Đường Xuống Huyện Thành
Lớp sương sớm lạnh buốt bám đầy gấu áo rách của ba người khi Bùi Hạ, Lâm Tự và Nguyễn Mộc dẫm lên lớp bùn nhão nhoét trên con đường dốc hiểm trở rời khỏi núi Đoạn Phong để tiến về huyện thành An Lưu.
Gió thổi từ thung lũng sông thốc ngược lên sườn nam, mang theo mùi tanh nồng của phù sa thối rữa, xác cỏ rác ngâm nước lâu ngày và hơi ẩm ngột ngạt báo hiệu một đợt nước ngầm khác đang rỉ ra từ lòng đất. Rừng cây sau đại hồng thủy trơ trọi như những bộ xương khô; đất chuồi xé toạc từng mảng rừng dâu da, để lộ ra những vách đá vôi xám ngoét lở lói, chằng chịt rễ cây đứt lìa như những búi gân máu bầm tím. Con đường mòn vốn đã gập ghềnh sau trận mưa dầm dề kéo dài nửa tháng, nay biến thành những luống rãnh sâu hoắm, trơn nhẫy như mỡ nước. Một bên là vách đất đỏ au chực chờ ụp xuống sau mỗi cơn gió giật, một bên là vực dốc ngập tràn rác rưởi, mảnh thuyền nan vỡ, xác súc vật trôi dạt và những thân cây cổ thụ bật gốc từ thượng nguồn dạt vào hốc đá, vỏ cây tróc từng mảng lớn thâm sì.
Lâm Tự đi trước dẫn đường. Dáng người cao lớn của anh hơi gập lại về phía trước để cản bớt luồng gió rít rát mặt, đôi ủng da thô đã mòn vẹt đế bấm chặt xuống từng gờ đá mồ côi nhô ra khỏi mặt bùn để dò dẫm độ lún. Mỗi lần mũi ủng lún sâu quá mắt cá, anh lại khựng lại, dùng mũi chân dộng mạnh thử nền đất xem có phải là hố sụt ngầm hay không rồi mới quay lại ra hiệu bằng một cái hất cằm câm lặng. Trên lưng anh mang theo một chiếc gùi đan bằng mây rừng già, chằng néo bằng dây vỏ cây sui cẩn thận; trong gùi chỉ vỏn vẹn vài vắt cơm nguội độn củ mài nướng cháy cạnh cùng hai ống bương đựng nước sôi để nguội. Còn phía trước ngực áo lót, ngay dưới lớp áo chàm bạc phếch vá víu chằng chịt bằng chỉ gai, là một mảnh giấy gấp tư cứng queo—tờ trát đòi đinh dịch mang dấu mộc đỏ chót của huyện nha An Lưu phát ra từ trước ngày lũ tràn về. Mỗi nhịp bước gập ghềnh trên dốc đá, góc giấy khô cứng lại cộm lên lồng ngực như một hòn than âm ỉ, nhắc nhở người thợ mộc về cái án phu dịch vẫn đang lơ lửng trên đầu anh, về sợi xích sắt của đám sai nha và mối nguy hiểm đang rình rập đứa con gái nhỏ còn thơ dại đang co ro trên vách núi Đoạn Phong.
Đi giữa là Nguyễn Mộc. Ông lão bước từng bước ngắn, đôi chân già nua gầy guộc run rẩy sau những ngày dài thiếu ăn và dầm mưa rét. Hơi thở ông phì phò nặng nhọc nhả ra những làn khói trắng đục giữa làn sương sớm, hai lá phổi như đang cọ xát vào nhau kêu ken két. Đôi bàn tay cằn cỗi quen cầm búa đục cả đời nay ghì chặt lấy một bọc lớn được ôm khư khư trước bụng, ép sát vào lồng ngực gầy giơ xương để truyền chút hơi ấm ít ỏi còn sót lại từ thân nhiệt già nua. Đó là tài sản sinh tử của ba mươi hai con người trên ngọn núi vỡ. Toàn bộ hồ sơ gồm tờ khai đinh khẩu có chín chữ ký và dấu điểm chỉ tươi máu của những người đứng đầu từng nóc lều tị nạn, bản vẽ kết cấu trận hộ sơn thu nhỏ bảo vệ gian kho và chính điện do Bùi Hạ phác thảo bằng mực son pha cặn dầu trẩu, cùng bản dập rập từng nét chữ trên tấm bia sa thạch công ích vừa được cạo sạch rêu phong nơi chân tháp hoang. Tất cả đều được Nguyễn Mộc bọc kín trong ba lớp da dầu quét hắc ín chống nước, ngoài cùng lại quấn thêm một lớp vải gai tẩm mỡ lợn nhằm ngăn hơi ẩm thâm nhập. Dù bùn đất có bắn tung tóe lên mặt, lên râu tóc bạc phơ của ông lão, bọc hồ sơ ấy vẫn không được phép dính lấy một hạt bụi nước.
"Bác Mộc, đổi bước sang mép phải." Bùi Hạ cất tiếng nhắc nhở, giọng nàng trầm và đanh, từng thanh âm đều được ghìm lại thật chắc để giữ cho nhịp thở thật đều đặn nhằm nén cơn đau buốt nơi cổ tay. Nàng đi bọc hậu, giữ khoảng cách chừng ba bước chân sau lưng ông lão thợ đá.
Cổ tay phải của nàng được Đỗ Nghi dùng hai thanh nẹp tre mỏng cố định chặt chẽ, bên ngoài quấn nhiều vòng vải xô trắng nhuộm nước lá thuốc chát ngắt; chỉ có cánh tay trái linh hoạt nắm lấy một cây gậy tầm vông vót nhọn, dùng nó để cắm sâu vào nền đất giữ thăng bằng. Mỗi lần cơ thể trượt nhẹ trên bùn hay vấp phải rễ cây mục, chấn động truyền qua bả vai lại dội ngược xuống kinh Phế đang tưa rách, khiến trán nàng rịn ra một lớp mồ hôi lạnh ngắt hòa cùng hơi sương ẩm ướt bám trên bờ mi. Luồng linh lực hệ mộc mỏng manh trong đan điền nàng thắt lại từng chặp, ngấm ngầm đau nhức như có hàng ngàn mũi kim châm vào tủy xương. Nhưng bước chân Bùi Hạ không hề chậm lại dù chỉ nửa nhịp. Nàng hiểu rõ thời gian là thứ xa xỉ duy nhất họ không có được vào lúc này. Tiếng trống đồng dồn dập rền vang từ huyện lỵ chiều qua đã báo hiệu một cuộc càn quét quy mô lớn; nha môn đang tuyệt vọng gom người để thế vào những chỗ trống chết chóc trên các đê bao vỡ lở. Chỉ cần chậm một buổi chợ, lệnh phong tỏa của quan phủ sẽ khép chặt hoàn toàn, và họ thậm chí sẽ không có nổi một cơ hội bước qua cổng thành.
"Đoạn này đất chuồi mạnh quá," Lâm Tự dừng lại ở một khúc cua gấp, nơi vách núi bị xé toạc thành một bờ vực dựng đứng đầy bùn đỏ. Anh quay đầu lại, với bàn tay to bản thô ráp đỡ lấy khuỷu tay Nguyễn Mộc. "Đá mồ côi lăn chắn ngang lối cũ rồi, phải bám vào rễ cây si rủ bên sườn đá mà đu người qua. Đất dưới chân xốp lắm, bước hụt một cái là trượt thẳng xuống bãi xác cây bên dưới."
Nguyễn Mộc quệt vệt bùn vàng văng lên khóe mắt lèm nhem, đôi môi tím tái vì lạnh nhưng ánh mắt vẫn ánh lên vẻ quật cường của một tay thợ già từng đục đá ngàn cân: "Ta còn gượng được. Mấy ngón chân bấm chặt vào kẽ đá là qua được thôi. Tập hồ sơ này khô ráo là được. Đời ta chạm khắc bao nhiêu tấm bia công đức cho thiên hạ, khắc tên bao nhiêu quan lớn với phú thương, chưa từng nghĩ có ngày chính những nét chữ cạo dập trên đá vụn lại là cái phao cứu mạng cho chính mình và lũ trẻ trên núi."
Lâm Tự dùng sức bình sinh ghì chặt rễ cây si, làm điểm tựa vững chãi để Nguyễn Mộc cẩn thận chuyền người qua mép vực. Bùi Hạ theo sát phía sau; nàng dùng gậy tầm vông cắm phập vào một kẽ đá nứt, mượn lực của cánh tay trái khỏe khoắn nhấc bổng cơ thể qua đoạn sạt lở một cách chuẩn xác, không để cổ tay phải va chạm vào vách đá gồ ghề. Ba người phối hợp nhịp nhàng trong im lặng, không ai than vãn lấy một lời, hơi thở hòa lẫn vào tiếng gió hú lạnh lẽo qua các khe nứt của đá vôi.
Vượt qua đoạn dốc sạt lở dài hơn sáu dặm dưới chân núi, con đường mòn dần mở ra vùng đồng bằng thấp trũng dẫn về hướng nam huyện thành An Lưu. Nhưng cảnh tượng đập vào mắt họ khi bước ra khỏi rặng cây chân núi Đoạn Phong chỉ là một dải hoang tàn ngập tràn tuyệt vọng. Ruộng lúa hai bên đường cái quan đã biến thành những đầm lầy phù sa xám xịt nồng nặc mùi hôi thối. Mặt nước đục ngầu như nước luộc lòng le lói phản chiếu bầu trời xám xịt không một tia nắng. Nước lũ tuy đã rút bớt nhưng để lại một lớp bùn đặc quánh sâu tới mắt cá chân, nổi lềnh bềnh những xác lợn, xác gà vịt trương phình thối rữa, ruồi nhặng bu kín đen đặc thành từng vầng bay vo ve. Cột mốc cây số bằng đá bị xô nghiêng ngả, rác rưởi quấn chặt quanh những bụi tre ngà gãy gục rạp mình sát mặt bùn.
Càng tiến gần về phía huyện thành An Lưu, dòng người dạt về đường cái càng lúc càng đông đúc. Đa phần là nạn dân đói khát trôi dạt từ các làng chài hạ lưu, các xóm thợ mộc ven sông và các trang trại ven bãi bồi sông Tiêu bị dòng nước cuốn phăng trong đêm lũ lớn. Họ bồng bế con thơ còn đỏ hỏn, gồng gánh những mảnh xoong nồi méo mó, những bao tải sũng nước đựng vài nắm ngô mốc meo, lê bước xiêu vẹo trong những manh áo rách nát tả tơi. Ai nấy đều mang khuôn mặt xám ngoét vì rét và đói, đôi mắt trũng sâu đờ đẫn không chút sinh khí, nhìn về phía trước như những bóng ma dật dờ không chốn dung thân. Tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt vì khát sữa hòa lẫn tiếng ho rũ rượi của những người già đang run rẩy vì chứng hàn tà xâm nhập.
Nhưng trước mắt họ, bức tường thành bằng đá xanh của An Lưu không hề mở ra như một chốn chở che.
Tại cổng nam huyện thành, không khí căng thẳng đặc quánh lại như một thùng thuốc súng chực bốc cháy. Huyện nha đã dựng một rào chắn tre gai kiên cố hình chữ chi, bịt kín toàn bộ lối vào chính cao hai trượng, chỉ chừa lại một khe hẹp vừa đủ cho một người lách qua một cách khó khăn. Cắm trên các cọc tre nhọn hoắt là những lá cờ vải vàng mang chữ "Công" đen ngòm viền mép bẩn thỉu, phần phật bay phần phật trong gió lạnh thấu xương.
Dưới quyền điều động khẩn cấp của Huyện thừa Hoàng Cẩn, hàng chục sai nha thuộc Công tào mặc áo nẹp đỏ viền đen, đầu đội nón dấu sơn then, thắt lưng giắt đoản đao sắc lẹm, tay lăm lăm roi mây và gậy gỗ lim đứng dàn thành hàng rào phong tỏa dày đặc. Tiếng la hét quát tháo, tiếng chửi bới man rợ hòa lẫn với tiếng khóc than xé ruột của đàn bà và con trẻ tạo nên một mớ âm thanh hỗn loạn, đau đớn vang dội cả một góc thành trì ẩm ướt.
"Dạt ra! Lũ tiện dân kia, ai cho phép chen lấn xô đẩy?" Một viên nha sai mặt sẹo ngang dọc vung chiếc roi mây quất vun vút vào không khí, tiếng roi xé gió *vút vút* đập thẳng vào vai một người đàn ông trung niên đang ôm bọc quần áo cũ rách. "Huyện nha có lệnh nghiêm, toàn bộ đinh tráng từ mười sáu đến năm mươi tuổi, hễ không có lệnh bài đệ tử tông môn hay môn bài buôn bán có nha môn bảo chứng, lập tức tập trung sang bãi đất bên hữu thành! Kẻ nào kháng cự xem như phản loạn, chém bỏ bêu đầu!"
"Quan lớn tha cho nhà con! Lạy quan lớn dủ lòng thương xót!" Một người đàn bà quần áo tả tơi quỳ sụp dưới vũng bùn lầy, hai tay ôm chặt lấy ống chân một viên lại dịch, nước mắt hòa lẫn bùn nhão chảy ròng ròng trên đôi gò má hốc hác khô đét. "Nhà con sốt li bì ba hôm nay rồi, chân đi không vững, ho ra cả máu tươi, sang công trường đắp đê chỉ có nước chết bỏ thây ngoài bãi thôi quan lớn ơi! Tha cho nhà con một mạng để về nuôi hai đứa con thơ!"
"Chết cũng phải khiêng đất xong mới được chết!" Viên lại dịch lạnh lùng đá văng người đàn bà ra một bên khiến chị ta ngã dúi dụi vào vũng bùn thối, ngón tay dính mực đen lật nhanh cuốn sổ đinh tịch dày cộp bọc bìa da trâu. "Đê Hồi Long vỡ toác ba mươi trượng, nước sông Tiêu đang dâng từng khắc một. Không có một ngàn năm trăm phu dịch đắp chặn trước khi đợt lũ thứ hai đổ về, toàn bộ ruộng lúa quan điền hạ lưu ngập hết thì cả lũ chúng bay lấy đầu ra đền à? Bắt lấy tên này, trói gô tay lại lôi đi!"
Hai tên nha sai lực lưỡng lập tức xông lên như hùm vồ mồi. Chúng xốc nách người đàn ông đang run rẩy bần bật vì cơn sốt rét rừng, kéo lê xềnh xệch đôi chân trần của ông ta qua đống gai góc về phía dãy cọc gỗ lim đã xích sẵn hơn ba mươi tráng đinh khốn khổ. Tiếng gào khóc ai oán nổi lên khắp nơi, tiếng thân nhân chạy theo gào tên người bị bắt, nhưng đám sai nha chỉ đáp lại bằng những cú nện báng gậy tàn nhẫn vào mạng sườn người tị nạn và những sợi xích sắt rổn rảng quấn chặt quanh cổ tay cổ chân họ. Máu hòa cùng bùn đất đỏ quạch trên mặt đường đá dẫn vào cửa ngõ An Lưu.
Đứng trên một bục gỗ cao sát chân tường thành, khoác trên mình chiếc áo bào lục phẩm viền mây thêu chỉ bạc đã sờn mép vì gió sương, là Huyện thừa Hoàng Cẩn. Gương mặt ông ta gầy guộc như khúc gỗ mục, hai gò má nhô cao nhọn hoắt, chòm râu dê lưa thưa rung rinh theo từng nhịp thở khô khốc gấp gáp. Đôi mắt hẹp dài đầy những tia máu đỏ của vị quan phụ trách dân tịch đảo liên hồi qua đám đông chen chúc nghẹt thở bên dưới. Trước sức ép tiến độ đắp lại Đê Hồi Long và lệnh quở trách từ phủ doãn tỉnh thành lơ lửng trên đầu như một thanh gươm hành quyết, Hoàng Cẩn không còn mảy may để tâm đến việc ai sống ai chết; điều duy nhất viên quan này cần lúc này là lấp đầy con số nhân lực ghi trên trát điều động để giữ lấy chiếc mũ ô sa của mình.
"Thu thập được bao nhiêu tên rồi?" Hoàng Cẩn cất giọng khàn đặc như tiếng cưa gỗ, không thèm nhìn xuống tên đề lại đang khom lưng run rẩy bên cạnh chiếc bàn con.
"Bẩm Huyện thừa đại nhân, từ sáng sớm đến giờ mới gom được hơn bảy mươi đinh tráng," tên đề lại chấm mồ hôi trán, giọng run rẩy báo cáo. "Lũ dân đen trốn vào các hang cùng ngõ hẻm nhiều quá, bọn thợ đò ở Bến Bạch Sa cũng tản mác hết cả vào rừng sâu sau khi xóm thợ bị ngập."
"Tăng thêm trạm gác cho ta! Cử thêm người lùng sục ra tận mép đầm rẫy!" Hoàng Cẩn đập mạnh tay xuống lan can gỗ, mắt long lên sòng sọc. "Bất kể là kẻ nào, hễ không xuất trình được giấy tờ bảo hộ hợp lệ của tiên môn hoặc thẻ công sai của phủ doãn, bắt sạch cho ta! Đê vỡ lần nữa, phù sa vùi lấp quan điền thì cái đầu của ta và cái đầu của cả lũ các ngươi đều không giữ nổi trên cổ đâu!"
Ở rìa ngoài đám đông tị nạn đang bị dồn ứ, Lâm Tự siết chặt quai gùi, bàn tay to bản gồ ghề nổi từng đường gân xanh chằng chịt. Bước chân anh chững lại nửa nhịp khi nhìn thấy những sợi xích sắt tua tủa dưới cổng thành và tiếng gào thét man rợ của đám lính canh. Mùi ẩm mốc của đám đông đói khát, mùi tanh của máu và tiếng kim loại va chạm lạnh toát khiến lồng ngực anh thắt lại từng cơn. Mảnh giấy trát trưng phu cũ kỹ giấu trong ngực áo như đang tỏa nhiệt cào xé da thịt anh. Nếu anh bị tóm ở đây, nếu sợi xích sắt kia tròng vào cổ tay anh, đứa con gái nhỏ trên vách núi Đoạn Phong sẽ mất đi chỗ dựa duy nhất; con bé sẽ lại phải co ro giấu từng mẩu củ mài nướng dưới sàn gỗ mục nát trong nỗi sợ hãi tột cùng của một đứa trẻ mồ côi.
Nguyễn Mộc cũng nhận ra hiểm cảnh ngay trước mắt. Ông lão ghì chặt bọc hồ sơ vào sát ngực, bước chân hơi run rẩy, ánh mắt lộ rõ vẻ hoang mang tột độ liếc nhanh về phía Bùi Hạ: "Hạ cô nương... bọn chúng phong tỏa gắt gao quá. Trát bắt phu của huyện nha không chừa một ai đâu. Hay là... hay là ta lánh tạm vào rặng tre ngoài bãi?"
"Cứ đi thẳng, đừng tránh né, cũng tuyệt đối không được cúi đầu," Bùi Hạ thấp giọng căn dặn, ngữ điệu bình thản nhưng sắc lạnh như mũi dao vừa mài trên đá suối. Nàng điều chỉnh vạt áo chàm che kín cánh tay phải bị thương đang nẹp chặt, bàn tay trái nắm chắc thanh tầm vông, từng bước vững chãi tiến thẳng vào dòng người đang bị dồn ép. "Chúng ta không phải nạn dân trốn dịch. Chúng ta mang hồ sơ đăng bộ chính thức của Trấn Linh Ty. Lùi một bước là rơi vào bẫy bắt phu của huyện nha ngay lập tức."
Ba người men theo mép rãnh thoát nước, chậm chạp nhích từng bước qua đám đông hỗn loạn về phía cổng kiểm soát tre gai. Nhưng vóc dáng cao lớn, bờ vai vạm vỡ và tấm lưng dày cộm của một người thợ mộc quen nghề đốn gỗ như Lâm Tự quá đỗi nổi bật giữa đám đông đói lả, tiều tụy dạt dẹo.
Ngay khi họ chỉ còn cách rào chắn tre chừng mươi bước chân, một viên nha sai mặt choắt cầm bảng danh sách quét mắt qua đám đông. Hắn lập tức khựng lại, đôi mắt chuột trừng trừng nhìn vào khuôn mặt phong trần, góc cạnh đầy vết sẹo dăm gỗ của Lâm Tự. Tia sáng hung hãn xen lẫn thèm thuồng của một kẻ săn mồi vừa tóm được con thú béo bở lóe lên trong mắt hắn.
"Đứng lại!" Viên nha sai mặt choắt quát lớn, cánh tay vung chiếc gậy gỗ lim chỉ thẳng vào chóp mũi Lâm Tự. "Tên đinh tráng kia, bước ngay ra khỏi hàng! Ngươi ở xóm thợ mộc ven sông đúng không? Nhìn cái mặt phong trần lem luốc, bắp tay bắp chân cuồn cuộn thế kia mà dám trà trộn vào đám dân tàn tật để lách qua cửa thành à?"
Đám đông xung quanh hoảng sợ lập tức dạt sang hai bên vì sợ vạ lây, để lộ một khoảng trống rộng toang hoác nơi ba người đang đứng trơ trọi. Hai tên nha sai khác lập tức lách qua rào chắn tre gai, một tên rút sợi xích sắt to bản bên hông ra rung lên *loảng xoảng*, ánh mắt hau háu nhìn chằm chằm vào cơ bắp của Lâm Tự như nhìn thấy một cỗ máy đóng cọc sống lý tưởng nhất cho công trường đê bao đang sạt lở.
"Các vị quan sai," Lâm Tự nén cơn giận đang sục sôi trong lồng ngực, nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, hạ thấp giọng nói chậm rãi, "Tôi đi cùng gia quyến vào thành có việc công vụ khẩn cấp—"
"Công vụ cái đầu ngươi!" Tên mặt choắt cười gằn một tiếng khinh bỉ, thô bạo ngắt lời anh. Hắn lật mạnh xấp trát giấy ố vàng trên tay, ngón tay cáu bẩn chỉ vào những dòng mực son nham nhở: "Có việc công vụ thì trát sức của nha môn đâu? Giấy thông hành của phủ doãn đâu? Huyện thừa đại nhân đã có lệnh nghiêm khắc: thời buổi này mọi đinh tráng không môn bài đều là phu đắp đê! Tra hỏi giấy tờ làm gì cho mất thì giờ, khóa cổ tay nó lại, tống ngay vào lán chờ giải đi Đê Hồi Long!"
Sợi xích sắt vung lên, đầu móc sắt lạnh ngắt rít gió toan quấn thẳng vào cổ tay Lâm Tự. Lâm Tự vô thức siết chặt nắm đấm, khớp xương kêu răng rắc, cơ bắp cánh tay căng cứng như dây cung, sẵn sàng giáng một đòn vỡ mặt tên sai nha nếu sợi xích chạm vào da thịt mình—dù trong thâm tâm anh hiểu rõ, một khi ra tay chống lại sai nha triều đình, hậu quả sẽ là tội chém đầu bêu chợ không tha.
Ngay khoảnh khắc căng thẳng tột cùng ấy, một bóng người gầy guộc nhưng đanh thép bước vụt lên phía trước, chắn ngang giữa Lâm Tự và tên nha sai hung hãn.
"Dừng tay!"
Tiếng nói không gầm thét, không quá lớn, nhưng mang theo một luồng uy áp trầm tĩnh, dứt khoát của một tu sĩ đã khai mở linh mạch hoàn chỉnh. Bùi Hạ không hề lùi bước lấy nửa phân. Nàng đứng thẳng tắp như cây tùng trên vách đá, bàn tay trái không chút ngần ngại đưa thẳng ra trước mặt tên mặt choắt, chặn đứng tầm nhìn của hắn.
Nằm gọn trong lòng bàn tay nàng là một tấm thẻ bài bằng đồng thau đã xỉn màu vì mưa nắng và thời gian, nhưng bốn góc vẫn còn nguyên đường viền răng cưa tinh xảo biểu trưng cho giới thợ tạo trận, chính giữa khắc chìm ba chữ triện sắc sảo: *Trận Khảo Lệnh*.
Tên sai nha giật nảy mình, bước chân xông tới khựng lại giữa chừng. Ánh mắt hắn đảo từ khuôn mặt lạnh lùng không chút sợ sệt của Bùi Hạ xuống tấm thẻ kim loại nặng trịch. Dù chỉ là một tên sai nha hạng bét dưới trướng huyện nha thế tục, hắn cũng đủ lọc lõi để nhận ra thứ kim loại này, hoa văn này không thuộc về thế tục quan môn.
"Thẻ thợ trận của sơn môn?" Tên mặt choắt nheo đôi mắt chuột lại, thái độ hung hãn hơi chùng xuống một thoáng nhưng thói hách dịch quen mui lại trỗi dậy. "Một kẻ Luyện Khí tàn tạ mang thẻ cũ rích mà cũng dám cản đường Công tào huyện nha hành sự à? Lệnh của Huyện thừa Hoàng Cẩn bắt phu hộ đê cứu đói, kẻ nào ngăn cản đều bị coi là đồng lõa trốn dịch, bắt nhốt hết vào ngục tối!"
"Mở to mắt ra mà nhìn cho rõ," Bùi Hạ lạnh lùng cất tiếng, ngón tay nàng khẽ miết nhẹ lên đường vân trận pháp trên thẻ đồng. Một tia linh lực hệ mộc mỏng manh như sợi tơ lướt qua rãnh khắc khiến tấm thẻ phát ra một tiếng ngân khẽ khàng, rung lên nhè nhẹ tỏa ra một luồng linh khí dịu mát nhưng uy nghiêm. "Người này không phải dân trốn phu. Anh ta là thợ mộc kết cấu chịu tải, đi theo ta theo điều lệ hiệp trợ kỹ thuật phòng hộ của Trấn Linh Ty."
Nàng ngước mắt, ánh nhìn sắc như băng quét thẳng lên bục cao nơi Hoàng Cẩn đang đứng giám sát, rồi quay lại dán chặt vào mắt tên sai nha mặt choắt:
"Chúng ta không vào huyện nha của các ngươi, mà vào thẳng phân sở Trấn Linh Ty huyện An Lưu để đệ trình hồ sơ công trình phòng hộ khẩn cấp theo Luật Vân Hà. Nếu ngươi dám dùng xích sắt bắt giữ thợ chuyên môn đang trên đường thực hiện nghĩa vụ tiếp tế và khảo sát địa tầng của Trấn Linh Ty, liệu Huyện thừa của ngươi có sẵn sàng đứng ra ký giấy cam đoan chịu trách nhiệm trước Ty khảo sát nếu việc thẩm định phòng hộ hạ lưu bị gián đoạn hay không?"
Cái tên "Trấn Linh Ty" vừa thốt ra như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào mặt đám sai nha hung hãn.
Tại cương vực vương triều Vân Hà, huyện nha có quyền cai quản đất đai, đinh khẩu và trưng tập lao dịch thế tục của dân thường, nhưng Trấn Linh Ty lại là nha môn độc lập thuộc hệ thống tu tiên quản hạt, nắm giữ toàn quyền thẩm định địa mạch, khảo sát phong thủy, cấp phép thành lập tông môn và quản lý tu sĩ trong hạt. Hai bên vốn dĩ bằng mặt không bằng lòng, luôn kèn cựa từng tấc thẩm quyền trên cùng một mảnh đất. Bắt một tên nạn dân khốn cùng, trói một người thợ mộc không có môn bài thế tục thì dễ như trở bàn tay; nhưng động vào người đang mang danh nghĩa làm việc cho Trấn Linh Ty—dù chỉ là diện "tiếp tế kỹ thuật" ngoại vi—là một cái bẫy hành chính chết người mà không một tên lính quàng nào dám tự ý nhảy vào chịu tội thay quan trên.
Tên mặt choắt nuốt nước bọt đánh ực một cái, bàn tay cầm xích sắt lén lút hạ thấp xuống bên hông. Hắn lúng túng nhìn sang đồng bọn, rồi lại rụt rè ngước nhìn lên bục cao. Nhưng Huyện thừa Hoàng Cẩn lúc này đang bận rộn quát tháo một viên cai đội khác về việc thiếu hụt xe thồ đá và bao tải cát, hoàn toàn không để mắt tới một góc rào chắn nhỏ bé xa xôi này.
"Ngươi... ngươi nói Trấn Linh Ty là có Trấn Linh Ty à?" Tên sai nha cố vớt vát thể diện trước mặt đám tị nạn, nhưng giọng điệu đã thiếu hẳn vẻ hung tợn ban đầu, chỉ còn lại sự ngập ngừng do dự. "Hồ sơ đâu? Giấy triệu tập của Ty đâu?"
"Muốn xem hồ sơ?" Bùi Hạ nhướng mày, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo chạm vào da thịt. "Hồ sơ niêm phong gửi đích danh Viên kiểm định Đinh Tuệ. Ngươi có đủ phẩm hàm để bóc niêm phong của Trấn Linh Ty trước mặt bàn dân thiên hạ không? Hay là để ta mời Đinh đại nhân đích thân ra cổng thành này đối chất với Huyện thừa Hoàng Cẩn về việc sai nha tự ý cản trở tiếp tế trận vụ khẩn cấp?"
Sự tự tin sắt đá, không chút nao núng của Bùi Hạ cùng cái tên "Đinh Tuệ" được điểm danh một cách chuẩn xác, dứt khoát đã hoàn toàn đánh gục sự hung hãn còn sót lại của tên lính. Hắn thừa biết viên kiểm định họ Đinh của Trấn Linh Ty nổi tiếng khắp huyện An Lưu là kẻ cứng nhắc, chấp pháp nghiêm ngặt như sắt đá và cực kỳ căm ghét việc huyện nha thế tục can thiệp thô bạo vào thẩm quyền chuyên môn của mình. Chọc giận mụ đàn bà tu sĩ ấy chẳng khác nào tự rước họa vào thân.
Tên sai nha hừ mạnh một tiếng qua kẽ răng, thu xích sắt lại giắt vào thắt lưng, vung mạnh gậy gỗ lim sang một bên:
"Cút, cút nhanh vào trong! Đừng có lảng vảng ở khu vực chợ đê. Nếu trong ngày hôm nay mà Trấn Linh Ty không chứng thực thân phận cho các ngươi, thì ngay khi bước chân ra khỏi cửa nha môn đó, ta sẽ gông cổ từng đứa một tống thẳng xuống đáy đê Hồi Long mà xúc đất!"
"Đi." Bùi Hạ không thèm liếc lại tên lính một cái, khẽ nghiêng đầu ra hiệu cho Lâm Tự và Nguyễn Mộc.
Ba người nhanh chóng lách qua khe hẹp của rào chắn tre gai, bước nhanh qua vòm cổng thành u tối nồng nặc mùi ẩm mốc và nước tiểu lưu cữu. Tiếng gào khóc ai oán, tiếng chửi bới và tiếng xích sắt loảng xoảng của những nạn dân bị bắt giữ lại phía sau dần nhỏ lại, nhường chỗ cho sự ngột ngạt, ẩm thấp của những con phố huyện An Lưu sau lũ.
Thoát khỏi đám đông bắt phu trong gang tấc, lồng ngực Lâm Tự vẫn còn phập phồng dữ dội dưới lớp áo chàm vá víu. Những giọt mồ hôi lạnh chảy dài từ thái dương xuống cằm anh. Anh liếc nhìn Bùi Hạ, thấy trán nàng lấm tấm mồ hôi, bước chân nàng dường như hơi gượng gạo, bước đi có phần khập khiễng hơn trước. Cú vận linh lực vừa rồi qua tấm thẻ thợ trận tuy chỉ là một sợi tơ mỏng manh, nhưng rõ ràng đã chạm vào vết thương kinh mạch chưa kịp khép miệng nơi cổ tay phải. Người thợ mộc siết chặt quai chiếc gùi trên lưng, không nói một lời cảm ơn sáo rỗng, nhưng bờ vai vạm vỡ của anh vô thức dấn lên nửa bước, đi sát bên phải nàng để che chắn mọi ánh nhìn soi mói, tò mò từ những người đi đường.
Đường phố huyện An Lưu chìm trong cảnh tiêu điều xác xơ sau đợt ngập lụt. Nước tuy đã rút khỏi các con đường chính nhưng lớp phù sa vàng vọt vẫn bám dính lấy các bậc thềm nhà, các bức tường vôi lở loét loang lổ vết nước ngập cao ngang ngực người. Những đống rác rưởi, chiếu rách, bàn ghế gãy nát chất đống ở các góc ngã tư bốc mùi chua nồng. Dân cư trong thành kẻ thì hối hả tát nước rửa nhà, người thì khiêng vác đồ đạc chạy loạn, tiếng cãi vã tranh giành từng thùng nước ngọt từ các giếng khơi chưa bị ô nhiễm thỉnh thoảng lại bùng lên chát chúa.
Họ không rẽ vào con đường lát đá lớn dẫn tới Huyện nha—nơi cờ giong trống mở ồn ào và lính tráng, dịch phu chạy ngược chạy xuôi như ong vỡ tổ—mà rẽ vào một con hẻm ngoằn ngoèo, lát đá xanh rêu phong dẫn về phía tây bắc thành.
Càng đi sâu về hướng tây bắc, cảnh tượng ồn ào hỗn tạp của phố thị càng lùi xa. Đất ở khu vực này cao hơn, nước lũ chưa chạm tới phần nền móng bằng đá hộc của các công trình cổ kính. Ở góc xa nhất của khu phố cũ, phân sở Trấn Linh Ty huyện An Lưu sừng sững tọa lạc trong một không gian hoàn toàn tách biệt với phần còn lại của huyện lỵ.
Nơi đây hiu quạnh, thâm nghiêm và lạnh lẽo hơn nhiều so với cảnh tượng bát nháo ngoài huyện nha. Trước cổng không có lính gác bồng giáo tuốt gươm, chỉ có hai cột đá hoa cương xám xịt nguyên khối cao hơn một trượng, trên thân cột khắc chìm hình mây lượn phong lôi và các vòng bát quái mờ nhạt đã mòn vẹt vì mưa nắng trăm năm. Bậc thềm đá dẫn lên đại sảnh đóng một lớp rêu xanh trơn tuột, dường như đã từ rất lâu không có người quét tước dọn dẹp. Mùi bùn tanh tưởi của cơn lũ ngoài kia dường như bị chặn đứng lại bên ngoài cánh cửa gỗ lim nặng nề khép hờ; thay vào đó, bao trùm lấy toàn bộ không gian bên trong là một mùi hương đặc trưng đến nghẹt thở: mùi của giấy bản và mực nho cũ kỹ lưu trữ qua nhiều thập kỷ, mùi lưu huỳnh khét lẹt tỏa ra từ các mẫu khoáng thạch khảo sát địa tầng, và mùi đồng gỉ nồng nặc bốc ra từ những chiếc la bàn trắc địa kích thước lớn đặt rải rác ở các góc sảnh.
Bước qua ngưỡng cửa gỗ cao chạm gối, cảm giác ẩm ướt của trời đất dường như biến mất, thay vào đó là cái lạnh khô khốc của một kho lưu trữ khổng lồ. Trên các giá gỗ lim cao sát trần nhà, hàng ngàn cuốn thư tịch, bản đồ địa mạch vẽ trên da thú sấy khô và thẻ tre kiểm định được xếp ngay ngắn thành từng hàng dài dằng dặc, phủ một lớp bụi mỏng tang. Một vài chiếc la bàn đồng với kim chỉ nam bằng từ thạch lơ lửng trong bát dầu thỉnh thoảng lại khẽ xoay tròn, phát ra những tiếng *tạch, tạch* khô khốc giữa sự tĩnh mịch tuyệt đối, phản ứng lại những dao động địa từ yếu ớt từ các đứt gãy sau lũ.
Nguyễn Mộc hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng, đôi vai già nua khẽ run lên. Ông lão ngơ ngác nhìn quanh sảnh đường thênh thang lạnh lẽo, nơi lưu giữ số phận, sự hưng thịnh và diệt vong của biết bao sơn môn, đạo quán thăng trầm qua các thời kỳ thiên tai tao loạn.
"Đến rồi..." ông thì thầm, giọng khàn đặc vì xúc động lẫn nỗi âu lo mơ hồ đè nặng trong tâm can. "Nơi này... bao nhiêu năm rồi ta mới lại bước chân vào."
Bùi Hạ khẽ gật đầu, ánh mắt nàng quét nhanh qua các dãy kệ sách, nhận diện những ký hiệu lưu trữ của Trấn Linh Ty mà nàng từng quá quen thuộc trong những năm tháng còn ở sơn môn. Nàng dẫn hai người tiến thẳng qua gian tiền sảnh thênh thang, bước đi trên những phiến đá hoa cương nhẵn bóng vang lên tiếng lộp cộp khô khốc, đi về phía căn phòng làm việc nằm sâu bên cánh tả—nơi có treo tấm biển gỗ đào khắc ba chữ *Khảo Bộ Phòng* bằng lối chữ triện nghiêm cẩn.
Cửa phòng Khảo Bộ mở hé. Bên trong, không gian còn tĩnh mịch và lạnh lẽo hơn gấp bội. Ánh sáng yếu ớt của buổi sớm mùa đông xuyên qua khung cửa sổ dán giấy dầu mờ đục, rọi xuống một chiếc bàn làm việc đồ sộ đóng bằng gỗ mun đen bóng, mặt bàn phẳng lì như mặt nước hồ không gợn sóng.
Sau chiếc bàn ấy, một người phụ nữ trạc ba mươi tuổi đang ngồi ngay ngắn, lưng thẳng tắp như một ngọn giáo cắm xuống đất.
Nàng mặc đạo bào màu lam nhạt của Trấn Linh Ty, cổ áo gập nếp chỉnh tề, tay áo bó gọn gàng bằng những đai da thô sơ, mái tóc đen tuyền búi cao cài một chiếc trâm định linh bằng ngọc trắng thô sơ không chút chạm trổ cầu kỳ. Đó chính là Đinh Tuệ, viên kiểm định Luyện Khí tầng năm phụ trách rà soát địa mạch và đăng bộ tông môn của phân sở An Lưu. Trước mặt nàng là những chồng hồ sơ bằng giấy bản cao ngất ngưởng, một chiếc la bàn trắc địa tám cạnh bằng đồng thau sáng loáng đặt trên giá gỗ gụ, và một cây bút lông cán trúc đang dừng lơ lửng trên mặt trang giấy dó kẻ sẵn ô đỏ.
Nghe tiếng bước chân lạo xạo dính bùn đất dừng lại trước bậu cửa, Đinh Tuệ không ngẩng đầu lên ngay lập tức. Nàng cẩn thận chấm ngọn bút lông vào nghiên mực đá mực đen tuyền, nắn nót viết nốt một dòng chữ ngay ngắn, rồi mới từ tốn đặt bút nằm ngang trên giá đỡ bằng đồng hình con nghê.
Khi ánh mắt nàng ngước lên, gian phòng dường như lạnh thêm vài phần. Đó là một ánh mắt dò xét sắc sảo, điềm tĩnh và hoàn toàn không mang chút cảm xúc ấm áp nào—ánh mắt của một người đã quen nhìn mọi sự việc, mọi thân phận trên đời qua những con số đo đạc khô khốc, những đường kinh tuyến địa lý và các điều khoản luật lệ nghiêm ngặt. Nàng nhìn lướt qua bộ dạng nhếch nhác, áo chàm rách nát bết đầy bùn đất của ba người, dừng lại một thoáng ở cổ tay phải quấn băng nẹp trắng muốt của Bùi Hạ, rồi chuyển sang chiếc bọc da dầu lớn mà Nguyễn Mộc đang run rẩy ôm trước ngực.
"Bùi Hạ?" Đinh Tuệ cất tiếng. Giọng nàng đều đều, không mỉa mai, cũng không có vẻ ngạc nhiên hay vồn vã, như thể nàng đã đoán trước được người thợ sửa trận từng bị Thanh Huyền Môn ruồng bỏ này sớm muộn gì cũng sẽ xuất hiện tại đây. "Ngươi không ở lại khu lều tạm Bến Bạch Sa chờ Thanh Huyền Môn phân phối việc thu dọn phù sa, mà dắt theo một thợ đá già cùng một thợ mộc trốn việc xuống đây làm gì?"
Cái tên "Thanh Huyền Môn" được thốt ra một cách bình thản, nhưng mang theo sức nặng ngàn cân của quá khứ, như một vết roi quất thẳng vào lòng tự trọng của kẻ bị phế thải.
Bùi Hạ không hề né tránh ánh nhìn sắc như gươm của viên kiểm định. Nàng đứng thẳng lưng, giữ cho nhịp thở của mình tuyệt đối vững vàng: "Thanh Huyền Môn có đường của Thanh Huyền Môn, ta có việc của ta. Bến Bạch Sa đã thành bãi bùn lầy vô chủ, người ở đó cần một nơi dung thân hợp pháp theo luật định." Nàng khẽ nghiêng đầu, ra hiệu cho Nguyễn Mộc.
Nguyễn Mộc hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh lồng ngực đang đập thình thịch như trống điểm. Ông lão tiến lên hai bước, hai bàn tay run rẩy nhưng vô cùng cẩn trọng cởi từng nút thắt của lớp vải gai tẩm mỡ bên ngoài. Lớp da dầu quét hắc ín chống nước được mở ra từng nếp một, mùi dầu trẩu và khói bếp xông lên nhè nhẹ, để lộ tập hồ sơ bằng giấy dó dày dặn nằm ngay ngắn bên trong.
Dù đã được bọc ba lớp cẩn mật qua suốt sáu dặm đường sạt lở, mép ngoài của tập giấy vẫn lấm lem vài vệt bùn vàng của núi Đoạn Phong—dấu tích của những đoạn dốc dựng đứng mà họ vừa vượt qua bằng cả tính mạng và lòng kiên định cùng cực.
Nguyễn Mộc trân trọng nâng tập hồ sơ bằng cả hai tay, cúi mình thật sâu, đặt nó lên mặt bàn gỗ mun đen bóng của Đinh Tuệ.
"Bẩm Đinh đại nhân," giọng Nguyễn Mộc vang lên chậm rãi, rõ ràng từng tiếng giữa căn phòng Khảo Bộ tĩnh mịch, "Chúng tôi đại diện cho ba mươi hai con người đang trú ẩn tại Đạo quán Vọng Đăng trên núi Đoạn Phong. Đến đây theo đúng quy định tại Thiên thứ ba, Điều mười hai của Luật Vân Hà... đệ trình hồ sơ xin đăng bộ Tông Môn Sơ Lập."
Tập hồ sơ nằm đó, thô sơ, dính mùi khói bếp, mùi rêu phong và bùn đất của ngọn núi vỡ, đối lập hoàn toàn với vẻ bóng bẩy, lạnh lẽo của chiếc bàn gỗ mun và những cuốn sổ da thú sang trọng bao bọc xung quanh.
Đinh Tuệ không vội vàng chạm tay vào tập giấy. Nàng ngồi im, đôi lông mày thanh tú khẽ nhíu lại thành một đường gợn sóng. Ánh mắt nàng dừng lại trên dòng chữ mực son viết tay ngay ngắn trên trang bìa thô ráp: *Đơn Đăng Bộ Tông Môn Sơ Lập — Đạo Quán Vọng Đăng*. Nàng biết rõ tình cảnh ngoài kia: huyện nha đang ráo riết vét từng người đàn ông để ném vào công trường Đê Hồi Long, các thương hội lớn đang rình rập thâu tóm từng mạch nước ngọt, còn các môn phái danh gia thì chỉ chăm chăm thu dọn đệ tử tinh hoa, bỏ mặc đám đệ tử ngoại môn và nạn dân tự sinh tự diệt. Việc một nhóm nạn dân cùng đường dám đem một tập hồ sơ thô sơ đến gõ cửa Trấn Linh Ty để đòi quyền lập phái độc lập là chuyện xưa nay hiếm thấy trong suốt đợt lũ kinh hoàng này.
Ngón tay thon dài của viên kiểm định khẽ gõ nhẹ ba nhịp xuống mặt bàn gỗ mun, tạo nên những tiếng *cộc, cộc, cộc* đanh gọn, lạnh lùng vang vọng trong bốn bức tường đá.
Cuối cùng, nàng vươn tay, lật mở lớp bìa thô ráp bọc ngoài.
Đinh Tuệ lật giở từng trang một cách chậm rãi, tỉ mỉ. Ánh mắt sắc sảo của nàng quét qua bản vẽ kết cấu trận hộ sơn thu nhỏ bảo vệ gian kho và chính điện—những nét mực son pha cặn dầu vạch ra các đường kinh vĩ trận pháp khúc chiết, chuẩn xác đến từng phân li, vận dụng địa thế đá vôi tự nhiên một cách tài tình để bù đắp cho sự thiếu hụt trầm trọng của linh thạch. Nàng lướt qua bản dập rập nét chữ mờ mờ trên tấm bia sa thạch cổ vừa được cạo sạch rêu phong, nơi ghi nhận nguồn gốc đất công ích được cấp từ ba triều đại trước cho đạo quán hoang phế.
Rồi cuối cùng, ngón tay nàng dừng lại thật lâu ở trang cuối cùng của tập hồ sơ—nơi có chín chữ ký ngay ngắn kèm theo chín dấu điểm chỉ đỏ tươi như máu của những người đứng đầu ba mươi hai nhân khẩu trên núi Đoạn Phong.
Căn phòng rơi vào một sự im lặng kéo dài nghẹt thở. Tiếng kim từ thạch trong chiếc la bàn trắc địa góc phòng khẽ rung lên một tiếng *tạch* nhỏ xíu.
Đinh Tuệ lật từng trang giấy dó dính bùn, ngẩng đầu nhìn Bùi Hạ và lạnh lùng hỏi:
"Bằng cớ nào chứng minh chín người này tự nguyện theo ngươi, chứ không phải bị gom lại để trốn phu?"