Cái giá của một ngày xanh
Mùi men thối nồng nặc và bọt khí màu xám đục trào qua mép kính quan sát của lò phản ứng sinh học số hai đánh thức Hồ An Khuê sau giấc ngủ chập chờn trên sàn phòng sinh học.
Cô giật bắn mình, xương bả vai va mạnh vào chân giá đỡ bằng hợp kim nhôm khiến cơn đau từ vết rách cơ trên gai nhói lên buốt óc. Vết thương từ đợt rung chấn ba ngày trước chưa kịp khép miệng; từng sợi cơ bị kéo căng rát bỏng như có ai cầm một lưỡi bào cùn cạo dọc theo mép xương. Vị đắng ngắt của thuốc giảm đau ketorolac vẫn còn đọng lại đặc quánh dưới cuống họng, trộn lẫn với vị kim loại của lớp nước bọt khan hiếm. Trong một tích tắc mất phương hướng, ánh đèn LED màu tím nhạt của giàn quang hợp phổ hẹp phủ lên đồng tử cô một bức màn mờ ảo, nhập nhèm giữa thực tế và cơn ác mộng về những xung sáng ngọc lam lập lòe dưới đáy vực Borealis—nơi ba điểm quang học bí ẩn từng chớp tắt giữa các cột nước siêu lạnh sâu hàng trăm cây số.
Nhưng thứ kéo cô trở lại thực tại trần trụi, lạnh lẽo của Trạm Ánh Sáng Europa không phải là tín hiệu từ đại dương sâu thẳm, mà là tiếng xì xì rợn người phát ra từ van giảm áp khẩn cấp của bồn ủ men vi sinh.
"Mây! Báo cáo áp suất buồng nuôi cấy số hai!" An Khuê loạng choạng gượng dậy, vớ lấy bảng điều khiển cầm tay đặt trên mép bàn thao tác vô trùng. Lớp tất dệt sợi chống trượt ma sát lẹt xẹt trên mặt sàn kim loại lạnh ngắt. Nhiệt độ của Phân khu Sinh học Lam lúc này chỉ xấp xỉ 11 độ C. Đó là hệ quả trực tiếp từ chính sách tiết kiệm nhiệt khắt khe mà trạm đang phải gánh chịu: dòng nhiệt từ máy phát đồng vị phóng xạ nhiệt điện (RTG) Kifaru đã bị điều hướng gần như toàn bộ sang việc duy trì nhiệt độ tối thiểu cho các khối ắc quy lithium-lưu huỳnh dưới Tầng B và bộ phận sưởi của các van cân bằng áp suất ngoài vỏ trạm.
Giọng nói trầm tĩnh của trí tuệ nhân tạo Mây vang lên từ loa gắn ở góc vách ngăn bằng hợp kim titan, mang theo âm điệu đều đặn, phẳng lặng đến mức tàn nhẫn:
"Cảnh báo cấp độ hai. Áp suất bồn nuôi cấy nấm men Y-44 đang ở mức hai phẩy bốn bar, vượt ngưỡng an toàn vận hành mười lăm phần trăm. Tốc độ tăng áp đạt không phẩy không tám bar trên mỗi mười phút. Độ đục quang học OD600 giảm từ bốn mươi tám xuống còn hai mươi mốt phẩy năm trong vòng bốn giờ qua. Nồng độ carbon dioxide thoát khí tăng đột biến, kèm theo dấu hiệu phát thải khí sulfide và acid hữu cơ bay hơi."
Bọt xám bốc mùi chua nồng như bã bia thối rữa đang đùn lên sền sệt qua lớp gioăng cách ly của mắt kính quan sát thạch anh, tụ lại thành từng mảng nhờn nhợt rồi nhỏ tong tỏng xuống khay hứng sự cố bằng thép không gỉ bên dưới. Đó là mẻ sinh khối nấm men chịu lạnh *Saccharomyces cerevisiae* chủng Y-44—bốn mươi lít dung dịch giàu đạm thô, phức hợp vitamin nhóm B và sắt sinh học mà cô cùng Ren Ishikawa đã tỉ mỉ nuôi cấy suốt sáu ngày đêm qua. Họ đã chắt chiu từng gram phosphor thu hồi từ hệ thống lọc chất thải sinh hoạt, cân đong từng miligram muối vi lượng để bù đắp cho sự sụp đổ của giàn vi tảo Spirulina sau sự cố rò rỉ nhiệt tuần trước. Chỉ còn chưa đầy mười tám tiếng nữa, mẻ men này sẽ bước vào pha thu hoạch đầu tiên để ly tâm, sấy thăng hoa và chế biến thành khẩu phần dinh dưỡng thiết yếu cho cả năm con người đang kiệt quệ trong lòng băng.
An Khuê run rẩy với lấy ống tiêm vô trùng tự động, cắm ngập đầu kim titan dài mười lăm centimet qua màng ngăn cao su của cổng trích mẫu khẩn cấp.
"Lấy mẫu vi sinh. Tách dòng mao quản ngay lập tức," cô lẩm bẩm trong hơi thở dồn dập, tự tay nạp lam kính thạch anh vào khay trượt của kính hiển vi điện tử quét môi trường (ESEM). Bàn tay cô run lẩy bẩy, các khớp ngón tay tím tái và cứng đờ vì cái lạnh khô khốc bao trùm buồng thí nghiệm.
Màn hình huỳnh quang phóng đại mười nghìn lần chớp sáng, phát ra tiếng rít siêu âm khe khẽ khi chùm điện tử quét qua bề mặt lớp dịch mẫu mỏng. An Khuê ghé sát mắt vào thị kính điện tử, hai bàn tay nắm chặt mép bàn đến trắng bệch các đầu ngón, móng tay cắm sâu vào lớp đệm cao su.
Hình ảnh hiển thị trên màn hình độ phân giải cao khiến dạ dày cô thắt nghẽn lại như vừa trúng một cú đấm cực mạnh.
Đáng lẽ khung hình phải ngập tràn những tế bào nấm men hình cầu tròn trịa, căng mọng, đang phân nhánh nảy chồi khỏe khoắn với màng tế bào đôi trơn láng đặc trưng của chủng Y-44 đã được biến đổi gene để chịu áp suất thẩm thấu cao. Nhưng trước mắt cô lúc này là một bãi tha ma hiển vi kinh hoàng. Hàng triệu tế bào nấm men đã bị ly giải hoàn toàn; màng ngoài của chúng rách toạc, co rút lại thành những mảnh vỏ protein vụn vỡ, méo mó, thủng lỗ chỗ như tàn tro mục rỗng. Dịch nội bào thoát ra ngoài nhuộm xám toàn bộ vi trường. Và chen chúc giữa những xác tế bào vỡ nát ấy là hàng triệu triệu trực khuẩn hình que ngắn, di động hỗn loạn với tốc độ kinh người, bám kết lại với nhau thành từng mảng biofilm nhầy nhụa, dày đặc, bao phủ kín bề mặt dung dịch mẫu.
"Mây... quét phân tích hệ gene ribosome 16S của tạp khuẩn ngay," giọng An Khuê lạc đi giữa tiếng thở gấp gáp.
Hệ thống xử lý của Mây mất bốn giây—bốn giây dài như cả thế kỷ—để đối chiếu chuỗi nucleotide với thư viện sinh học dự phòng của trạm:
"Kết quả nhận diện: *Bacillus epidermidis*—chủng trực khuẩn cơ hội thường trú vô hại trên biểu bì da người Trái Đất. Tỷ lệ tương đồng chuỗi base chín mươi chín phẩy tám phần trăm. Tạp khuẩn đã phát triển theo cấp số nhân trong môi trường giàu pepton, lấn át hoàn toàn quần thể nấm men mục tiêu. Chúng đã chuyển hóa toàn bộ cơ chất glucose và đường malt thành acid lactic, butyric và độc tố vi khuẩn chịu nhiệt. Mẻ sinh khối bốn mươi lít đã hỏng hoàn toàn. Nguy cơ lây nhiễm chéo sang các bể ủ mở lân cận là chín mươi tư phần trăm nếu áp suất buồng nuôi cấy phá vỡ màng lọc thoát khí."
Một chủng vi khuẩn trên da người.
Một thứ sinh vật ký sinh tầm thường đến mức chẳng ai bận tâm khi còn ở Trái Đất, nơi mà một hệ miễn dịch khỏe mạnh có thể dễ dàng kiểm soát và loại bỏ hàng triệu cá thể của chúng mỗi ngày chỉ bằng một lần rửa tay bằng xà phòng. Nhưng trong không gian kín mít và vô trùng nhân tạo của Trạm Ánh Sáng Europa, rơi vào một môi trường giàu dinh dưỡng được thiết kế hoàn hảo để nuôi sống sự sống, loài trực khuẩn da ấy đã biến thành một con quái vật hủy diệt, nuốt chửng toàn bộ công sức và hy vọng của cả phi hành đoàn.
Cánh cửa trượt của Khoang Sinh học Lam mở roẹt ra. Ren Ishikawa bước vào, trên tay vẫn cầm chiếc mỏ hàn siêu âm còn vương muội than và một cuộn dây dẫn quang học vừa gỡ từ giếng Borealis. Gương mặt kỹ sư robot người Nhật xám ngoét vì mất ngủ triền miên; hai hốc mắt anh trũng sâu, thâm quầng như bị đánh bầm, khóe miệng khô khốc nứt nẻ thành từng vệt rỉ máu li ti.
"An Khuê, tôi vừa chỉnh lại thông số đệm cho bộ laser thụ động của Nereid..." Ren dừng khựng lại giữa chừng khi mùi chua thối, tanh tưởi xộc thẳng vào cánh mũi. Anh chớp mắt lia lịa, buông thõng cánh tay cầm cuộn cáp, sững sờ nhìn dòng bọt xám đang sùi lên như bùn sôi trên mắt kính quan sát của bồn số hai. "Chuyện quỷ quái gì đang xảy ra với bồn số hai thế này? Mùi gì kinh tởm vậy?"
"Nhiễm khuẩn chéo," An Khuê nói, từng âm tiết bật ra khỏi môi cô nặng trĩu và run rẩy mất kiểm soát. "Một chủng trực khuẩn da người đã lọt vào trong. Toàn bộ mẻ nấm men bị ly giải. Chúng chết hết rồi, Ren. Bị thối rữa hoàn toàn."
Ren buông rơi chiếc mỏ hàn xuống mặt bàn kim loại tạo nên một tiếng *keng* chát chúa. Đôi mắt anh mở to bàng hoàng, con ngươi giãn rộng. "Không thể nào! Bồn số hai là hệ thống áp suất dương kín hoàn toàn mà? Hệ thống lọc HEPA cấp y tế và cụm van vi sinh ba lớp làm sao thủng được? Chúng ta đã kiểm tra rò rỉ áp suất trước khi cấy giống rồi cơ mà!"
"Chúng ta phải tìm ra điểm rò rỉ. Ngay bây giờ! Nếu màng lọc áp suất bị bục, vi khuẩn sẽ theo đường thông khí tràn sang toàn bộ vườn ươm!"
An Khuê lao tới cụm van lấy mẫu vi sinh nằm bên sườn bồn phản ứng. Ren nhanh chóng quỳ rạp xuống sàn bên cạnh cô. Dưới ánh đèn pin cực tím huỳnh quang rọi quét chéo qua các góc khuất, hai người nín thở kiểm tra từng mối nối kim loại, từng đường ren vặn và các ống dẫn dinh dưỡng phụ trợ.
Chỉ mất chưa đầy ba phút để chân lý phũ phàng và tàn nhẫn lộ diện.
Nằm ở khớp nối giữa đường xả áp thứ cấp và cổng tiêm dung dịch vi lượng, vòng gioăng cao su silicon màu trắng đục—bộ phận chịu trách nhiệm ngăn cách tuyệt đối giữa lòng lò ủ và môi trường bên ngoài—đã bị biến dạng nghiêm trọng. Nhiệt độ phân khu sinh học bị hạ thấp đột ngột xuống mức 10 độ C trong nhiều ngày để ưu tiên dòng điện cho khối ắc quy Tầng B, kết hợp với các đợt sốc nhiệt cục bộ mỗi khi bộ sưởi phụ của lò phản ứng bật tắt, đã khiến hợp chất polymer silicon mất đi độ đàn hồi tự nhiên. Nó bị co ngót không đều. Dưới kính lúp kiểm tra quang học có độ phóng đại hai mươi lần của Ren, một vết nứt chân chim dài chưa đầy một milimét—mảnh như một sợi tơ nhện—đang xé toạc mép trong của gioăng đệm.
Nhưng vết nứt vật lý ấy mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ nằm ở bảng nhật ký thao tác trích mẫu mà Mây vừa chiếu lên vách ngăn composite đối diện.
Dòng ghi nhận thời gian điện tử: *02:45 giờ chuẩn trạm*. Người thực hiện: *Hồ An Khuê và Ren Ishikawa*.
Đó là thời điểm sau khi cả hai đã làm việc liên tục suốt mười tám giờ đồng hồ không nghỉ để xử lý sự cố luồn cáp giếng Borealis và cân bằng nồng độ bùn tảo. Khi lấy mẫu kiểm tra mật độ tế bào nấm men ở chu kỳ 72 giờ, vì các đầu ngón tay đã sưng phù và run rẩy vì lạnh, vì bộ não đã tê liệt bởi kiệt sức và quá tải thông tin, An Khuê đã chỉ bấm nút xông hơi cồn nhanh mà bỏ qua bước quét nhiệt vô trùng kép bằng đèn thạch anh UVC 254 nm kéo dài chín mươi giây theo quy trình bắt buộc. Ren, người đứng giám sát quy trình an toàn sinh học lúc đó, đã tựa trán vào hộp công tắc điện thiếp đi trong tư thế đứng và ký xác nhận mù quáng vào biên bản vận hành của Mây bằng một cái chạm vân tay vô thức.
Một hạt vảy da li ti rơi ra từ mép cổ tay áo bảo hộ của họ khi họ kéo găng tay. Một kẽ hở co ngót lạnh dưới một milimét. Một thao tác bị cắt xén chín mươi giây vì mệt mỏi cùng cực.
Cái giá phải trả là bốn mươi lít protein nguyên chất, nguồn sống duy nhất có thể bảo đảm cho họ vượt qua tháng đầu tiên trong chuỗi bốn trăm hai mươi lăm ngày chờ đợi con tàu tiếp tế Umoja từ Trái Đất.
"Tôi... là lỗi của tôi," Ren ôm lấy đầu, các khớp ngón tay sưng đỏ vì cước lạnh cào mạnh vào mái tóc bù xù đầy gàu. Giọng anh vỡ vụn ra thành từng mẩu vụn tuyệt vọng. "Lúc đó tôi đã gật đầu bảo cô là mọi thứ ổn... Tôi giục cô làm nhanh để chúng ta có thể chợp mắt nửa tiếng. Lẽ ra tôi phải canh chừng chu trình quét nhiệt UVC. Là tôi bất cẩn. Tôi là người ký giám sát..."
"Không, Ren. Bàn tay cắm kim tiêm vào là của tôi," An Khuê nghẹn ngào, cổ họng cô đắng chát như vừa nuốt phải một vốc tro tàn. "Chính tôi đã vội. Tôi đã tự lừa dối mình rằng bồn đang ở áp suất dương thì không thể có dòng khí ngược... Tôi đã coi thường quy chuẩn. Tôi đã phạm vào điều cấm kỵ sơ đẳng nhất của một kỹ sư sinh học không gian."
"Độc tố vi khuẩn đang lan nhanh," giọng Mây cảnh báo, lần này có thêm tiếng còi tít tít ngắt quãng đầy đe dọa vang lên từ bảng điều khiển trung tâm. "Áp suất bồn nuôi cấy đạt hai phẩy sáu bar. Khí nén bắt đầu làm phồng màng lọc sinh học PTFE. Nếu vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống thông gió chung của Vườn Thủy Canh Bình Minh, tám mươi khay mầm cải và toàn bộ rễ phôi đậu E-Bean-09 sẽ bị nhiễm nấm mốc và hoại tử mô trong vòng mười hai giờ."
Không còn thời gian để hối hận, không còn chỗ cho sự tự dằn vặt hay những lời nhận lỗi vô nghĩa. Sự tồn vong của toàn bộ hệ thống sinh thái mong manh còn lại của trạm đang bị treo trên đầu sợi tóc.
An Khuê nhìn chằm chằm vào chiếc van tay gạt màu đỏ tươi được niêm phong bằng một sợi dây chì xoắn nằm ngay dưới đáy bồn số hai: *Van Nhiệt Phân Khẩn Cấp (Emergency Pyrolysis Valve)*.
Nếu giật chốt niêm phong và xoay van sang nấc cực đại, một luồng điện trở công suất 4 kW sẽ kích hoạt cuộn dây gia nhiệt bao quanh đáy bồn, đốt cháy toàn bộ dung dịch lên 300 độ C dưới áp suất cao, phân hủy toàn bộ sinh khối hữu cơ thành tro carbon vô cơ trơ và khí methane trước khi xả thẳng ra khoang chứa chất thải kín. Đó là biện pháp phòng thủ cuối cùng để bảo vệ trạm khỏi thảm họa lây nhiễm sinh học lan rộng.
Bốn mươi lít sinh khối. Mồ hôi, máu, những đêm thức trắng, hy vọng về những bữa ăn có vị bánh mì ấm áp thay cho những thanh lương khô nhạt nhẽo như bột đá vôi. Tất cả sẽ biến thành một đống tro đen vô dụng trong chớp mắt.
"An Khuê..." Ren ngẩng lên nhìn cô, ánh mắt anh tràn ngập sự van nài đau đớn. "Chúng ta không thể lọc ly tâm sao? Dùng màng lọc nano siêu mịn tách bỏ trực khuẩn rồi giữ lại phần dịch protein hòa tan để tiệt trùng nhiệt... Chúng ta vẫn có thể cứu vãn một phần acid amin mà..."
"Không được!" An Khuê hét lên, nước mắt rốt cuộc không thể kìm nén được nữa trào ra nóng hổi, làm nhòe đi tầm nhìn. "Trực khuẩn da đã tiết độc tố nội bào lipopolysaccharide và ngoại bào vào dịch nuôi! Nếu tiệt trùng nhiệt thông thường, độc tố chịu nhiệt vẫn còn nguyên vẹn ở đó! Chúng ta sẽ giết chết chính mình bằng suy gan và suy thận cấp tính! Ren, trạm không có máy lọc máu dự phòng! Anh có hiểu điều đó không hả?"
Cô đưa bàn tay run rẩy bẻ gãy chốt chì niêm phong. Cạnh sắc của sợi dây kim loại cứa rách đầu ngón tay cái của cô, rỉ ra một giọt máu đỏ tươi, nhưng cô không hề chớp mắt, cũng không hề cảm thấy đau đớn. Nỗi đau thể xác lúc này quá nhỏ bé trước sự sụp đổ đang diễn ra trong lồng ngực.
"Mây, mở khóa quyền điều khiển van nhiệt phân sinh học bồn số hai. Mã ủy quyền: Hồ An Khuê, Kỹ sư Sinh học Trưởng, BIO-882-AK."
"Mã ủy quyền được chấp nhận. Hệ thống nhiệt phân sẵn sàng. Xác nhận hành động tiêu hủy?"
An Khuê cắn chặt môi dưới đến bật máu, dùng cả hai tay nắm lấy cần gạt kim loại lạnh ngắt và dằn mạnh xuống một góc chín mươi độ.
*Tách! Rù... rù... Ù...!*
Dòng điện tải cực lớn từ cụm pin Tầng B lập tức rít lên dữ dội trong hệ thống cáp ngầm dưới sàn trạm. Ánh sáng của các dàn đèn LED trong Khoang Sinh học Lam chớp tắt một nhịp khi điện áp toàn khu vực sụt giảm đột ngột. Qua lớp kính quan sát chịu nhiệt dày cộm, An Khuê nhìn thấy chất lỏng màu xám đục bên trong bồn bắt đầu sôi sùng sục, bọt khí bốc lên cuồn cuộn rồi nhanh chóng sẫm màu lại—từ xám chuyển sang nâu vàng, nâu đậm, rồi đen kịt quánh đặc như hắc ín.
Mùi khét lẹt của protein bị thiêu hủy ở nhiệt độ cực cao bắt đầu rỉ qua các khe hở của van cân bằng áp suất, nồng nặc, ngột ngạt và mang theo vị đắng nghét của cái chết sinh học. Khối sinh khối từng là niềm hy vọng lớn nhất của trạm co rút lại thành một lớp bùn carbon cháy đen, bốc khói mù mịt sau lớp kính thạch anh.
An Khuê đứng chôn chân tại chỗ, hai bàn tay buông thõng bên sườn, các đầu ngón tay dính máu áp vào lớp vải bảo hộ lạnh giá. Cô cảm thấy một phần linh hồn của mình dường như cũng vừa bị thiêu rụi cùng với bốn mươi lít dưỡng chất ấy, biến thành tro tàn trôi dạt vào hư vô.
***
Chưa đầy mười lăm phút sau, tiếng chuông báo động y tế đặc biệt vang lên dồn dập trên toàn bộ các kênh liên lạc nội bộ của Trạm Ánh Sáng Europa. Âm thanh ba hồi ngắt quãng mang mã ưu tiên đỏ đánh thức từng ngóc ngách của công trình nằm sâu dưới lòng băng.
"Toàn thể phi hành đoàn, tập trung ngay lập tức tại Y xá Svalbard. Đây là phiên kiểm tra y tế bắt buộc theo Điều 4 Quy chế An toàn Không gian Quốc tế. Mọi hoạt động bảo trì và kỹ thuật phải dừng lại ngay lập tức. Tôi nhắc lại: ngay lập tức."
Giọng của Bác sĩ Ingrid Solberg vang lên qua loa phóng thanh không hề có một chút giận dữ, nhưng sự đanh thép, lạnh lùng và khô khốc trong từng âm tiết khiến không một ai trong trạm dám chần chừ hay đưa ra bất kỳ lý do trì hoãn nào.
Năm phút sau, năm con người tề tựu trong không gian chật hẹp, ngột ngạt của Y xá Svalbard. Căn phòng nồng nặc mùi thuốc sát trùng clorin và hơi lạnh đặc trưng tỏa ra từ các tủ bảo quản mẫu sinh thiết mô âm 80 độ C.
Chỉ huy Amara Njoroge bước vào đầu tiên. Nét mặt của người phụ nữ Kenya nghiêm nghị như tạc bằng đá bazan, nhưng đôi mắt sâu thẳm của cô lộ rõ sự mệt mỏi tột cùng sau những ngày đêm gồng gánh trách nhiệm của một chỉ huy trạm bị cô lập. Luísa Carvalho theo sát phía sau, hai tay ôm chặt tập hồ sơ ghi nhận dữ liệu địa chấn; đôi mắt nhà địa vật lý người Brazil trũng sâu vì những đêm dài thức trắng theo dõi các xung vi chấn kỳ lạ từ đới Cổ Thạch. An Khuê và Ren bước vào sau cùng. Cả hai cúi gằm mặt xuống sàn, trên bộ đồ bảo hộ của họ vẫn còn vương lại mùi khét lẹt của mẻ nấm men vừa bị thiêu hủy trong lò nhiệt phân.
Ingrid không ngồi ở bàn khám như thường lệ. Nữ bác sĩ người Na Uy đứng sừng sững bên cạnh màn hình hiển thị sinh trắc học trung tâm, khoanh hai tay trước ngực. Mái tóc vàng cắt ngắn của cô dường như xơ xác và bạc màu hơn dưới ánh đèn neon trắng bệch, và ánh mắt ẩn sau cặp kính gọng titan sắc lẻm như một lưỡi dao mổ vừa rút ra khỏi dung dịch cồn.
Trước khi cất lời, Ingrid bước lại gần tủ kính kiểm tra mẫu ở góc phòng để lấy tài liệu. An Khuê, vốn đang đứng nép sát vách ngăn kim loại vì cảm giác tội lỗi đè nặng, tình cờ nhìn thấy qua khe cửa kính mờ một hành động bất thường: Ingrid lén mở nắp một lọ thuốc nhỏ không dán nhãn mác, dốc nhanh hai viên nén màu trắng ngà vào lòng bàn tay rồi ngửa cổ nuốt ực mà không cần nước. Bàn tay của nữ bác sĩ khẽ run lên một nhịp co thắt trước khi cô nhanh chóng siết chặt lại thành nắm đấm để ghìm lại cơn đau. An Khuê nhận ra hình dáng của viên nén ấy—đó là loại thuốc ức chế dẫn truyền thần kinh liều cao, thứ chỉ được chỉ định trong các ca tổn thương cột sống hoặc chèn ép tủy nặng. Nhưng khi Ingrid quay người lại đối diện với cả nhóm, vẻ mặt cô lập tức trở về trạng thái phẳng lặng, lạnh băng như một khối băng trôi ngoài đại dương phương Bắc.
"Tôi không gọi các bạn đến đây để truy cứu trách nhiệm về bốn mươi lít nấm men vừa bị biến thành than cốc," Ingrid mở đầu, giọng cô rành rọt từng chữ giữa không gian tĩnh lặng chết chóc của căn phòng y tế. "Mất bốn mươi lít sinh khối là một đòn giáng chí mạng vào kho dinh dưỡng của trạm. Nó đồng nghĩa với việc định mức calo của mỗi người sẽ phải giảm thêm năm phần trăm nữa trong ba tuần tới để chờ mẻ ủ mới. Nhưng điều đó vẫn chưa phải là thứ tồi tệ nhất."
Ingrid giơ tay gõ mạnh ngón trỏ lên màn hình trung tâm. Lập tức, năm cột biểu đồ sinh trắc học cá nhân hiện ra, nhuốm một màu đỏ rực đầy đe dọa.
"Hãy nhìn vào chính bản thân các bạn đi," Ingrid nói, ánh mắt sắc như dao quét qua từng gương mặt hốc hác trước mặt. "Đây là dữ liệu tele-metric mà vòng đeo cổ tay của các bạn ghi nhận liên tục trong bốn mươi tám giờ qua. Nồng độ cortisol tự do trong huyết tương của toàn bộ phi hành đoàn trung bình là bảy trăm năm mươi nanomol trên lít—cao gấp ba lần ngưỡng căng thẳng cực hạn của một phi công tiêm kích đang tham gia không chiến trong vùng chiến sự ác liệt nhất."
Cô chỉ ngón tay vào cột biểu đồ nhấp nháy đỏ của Ren: "Ishikawa: thời gian ngủ thực tế tích lũy trong hai ngày qua là hai giờ mười bốn phút. Thời gian phản xạ thần kinh vận động trễ hơn hai trăm bốn mươi mili-giây so với chuẩn cơ sở. Các khớp ngón tay bị viêm co thắt do bỏng lạnh độ một không được điều trị dứt điểm, dẫn đến hiện tượng run cơ cục bộ."
Cô chuyển đầu ngón tay sang biểu đồ của An Khuê: "Hồ An Khuê: làm việc liên tục ba mươi sáu giờ không rời phân khu, chỉ chợp mắt ngắt quãng trên sàn kim loại lạnh 11 độ C. Rách cơ vai trái chưa lành, tự ý dùng súng tiêm ba liều ketorolac liên tiếp vượt quá phác đồ cho phép của y xá. Nhịp tim khi nghỉ ngơi dao động ở mức một trăm linh năm nhịp một phút. Cơ thể cô đang trên bờ vực của một cơn suy kiệt tuần hoàn cấp."
Ánh mắt Ingrid dừng lại ở Luísa và cuối cùng chuyển sang Amara: "Luísa: có dấu hiệu thiếu máu não thoáng qua do hạ đường huyết kéo dài và tư thế ngồi bất động quá lâu trước màn hình địa chấn. Và Chỉ huy Amara..."
Ingrid ngập ngừng đúng nửa giây, nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm của người chỉ huy Kenya. "Chỉ số co mạch ngoại vi và áp lực nội sọ của chị đang ở mức báo động đỏ."
Ingrid bất thần đập mạnh lòng bàn tay lên mặt bàn kim loại. Tiếng va chạm sắc lạnh vang lên chát chúa, dội lại từ các vách ngăn titan.
"Chúng ta đang làm cái quái gì thế này? Hả?" Giọng Ingrid gắt lên, phá vỡ hoàn toàn lớp vỏ điềm tĩnh, mực thước thường ngày. "Một hạt bụi da! Một thao tác quét nhiệt bị bỏ qua chín mươi giây! Các bạn có nhận ra rằng nguyên nhân thực sự của vụ nhiễm khuẩn này không nằm ở cái gioăng silicon chết tiệt kia không? Gioăng co ngót vì lạnh, đúng! Nhưng con người bỏ qua quy trình an toàn vì bộ não của các bạn đã cạn kiệt glucose và dopamine! Khả năng phán đoán của các bạn đã bị tê liệt hoàn toàn! Các bạn đang vận hành trạm nghiên cứu trị giá hàng chục tỷ dollar này như những kẻ mộng du mang bom nổ chậm!"
"Ingrid, chúng tôi hiểu..." Ren khẽ lên tiếng, giọng anh nghẹn lại nơi cuống họng, hai bàn tay đan chặt vào nhau. "Nhưng tình thế hiện tại bắt buộc... Giếng Borealis đang tái đông từng giờ, hệ thống đèn LED cần tinh chỉnh phổ quang để giữ ấm cho mầm đậu, cảm biến địa chấn của Luísa..."
"Và nếu một trong số các bạn ngất đi khi đang vận hành van áp suất cao của lò phản ứng Kifaru thì sao?" Ingrid cắt ngang không thương tiếc, từng lời nói như nhát búa nện thẳng vào tâm trí người đối diện. "Nếu An Khuê gạt nhầm van xả khí độc thay vì van oxy trong cơn mê sảng vì thiếu ngủ? Nếu Ren đấu nhầm một sợi cáp điện bốn trăm volt vào lớp vỏ dẫn điện của trạm? Europa không cần một trận động băng thứ hai để giết chết chúng ta đâu! Sự kiệt sức, sự ngoan cố mù quáng và cái thói quen làm việc quên mình đến mức bệnh hoạn của các bạn đang biến chính các bạn thành mối đe dọa sinh tồn lớn nhất đối với trạm này!"
Cả căn phòng y tế chìm vào một sự im lặng nặng nề đến nghẹt thở. Không một ai dám cất lời phản bác. Những con số hiển thị trên màn hình không biết nói dối. Những đường cong cortisol dốc đứng, nồng độ acid lactic trong máu tăng vọt và biểu đồ sóng não hỗn loạn là bản cáo trạng không thể chối cãi đối với sự suy sụp sinh học của họ.
Mọi ánh mắt dần đổ dồn về phía Amara Njoroge.
Vị chỉ huy người Kenya đứng im lặng suốt từ đầu buổi họp. Dưới mép áo bảo hộ dày, An Khuê tình cờ nhận thấy bàn tay phải của Amara đang co giật từng chập không tự chủ. Để giấu đi triệu chứng tổn thương thần kinh vận động ngoại biên ấy, Amara đã phải ấn chặt các ngón tay phải vào đầu gối mình, bóp mạnh đến mức lớp vải bộ đồ bảo hộ nhăn nhúm lại, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì áp lực. Những giọt mồ hôi lạnh lấm tấm trên vầng trán đen bóng của người chỉ huy, dù nhiệt độ trong phòng y xá lúc này chỉ vừa chạm ngưỡng 15 độ C.
Amara hít một hơi thật sâu, lồng ngực cô phập phồng mạnh mẽ. Khi cô ngẩng đầu lên, ánh mắt cô đã lấy lại vẻ thép nguội quen thuộc của một nhà lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm, người từng chèo lái những nhiệm vụ gian khổ nhất trên quỹ đạo Trái Đất.
"Bác sĩ Solberg nói hoàn toàn đúng," Amara cất giọng trầm thấp, nhưng từng âm vang dội khắp bốn bức tường y xá với một uy quyền tuyệt đối. "Chúng ta đã sai lầm khi nghĩ rằng mình có thể dùng ý chí sắt đá để bù đắp cho những giới hạn sinh học tất yếu của cơ thể con người. Sự cố bồn nấm men số hai là lời cảnh báo nghiêm khắc nhất mà trạm này gửi đến chúng ta trước khi thảm kịch thực sự xảy ra."
Amara bước lên một bước, đối diện với toàn bộ cấp dưới đang cúi đầu im lặng.
"Với tư cách là Chỉ huy Trạm Ánh Sáng Europa, tôi ban bố Thiết quân luật về Giờ giấc Lao động, có hiệu lực ngay lập tức kể từ thời điểm này."
Ren và Luísa giật mình ngẩng phắt lên nhìn cô, ánh mắt hiện rõ sự hoang mang.
"Điều một," Amara dõng dạc tuyên bố. "Áp dụng giới hạn ca làm việc tuyệt đối: không một ai, kể cả tôi, được phép làm việc quá sáu giờ mỗi ngày. Sau mỗi ca sáu giờ, thành viên bắt buộc phải có mặt tại Y xá Svalbard để kiểm tra sinh trắc học toàn diện và nạp dung dịch điện giải bù khoáng."
"Điều hai: Bắt buộc nghỉ ngơi tối thiểu tám giờ liên tục trong khoang ngủ cá nhân. Mọi hoạt động nghiên cứu khoa học, mọi công tác sửa chữa ngoài danh mục thiết yếu sống còn, mọi thí nghiệm quang học với giếng Borealis hay việc thu thập dữ liệu địa chấn đều bị đình chỉ vô thời hạn cho đến khi các chỉ số cortisol và phản xạ thần kinh của cả năm người trở về vùng xanh an toàn."
"Chỉ huy!" Ren thốt lên đầy hoảng hốt, bước tới một bước. "Đường cáp quang Nereid vừa mới thông được tầng đệm! Chúng ta còn phải hiệu chỉnh góc quét của cảm biến để xác nhận chuỗi ba xung sáng ngọc lam vừa xuất hiện ở rìa san hô băng! Nếu dừng lại lúc này, nhiệt độ đáy giếng sẽ giảm xuống dưới điểm đóng băng, tinh thể băng sẽ chèn nát đầu thu quang học của robot! Chúng ta sẽ mất dấu tín hiệu..."
"Tôi nói: Dừng lại. Đó là một mệnh lệnh quân sự, Ishikawa!" Amara nâng giọng, ánh mắt cô găm chặt vào người kỹ sư robot trẻ tuổi khiến anh lập tức im bặt, lùi lại nửa bước.
Amara quay mặt lên phía trần nhà, nơi có cụm micro đa hướng của hệ thống điều hành trung tâm: "Mây!"
"Có tôi, Chỉ huy Amara." Giọng nói nhân tạo vang lên ngay tức khắc.
"Tôi chính thức ủy quyền cho hệ thống điều hành trung tâm quyền cưỡng chế lao động cấp một. Bắt đầu từ 20:00 giờ tối nay, Mây có toàn quyền tự động ngắt điện màn hình làm việc, cắt tín hiệu bàn phím và khóa các cổng truy cập dữ liệu của bất kỳ trạm làm việc nào nếu phát hiện người phụ trách đã làm việc quá sáu giờ hoặc không có mặt trong khoang ngủ đúng giờ quy định. Nếu có thành viên chống đối hoặc cố tình phá khóa phần cứng, Mây có quyền kích hoạt khóa áp suất phòng ngủ từ bên ngoài và phát tín hiệu báo động cho Bác sĩ Solberg can thiệp y tế cưỡng chế."
"Đã ghi nhận mệnh lệnh chỉ huy và cập nhật giao thức quản trị lao động mới vào lõi điều hành," giọng Mây đáp lại, trầm ấm nhưng mang theo sức nặng lạnh lùng của một bản án không thể đảo ngược. "Quyền cưỡng chế năng lượng sẽ được thực thi trên toàn trạm sau ba mươi phút nữa."
Amara nhìn lướt qua từng gương mặt một lần cuối. Ánh mắt cô dừng lại thật lâu trên bờ vai đang đau đớn của An Khuê và đôi bàn tay run rẩy của Ren.
"Giải tán. Hãy trở về buồng ngủ của mình."
***
Trật tự im lặng gượng gạo phủ xuống Trạm Ánh Sáng Europa như một lớp sương băng dày đặc và ngột ngạt.
Khi đồng hồ trạm điểm 20:00, một loạt tiếng *tách... tách... tách* cơ học vang lên dọc theo các hành lang kỹ thuật và các khoang chức năng. Những màn hình làm việc rực rỡ tại Phòng Địa chấn Guará, Xưởng Robot Tanuki và Khoang Sinh học Lam đồng loạt tối sầm lại khi nguồn điện chính bị ngắt dứt khoát. Các dàn đèn chiếu sáng quang hợp phổ hẹp chuyển sang chế độ ngủ đông tối thiểu, chỉ để lại ánh sáng lờ mờ, ma quái màu xanh lục nhạt của hệ thống đèn dẫn đường thoát hiểm khẩn cấp.
Mọi tiếng ồn ào quen thuộc cấu thành nên nhịp sống của trạm—tiếng máy mài kim loại, tiếng rít siêu âm của mỏ hàn, tiếng gõ phím lách tách dồn dập và những cuộc tranh luận khoa học gay gắt—đều bị phanh lại một cách thô bạo. Toàn bộ cỗ máy khổng lồ nằm sâu 3,2 km dưới lòng băng vĩnh cửu dường như bị bóp nghẹt khí quản, rơi vào một trạng thái hôn mê nhân tạo dưới sự giám sát tuyệt đối và lạnh lùng của AI Mây.
An Khuê lết từng bước chân nặng như chì về phía Phân khu Cư trú. Cơ bả vai trái của cô giật lên từng cơn đau nhức buốt giá mỗi khi cô vung nhẹ cánh tay.
Đi ngang qua bàn chỉ huy trung tâm, cô thoáng thấy bóng lưng Amara vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế xoay bọc da nhân tạo. Đèn bàn làm việc đã tắt ngấm theo lệnh cưỡng chế của Mây, chỉ còn ánh sáng phản chiếu yếu ớt từ đồng hồ đo áp suất tường hắt lên nửa khuôn mặt gầy gò, góc cạnh của người phụ nữ Kenya. Amara ngồi đó rất lâu sau khi ca trực đã chính thức kết thúc, hai mắt nhắm nghiền, bàn tay phải run rẩy vẫn đang bóp chặt lấy đầu gối như đang cố dùng cơn đau thể xác để đè nén một sự sụp đổ vô hình đang cuộn trào từ tận đáy lòng. An Khuê định bước lại gần, muốn cất lời an ủi hay chia sẻ gánh nặng với người chỉ huy, nhưng rồi cô ngập ngừng dừng lại. Cô hiểu rằng lúc này, sự hiện diện hay lòng trắc ẩn của bất kỳ ai cũng chỉ làm tổn thương lòng kiêu hãnh và sự kiên cường cuối cùng của Amara. Cô lặng lẽ quay người, kéo lê đôi chân bước tiếp về phía dãy hành lang tối mờ.
Cánh cửa buồng ngủ cá nhân số ba trượt mở rồi khép lại sau lưng An Khuê với một tiếng *khực* khô khốc của chốt khóa cơ khí.
Không gian bên trong buồng ngủ chỉ rộng vỏn vẹn bốn mét vuông, hệt như một chiếc kén kim loại chật chội được khoét sâu vào khối băng vĩnh cửu của mặt trăng Europa. Một chiếc giường tầng hẹp có trang bị đai vải cố định chống trôi dạt trong môi trường vi trọng lực 0,134 g, một tủ cá nhân nhỏ bằng hợp kim composite gắn chặt vào vách, và một màn hình giao tiếp cá nhân—lúc này cũng đã bị Mây vô hiệu hóa hoàn toàn, chỉ hiển thị một đồng hồ đếm ngược lớn màu xám tro: *Thời gian nghỉ ngơi bắt buộc còn lại: 07 giờ 52 phút*.
An Khuê run rẩy cởi bỏ bộ áo bảo hộ nặng nề nồng nặc mùi khét, chỉ mặc trên mình bộ đồ lót nhiệt mỏng manh màu xám tro, rồi thả mình xuống tấm đệm mút hoạt tính cứng ngắt.
Một sự trống rỗng đến rợn ngợp lập tức ập xuống bao trùm lấy cô như một đợt thủy triều đen ngòm.
Khi guồng quay công việc điên cuồng bị tước đoạt một cách cưỡng chế, khi những phương trình cân bằng đạm, những biểu đồ thủy nhiệt và các thuật toán giải mã tín hiệu quang học bị dẹp sang một bên, bức tường thành kiên cố bảo vệ tâm trí cô sụp đổ hoàn toàn. Nó để lộ ra một khoảng chân không đen ngòm, lạnh buốt và cô độc đến cùng cực.
Mười bốn tháng. Hơn bốn trăm ngày cô lập tuyệt đối dưới hàng triệu tấn băng đá, cách xa quê hương hàng trăm triệu cây số không gian chết chóc. Không có ánh bình minh rạng rỡ. Không có tiếng mưa rào rơi lộp độp trên mái tôn. Không có mùi đất ẩm ướt nồng nàn sau những cơn mưa rào mùa hạ ở ngoại ô Hà Nội. Không có tiếng cười đùa líu lo của cô em gái An Bình qua những cuộc gọi không bị trễ tín hiệu hàng chục phút. Ở nơi này, chỉ có tiếng rù rì đơn điệu, bất tận đến phát điên của máy lọc không khí và bóng tối vĩnh cửu của sao Mộc đang rình rập bên ngoài lớp vỏ kim loại dày vài chục centimet.
Và dưới chân cô, sâu hút dưới lớp vỏ băng nứt nẻ kia, ba đốm sáng ngọc lam vẫn đang chớp nháy trong bóng tối vô tận của đại dương Europa—một lời thì thầm bí ẩn của vũ trụ mà có lẽ cô sẽ không bao giờ có cơ hội giải mã, một bí mật vĩnh viễn bị chôn vùi bởi sự kiệt quệ và bất lực của chính giống loài mình.
Cái giá của một ngày sống sót sao mà đắt đỏ đến thế.
Nằm co quắp trong khoang ngủ chật hẹp, áp tai vào vách ngăn hợp kim lạnh ngắt, An Khuê nghe rõ tiếng kim loại trạm co thắt răng rắc trong giá lạnh của khối băng xung quanh, và từ khoang ngủ bên cạnh, tiếng thở dốc nghẹn ngào vỡ vụn của một người đồng đội đang khóc thầm trong bóng tối.