài nguyên đang cạn kiệt dần. Cô nhìn thẳng vào Amara, ánh mắt kiên định lạ thường:

"Em là người quản lý toàn bộ vòng tuần hoàn sinh học của trạm này—từ chu trình nước ngưng tụ, cân bằng nitơ, thu hồi oxy, chuyển hóa carbon cho đến nuôi cấy sinh khối vi sinh. Bản chất của việc duy trì sự sống sinh học cũng chính là điều phối các dòng năng lượng ở cấp độ phân tử. Em hiểu rõ từng giới hạn vật lý của trạm, hiểu cỗ máy Kifaru có thể chịu đựng đến đâu, và hiểu cơ thể của mỗi người trong chúng ta cần những gì để không ngã quỵ. Em có thể làm được, nếu Chỉ huy trao cho em niềm tin đó."

Amara nhìn trừng trừng vào cô gái đối diện. Trong đôi mắt thâm quầng của người phụ nữ Kenya dường như đang diễn ra một trận cuồng phong nội tâm dữ dội. Là một người chỉ huy xuất thân từ quân đội, Amara luôn tâm niệm rằng người lãnh đạo phải là tấm khiên vững chắc nhất, phải gánh vác toàn bộ gánh nặng và nỗi đau thay cho cấp dưới. Nhưng giờ đây, tấm khiên ấy đã nứt toác, và nếu cô tiếp tục ngoan cố ôm giữ lấy nó, nó sẽ vỡ vụn và đè bẹp tất cả những người đứng sau lưng cô.

"Không chỉ là những dòng lệnh điều phối trên màn hình máy tính đâu, Khuê à," Amara chậm rãi lên tiếng, giọng cô trầm lắng và mang một sức nặng ghê gớm.

Cô run rẩy đưa tay lên cổ áo khoác, cởi nút gài trên cùng, rồi rút ra từ bên trong một sợi dây cáp bọc nilon bện chịu lực siêu bền.

Treo ở đầu sợi dây là một khối kim loại đặc biệt làm bằng hợp kim vonfram mạ crôm đen mờ. Nó có hình trụ lục giác, dài chừng mười centimet, với những đường rãnh khía cơ học phức tạp được cắt bằng chùm tia laser chính xác đến từng micromet. Nó không phải là một tấm thẻ từ tính, không phải là một con chip sinh trắc học, và càng không phải là một đoạn mã khóa điện tử có thể bị AI Mây ghi đè, vô hiệu hóa hay bẻ khóa khi hệ thống bị sập nguồn.

Đó là chiếc chìa khóa cơ học dự phòng duy nhất của Khoang Năng lượng Kifaru—chiếc chìa khóa vật lý tối cao dùng để mở khóa các van xả áp khẩn cấp và kích hoạt thủ công giao thức tái phân bổ điện lực nền trực tiếp trên bảng điều khiển phần cứng của cụm tua-bin phát điện.

"Ren nắm giữ chiếc chìa khóa khóa dòng dung dịch làm mát sơ cấp dưới hầm máy. Còn tôi giữ chiếc chìa khóa này," Amara đặt sợi dây có khối hợp kim vonfram lạnh ngắt vào lòng bàn tay mở rộng của An Khuê. Kim loại nặng trịch, truyền qua lớp biểu bì da một cảm giác buốt giá đến tận xương tủy. "Khi tôi trao vật này cho cô, An Khuê, đồng nghĩa với việc tôi trao cho cô quyền phủ quyết tuyệt đối đối với mọi yêu cầu trích xuất năng lượng vượt định mức của toàn trạm. Kể cả yêu cầu đó được đưa ra từ chính bản thân tôi."

An Khuê từ từ khép những ngón tay lại. Khối hợp kim góc cạnh cấn sâu vào lòng bàn tay cô, mang lại một cơn đau nhói buốt, nhưng chính cái cảm giác đau đớn chân thực đó lại tạo nên một điểm tựa cơ học vững chắc đến lạ kỳ giữa một thế giới đang chao đảo.

"Em tiếp nhận, thưa Chỉ huy," An Khuê nói, giọng cô đanh lại, từng từ rành rọt như lời thề danh dự. "Em hứa sẽ không để lò Kifaru rơi vào trạng thái quá tải tới hạn, và em sẽ không để bất kỳ ai trong năm người chúng ta phải chết vì thiếu hụt tài nguyên sinh tồn."

"Rất tốt," Ingrid ngắt lời, trong giọng nói của vị bác sĩ dạn dày kinh nghiệm thoáng qua một tia nhẹ nhõm hiếm hoi, nhưng nét mặt cô lập tức trở lại vẻ nghiêm khắc thường nhật. Cô quay người sang chiếc tủ thuốc kim loại âm tường, áp lòng bàn tay vào ô quét sinh trắc học để mở khóa, rồi rút ra một máy quét quang học cầm tay cùng một tập hồ sơ in trên giấy nén chống ẩm. "Nhưng chúng ta không thể duy trì trạm này chỉ bằng những lời hứa danh dự hay những thỏa thuận miệng trong đêm tối. Nếu chúng ta muốn toàn bộ năm người này còn sống để bước lên tàu Umoja vào mười bốn tháng nữa, chúng ta cần một cơ chế phòng ngừa có tính cưỡng chế tuyệt đối."

Ingrid kéo chiếc bàn kim loại vào chính giữa khoảng trống ngăn cách ba người, đặt tập hồ sơ lên mặt bàn lạnh ngắt.

"Tôi gọi đây là Liên minh An toàn Ba bên," Ingrid nói, ngón tay trỏ vạch ba đỉnh của một tam giác vô hình trên mặt thép. "Ba chúng ta sẽ là ba chân kiềng giữ cho cấu trúc này không sụp đổ. Amara tiếp tục giữ quyền chỉ huy chiến lược tối cao, chịu trách nhiệm về vận hành tổng thể, giao thức an toàn với thế giới bên ngoài và ra quyết định cuối cùng trong mọi tình huống khẩn cấp ngoài không gian mở. An Khuê nắm toàn quyền kiểm soát thực tế đối với các dòng năng lượng, hạn ngạch vật tư tiêu hao, khẩu phần dinh dưỡng và toàn bộ chu trình tái sinh sinh học. Còn tôi, với tư cách là Sĩ quan Y tế Trưởng, giữ quyền kiểm soát tuyệt đối về trạng thái thể chất, sức khỏe tâm thần và áp đặt các giới hạn đỏ y tế cho từng thành viên."

Bác sĩ người Na Uy bật máy quét cầm tay. Chùm tia sáng xanh quét qua đồng tử và các vi mạch nhận diện cấy dưới da cổ tay của từng người một, phát ra những tiếng *bíp* xác nhận khô khốc.

"Quy trình vận hành mới sẽ có hiệu lực chính xác từ năm giờ không không sáng mai, với ba điều khoản bất khả xâm phạm:

Thứ nhất, kiểm tra chéo sức khỏe thể chất và tâm thần bắt buộc sau mỗi bốn mươi tám giờ. Không một ai—kể cả tôi—được phép tự ý chỉ định, sử dụng thuốc an thần, thuốc ức chế thần kinh hay bất kỳ chất kích thích sinh hóa nào mà không có chữ ký xác thực đối kiểm của hai người còn lại.

Thứ hai, nguyên tắc minh bạch tuyệt đối về các giới hạn thể chất. Bất kỳ một triệu chứng suy giảm chức năng nào—từ các cơn đau nửa đầu và co giật cơ của Amara, vết rách cơ vai của An Khuê, cho đến các cơn đau đốt sống do vi trọng lực của chính tôi—đều phải được ghi nhận chi tiết vào cuốn nhật ký vật lý bằng giấy này, hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát và phân tích dữ liệu của AI Mây.

Thứ ba, nguyên tắc đồng thuận hai phần ba: nếu bất kỳ ai trong ba chúng ta vi phạm giới hạn làm việc an toàn, cố tình che giấu bệnh lý đe dọa đến an nguy của tập thể, hai người còn lại có toàn quyền biểu quyết đồng thuận để tước bỏ quyền hạn của người đó ngay lập tức mà không cần phải thông qua bất kỳ cuộc họp toàn trạm nào."

An Khuê nhìn Ingrid. Dưới ánh sáng trắng gắt gao của đèn y tế, cô nhận ra những vết chai sần thô ráp trên các đầu ngón tay của vị bác sĩ, và nơi khóe mắt xám tro của người phụ nữ Na Uy cũng đang giật nhẹ từng cơn vì kiệt sức. Ingrid không chỉ đang tìm cách cứu lấy mạng sống của Amara; cô ấy đang tuyệt vọng dựng lên một hàng rào an toàn bằng thép để bảo vệ chính bản thân mình và cả cái trạm này trước khi áp lực khủng khiếp của Europa nghiền nát tất cả.

"Tôi chấp thuận," Amara đặt bàn tay trái run rẩy nhưng dứt khoát lên mặt bàn kim loại.

"Em chấp thuận," An Khuê đặt bàn tay mình lên trên tay Amara, những ngón tay cô vẫn siết chặt lấy khối chìa khóa vonfram lạnh buốt của lò Kifaru.

Ingrid đặt bàn tay thô ráp, lạnh ngắt của mình lên trên cùng, khóa chặt tam giác quyền lực:

"Giao ước đã được thiết lập. Mây sẽ được cập nhật các phân quyền kỹ thuật mới vào lúc năm giờ sáng. Còn bây giờ, Amara... leo lên giường kiểm tra ngay lập tức."

Lần này, Amara không hề cất tiếng phản đối. Cô chậm rãi, nặng nề ngả lưng xuống tấm đệm bọt biển bọc cao su y tế, thở hắt ra một hơi dài dường như đã bị nén chặt trong lồng ngực suốt nhiều tuần lễ đằng đẵng qua.

Ingrid mở khay dụng cụ, lấy ra một ống tiêm tự động không kim vận hành bằng áp lực khí nén. Cô điều chỉnh liều lượng trên thân ống, rồi áp sát đầu phun bằng thép không gỉ vào vị trí động mạch cảnh bên cổ Amara.

Một tiếng *phụt* nén khí êm ái, sắc gọn vang lên.

Dung dịch hợp chất giãn mạch vi mô kết hợp với các dưỡng chất thần kinh công nghệ cao lập tức được bắn xuyên qua biểu bì da, thẩm thấu trực tiếp vào hệ tuần hoàn trung ương. Chỉ trong vòng chưa đầy một phút, những đường gân xanh căng phồng trên thái dương của Amara dần dần xẹp xuống. Các bó cơ mặt co cứng của cô giãn ra thấy rõ, những nếp nhăn căng thẳng nơi khóe mắt và vầng trán phẳng lại. Và chỉ sau hai phút, nhịp thở đứt quãng, nghẹn ngào ban nãy đã chuyển thành những nhịp hít thở sâu, đều đặn và êm ái.

Đó là giấc ngủ sinh lý thực sự đầu tiên của Amara Njoroge sau nhiều tuần bị giam cầm trong những cơn ác mộng triền miên và gánh nặng trách nhiệm đè nặng đến nghẹt thở.

An Khuê đứng lặng nhìn người chỉ huy của mình đang chìm sâu vào giấc ngủ. Dưới ánh sáng mờ ảo của chế độ nghỉ ngơi vừa được kích hoạt, Amara trông không còn là một bức tường thành thép sừng sững, không còn là vị chỉ huy bất khả chiến bại của Trạm Borealis. Cô chỉ là một người phụ nữ ba mươi chín tuổi bằng xương bằng thịt, một con người cô độc đang phải gánh trên đôi vai gầy sinh mạng của năm đồng đội giữa vùng hoang mạc băng giá chết chóc và xa xôi nhất của hệ Mặt Trời.

Trong khi Ingrid cẩn thận thu dọn các dụng cụ tiêm truyền và ghi chép vào cuốn sổ theo dõi, An Khuê bước lại gần bàn thao tác y tế để lấy lại chiếc máy tính bảng cá nhân của mình. Ánh mắt cô vô tình dừng lại ở góc khay cấp cứu kim loại vừa được Ingrid mở sẵn trên giá đỡ.

Bên cạnh những ống thuốc giảm đau và chống sốc phản vệ tiêu chuẩn, An Khuê nhìn thấy một dải băng keo màu cam phản quang—ký hiệu quy ước quốc tế dành cho các loại thuốc cấp cứu tối khẩn cấp bậc cao nhất—được dán quanh thân một lọ thủy tinh nhỏ chứa dung dịch trong suốt không màu.

Trên nhãn thuốc in rõ dòng chữ kỹ thuật sắc nét:

*Levetiracetam / Natri Valproate dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch — Kiểm soát cơn co giật toàn thể và trạng thái động kinh cục bộ kháng trị.*

Bàn tay An Khuê khẽ siết chặt lại, lồng ngực cô thắt lại một cơn ớn lạnh.

Ingrid không chỉ đơn thuần lo lắng về một cơn đột quỵ thoáng qua hay một đợt thiếu máu cục bộ thông thường. Vị bác sĩ dạn dày kinh nghiệm này đã âm thầm chuẩn bị sẵn sàng cho kịch bản tồi tệ nhất: những cơn co giật vỏ não toàn phần có thể bùng phát và xé nát hệ thần kinh của Amara bất kỳ lúc nào nếu áp lực nội sọ không thể hạ giảm kịp thời.

Ingrid quay người lại, bắt gặp ánh mắt của An Khuê đang dán chặt vào lọ thuốc dán băng keo cam. Người phụ nữ Na Uy không hề tỏ ra lúng túng, cũng không hề đưa tay che giấu món đồ chết chóc ấy. Cô chỉ khẽ gật đầu một cái thật chậm rãi—một cái gật đầu nặng trĩu thay cho lời xác nhận tàn nhẫn về mức độ hiểm nghèo của tình thế mà cả ba người bọn họ vừa cùng nhau bước vào gánh vác.

"Đi nghỉ đi, Khuê," Ingrid thì thầm, giọng cô đã vơi bớt đi vẻ gay gắt, chỉ còn lại sự mệt mỏi trần trụi của một người lính canh gác đêm trường. "Cô chỉ còn đúng ba tiếng đồng hồ trước khi chuông báo thức ca trực mới vang lên. Kể từ sáng mai, toàn bộ gánh nặng về sự sống còn của cái trạm này sẽ đè nặng lên đôi vai của cô đấy."

An Khuê khẽ cúi đầu chào Ingrid, rồi bước lùi ra khỏi buồng khám. Cánh cửa trượt khí nén khép lại sau lưng cô với một tiếng *xì* lạnh lùng, trả lại cho hành lang mô-đun sinh hoạt vẻ tĩnh mịch ma quái thường nhật.

Cô bước đi chầm chậm dọc theo dãy hành lang hình trụ u ám, tiến thẳng về phía Trung tâm Điều hành trạm.

Lực hấp dẫn yếu ớt khiến cơ thể cô như bồng bềnh trôi đi trong một giấc mơ kỳ dị, nhưng sức nặng của khối hợp kim vonfram treo trong túi áo trước ngực lại liên tục va đập vào xương ức, kéo cô trở về với thực tại nghiệt ngã.

Màn hình chính của AI Mây trong Trung tâm Điều hành vẫn đang phát ra thứ ánh sáng màu xám tro ảm đạm của chế độ ngủ đông. Không gian rộng lớn vắng tanh, chỉ có tiếng quạt gió làm mát của các phiến máy tính lượng tử kêu vo ve đều đặn như tiếng côn trùng đêm hè trên Trái Đất.

An Khuê bước tới trước bàn điều khiển trung tâm Kifaru-Gen. Cô rút chiếc chìa khóa vonfram ra khỏi túi áo, chạm nhẹ phần đầu có rãnh cơ học vào vòng cảm ứng kim loại nằm bên dưới màn hình điều phối chính.

Một tiếng *tách* cơ học vang lên đanh gọn từ sâu bên trong bảng mạch.

Màn hình lập tức bừng sáng, những dòng lệnh bằng chữ màu xanh lục bảo bắt đầu cuộn chảy với tốc độ chóng mặt, ghi đè lên các thuật toán tự động của Mây:

*Xác nhận thẩm quyền: Sĩ quan Giám sát Tài nguyên & Kỹ thuật Dự phòng — Hồ An Khuê.* *Mức truy cập hệ thống: Cấp 1-B (Toàn quyền điều phối cơ học).* *Quyền hạn thiết lập: Kiểm soát trực tiếp phân phối điện năng, chu trình tái sinh khí quyển, dự trữ nước ngọt và kho vật tư sinh học.* *Dung lượng khả dụng từ lò phản ứng Kifaru: 24,5 kWe.* *Tải nền thiết yếu duy trì sự sống: 19,2 kWe.* *Biên độ điều phối tự do thực tế: 5,3 kWe.*

Những con số phát sáng lân tinh xanh biếc nhảy múa trên màn hình, phản chiếu rõ mồn một trong đáy mắt An Khuê.

Năm phẩy ba kilowatt điện.

Một con số quá đỗi nhỏ bé, nực cười và tội nghiệp. Ở Trái Đất, năm phẩy ba kilowatt chỉ tương đương với lượng điện năng để vận hành hai chiếc ấm đun nước siêu tốc trong một căn bếp gia đình, hay một chiếc máy điều hòa không khí cỡ trung bình. Nhưng ở nơi đây—dưới ba cây số băng dày thăm thẳm của Europa, cách Trái Đất hơn sáu trăm triệu cây số không gian trống rỗng và chết chóc—năm phẩy ba kilowatt điện ấy chính là lằn ranh mong manh duy nhất ngăn cách giữa sự sống của năm con người và sự đóng băng vĩnh cửu của Trạm ngầm Borealis.

Năm phẩy ba kilowatt đó sẽ phải bị xé nhỏ ra từng phần: một phần sáu kilowatt phải trích ra cho máy ly tâm y tế quay cuồng mỗi ngày để giữ cho xương tủy của đồng đội không vỡ vụn thành bột; vài trăm watt phải dồn cho giàn đèn LED màu tím ngắt ở Vườn Bình Minh để nuôi dưỡng những mầm đậu tương sinh tồn; một phần khác phải cấp cho các vòng đệm nhiệt giữ cho lớp vỏ Khoang Trú ẩn Hạt Nhân không bị nứt toác vì nhiệt độ âm một trăm bảy mươi độ C bên ngoài; và từng watt điện chắt chiu còn lại sẽ phải truyền dẫn dọc theo sợi cáp quang siêu mỏng đang run rẩy dưới đáy giếng khoan Borealis sâu hai nghìn mét—nơi những xung sáng màu ngọc lam bí ẩn, kỳ dị vẫn đang nhấp nháy liên hồi từ bóng tối vô tận của đại dương ngầm Europa.

An Khuê đặt bàn tay lên bảng điều khiển, những ngón tay cô lướt nhẹ trên các phím cơ học lạnh ngắt. Khối chìa khóa hợp kim vonfram trong túi áo trước ngực nặng trĩu, áp sát vào lồng ngực cô, truyền qua lớp vải dày một cảm giác buốt giá nhưng đều đặn như một nhịp đập thứ hai.

Khi cô cầm lấy bảng điều phối của trạm, An Khuê hiểu rằng bản thân mình không còn quyền được mệt mỏi, không còn quyền thất bại, và dứt khoát không bao giờ được phép gục ngã trước bất kỳ một áp lực nào nữa.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories