Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.6 / 40
Chapter 6

Bảng Phân Ca Trên Vách Đá

Khói bếp mù mịt quyện chặt với mùi dầu xoa bóp cay nồng, tạo thành một tầng khí lơ lửng, quánh đặc dưới mái rui gỗ ám muội đen. Từng đợt gió bấc thốc qua khe liếp rách nát, thổi bùng lên tàn tro đỏ le lói trong lò, nhưng cũng không sao xua đi được thứ tử khí lành lạnh của một buổi sớm sau bão.

Trên chiếc ghế đẩu cập kê kê sát bậu cửa, Đỗ Nghi quỳ một bên gối, hai bàn tay mảnh dẻ nhưng cứng như kìm sắt miết chặt dải băng bằng vải gai thô quanh cổ tay phải của Bùi Hạ.

Mỗi vòng vải thô siết qua miệng vết nứt vừa chớm kéo da non, Bùi Hạ lại bất giác co rúm các ngón tay trái, móng tay bấu chặt vào mép bàn gỗ sam còn vương đầy mạt cưa mịn. Cơn đau không dữ dội như lúc linh lực cuồng bạo xé toạc kinh lạc khi nàng liều chết đè nén phế phủ cho Vũ Liên sáng nay, nhưng nó buốt nhức tận xương tủy, một nỗi đau âm ỉ, nặng trịch, bò dọc từ huyệt Liệt Khuyết lên tận bả vai. Dưới làn da sần sùi sạm nắng, nhánh kinh mạch dị dạng—vết tích của bao năm tháng làm thợ sửa trận hạ đẳng nơi Thanh Huyền Môn—vẫn phập phồng từng nhịp đứt quãng, thâm sì và nổi cộm như một đoạn rễ cây khô bị ngâm úng dưới đáy bùn lầy.

Nàng cắn chặt môi dưới, không để bật ra một tiếng rên rỉ, nhưng mồ hôi lạnh đã rịn ra lấm tấm trên trán, chảy dọc sống mũi rồi nhỏ xuống mặt bàn gỗ xù xì.

Đỗ Nghi thắt một nút bướm dứt khoát, tàn nhẫn đến mức khiến khớp xương cổ tay Bùi Hạ kêu lên một tiếng *rắc* khẽ khàng. Nàng thầy thuốc buông tay, đứng thẳng dậy, phủi sạch những vụn lá ngải cứu khô và bột lưu huỳnh còn vương trên gấu tay áo chàm đã sờn rách. Đôi mắt nàng, vốn luôn giấu kín dưới hàng mi dài mệt mỏi, lúc này nhìn thẳng vào Bùi Hạ, lạnh buốt như nước giếng mùa đông:

"Cổ tay này của cô, nội trong năm ngày tới, nếu còn gánh quá mười cân lực nén hoặc tự tiện dẫn quá ba thành linh lưu qua kinh Phế, nhánh kinh lạc phụ sẽ vỡ nát hoàn toàn thành từng mảnh vụn. Đến lúc đó, đừng nói là cầm bút sắt khắc trận thạch, ngay cả việc cầm một chiếc thìa gỗ để múc thìa cháo loãng vào miệng cô cũng đừng hòng làm được."

Bùi Hạ khẽ rụt cánh tay lại, kéo vạt áo chàm rộng thùng thình xuống để che đi lớp vải băng trắng toát chói mắt. Nàng cố nén cơn nhói buốt đang giật từng hồi bên dưới lớp thuốc cao:

"Đạo quán còn ba mắt trận thủng. Sườn đông vẫn đang sạt lở từng mảng đất đỏ, nếu không có màng chắn của mắt trận thứ ba để giữ gian kho lương và góc chính điện, chỉ cần một đợt nước lũ tràn qua vách đá phía sau là toàn bộ ngũ cốc còn lại của ba mươi hai con người sẽ hỏng sạch. Ta tự biết chừng mực của mình—"

"Cô chẳng biết cái thớ gỗ mục nào về chừng mực cả."

Tiếng Lâm Tự cắt ngang lời nàng. Âm thanh khô khốc, đanh thép như tiếng nêm gỗ sồi bị nện mạnh vào mộng đá hoa cương.

Người thợ mộc đứng sừng sững bên cạnh bàn bếp, bóng anh cao lớn che khuất một khoảng ánh sáng nhợt nhạt hắt vào từ cửa sổ. Hai bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần, vết sẹo cưa sâu hoắm chống thẳng xuống mặt bàn gỗ sam. Chiếc bào sắt nặng trịch vẫn nằm im lìm ở mép bàn, nơi anh vừa dằn xuống lúc nãy với một lực đủ mạnh để làm rung rinh cả chồng bát sành sứt mẻ. Đôi mắt Lâm Tự đỏ quạch những tia máu vì ba đêm liền không chợp mắt, nhưng ánh nhìn anh găm vào nàng lại sắc bén, trần trụi và gay gắt đến mức khiến người ta phải chột dạ.

"Một cây xà gồ đã bị mọt rỗng ruột thì không thể dùng để đỡ cả nóc nhà," Lâm Tự nói chậm rãi, từng chữ rơi xuống nặng trịch như nhịp búa tạ giáng đinh. "Nếu thợ mộc biết rõ thớ gỗ bên trong đã xốp mục thành mùn mà vẫn ráng chồng thêm ba lớp ngói đại, đó không phải là dũng cảm, mà là ngu xuẩn giết người. Cô ngã xuống, ba mươi mốt miệng ăn ở đây sẽ nhìn vào ai? Nhìn vào bãi máu đen cô vừa nôn ra đất cạnh bậc cửa, hay nhìn vào cái chức vị 'chưởng môn' chưa được nửa tờ giấy lộn nào của huyện nha công nhận?"

Bùi Hạ mím chặt môi. Không khí trong gian bếp nhỏ nghẹt lại giữa mùi khói củi ướt, mùi mạt cưa thông và mùi dầu long não the nồng. Nàng muốn cất tiếng phản bác, muốn bảo rằng nếu nàng không gồng mình chịu đựng thì trên ngọn núi cô độc này, giữa bốn bề nước lũ dâng cao và núi đá lở loét, ai sẽ đứng ra cáng đáng thay? Nàng từng chứng kiến các chấp sự, chưởng sự ở Thanh Huyền Môn thúc ép đám đệ tử tạp dịch làm việc đến kiệt quệ, vắt kiệt từng giọt linh lực cho đến khi kinh mạch nứt toác rồi vứt bỏ như cỏ rác; nàng căm ghét thói tàn nhẫn vô nhân đạo ấy đến tận xương tủy. Nhưng giờ đây, nhìn vào ngọn lửa giận dữ pha lẫn bất lực trong mắt Lâm Tự, nàng chợt bàng hoàng nhận ra chính mình cũng đang trượt dài trên vết xe đổ đó—nàng đang tự bóc lột chính bản thân, dùng sự hy sinh mù quáng làm tấm bình phong che đậy nỗi hoảng loạn và sự bất lực trước thực tại nghiệt ngã.

"Vậy các người muốn thế nào?" Bùi Hạ thở hắt ra một hơi dài, bờ vai xuôi xuống, giọng nói chùng lại như dây đàn ngấm nước mưa.

"Lập bảng phân ca. Định mức rõ ràng. Đo đạc sức người cẩn thận như người thợ mộc đo đạc từng thớ gỗ lạt trước khi hạ cưa." Lâm Tự vươn tay kéo phăng một tấm ván gỗ mỏng vát cạnh từ góc tường lại, rồi rút một mẩu than củi cháy dở còn âm ỉ khói trong bếp lò dúi thẳng vào tay nàng. "Đỗ Nghi nói cô chịu được bao nhiêu phần lực, cô chỉ được phép làm bấy nhiêu phần việc. Những người còn lại, ai lành lặn chân tay phải gánh vác phần việc của người lành lặn, ai thương tật làm việc nhẹ. Tuyệt đối không có chuyện một người ôm hết việc vào lòng rồi lén lút ngồi nôn máu trong xó tối."

"Ta đồng ý hoàn toàn." Đỗ Nghi tiếp lời ngay lập tức, không để Bùi Hạ có lấy một khoảnh khắc do dự. Nàng thầy thuốc lôi từ trong bọc vải ra một cuộn giấy dầu đã ngả màu vàng ố cùng nghiên mực đá nhỏ. "Ta sẽ lập danh sách phân loại thể trạng cho toàn bộ ba mươi hai người trong quán. Bốn người thợ thuyền chèo đò và những phụ nữ khỏe mạnh sẽ phụ trách việc gánh nước, khiêng đá dọn đường sạt lở. Người già và trẻ nhỏ như con bé An hay bác Mộc phụ trách việc nhặt củi khô, đãi mạt sa, phân loại đá dăm cho mắt trận. Còn cô—Bùi Hạ—chỉ được phép đứng chỉ đạo kỹ thuật, định vị phương vị mắt trận, cấm tuyệt đối mọi việc khiêng vác nặng hoặc tự mình vận chuyển linh lực quá một khắc mỗi ngày. Bảng này sẽ dán công khai lên vách đá chính điện. Ai tự ý vi phạm, trừ một nửa khẩu phần rau rừng bồi dưỡng của ca trực đó."

Bùi Hạ nhìn Đỗ Nghi, rồi lại ngước nhìn gương mặt vuông vức, cương nghị của Lâm Tự. Sự kiên quyết lạnh lùng nhưng vững chãi trong mắt hai người bọn họ không chừa lại cho nàng một kẽ hở nào để mặc cả hay thoái thác. Nàng hít sâu một hơi lồng ngực đầy mùi khói, đón lấy mẩu than củi khô khốc từ tay người thợ mộc:

"Được. Nhưng quy tắc này phải áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, không chừa một ai. Kể cả anh đấy, Lâm Tự. Bả vai phải của anh bị bầm dập tím tái từ hôm khiêng cây đòn dông chính điện, đừng tưởng ta mù mà không nhìn thấy anh bước đi khập khiễng suốt từ sáng đến giờ."

Lâm Tự hơi khựng lại, khóe miệng giật giật. Anh nhìn xuống cánh tay áo rách để lộ vết bầm sưng húp nơi bả vai mình, rồi buông một tiếng cười khẽ, khô khốc như tiếng củi nỏ gãy đôi:

"Thành giao."

Nửa canh giờ sau, một tấm ván gỗ sam đã được bào nhẵn thớ, dán chặt tờ giấy điều lệ phân ca lao động bằng hồ nếp, được đóng chặt bằng hai chiếc đinh gỗ vào vách đá hoa cương nham nhở ngay bên tả ngạn cửa chính điện. Từng nét chữ mực tàu sắc sảo, dứt khoát của Đỗ Nghi đan xen với những ký hiệu phân chia ca trực bằng than củi của Bùi Hạ hiện rõ mồn một dưới ánh sáng nhợt nhạt của buổi sớm mù sương. Dòng chữ cuối cùng ở chân bảng được tô đậm ba lần, rành rọt và dứt khoát:

*Tuyệt đối cấm giấu bệnh, cấm gượng sức quá tải. Thể trạng của mỗi người là tài sản chung của đạo quán; làm hỏng sức mình là làm hại bạn đồng hành.*

Đám người tị nạn đứng túm tụm trước vách đá xì xào bàn tán. Mấy người đàn bà xoa xoa đôi bàn tay cóng buốt, lũ trẻ con đứng nép sau lưng mẹ tròn xoe mắt nhìn bảng chữ. Nhưng khi ánh mắt họ chạm phải dải băng trắng toát quấn quanh cổ tay người thủ lĩnh, chạm phải vẻ mặt đanh thép, lạnh lùng như dao khắc của Đỗ Nghi và chiếc búa gỗ lừng lững giắt bên hông Lâm Tự, không một ai cất tiếng phàn nàn. Nền nếp và tính kỷ luật của một tập thể cùng đường không bao giờ sinh ra từ những lời hô hào đao to búa lớn; nó bắt đầu nảy mầm từ chính những lằn ranh lạnh lùng, chuẩn xác được vạch ra trên từng thớ gỗ, phiến đá.

***

Công việc khắc phục hậu quả thiên tai không cho phép bất kỳ ai được nhàn rỗi. Vách ngói phía tây của chính điện—nơi tiếp giáp trực tiếp với gian nhà kho chứa toàn bộ số lương thực còm cõi còn sót lại—đang oằn mình dưới sức nặng khủng khiếp của hàng ngàn phiến ngói trượt và một mảng đất chuồi nhão nhoét từ sườn núi dồn xuống sau trận mưa đêm qua.

Áp lực cơ học khổng lồ đó đang đè nghiêng cột góc bằng gỗ lim già, truyền thẳng từng đợt rung chấn xuống bệ đá trận pháp số ba nằm âm dưới nền đất chừng hai tấc. Sự đè nén cơ học quái ác ấy bóp nghẹt các rãnh dẫn linh ngầm, khiến luồng linh khí mỏng manh nối từ trung tâm đạo quán bị tắc nghẽn cục bộ, liên tục phát ra những tiếng rít nghẹn ngào, chói tai như tiếng mũi khoan rỉ sét cọ xát vào đá tảng.

"Nếu cứ để nguyên cả bức tường và đống đất trượt này đè nghiến lên bệ đá, cô có dốc cạn toàn bộ linh lực của một tu sĩ Luyện Khí tầng ba vào đó thì cũng chỉ như muối bỏ biển mà thôi." Lâm Tự đứng dưới chân vách tường tây, tay cầm chiếc thước đo góc bằng gỗ lim đã mòn vẹt mép, ngước nhìn mảng xà gồ đang cong oằn kêu răng rắc từng chập theo mỗi cơn gió thổi qua.

"Bệ đá mắt trận thứ ba dùng đá huyền thạch làm lõi, tính chất chịu nén rất kém nhưng khả năng tích tụ và dẫn truyền linh lưu lại cực kỳ nhạy bén." Bùi Hạ đứng cách anh ba bước chân, cánh tay phải nép chặt vào trước ngực, bàn tay trái chỉ thẳng vào vết nứt đang rạn ra ở chân tường. "Chỉ cần trọng lực bên trên vượt quá bốn trăm cân, các mạch dẫn linh bằng bột chu sa và mạt sa bên trong sẽ bị bẹp rúm, linh lưu đứt đoạn hoàn toàn, không thể nào mở rộng màng chắn khí để bao bọc gian kho."

"Vậy thì nhấc toàn bộ cái trọng lực chết tiệt đó ra khỏi bệ đá. Dễ như trở bàn tay đối với người hiểu thớ gỗ."

Lâm Tự không nói thừa một lời. Anh huýt sáo gọi hai người thợ thuyền khỏe mạnh đang dọn đá gần đó khiêng tới những thanh gỗ táu già, thẳng tắp, thớ thịt nâu sẫm và nặng như sắt nguội đã được vát cạnh sắc sảo từ hôm trước.

Người thợ mộc thoăn thoắt cầm chiếc rìu nhỏ đẽo gọt các đầu gỗ. Lưỡi rìu sắc ngọt bổ xuống từng nhát chuẩn xác đến từng ly, tiện ra những mối mộng đuôi én lồi lõm ăn khớp hoàn hảo và những mộng vát hình mang cá sâu hoắm. Suốt quá trình gia công, Lâm Tự không hề đụng đến một chiếc đinh sắt nào. Trong môi trường ẩm ướt đầy hơi nước ngậm linh sa khoáng tính của vùng núi Đoạn Phong, kim loại phàm tục sẽ rỉ sét và mục ruỗng chỉ sau vài ngày ẩm ướt; chỉ có kết cấu mộng gỗ thuần túy, cắn chặt vào nhau bằng chính sức đàn hồi của thớ gỗ già, mới có thể trường tồn trước thử thách của thời gian.

Dưới sự chỉ huy chuẩn xác, lạnh lùng của Lâm Tự, một hệ thống thanh giằng chéo bằng gỗ táu được dựng đứng lên theo hình chữ X kép. Hai đầu giằng trên cắm chặt vào các lỗ mộng khoét sâu vào xà ngang chịu lực, trong khi bốn chân đế choãi rộng ra, cắm sâu vào vách đá gốc vững chãi của sườn núi, tạo thành một khung chịu lực độc lập bắc ngang qua khoảng không phía trên bệ đá trận pháp.

"Đưa nêm gỗ sồi đây!" Lâm Tự quát khẽ.

Người thợ thuyền vội vã chuyền tới những chiếc nêm gỗ hình nêm nhọn hoắt. Lâm Tự cầm búa gỗ nặng trịch, dồn lực toàn thân vào cánh tay trái lành lặn, nện từng nhát dứt khoát vào các khớp nối.

*Chanh! Chách! Chanh!*

Từng tiếng nện khô giòn vang dội khắp góc sân viện. Mỗi cú giáng búa giáng xuống, toàn bộ mảng ngói trượt và đống bùn đất chuồi phía trên dường như rung chuyển nhẹ một nhịp, rồi phát ra những tiếng cọt kẹt trầm đục khi hệ thống thanh giằng bắt đầu ăn khớp. Trọng tải khổng lồ hàng ngàn cân từ từ bị cưỡng chế chuyển hướng, dồn toàn bộ sức nặng sang bờ vách đá tự nhiên của ngọn núi, giải phóng hoàn toàn một khoảng không gian trống trải rộng chừng nửa thước xung quanh bệ đá trận pháp bên dưới.

"Xong rồi đấy." Lâm Tự buông búa, đưa mu bàn tay áo quệt vội dòng mồ hôi đang túa ra ròng ròng trên trán. Anh lùi lại hai bước, ngắm nghía kết cấu giằng gỗ một lượt rồi hất hàm chỉ vào khoảng trống vừa lộ ra. "Trọng lực đã chuyển hướng sang vách núi. Giờ thì bệ đá của cô chỉ phải gánh đúng phần bụi bặm rơi vãi từ trên trời xuống thôi."

Bùi Hạ nhìn chăm chú vào bộ khung giằng gỗ táu vững như bàn thạch sừng sững trước mắt, trong lòng dấy lên một nỗi thán phục sâu sắc. Nàng là thợ sửa trận, quen nhìn vạn vật qua những dòng linh mạch vô hình, những nút thắt năng lượng phức tạp và những công thức phù chú huyền bí. Nhưng người thợ mộc phàm trần này lại dùng chính quy luật cơ học thuần túy của trần thế—sự co giãn của thớ gỗ, góc nghiêng của các thanh giằng, sự phân tán của trọng lực—để hóa giải một bế tắc mà nàng tưởng như phải tiêu tốn cả nửa bình đan dược hồi khí và liều mạng vận công mới có thể chống đỡ nổi.

Nàng bước chậm rãi tới gần bệ đá hình bát giác vừa lộ ra dưới nền đất ẩm. Không dám khinh suất, Bùi Hạ đứng tấn thật vững, hít sâu một hơi khí lạnh để điều hòa lại nhịp thở và làm dịu đi những cơn co giật nơi kinh mạch cổ tay. Nàng hoàn toàn không dùng đến tay phải; chỉ bằng hai ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay trái—bàn tay không thuận nhưng các khớp xương vẫn còn nguyên vẹn—nàng nhẹ nhàng điểm thẳng vào rãnh dẫn linh trung tâm của phiến huyền thạch.

Không còn sức nặng ngàn cân của đất đá đè bẹp, các vi mạch dẫn linh bên trong phiến đá lập tức thông suốt lạ thường. Bùi Hạ không cần gồng mình ép linh lực; nàng chỉ nhẹ nhàng phóng ra một sợi mộc linh thanh khiết mảnh như sợi tơ nhện.

*Ò... o... o...*

Một tiếng ngân thanh thoát, trong trẻo như tiếng chuông khánh vang lên từ lòng đất. Những đường hoa văn uốn lượn chạm khắc trên mặt đá bát giác bỗng bừng sáng một dải lam quang dịu nhẹ, mát rượi. Ánh sáng men theo các rãnh ngầm chôn sâu dưới lớp đất nén, nối liền mạch khí từ bệ đá trung tâm ở chính điện chạy thẳng sang bốn góc gian kho lương. Màng chắn năng lượng của mắt trận thứ ba khẽ gợn lên một làn sóng trong suốt giữa không trung, rồi vững vàng chụp xuống, bao bọc toàn bộ khu vực dự trữ sinh tồn của ba mươi hai con người trước sự đe dọa của sườn dốc phía sau.

Cổ tay phải của Bùi Hạ chỉ khẽ nhói buốt một thoáng như kim châm rồi nhanh chóng êm dịu trở lại. Lượng linh lực tiêu hao cho toàn bộ quá trình này chưa tới nửa thành—một con số không tưởng nếu so với sự hao tổn kinh hoàng sáng nay.

Bùi Hạ thở phào nhẹ nhõm, thu tay về, quay sang nhìn người thợ mộc đang đứng tựa lưng vào cột gỗ:

"Những chiếc mộng gỗ của anh vừa cứu cánh tay này của ta đấy."

Lâm Tự cúi xuống nhặt chiếc rìu nhỏ lên, tra lại vào bao da bên hông, khóe mắt đầy nếp nhăn khẽ giãn ra một nét cười hiếm hoi:

"Là do cô chịu nghe lời khuyên thôi. Gỗ biết nghe lời người thợ, người biết nghe lời nhau, thì cái nhà này mới mong đứng vững qua mùa bão lũ."

***

Đến giữa trưa, màn sương mù dày đặc bao phủ sườn nam núi Đoạn Phong bắt đầu loãng dần dưới những luồng gió núi hanh hao, để lộ ra những vệt nắng nhợt nhạt, lạnh lẽo rọi xuống các phiến đá xám xịt.

Bùi Hạ không về phòng nằm nghỉ ngơi như lời Đỗ Nghi dặn dò. Nàng xách theo một chiếc sọt nứa nhỏ và một chiếc xẻng sắt ngắn tra cán gỗ, bước từng bước chậm rãi về phía sau hậu viện. Càng đi sâu vào hẻm đá, tiếng róc rách yếu ớt của dòng nước ngầm từ cửa hang Thạch Nhãn càng vang lên rõ nét hơn.

Phía sau nàng chừng năm bước chân, một bóng người gầy guộc bước từng bước rụt rè đi theo. Vũ Liên cúi gằm mặt xuống đất, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo chàm lấm lem bùn đất, sắc mặt vẫn còn trắng bệch, nhợt nhạt sau cơn bạo phát linh lực kinh hoàng suýt cướp đi tính mạng nàng sáng nay.

"Đứng ngây ra đó làm gì?" Bùi Hạ dừng bước ngay bên miệng hang Thạch Nhãn, không quay đầu lại, cất giọng đều đều giữa tiếng gió rít qua khe đá. "Lấy chiếc xẻng gỗ dựa bên vách kia, mang chiếc sọt lại đây."

Vũ Liên giật mình thảng thốt, vội vã chạy tới đón lấy cán xẻng gỗ. Đôi bàn tay thiếu nữ mười bảy tuổi run rẩy đến mức suýt đánh rơi chiếc xẻng xuống vũng nước đọng, giọng nàng nghẹn ngào, run rẩy như sắp khóc:

"Bùi tỷ... muội... muội có tội lớn. Sáng nay muội ngu muội giấu giếm việc tu luyện khẩu quyết tàn khuyết, suýt nữa làm nổ tung phế phủ của mình, lại còn làm rách toác vết thương kinh mạch của tỷ... Đỗ tỷ vừa bảo muội, tỷ vì cứu muội mà suýt chút nữa phế bỏ hoàn toàn bàn tay phải... Muội đáng chết..."

"Biết sợ là tốt." Bùi Hạ cắm phập chiếc xẻng sắt ngắn xuống lớp bùn xám dưới chân, động tác dứt khoát nhưng cẩn trọng né tránh việc dùng lực từ cổ tay phải. "Nhưng nếu muốn chuộc lỗi thì dùng hai con mắt mà nhìn cho kỹ, dùng hai bàn tay mà làm việc cho đàng hoàng. Đứng đó khóc lóc thở than không làm cho nguồn nước này trong ra được, cũng không làm cho vết thương của ta lành lại. Nhìn xuống lòng suối kia xem."

Vũ Liên vội vàng đưa mu bàn tay quệt sạch giọt nước mắt vừa chực trào ra nơi khóe mi, cúi rạp người nhìn theo hướng mũi xẻng của Bùi Hạ.

Cửa hang Thạch Nhãn chỉ là một khe nứt tự nhiên rộng chừng ba thước, nằm lọt thỏm dưới chân một khối sa thạch khổng lồ nhô ra như mái hiên. Mạch nước ngầm rỉ ra từ kẽ nứt sâu hun hút trong lòng núi Đoạn Phong, nhưng thay vì trong vắt, dòng nước lại chảy lờ đờ, mang theo một lượng lớn mạt linh sa xám tro lắng đọng thành từng mảng báng quánh đặc như mỡ trăn nguội. Khắp không gian bốc lên một mùi tanh nồng nặc, ngai ngái của khoáng chất kim loại bị oxy hóa lâu ngày.

Lớp cặn báng này đóng dày cộm quanh miệng rãnh thoát nước tự nhiên, khiến lưu lượng vốn đã vô cùng ít ỏi—tính toán kỹ lưỡng cũng chỉ vỏn vẹn hai mươi tư gánh nước cho cả ngày lẫn đêm—bị nghẽn lại quá nửa. Dòng nước không thoát đi đâu được, tràn lênh láng ra các hốc đá xung quanh rồi ngấm mất hút vào lòng đất cát khô cằn, để lại những vệt váng xám xịt, trơ trọi.

"Linh sa ngậm độc sa khoáng cào rách dạ dày phàm nhân," Bùi Hạ vừa nói vừa ngồi xổm xuống, dùng chiếc xẻng sắt cẩn thận nạo từng mảng báng xám tro đổ vào lòng sọt nứa. Nàng chỉ dùng lực đẩy từ cánh tay trái và khớp vai, tuyệt đối giữ cho cổ tay phải bất động trong lớp vải băng. "Nhưng bản thân thứ bùn khoáng này cũng chính là mạt đá tích tụ linh khí từ thượng nguồn đổ về. Nếu để nó ứ đọng ở đây, nó sẽ làm nghẹt mạch nguồn Thạch Nhãn, phá hỏng địa thế phong thủy của hang động. Còn nếu để người trong quán uống nhầm phải nước lẫn thứ cặn này, họ sẽ bị đau quặn ruột gan, thổ tả ra máu mà chết. Cho nên, bài học đầu tiên của một người thợ sửa trận không phải là ngồi xếp bằng thiền định hít thở thanh khí, mà là xắn tay áo lên dọn sạch đống rác rưởi cản đường dòng chảy."

Vũ Liên cắn chặt môi, không nói thêm một lời nào nữa. Nàng quỳ sụp cả hai đầu gối xuống lớp bùn ướt lạnh ngắt, hai tay nắm chặt cán xẻng gỗ, tỉ mỉ và cẩn trọng xúc từng mảng cặn linh sa đóng bám trên vách đá. Bàn tay nàng vẫn còn run rẩy vì di chứng của cơn nghịch chuyển khí huyết, nhưng từng động tác lại vô cùng chuẩn xác, nâng niu, không để rơi vãi lại dù chỉ một vụn cặn nhỏ xuống dòng nước đang cố ngoi lên.

Sau gần nửa canh giờ cặm cụi dưới cái lạnh buốt của lòng hang, đáy rãnh đá dẫn nước cuối cùng cũng lộ ra lớp đá cuội tròn nhẵn nguyên bản. Mất đi lớp báng cặn ngăn trở, dòng nước ngầm lập tức reo vui, tuôn trào mạnh mẽ hơn hẳn, bọt nước trắng xóa bắn tung tóe lên những phiến đá ven bờ.

Bùi Hạ bảo Vũ Liên nhặt những phiến đá sa thạch phẳng phiu, xếp thành một bờ kè dài ngay tại điểm phân nhánh tự nhiên của dòng chảy. Nàng lấy đất sét xám dẻo quánh từ lòng suối miết chặt vào từng khe hở giữa các phiến đá, đắp thành một gờ đá đôi kiên cố, chia dòng nước ngầm vừa khơi thông ra làm hai nhánh rõ rệt.

"Nhánh lớn bên trái chiếm đúng bảy phần lưu lượng," Bùi Hạ chỉ tay vào dòng nước đang cuồn cuộn chảy về phía lòng máng tre dài dẫn xuống cụm bể lắng sinh hoạt phía dưới sườn đồi. "Chỗ nước này sẽ chảy thẳng vào ba tầng bể lọc bằng than củi, cát thạch anh và vải màn gai do Đỗ Nghi trực tiếp khử độc. Ba mươi hai con người trên ngọn núi này, từ đứa trẻ mười một tuổi như con bé An cho đến ông già mắt mờ như bác Mộc, sống hay chết phụ thuộc hoàn toàn vào bảy phần nước này. Tuyệt đối không một ai, kể cả tu sĩ hay phàm nhân, được phép tự tiện động chạm hay múc đi một giọt nào trước khi nó chảy qua đủ ba tầng bể lọc."

Nàng chuyển hướng xẻng sắt sang nhánh nhỏ bên phải, nơi dòng nước chỉ róc rách chảy thành một sợi chỉ mảnh mai, lượn quanh một rãnh đá hẹp:

"Nhánh nhỏ này chiếm ba phần còn lại, dẫn thẳng vào đài thu năng lượng làm bằng đá thanh hoa đặt ngầm bên vách đá kia. Lượng linh khí ít ỏi ngậm trong ba phần nước này sẽ được đài đá chắt lọc ngày đêm, tích lũy từng chút một để nuôi dưỡng ngọn Đăng Dẫn Lộ trên đỉnh tháp và duy trì năng lượng cho ba mắt trận phòng hộ mà chúng ta vừa vất vả vá lại."

Vũ Liên nhìn trân trân vào hai dòng nước đang rẽ về hai hướng khác nhau, đôi mắt thiếu nữ mở to đầy vẻ kinh ngạc:

"Tỷ... tỷ chia nước sinh hoạt cho người phàm nhiều hơn nước nuôi trận pháp sao? Nhưng... nhưng ở Thanh Huyền Môn, các vị trưởng lão và chấp sự luôn dạy rằng linh mạch và đại trận mới là gốc rễ trường tồn của tông môn, còn đệ tử ngoại môn và phàm nhân tạp dịch chỉ là cỏ rác nương nhờ bóng đại thụ, chết đi một lớp thì tuyển thêm một lớp khác..."

"Đó chính là lý do vì sao Thanh Huyền Môn sẵn sàng vứt bỏ các ngươi dưới chân núi khi nước lũ dâng lên," Bùi Hạ lạnh lùng ngắt lời, ánh mắt nàng nhìn sâu vào dòng nước đang chảy siết qua gờ đá, phản chiếu ánh sáng nhợt nhạt của buổi trưa lạnh. "Ở cái đạo quán Vọng Đăng rách nát này, mạng người mới là gốc rễ. Trận pháp dựng lên là để che mưa chắn gió, giữ mạng sống cho con người, chứ không phải bắt con người nhịn khát nhịn đói để cung phụng cho những mắt trận vô tri. Hãy nhớ kỹ điều đó trong đầu, nếu sau này muội còn muốn học nghề sửa trận từ ta."

Vũ Liên rùng mình một cái. Từng lời của Bùi Hạ như những nhát búa đập tan những định kiến tu tiên tàn nhẫn đã ăn sâu vào đầu óc nàng suốt những năm tháng làm tạp dịch ở chân núi. Nàng buông chiếc xẻng gỗ, cúi rạp người dập đầu xuống phiến đá ẩm ướt:

"Đệ tử... đệ tử ghi nhớ từng lời dạy của sư phụ. Cả đời này không dám quên."

Bùi Hạ khẽ lắc đầu, cúi xuống nhặt chiếc sọt nứa đầy bùn khoáng lên bằng tay trái:

"Ta chưa nhận muội làm đồ đệ. Chừng nào muội học được cách trân trọng từng đường kinh mạch trên cơ thể mình, và hiểu được giá trị thực sự của từng gáo nước sạch chia cho người khác, lúc đó hãy gọi ta là sư phụ."

Dù lời lẽ vẫn mang vẻ nghiêm khắc, lạnh lùng cố hữu của một người thợ sửa trận từng trải qua bao cay đắng, nhưng khi nhìn thấy vành tai ửng đỏ và ánh mắt kiên định, sáng trong trở lại của thiếu nữ mười bảy tuổi, nơi khóe môi Bùi Hạ khẽ cong lên một nét bình thản hiếm hoi giữa những ngày giông bão.

***

Buổi chiều muộn buông xuống thật nhanh trên đỉnh Đoạn Phong. Sương lạnh từ các hẻm núi sâu bắt đầu bốc lên ngùn ngụt, nuốt chửng những vệt nắng tàn tạ cuối cùng, biến không gian xung quanh thành một màu xám xịt ảm đạm.

Một cuộc họp kín được triệu tập khẩn cấp tại chái nhà phía đông của chính điện—nơi từng là phòng trà của các đạo sĩ thời xưa, nay chỉ còn lại bốn bức tường trát đất nứt nẻ và một cánh cửa gỗ khép hờ để ngăn gió bấc.

Trong căn phòng hẹp chỉ thắp duy nhất một ngọn đèn dầu hạt cải leo lét, Nguyễn Mộc ngồi xếp bằng ngay ngắn bên chiếc bàn con bằng gỗ thông xù xì. Chiếc áo chàm cũ kỹ của ông cụ đã bạc phếch ở hai khuỷu tay, nhưng dáng ngồi của người thợ khắc bia đá vẫn giữ nguyên sự mực thước, chỉn chu của một người cả đời sống với quy củ chữ nghĩa. Trước mặt ông, trải phẳng phiu trên mặt bàn, là một tờ giấy tuyên phong dày dặn có đóng khung son đỏ chói lọi—mẫu đơn xin đăng bộ "Tông Môn Sơ Lập" theo đúng quy chuẩn hành chính của luật pháp vương triều Vân Hà, thứ mà ông đã cẩn thận giấu kín trong ống nứa bọc sáp suốt những ngày tháng chạy lũ kinh hoàng.

Bên cạnh ông, từng thành viên trưởng thành có tiếng nói của đạo quán được gọi vào theo thứ tự định sẵn: Phạm Sương với cuốn sổ kho bằng giấy bổi kẹp chặt bên nách, nét mặt sắc sảo và đầy cảnh giác; Đỗ Nghi điềm tĩnh ngồi xếp bằng, hòm kim châm bằng gỗ mun đặt ngay ngắn trên đùi; Lâm Tự với bờ vai sạm nắng còn vương đầy mạt cưa, chiếc búa thợ mộc vẫn giắt bên hông; và bốn người thợ thuyền chèo đò khỏe mạnh đại diện cho nhóm phu phen chạy nạn.

Nguyễn Mộc tháo cặp kính gọng đồng đã nứt mất một góc tròng đặt sang bên cạnh, ho khẽ một tiếng khô khốc để thu hút sự chú ý của mọi người. Ánh mắt già nua của ông lướt qua từng gương mặt hằn sâu nỗi âu lo trong phòng, rồi cất giọng trầm đục nhưng rành rọt, từng lời nện xuống dứt khoát:

"Ta gọi riêng từng người vào gian phòng này chiều hôm nay không phải để bắt các vị lập lời thề non hẹn biển trung thành với ai cả. Đạo quán Vọng Đăng không phải là một sơn môn danh gia vọng tộc đầy ắp bí kíp thần công, Bùi cô nương lại càng không phải là vị chưởng môn đại năng muốn thâu tóm đệ tử để hưởng thụ bổng lộc hay bắt người khác hy sinh thay mình."

Ông dùng ngón tay gầy guộc đầy những vết chai đá chỉ thẳng vào từng dòng điều lệ được in chìm bằng mực đen trên tờ giấy tuyên phong:

"Luật pháp Vân Hà quy định rất rõ ràng: Một nhóm nạn dân tụ tập trên núi cao mà không có hộ tịch hay tư cách pháp nhân rõ ràng thì chỉ bị coi là đám dân vô thừa nhận, một đám giặc cỏ tiềm tàng. Quan phủ huyện nha An Lưu có toàn quyền điều động nha binh lên đây bắt sạch đàn ông từ mười sáu đến năm mươi tuổi đi làm lao dịch khổ sai đắp Đê Hồi Long, đồng thời có quyền giải tỏa, phá dỡ nơi trú ngụ này bất cứ lúc nào họ muốn. Nhưng nếu chúng ta đăng bộ thành công tư cách 'Tông Môn Sơ Lập' tại Trấn Linh Ty huyện An Lưu, chúng ta sẽ lập tức trở thành một thực thể pháp lý độc lập được triều đình công nhận."

Ông ngừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt từng người:

"Khi đó, chúng ta có quyền cư trú hợp pháp tại đạo quán này, có quyền bảo vệ và khai thác nguồn nước ngầm Thạch Nhãn theo luật tài nguyên sơn lâm. Và điều quan trọng nhất, thiết thân nhất với tính mạng của từng người ngồi đây: toàn bộ thành viên chính thức có tên trong danh sách đăng bộ sẽ được cấp một tấm 'Biên Nhận Bảo Hộ Tạm Thời'. Tấm biên nhận đó có giá trị pháp lý tương đương với một lệnh miễn trừ toàn bộ các đợt trưng thu phu dịch mới từ huyện nha."

Phạm Sương nhướn đôi mày thanh mảnh, cất giọng the thé nhưng thực dụng đến từng xu:

"Nói toạc móng heo ra, việc chúng ta lập cái gọi là tông môn này thực chất là để mượn một cái khiên pháp lý che đầu trước lưỡi đao bắt lính, bắt phu của lão huyện thừa Hoàng Cẩn, có phải không bác Mộc?"

"Chính xác là như vậy," Nguyễn Mộc gật đầu không chút né tránh. "Đây là một bản khế ước tự cứu mình bằng công cụ luật pháp. Không ai bán thân cho ai, không ai phải thề sống thề chết vì môn phái. Chúng ta chỉ chung lưng đấu cật, ký tên vào cùng một tờ giấy để biến ba mươi hai con người thành một khối thống nhất có danh phận trước công đường. Nhưng luật lệ của Trấn Linh Ty vô cùng khắt khe: một hồ sơ xin lập tông môn sơ cấp bắt buộc phải có tối thiểu chín chữ ký tự nguyện kèm theo dấu điểm chỉ của những người trưởng thành có hộ tịch rõ ràng. Thiếu một chữ ký, hoặc có một vết tích mờ ám, nha môn sẽ bác đơn ngay lập tức và quy chúng ta vào tội man khai."

Ông cụ cầm chiếc bút lông đã mòn vẹt đầu chấm vào nghiên mực son đỏ, đưa mắt nhìn quanh căn phòng một lượt:

"Bùi Hạ là tu sĩ Luyện Khí tầng ba, nàng là người đứng tên vị trí Chưởng môn phụ trách truyền dạy kỹ thuật và phòng hộ. Còn chín người chúng ta ngồi đây chính là nền móng đinh khẩu của đạo quán. Ai tự nguyện ký tên, bước lên phía trước."

Phạm Sương không chần chừ lấy nửa nhịp thở. Nàng bước thẳng tới trước bàn, giật lấy chiếc bút lông, chấm đậm mực rồi viết thoăn thoắt tên họ của mình bằng những nét chữ sắc sảo, dứt khoát:

"Phạm Sương, ba mươi hai tuổi, nguyên quán Bến Bạch Sa."

Viết xong, nàng ấn ngón tay cái dính mực son xuống thật mạnh, tạo thành một dấu hoa tay đỏ chót bên cạnh:

"Ta ký đầu tiên. Kho lương thực này do một tay ta kiểm đếm và giữ gìn, ta không thể để đám nha sai huyện nha nghênh ngang vác đao lên đây cướp sạch từng hạt thóc mang đi vỗ béo cho bọn cai đê ăn tàn phá hại."

Đỗ Nghi là người thứ hai bước lên. Nàng đón lấy bút lông, đặt nét mực thanh mảnh, nắn nót và điềm đạm như chính tính cách của nàng:

"Đỗ Nghi, hai mươi sáu tuổi, hành nghề y dược. Ta ký tên để giữ quyền được tự mình chăm sóc cho bệnh nhân của mình, chứ không phải bị xích cổ lôi đi làm phu dịch y tế trong những trại lính ô hợp, đầy rẫy dịch bệnh dưới chân đê."

Bốn người thợ chèo đò nhìn nhau, ánh mắt họ lóe lên vẻ kiên định của những kẻ đã nếm trải đủ đắng cay của kiếp sống lênh đênh sông nước. Họ từng thấy chủ thuyền ăn chặn từng đồng tiền công, từng thấy anh em bạn chài bị dòng nước lũ cuốn trôi mà quan lại không thèm đoái hoài. Lần lượt từng người bước lên, những bàn tay chai sần, nứt nẻ vì sóng gió vụng về cầm chiếc bút lông mảnh dẻ, để lại những dấu son đỏ thẫm trên nền giấy trắng:

"Trần Đại, ba mươi lăm tuổi." "Lê Văn Trọng, bốn mươi mốt tuổi." "Ngô Bính, hai mươi tám tuổi." "Hà Tam, ba mươi tư tuổi."

Cộng thêm chữ ký run rẩy nhưng vuông vức, thẳng hàng của chính Nguyễn Mộc, trên tờ đơn đăng bộ lúc này đã có đúng bảy cái tên cùng bảy dấu điểm chỉ đỏ tươi.

"Người thứ tám. Lâm Tự, đến lượt anh." Nguyễn Mộc ngẩng đầu lên, chìa cán bút lông về phía người thợ mộc.

Lâm Tự bước từng bước nặng nề tới trước bàn gỗ. Anh nhìn chăm chú vào tờ giấy tuyên phong đang trải rộng dưới ánh đèn dầu leo lét. Từng con chữ mực son như những con thiêu thân nhảy múa trước mắt anh. Nhưng ngay khi những ngón tay thô ráp, chai sần của anh vừa chạm vào thân trúc của chiếc bút lông, cả người Lâm Tự bỗng nhiên khựng lại, đứng sững như một pho tượng đá.

Ánh mắt người thợ mộc dán chặt vào một ô trống nhỏ nằm ở góc dưới tờ đơn, nơi có dòng chữ in chìm sắc lạnh: *Tịch quán cũ và tình trạng nghĩa vụ lao dịch hiện hành*.

Các khớp ngón tay đang cầm bút của Lâm Tự khẽ siết chặt lại, trắng bệch ra vì dùng lực quá mạnh. Dưới lớp áo vải gai thô sờn rách nơi lồng ngực anh, một vật mỏng manh cộm lên—tờ trát đòi đinh dịch của huyện nha An Lưu, mang dấu mộc son đỏ chót áp phe đích danh tên họ Lâm Tự, được tống đạt tới tận căn nhà lá của anh từ ba ngày trước khi cơn lũ ập xuống. Tờ trát ấy như một hòn than hồng giấu kín, đang âm ỉ tỏa nhiệt, thiêu đốt da thịt anh từng giây từng phút.

Một cuộc giằng xé dữ dội bùng lên trong tâm can người thợ mộc. Việc nhập tịch vào tông môn sơ lập có thể ngăn chặn các đợt trưng thu phu dịch *mới* phát sinh sau ngày lập phái, nhưng liệu một tờ biên nhận tạm thời của Trấn Linh Ty có đủ sức mạnh để xóa bỏ một bản án tòng dịch *cũ* đã được huyện phủ thụ lý và đóng dấu truy nã từ trước hay không? Nếu anh ký tên vào đây, khi bản hồ sơ này được nộp lên Trấn Linh Ty và chuyển sang huyện nha để đối chiếu đinh bạ, liệu cái tên Lâm Tự có trở thành một mồi lửa kích hoạt tai họa cho cả đạo quán? Liệu hành động của anh có biến ba mươi mốt con người vô tội đang nương náu nơi đây thành những kẻ đồng lõa mang tội danh bao che đào phạm trốn dịch triều đình?

"Lâm Tự?" Nguyễn Mộc ngước đôi mắt già nua nhìn lên. Ánh nhìn của ông lão thợ đá chứa đựng sự thấu hiểu sâu sắc của một người đã đi qua gần hết đời người, nhưng cũng không thiếu phần sắc sảo, cảnh giác. "Sao vậy? Có điều gì vướng mắc về hộ tịch cũ ở làng Thượng Lộ sao?"

Lâm Tự im lặng suốt mấy nhịp thở dài nghẹt thở. Trong khoảnh khắc ngột ngạt đến tột cùng ấy, khóe mắt anh bỗng bắt gặp một bóng người nhỏ bé đang lấp ló ngoài khe cửa gỗ khép hờ. Con gái anh—con bé An mười một tuổi—đang đứng co ro trong manh áo vá, đôi mắt tròn xoe, đen láy ngập tràn vẻ ngây thơ và tin cậy đang nhìn chăm chú vào cha mình. Nếu anh bị xích cổ lôi đi đắp đê Hồi Long, con bé sẽ ra sao giữa ngọn núi hoang vu đầy thú dữ và hiểm họa này? Ai sẽ đẽo cho nó chiếc muôi gỗ ăn cơm, ai sẽ che chắn cho nó khi bão tuyết tràn về?

Lâm Tự nghiến chặt răng đến mức quai hàm bạnh ra, phát ra tiếng ken két. Anh hạ bút, viết nguệch ngoạc nhưng dứt khoát từng nét chữ thô kệch:

"Lâm Tự, ba mươi tư tuổi, thợ mộc làng Thượng Lộ."

Anh không ngần ngại chấm thẳng ngón tay cái vào nghiên mực son, ấn một lực ngàn cân xuống trang giấy tuyên phong, để lại một dấu vân tay đỏ sẫm, đậm đặc như một giọt máu tươi. Nhưng khi buông tay ra, ánh mắt người thợ mộc lại tối sầm lại, trĩu nặng một nỗi âu lo u uất không thể chia sẻ cùng ai.

Tám chữ ký.

"Vũ Liên, cháu là người cuối cùng. Vào đây đi." Nguyễn Mộc cất tiếng gọi ra phía ngoài hành lang tối om.

Thiếu nữ mười bảy tuổi bước qua bậu cửa với những bước chân rụt rè, ngập ngừng. Chiếc áo chàm của nàng vẫn còn dính những vệt bùn xám chưa kịp khô từ hang Thạch Nhãn. Trong lòng bàn tay ẩm ướt mồ hôi, nàng nắm chặt một mảnh giấy tùy thân đã nhàu nát, mép giấy xơ tơ mướp—vật chứng minh thân phận duy nhất mà nàng liều mạng giữ lại được khi dòng nước lũ cuốn trôi căn lều của gia đình ở Bến Bạch Sa.

"Vũ Liên, cháu là người đủ tuổi trưởng thành cuối cùng trong số chúng ta có hộ tịch rõ ràng," Nguyễn Mộc mỉm cười hiền từ, chìa cán bút lông về phía nàng để xua tan đi bầu không khí căng thẳng. "Đưa tờ giấy tùy thân đây để ta đối chiếu thôn xóm, lý lịch cho đúng với sổ đinh bạ rồi ký tên vào dòng cuối cùng."

Vũ Liên run rẩy chìa mảnh giấy ra, nhưng các ngón tay nàng lại vô thức co quắp lại, cố tình che khuất góc trên cùng bên phải của tờ giấy quyến màu vàng nhạt.

Nguyễn Mộc đưa tay đón lấy mảnh giấy, kéo nó lại gần sát ngọn đèn dầu hạt cải để nhìn cho rõ những dòng chữ mờ nhạt. Nhưng ngay khoảnh khắc mắt ông lão lướt qua góc trên bên phải, đôi lông mày bạc phếch bỗng giật nảy lên, nhíu chặt lại thành một búi sâu hoắm.

Ở góc trên của tờ giấy tùy thân—nơi vốn dĩ để trống hoặc chỉ dùng để đóng dấu triện hình vuông của lý trưởng địa phương—có một khoảng giấy rộng bằng đốt ngón tay đã bị cạo xước nham nhở. Bề mặt giấy ở chỗ đó bị xơ xác, mỏng tanh như cánh ve sầu. Dù người cạo đã vô cùng cẩn thận dùng móng tay và tro bếp chà xát nhiều lần nhằm xóa sạch mọi dấu vết, nhưng dưới ánh lửa đèn dầu chiếu xiên góc, một vệt mực đỏ hình hoa sen ba cánh mờ mờ—ấn ký tuyển mộ đệ tử dự bị đặc trưng của Thanh Huyền Môn—vẫn lờ mờ hiện lên những đường nét đứt đoạn không thể chối cãi.

"Cái này..." Nguyễn Mộc khẽ lẩm bẩm trong cổ họng, giọng ông trầm hẳn xuống. Bàn tay già nua của ông dừng lại trên mặt giấy, ánh mắt từ từ ngước lên, nhìn xoáy thẳng vào khuôn mặt non nớt của thiếu nữ. "Dấu triện bị cạo sửa này là thế nào? Cháu... cháu từng được sơn môn nào tuyển chọn vào danh sách dự bị rồi sao?"

Vũ Liên giật bắn người như bị điện giật. Sắc mặt nàng thoắt cái trắng bệch, không còn một giọt máu, đôi môi run rẩy bần bật. Nàng lúng túng giật lùi lại nửa bước, hai bàn tay xoắn chặt lấy gấu áo chàm đến mức các đốt ngón tay tím tái lại. Ánh mắt hoảng loạn tột độ của nàng đảo quanh căn phòng, né tránh hoàn toàn cái nhìn soi mói, sắc như dao cạo của ông lão thợ đá:

"Dạ... dạ không có! Thưa bác Mộc, không có chuyện đó đâu ạ! Đó chỉ là... chỉ là vết mực son vấy bẩn hồi cháu phụ việc ở chợ phiên Bến Bạch Sa thôi... Cháu... cháu chưa từng được sơn môn nào nhận cả! Cháu chỉ là tạp căn hạ phẩm, tư chất rác rưởi, bọn họ... bọn họ xua đuổi cháu như đuổi tà..."

Giọng nàng run rẩy, lạc hẳn đi vì nỗi kinh hoàng đang bóp nghẹt lồng ngực. Nàng sợ hãi đến phát khóc. Nàng sợ rằng nếu để lộ ra sự thật—rằng tên của nàng từng bị đám chấp sự Thanh Huyền Môn ghi khống vào danh sách đệ tử dự bị để bọn chúng biển thủ thêm vật tư cứu trợ từ triều đình—tờ đơn xin đăng bộ của đạo quán Vọng Đăng sẽ lập tức bị Trấn Linh Ty coi là một hồ sơ tranh chấp đệ tử nguy hiểm. Nếu điều đó xảy ra, toàn bộ hy vọng mong manh của ba mươi hai con người trên ngọn núi này sẽ tan thành mây khói, và chính nàng sẽ trở thành kẻ tội đồ đẩy tất cả vào chỗ chết.

Nguyễn Mộc nhìn chằm chằm vào sự hoảng hốt tột cùng của thiếu nữ, rồi lại cúi xuống nhìn mảnh giấy bị cạo xơ xác dưới ánh đèn. Là một người thợ khắc bia đá cả đời làm việc với từng con chữ, từng con dấu hành chính, ông thừa hiểu một vết cạo sửa mờ ám trên giấy tờ tùy thân có thể mang lại tai họa ngập đầu đến mức nào khi phải đối chất trước công đường Trấn Linh Ty—nơi những viên pháp quan tu sĩ chỉ chực chờ một sơ hở nhỏ nhất để vòi vĩnh hoặc bắt bớ.

Không khí trong căn phòng chái đông bỗng chốc đông cứng lại. Sự im lặng nặng nề, ngột ngạt bao trùm lấy tất cả, chỉ còn nghe thấy tiếng dầu cải lách tách cháy và tiếng thở dồn dập, đứt quãng của Vũ Liên.

"Bác Mộc..." Lâm Tự đột ngột cất giọng trầm đục, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt chết chóc. Người thợ mộc bước lên nửa bước, dùng bờ vai rộng lớn của mình che khuất một phần tầm nhìn của ông lão. "Con bé nó còn quá trẻ, lại vừa trải qua cơn lũ kinh hoàng nên tinh thần hoảng loạn, sợ sệt là chuyện thường tình. Đừng truy cứu những vết mực cũ kỹ đó làm gì nữa. Việc cấp bách trước mắt là phải có đủ chín chữ ký để hoàn tất hồ sơ. Cứ để nó ký tên đi."

Nguyễn Mộc nhìn sâu vào mắt Lâm Tự, nhìn thấy sự che chở pha lẫn nỗi âu lo đồng cảm trong mắt người thợ mộc. Rồi ông lại nhìn sang Vũ Liên—con bé đang run rẩy co ro như một con chim non vừa trúng tên giữa mùa đông giá rét.

Ông lão khẽ thở dài một hơi thật dài, nén tất cả những mối nghi ngờ vào tận đáy lòng. Ông không truy vấn thêm một lời nào nữa, lặng lẽ đẩy nhẹ nghiên mực son và chiếc bút lông về phía trước mép bàn:

"Ký đi, cháu gái."

Vũ Liên run rẩy vươn hai bàn tay lạnh ngắt đón lấy chiếc bút lông. Nàng vội vã, hấp tấp viết tên họ của mình vào dòng kẻ thứ chín còn bỏ trống: "Vũ Liên, mười bảy tuổi." Ngay sau đó, nàng ấn mạnh ngón tay trỏ dính mực son xuống trang giấy, nhanh đến mức như thể sợ rằng chỉ cần chậm trễ một khắc thôi, cơ hội duy nhất để nàng được thuộc về nơi này, được sống sót dưới mái nhà này sẽ vĩnh viễn tan biến mất.

Chín chữ ký. Chín dấu điểm chỉ đỏ tươi, thẳng hàng và ngay ngắn nằm trên trang giấy tuyên phong của bản đơn đăng bộ Tông Môn Sơ Lập.

Bản khế ước tự cứu mình đầu tiên của ba mươi hai con người cùng đường trên ngọn núi vỡ cuối cùng đã thành hình giữa một buổi chiều tà lạnh giá. Nó mang theo niềm hy vọng mong manh về một chốn dung thân hợp pháp, nhưng đồng thời, nó cũng chất chứa đầy những bí mật chết người, những vết nứt vô hình chưa thể nào phơi bày ra ánh sáng.

Nguyễn Mộc cẩn thận nâng tờ giấy lên, ghé miệng thổi nhẹ cho lớp mực son mau khô. Ông cuộn tròn tờ giấy lại một cách cung kính, nhét sâu vào trong ống nứa đã chuẩn bị sẵn, rồi dùng một nút bấc tiện bằng gỗ bần đóng chặt lại, niêm phong cẩn thận.

Đúng lúc ngón tay già nua của ông vừa cài chặt then nắp ống nứa, một âm thanh lạ lùng, quái dị từ phương xa bỗng xé toạc màn sương mù dày đặc của buổi hoàng hôn, dội thẳng vào căn phòng.

*TÙNG!*

Một tiếng trống đồng trầm đục, vang rền từ hướng huyện thành An Lưu vượt qua thung lũng sũng nước, đập mạnh vào vách đá Đoạn Phong.

*TÙNG! TÙNG! TÙNG!*

Âm thanh không dừng lại mà tiếp tục dồn dập, đanh thép và lạnh lùng vang lên, xé rách không gian tĩnh mịch của núi rừng. Nhịp trống thúc dồn ba hồi chín tiếng rền vang như sấm sét giữa trời quang—đó là hiệu lệnh khẩn cấp cao nhất của huyện nha An Lưu, hồi trống báo hiệu đợt tổng rà soát, càn quét và cưỡng chế bắt phu dịch trên toàn bộ các tổng, các xã thuộc lưu vực sông đã chính thức bắt đầu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories