Biên Bản Nghiệm Thu
Căn phòng công đường huyện phủ An Lưu sực nức mùi giấy bổi ẩm mốc, mùi mực nho khét nồng và vị trà chát để nguội ngắt từ đầu giờ Thìn. Không khí trong sảnh nha môn đặc quánh lại, ngột ngạt đến mức từng hơi thở hít vào đều mang theo cảm giác nhớp nháp của hơi ẩm mùa lũ và mùi áo tơi ẩm dầm dính bùn non. Bùi Hạ cố giữ cho sống lưng mình thẳng tắp trên chiếc ghế gỗ nghiến đen bóng, hai vai bất động, các đầu ngón tay trái bấu chặt vào mép vạt áo thô để giấu đi từng đợt run rẩy do cơn sốt ngầm đang bốc lên hầm hập sau nhiều canh giờ ngâm mình dưới bùn lầy Đê Hồi Long.
Cơn ớn lạnh từ tủy xương dâng lên từng đợt buốt nhức. Nó không giống cái lạnh của gió bấc ngoài trời, mà là thứ hàn khí sắc nhọn như kim châm len lỏi dọc theo từng đốt sống, chọc thủng những hàng rào phòng ngự mong manh của thể trạng vốn đã hao mòn. Cổ tay phải của nàng được nẹp chặt bằng hai thanh tre già ngâm dầu trẩu, bên ngoài quấn nhiều lớp vải xô dày cộp thấm đẫm mùi thuốc lài và bột rễ hoàng liên. Cứ mỗi nhịp tim đập dồn dập, nơi cổ tay lại giật thót lên một cơn buốt nhức buốt óc. Vết rách kinh mạch đêm qua—hậu quả của việc nàng ráng sức vận một luồng mộc linh mỏng dính như sợi tơ nhện để liên kết lớp màng lọc cát ngược dưới đáy rãnh xả ngầm khoang số bốn—giờ đây đang âm ỉ sưng tấy, căng tức dưới lớp nẹp tre. Dù Đỗ Nghi đã dùng rượu thuốc gia truyền xoa bóp suốt hai khắc và rịt chặt bột lá ngải cứu sao nóng trước khi cáng Đỗ Tín cùng nhóm phu ốm về núi, nhưng cái lạnh thấu xương của nước lũ sông Vân Hà ngâm suốt nửa đêm không dễ gì tiêu tán khỏi một cơ thể đã bị tước đoạt linh căn.
Ngồi ngay bên cạnh nàng, Lâm Tự đặt hai bàn tay thô ráp, chai sần như vỏ cây dẻ già lên hai đầu gối. Anh mặc chiếc áo tơi tước từ sợi vỏ gai vụn, gấu áo đã rách tả tơi từng dải, bám đầy những mảng phù sa khô cứng lại thành vảy xám ngoét. Mùi bùn non của lòng sông ngậm độc và mùi gỗ lim ướt sũng bốc lên từ vạt áo anh ngai ngái, nồng đậm vị phù sa ẩm thấp. Đôi mắt người thợ mộc hằn sâu những quầng thâm đen sẫm vì trọn một đêm thức trắng quai búa đóng cọc cừ, mồ hôi và nước mưa xối xả vào khóe mắt chưa kịp lau khô, nhưng sống lưng anh vẫn thẳng tắp như chiếc cột cái trong nếp nhà rường cổ thụ. Ánh mắt Lâm Tự thỉnh thoảng lại kín đáo liếc sang gương mặt trắng bợt, không còn một giọt máu của Bùi Hạ; chiếc quai hàm vuông vức bạnh ra, từng đường gân xanh nơi thái dương giật giật trong nỗi căng thẳng ngầm bị đè nén đến nghẹt thở.
Phía sau chiếc bàn án thư bằng gỗ thao lao bóng loáng nhưng sứt sẹo vô số vết dao gọt bút và ngấn nước chè lâu năm, Huyện thừa Hoàng Cẩn đang cắm cúi lật từng trang sổ bộ. Gương mặt vị quan huyện sạm đen vì gió bão, chằng chịt những nếp nhăn mệt mỏi hằn sâu nơi đuôi mắt và khóe miệng; hai bọng mắt sưng húp vì chuỗi ngày mất ngủ điều phối hộ đê. Khói từ ấm trà chát nguội ngắt đặt trên chiếc đĩa sành sứt mẻ bốc lên nhàn nhạt, chập chờn trôi giữa hai chồng hồ sơ công văn cao quá đầu người chất đầy hai mép bàn.
Tiếng sột soạt của giấy bản vang lên khô khốc giữa sự tĩnh mịch nặng nề của gian công đường.
"Khoang số bốn Đê Hồi Long... rãnh thoát nước ngầm dài mười hai trượng, sâu bốn thước, đáy rải đá dăm xanh loại một kết hợp cọc cừ gỗ lim cắm so le khóa chân taluy," Hoàng Cẩn đọc chậm rãi từng chữ, thanh âm khàn đục như tiếng hai hòn sỏi cọ vào nhau. Đầu ngón tay trỏ dính đầy vết mực đen của ông ta lướt qua bản vẽ mặt cắt kỹ thuật đã lem luốc bùn khô mà Bùi Hạ nộp lên từ đầu buổi trình diện. "Hiện trường xác nhận túi nước ngầm ngậm bùn đã tiêu thoát hoàn toàn ra mương phụ, áp lực thủy tĩnh giảm bảy phần mười, nguy cơ bục chân kè triệt tiêu hoàn toàn."
Hoàng Cẩn dừng tay, từ từ ngước mắt lên. Ánh nhìn sắc lạnh, soi mói của một viên chức đã có hai mươi năm lăn lộn ở các huyện nha ven sông, quen mặt với đủ hạng dân phu trốn dịch, phường lái buôn vật tư lọc lõi và những kẻ trục lợi thiên tai dừng lại trên khuôn mặt gầy guộc của Bùi Hạ. Ông ta gõ nhẹ đầu ngón tay xuống mặt bàn:
"Theo hợp đồng ba bên số mười bảy ký kết dựa trên Điều ba mươi mốt thiên Công vụ của Luật Vân Hà, công trình này do nhóm Đạo quán Vọng Đăng tự bỏ kỹ thuật và nhân công thi công khẩn cấp trong tình huống nguy cơ vỡ đê cấp báo. Hôm nay huyện phủ sẽ tiến hành cấn trừ ngày công lao dịch theo đúng thủ tục trưng dụng thời lũ."
Viên thư lại trung niên ngồi nép bên góc bàn án thư lập tức mài mực vào nghiên đá xanh, trải rộng một tờ biên bản cấn trừ công dịch khổ lớn bằng giấy bổi vàng thô ráp, sẵn sàng hạ bút chấm mực.
"Bẩm Huyện thừa," Bùi Hạ mở lời. Giọng nàng khàn đặc vì ngấm sương gió và hơi lạnh của sông nước suốt đêm, nhưng từng thanh âm nhả ra vẫn giữ được sự đều đặn, rành rọt và chuẩn xác đến từng độ ngắt nghỉ. "Khối lượng công việc đào đắp, gia cố cọc cừ và lát tầng lọc ngược tại khoang số bốn tương đương với sáu mươi ngày công lao dịch nặng của phu bậc ba theo định ngạch công trình thủy lợi triều đình ban hành năm Cảnh Trị thứ sáu. Theo đúng các điều khoản đã giao kết trước sự chứng kiến của nha môn và ty sở, Vọng Đăng chúng tôi dùng toàn bộ số ngày công này để cấn trừ nghĩa vụ sưu dịch đắp đê của hai người: thứ nhất là thợ cả Lâm Tự; thứ hai là phu dịch Đỗ Tín hiện đang chịu lao dịch tại điếm canh số ba."
Hoàng Cẩn khẽ gõ đầu móng tay cáu bẩn xuống mặt bàn gỗ thao lao, phát ra những tiếng *cộc, cộc* khô khốc, rợn người giữa không gian im ắng:
"Sáu mươi ngày công cho một đoạn rãnh dài mười hai trượng. Con số này không hề nhỏ, thưa Bùi cô nương. Định ngạch phu phen của huyện phủ An Lưu trong đợt lũ này đang thiếu hụt trầm trọng, mỗi một suất đinh dịch đều có tên trên sổ theo dõi của Công tào Thượng ty. Nếu không có lệnh kiểm tra thực địa đêm qua của quan viên Trấn Linh Ty, bản quan sẽ khó lòng ký duyệt mức hoán đổi cao đến thế này cho một đám người tị nạn chưa chính thức lập tông, không có điền bạ cố định trên địa hạt huyện ta."
"Thưa Huyện thừa, nếu đêm qua không có hệ thống cọc cừ gỗ lim và rãnh ngầm lọc ngược của Vọng Đăng, khoang số bốn đã nứt toác theo túi nước ngậm bùn ngay trong đợt sóng đầu hồi canh ba," một giọng nói trong trẻo, bình thản nhưng mang theo uy quyền lạnh lùng cất lên từ phía cửa sổ hành lang.
Tiếng bước chân nhẹ nhàng mà vững chãi gõ nhịp trên nền gạch tàu ẩm ướt. Đinh Tuệ bước tới bên bàn án thư, tà áo đạo bào viền lam gọn gàng của Trấn Linh Ty lay động nhẹ theo từng cử động dứt khoát. Mái tóc nàng búi cao, cài bằng chiếc trâm bạc hình cân đo địa mạch sáng loáng, không vương lấy một hạt bụi đất. Trên tay nàng là cuốn sổ ghi chép kiểm định bằng da dê đóng dấu ấn nhật triệt của Ty sở. Đinh Tuệ không thèm nhìn viên thư lại đang lúng túng né người sang bên, nàng đặt thẳng một tờ trát khảo sát địa tầng có đóng dấu niêm phong màu chì xuống ngay trước mặt Hoàng Cẩn:
"Đích thân ta đã đo đạc lưu lượng nước ngầm thoát ra tại cửa mương xả lũ phụ: dòng nước chảy ra trong vắt, không cuốn theo bất kỳ một hạt cát mịn nào của thân đê đất sét. Cấu trúc mộng táu khóa nêm của Lâm Tự gánh hơn hai ngàn cân lực trượt của khối taluy đất sét sũng nước đang chực trôi tuột xuống lòng sông. Về mặt kỹ thuật công trình phòng hộ lưu vực, giá trị thực tế của rãnh xả ngầm này lớn hơn sáu mươi ngày công vét bùn thông thường gấp nhiều lần. Trấn Linh Ty chúng tôi đã lập trát số ba mươi mốt, xác nhận hạng mục đạt chuẩn an toàn tuyệt đối theo quy chuẩn phòng lụt cấp huyện."
Sự can thiệp dứt khoát, mang theo toàn bộ sức nặng chuyên môn và tư cách pháp lý độc lập của viên kiểm định Trấn Linh Ty khiến Hoàng Cẩn không thể bắt bẻ thêm một lời nào. Viên Huyện thừa khẽ giật giật khóe mắt, bờ vai hơi chùng xuống. Ông ta thở hắt ra một hơi dài nồng nặc mùi thuốc lá vụn và trà đặc, cầm lấy chiếc bút lông đầu sói cắm trong ống đồng, nhúng đẫm mực đen vào nghiên.
Ngòi bút lướt nhanh trên mặt giấy bổi vàng, vạch một nét dứt khoát xuống phần ghi nhận khối lượng công việc hoàn thành, rồi Hoàng Cẩn mở hộp đồng, cầm lấy chiếc triện gỗ của Công tào huyện nha An Lưu dập mạnh xuống biên bản cấn trừ.
*Cộp!*
Tiếng triện dập dứt khoát, mực chu sa đỏ au ăn sâu vào thớ giấy thô ráp.
"Biên bản cấn trừ ngày công lao dịch hoàn tất. Vọng Đăng Am coi như đã trả xong toàn bộ định mức nghĩa vụ công ích đợt một của đợt lũ mùa thu năm nay," Hoàng Cẩn nói, giọng đều đều không cảm xúc, rồi đẩy tờ giấy còn ướt mực sang phía Bùi Hạ và Lâm Tự. "Ký tên, điểm chỉ vào góc dưới bên hữu."
Bùi Hạ dùng những ngón tay run rẩy của bàn tay trái giữ chặt mép giấy bổi để nó không xê dịch trên mặt bàn trơn. Cơn sốt đang dâng cao ngùn ngụt sau gáy nàng, biến từng mạch máu nơi thái dương thành những hồi trống thúc dồn dập. Nàng cắn chặt môi dưới, cắn mạnh đến mức nếm thấy vị mặn tanh nồng của máu ứa ra nơi đầu lưỡi để ép cho thần trí không rơi vào cơn chao đảo mù mịt. Bằng một cử động chuẩn xác, nàng ấn ngón tay cái dính chu sa vào góc giấy. Lâm Tự bước lên nửa bước, ngón tay cái thô kệch, nứt nẻ ngang dọc vì dằm gỗ của anh in một vết tròn đỏ ối bên cạnh tên mình, vững chãi như một chiếc dấu khắc trên đá.
Xong việc thứ nhất, Đinh Tuệ vẫn đứng sừng sững bên mép bàn. Nàng không để Hoàng Cẩn kịp với tay thu dọn chồng hồ sơ án thư, mà lập tức rút từ trong ống tay áo rộng ra một tập văn khố kẹp thẻ tre mỏng, đặt đè lên bản đồ họa tiết đê điều:
"Việc cấn trừ công lao hộ đê đã xong xuôi. Giờ đến nghĩa vụ pháp lý đối với lệnh trưng phu cũ mang số hiệu Canh-Đinh-04 của Lâm Tự."
Nghe nhắc đến số hiệu lệnh bắt phu và tên họ của mình, Lâm Tự vô thức nắm chặt hai bàn tay thành nắm đấm. Những khớp xương ngón tay thô ráp kêu lách cách giòn giã dưới làn da rám nắng sạm đen vì dãi dầu sương gió. Trát bắt phu bằng mũi tên sắt găm thẳng vào cánh cửa chính điện Vọng Đăng hôm nào như một chiếc thòng lọng vô hình siết quanh cổ anh suốt bao ngày đêm qua; nó đe dọa giật phăng anh khỏi đứa con gái mười một tuổi côi cút, yếu ớt đang ngày ngày ngồi ngóng cha bên bậc thềm đá mòn trên đỉnh núi.
Đinh Tuệ dùng ngón trỏ gõ nhẹ lên hai văn bản vừa trải rộng:
"Thứ nhất: Điển lệ Hộ tịch và Lao dịch lưu vực Vân Hà, thiên bốn, điều mười bảy, quy định rõ ràng bằng văn tự: người cha góa bụa nuôi con nhỏ dưới mười hai tuổi không nơi nương tựa được miễn hoãn phu dịch khẩn cấp, chỉ phải nộp công dịch bằng việc sửa chữa công trình công ích tại chỗ nếu có bản khai gia cảnh minh bạch và tối thiểu hai nhân chứng cùng bến sở chứng thực danh tính. Ở đây, chúng tôi có bản tường trình chi tiết cùng lời khai và điểm chỉ máu của bốn phu chèo đò lâu năm tại Bến Bạch Sa gồm Lê Trọng, Trần Đại, Ngô Bính và Hà Tam. Bốn người họ đều cam đoan Lâm Tự nuôi con một mình từ sau trận lụt lớn năm Đoan Ngọ, không có thân tộc đỡ đần."
Nàng dừng lại nửa nhịp, ánh mắt sắc như lưỡi dao nhìn thẳng vào hai con ngươi đang dao động của Hoàng Cẩn:
"Thứ hai: Lâm Tự vừa trực tiếp chỉ huy kỹ thuật và thi công hoàn thành tuyến cọc cừ gỗ lim cứu sống khoang số bốn Đê Hồi Long, thành tích công ích thực tế đã được huyện phủ vừa đóng dấu xác nhận cấn trừ xong xuôi cách đây một khắc. Hai yếu tố này kết hợp lại, theo luật định của triều đình, huyện phủ phải hủy bỏ vô điều kiện lệnh trưng phu cũ mang số hiệu Canh-Đinh-04, không được phép chuyển giao định ngạch hay truy cứu hồi tố dưới bất kỳ hình thức nào."
Hoàng Cẩn nhìn chằm chằm vào tờ đơn trần tình có bốn dấu điểm chỉ máu đỏ thẫm của những người thợ đò Bến Bạch Sa, rồi lại nhìn sang thân hình vạm vỡ, lấm lem bùn đất nhưng ánh mắt quật cường của Lâm Tự. Viên Huyện thừa im lặng rất lâu. Trong gian công đường thênh thang, chỉ còn lại tiếng mưa rào rào quất mạnh vào lớp ngói âm dương trên nóc nhà và tiếng thở dốc cố kìm nén của Bùi Hạ đang ngồi bên ghế nghiến.
Là một quan chức địa phương đã nếm đủ mùi cơ cực của chốn quan trường biên viễn, Hoàng Cẩn hiểu quá rõ cái thế khó của việc bắt phu: trên đe dưới búa, Tổng đốc đòi tuyến đê phải xong trước đỉnh lũ, Ty Công tào sức ép đủ số đinh theo từng con nước; bắt được một người thợ mộc lành nghề có hoa tay và sức lực như Lâm Tự là bớt đi một mối lo sập giàn giáo hay vỡ cọc kè trên công trường gió bão. Nhưng trước mặt ông ta lúc này là những điều khoản điển lệ rành rành được khắc in trên thẻ tre của triều đình, sự giám sát trực diện và nghiêm khắc của Trấn Linh Ty, và quan trọng hơn cả là một công trình cọc cừ sờ sờ ngay trước mắt mà chính tay ông ta vừa ký biên bản nghiệm thu. Nếu cố tình làm sai quy định lúc này, một lá sớ đàn hặc của Trấn Linh Ty gửi thẳng về Kinh đô cũng đủ tước bỏ chiếc mũ cánh chuồn mà ông ta đã trầy trật giữ gìn suốt nửa đời người.
Hoàng Cẩn khẽ thở dài một tiếng khô khốc, đưa tay mở chiếc tráp gỗ hương sơn then đặt ở góc án thư. Ông ta lục tìm trong xấp công văn cũ, rút ra chiếc trát bắt phu bằng giấy bổi viền chỉ đỏ mang tên Lâm Tự. Đoạn, ông ta cầm chiếc triện đồng hình vuông khắc bốn chữ "An Lưu Huyện Ấn", dìm mạnh mặt triện vào chiếc hộp chu sa đỏ rực như máu tươi.
*Cộp!*
Một tiếng gõ đanh gọn, dứt khoát vang lên trên mặt bàn gỗ nghiến. Dấu triện đỏ tươi in chéo góc trên tờ lệnh bắt phu, đè nghiến lên dòng chữ sắc lệnh cũ, bên cạnh là bốn chữ triện lớn viết tay: "HỦY BỎ LAO DỊCH KHẨN CẤP — THEO DIỆN CÔNG ÍCH GIA CẢNH".
Hoàng Cẩn cầm chiếc bút lông sói phê thêm một dòng lạc khoản xác nhận niên hiệu và ngày tháng, rồi phất tay đẩy tờ lệnh đã hủy về phía người thợ mộc:
"Cầm lấy. Kể từ giờ khắc này, tên của Lâm Tự ngươi được xóa vĩnh viễn khỏi sổ đinh dịch bổ sung đợt lũ năm Tân Mão của huyện An Lưu. Ngươi là người tự do của Vọng Đăng Am, được bảo hộ cư trú theo diện đinh khẩu chờ đăng bộ tông môn hợp thức."
Bàn tay chai sạn, đầy những vết sẹo do cưa đục của Lâm Tự khẽ run lên bần bật khi đón lấy mảnh giấy bổi. Mặt giấy ram ráp cọ vào lòng bàn tay nóng rực của anh. Người đàn ông cả đời chỉ biết cắm cúi đục đẽo gỗ đá, từng tận mắt chứng kiến người vợ đầu gối tay ấp bị xà nhà mục đè chết trong dòng nước lũ cuồn cuộn năm xưa, từng ôm đứa con gái nhỏ sốt li bì run rẩy giữa bùn lầy bến đò lạnh giá, giờ đây siết chặt mảnh giấy hủy lệnh như thể đang ôm lấy chính sinh mạng thứ hai của bản thân và giọt máu duy nhất của mình. Anh lùi lại một bước, cúi gập người sát mặt đất trước bàn án thư, giọng nghẹn lại trong cổ họng:
"Đa tạ Huyện thừa đại nhân... Đa tạ Đinh đại nhân đã soi xét công minh."
"Đừng vội tạ ơn bản quan," Hoàng Cẩn lạnh lùng xua tay, nét mặt vốn đã u ám bỗng chốc tối sầm xuống như mây đen trước cơn giông. Ánh mắt ông ta quét qua khuôn mặt Bùi Hạ rồi dừng lại với vẻ sắc nhọn đầy cảnh cáo. "Chuyện của Lâm Tự coi như xong xuôi theo đúng luật định. Nhưng còn thằng ranh Đỗ Tín thì khác. Bản quan vừa nhận được báo cáo hỏa tốc từ điếm canh số ba gửi về đầu giờ sáng nay: thằng phu dịch đó đã tự ý bỏ trốn khỏi lán dã chiến trong đêm lũ hôm qua, đào ngũ khỏi vị trí trực gác khoang đê. Chưa hết, trên sổ bộ của cai thầu Cổ Thiệu, Đỗ Tín còn nợ thương quán công trường một khoản ứng lương lên tới ba lượng bạc trắng để mua thuốc cứu mạng và ba đấu kê mốc. Theo luật lao dịch tư nhân liên kết quan phủ ban hành năm Cảnh Trị thứ tư, phu dịch trốn khỏi công trường mang theo nợ ứng lương chưa thanh toán sẽ bị khép thẳng vào tội trộm cắp công quỹ và phản bội quân vụ thời chiến, hình phạt nhẹ nhất là xử chém bêu đầu, nặng thì lưu đày ba ngàn dặm vào chốn lam sơn chướng khí!"
Từng lời của Hoàng Cẩn thốt ra như những nhát búa nện xuống nền đá. Nhắc đến cái tên Cổ Thiệu và món nợ ép buộc tàn nhẫn ấy, ngọn lửa giận dữ âm ỉ nơi đáy mắt Bùi Hạ bỗng bùng cháy dữ dội, lấn át cả cơn sốt hầm hập đang hun đốt lục phủ ngũ tạng nàng.
Nàng không hề lúng túng, cũng không để lộ ra một nét hoang mang nào. Bằng bàn tay trái không bị thương tật, Bùi Hạ bình thản thò sâu vào chiếc bọc vải gai thô đeo bên hông, cẩn thận lôi ra một mẩu giấy bổi nhàu nát, mép giấy xơ tơi tả và loang lổ những vệt bùn vàng khô quắt cùng những nét chữ xiêu vẹo viết bằng than củi. Nàng bước lên một bước, đặt thẳng mẩu giấy ấy lên mặt bàn án thư, ngay trước tầm mắt của Hoàng Cẩn.
Đó chính là mẩu giấy nhật ký bí mật mà Đỗ Tín đã liều mạng giấu trong đường chỉ may gấu áo rách, run rẩy trao vào tay nàng trước khi được cáng đưa về núi trong đêm mưa gió hôm qua.
"Huyện thừa hãy nhìn cho thật kỹ mẩu giấy này trước khi nhắc đến hai chữ 'nợ nần' và 'trộm cắp' của một tên phu dịch khốn khổ," giọng Bùi Hạ đanh lại như thép nguội, từng âm tiết vang lên rành rọt, chém thẳng vào bầu không khí ẩm mốc của công đường.
Hoàng Cẩn nhíu chặt đôi mày rậm, nghi hoặc cầm mẩu giấy lem luốc lên ngang tầm mắt. Trên mặt giấy bổi thô kệch là những nét vẽ vụng về nhưng chi tiết đến từng ký hiệu, được ghi bằng bột than củi trộn với mỡ lợn để chống nước nhòe:
*Mùng bốn: Mười hai chuyến xe bò mang số hiệu Giáp-Ấn, thùng xe trống rỗng không có một hòn đá, trạm gác điểm danh vẫn nhận đủ đá dăm xanh loại một.* *Mùng năm: Mười lăm chuyến xe, chở toàn đất mùn bãi bồi pha lẫn rác rưởi mục nát, đổ lấp vào khoang số bốn, sổ sách ghi tính tiền sa thạch hạt to.* *Mùng sáu: Mười ba chuyến xe rỗng, có xác nhận chữ ký của chấp sự kho số ba...*
Tổng cộng bốn mươi chuyến xe bò chở rác rưởi hoặc kéo thùng xe rỗng ruột đi qua cổng điếm canh, nhưng trên toàn bộ sổ sách quyết toán vật tư của nhà thầu Cổ Thiệu nộp lên huyện nha, tất cả bốn mươi chuyến ấy đều được tính tròn theo đơn giá đá dăm xanh thượng phẩm khai thác từ mỏ đá quan phương của triều đình.
"Đây là nhật ký điểm danh bí mật do chính tay Đỗ Tín ghi chép từng đêm khi bị ép làm ca ba trông coi cửa bãi đá vật tư," Bùi Hạ nhìn thẳng vào mắt Hoàng Cẩn, ánh mắt nàng sắc lẹm và không hề chớp lấy một lần. "Hôm qua ở khoang số bốn Đê Hồi Long, chính mắt Huyện thừa và Đinh đại nhân đây đã chứng kiến Cổ Thiệu cho ba xe bò chở toàn sa thạch phong hóa lấy từ mỏ quặng mục rỗng đến, toan đổ ụp xuống lấp miệng rãnh thoát nước ngầm nhằm xóa sạch dấu vết bọng nước rỗng mà hắn đã rút ruột vật tư trước đó. Bốn mươi chuyến xe khống này, ngân sách huyện phủ đã xuất ra bao nhiêu lượng bạc trắng từ quỹ phòng lụt cho thương quán của hắn? Số bạc công khổng lồ ấy rốt cuộc đã rơi vào túi của những ai?"
Sắc mặt của Hoàng Cẩn thoắt cái biến đổi dữ dội. Làn da sạm đen vì gió bão của ông ta thoạt tiên chuyển sang trắng bệch vì kinh ngạc, rồi từng mảng đỏ tía bốc lên mang tai vì sự phẫn nộ tột cùng.
Là một viên chức mẫn cán đã bám trụ qua nhiều mùa lũ lớn, Hoàng Cẩn có thể nhắm mắt làm ngơ cho đám nhà thầu bớt xén đôi chút khẩu phần ăn của phu dịch, hay cắn răng chịu đựng những khoản bôi trơn lặt vặt để bộ máy công trường vận hành trơn tru cho kịp tiến độ trước con nước; nhưng việc rút ruột vật tư cốt lõi của Đê Hồi Long—tuyến phòng thủ sinh tử duy nhất ngăn dòng nước cuồng nộ của sông Vân Hà đổ vào bình nguyên An Lưu, thứ đe dọa trực tiếp đến tính mạng của hàng vạn sinh linh hạ lưu và chiếc đầu trên cổ của chính ông ta—là điều tuyệt đối không thể nào dung thứ!
Chưa dừng lại ở đó, Bùi Hạ hít sâu một hơi, tiếp tục bồi thêm một đòn cân não nặng ngàn cân xuống bàn án thư:
"Đỗ Tín bị sốt rét ác tính, ngâm nước lạnh mưng mủ cổ chân suốt bảy ngày đêm ròng rã. Cai thầu Cổ Thiệu không những không cấp phát một hoàn thuốc hạ nhiệt nào từ kho dược phòng lụt của huyện, mà còn ép hắn điểm chỉ vào giấy nhận nợ ba lượng bạc trắng để đổi lấy một nắm lá thuốc thối rữa và ba đấu kê mốc ngậm đầy độc tố thanh hủ. Một tên cai thầu tư nhân dám ngang nhiên lập khế ước cho vay nặng lãi ngay trên công trường quân quản của triều đình, dùng nợ khống để ép một phu phen làm việc kiệt sức đến chết nhằm mục đích duy nhất: bịt miệng nhân chứng sống của vụ gian lận vật tư Đê Hồi Long! Nếu bản hồ sơ bốn mươi chuyến xe khống này cùng tấm giấy nợ dính máu của Đỗ Tín được chuyển thẳng lên Ty sở Phủ hoặc đặt lên án bàn của Khâm sai đại thần đang tuần thú đê điều..."
"Đủ rồi!" Hoàng Cẩn đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn gỗ thao lao, phát ra một tiếng rầm chát chúa khiến nghiên mực nảy lên, nước mực sánh ra mép bàn. Lồng ngực ông ta phập phồng dữ dội dưới lớp áo bào màu cánh gián.
Viên Huyện thừa quay phắt sang nhìn Đinh Tuệ như muốn tìm kiếm một sự phủ nhận. Nhưng Đinh Tuệ chỉ đứng khoanh tay, đôi môi mỏng khẽ mím lại thành một đường chỉ lạnh như băng tuyết. Chiếc la bàn định vị phong thủy đeo bên thắt lưng nàng khẽ phát ra những tiếng *ong... ong...* khe khẽ, kim nam châm rung rinh cảnh báo những dao động linh khí bất thường trong không gian:
"Trấn Linh Ty chúng tôi cũng đang niêm phong mẫu đá sa thạch phong hóa phế phẩm bị nứt vỡ thành bột vụn lấy trực tiếp từ hiện trường khoang số bốn đêm qua. Nếu Huyện nha An Lưu không xử lý dứt điểm và triệt để sai phạm nội bộ mang tính phá hoại này của nhà thầu công ích, chúng tôi buộc phải lập biên bản vi phạm an toàn địa mạch cấp một gửi hỏa tốc lên phân đường cấp trên ngay trong ngày hôm nay."
Áp lực từ cả hai phía—một bên là sự thật kỹ thuật tày trời được nắm giữ bởi một kẻ sắc sảo phi thường, một bên là quyền lực giám sát tối cao của Trấn Linh Ty—như hai gọng kìm bằng thép nguội siết chặt lấy cổ họng Hoàng Cẩn. Ông ta nghiến răng ken két, các thớ thịt trên mặt co giật từng chập. Không do dự thêm một khắc nào nữa, ông ta quay sang quát lớn vào mặt viên thư lại đang run rẩy nép góc phòng:
"Truyền lệnh khẩn của bản quan! Lập tức phái toàn bộ sai nha phòng Công tào và lính cơ huyện đội xuống ngay điếm canh số ba! Niêm phong toàn bộ kho bãi, tịch thu sổ sách thu chi của thương quán Cổ Thiệu! Tống giam Cổ Thiệu vào ngục tối huyện lỵ, cùm chân chờ thẩm vấn, tịch thu toàn bộ tài sản lưu động và hủy bỏ vĩnh viễn hợp đồng thầu phụ của hắn để điều tra tội danh tham ô công quỹ, man khai vật tư hộ đê trong thời gian giới nghiêm thiên tai!"
Dứt lời, Hoàng Cẩn giật lấy tờ giấy ghi nợ mang tên Đỗ Tín từ trong tập hồ sơ công trường trên bàn. Ông ta nhúng chiếc bút lông sói ngập vào nghiên mực đỏ thẫm, vung tay gạch một chữ "XÓA" thật lớn, nét bút xé rách cả thớ giấy bản:
"Khoản nợ ứng lương ba lượng bạc của Đỗ Tín xuất phát từ hành vi cưỡng ép và gian lận phi pháp của nhà thầu hiện đang trong diện điều tra hình sự nghiêm ngặt. Chiểu theo luật hình của triều đình, bản khế ước nợ này lập tức bị vô hiệu hóa hoàn toàn trên toàn cõi An Lưu! Đỗ Tín được chuyển sang diện nhân chứng kỹ thuật đặc biệt thuộc quyền bảo hộ trực tiếp của Đạo quán Vọng Đăng, đình chỉ vô điều kiện mọi nghĩa vụ phu dịch đợt này!"
Một tiếng thở phào nhẹ nhõm vô hình dường như vừa quét qua gian công đường ngột ngạt. Bùi Hạ khẽ nhắm mắt lại trong nửa nhịp thở ngắn ngủi. Gánh nặng nghìn cân từng đè trĩu lên đôi vai gầy guộc của Đỗ Nghi, mối đe dọa án chém hay lưu đày treo lơ lửng trên đầu Đỗ Tín—người nắm giữ những chứng cứ sống còn về sự thật vỡ đê—cuối cùng đã được tháo gỡ hoàn toàn bằng một văn bản pháp lý chính danh có đóng dấu đỏ chót của huyện nha.
Hoàng Cẩn ném mạnh chiếc bút lông xuống mặt bàn, nghiên mực rung lên bần bật. Ông ta mệt mỏi ngả toàn bộ thân mình tựa vào lưng ghế nghiến, hai tay xoa mạnh lên trán. Viên quan huyện nhìn Bùi Hạ, ánh mắt phức tạp đến cùng cực: trong đó vừa có sự kiêng dè, cảnh giác sâu sắc đối với tầm nhìn và sự sắc sảo kỹ thuật của một kẻ từng là phế đồ tông môn, lại vừa trĩu nặng nỗi âu lo hoảng loạn của một kẻ đang ngồi trên miệng núi lửa sắp phun trào:
"Các ngươi thắng rồi. Lâm Tự có tự do, Đỗ Tín thoát khỏi tròng nợ. Nhưng các ngươi đừng vội mừng sớm."
Hoàng Cẩn hạ thấp giọng xuống, thanh âm trở nên trầm đục và run rẩy. Ánh mắt ông ta lén lút liếc ra ngoài khoảng sân huyện nha, nơi màn mưa xám xịt đang giăng kín như một bức màn tang tóc:
"Trạm quan trắc thủy văn thượng nguồn Vân Hà vừa gửi bồ câu đưa thư khẩn cấp hồi rạng sáng nay. Một đợt lũ quét thượng nguồn cực lớn—lớn gấp đôi đợt lũ lịch sử vừa rồi—đang cuồn cuộn đổ về và sẽ ập đến toàn bộ lưu vực An Lưu trong vòng bốn mươi tám giờ tới. Nước từ các nhánh sông biên giới đổ dồn về như thác đổ, mực nước dâng chắc chắn sẽ vượt đỉnh lũ trăm năm một lần."
Hoàng Cẩn chồm người về phía trước, nhìn thẳng vào mắt Bùi Hạ, từng lời nói ra lạnh ngắt như băng tuyết:
"Đoạn đê chính thượng lưu do chính Thanh Huyền Môn trực tiếp phụ trách gia cố... đêm qua bản quan đích thân đi tuần tra thực địa, thấy chân móng kè đá hoa cương của bọn họ đã bắt đầu sủi bọt ngầm rò rỉ rải rác. Nếu đợt lũ quét này tràn về mà phân đoạn đê chính thượng lưu ấy vỡ trận, toàn bộ huyện thành An Lưu và chân núi Đoạn Phong của các ngươi sẽ chìm sâu trong biển nước bùn độc hại ngút ngàn. Đê Hồi Long cần những người thực sự biết việc như các ngươi giữ chân taluy. Ta cần các ngươi giữ vững kỹ thuật ở khoang số bốn, không được để sạt lở lan rộng sang các phân đoạn phụ cận."
Viên Huyện thừa chống tay đứng dậy, bước chầm chậm về phía góc phòng công đường. Ông ta rút từ trong dải thắt lưng ra một chùm chìa khóa sắt nặng trịch, tra vào ổ khóa của một chiếc tủ sắt dày khảm xà cừ nép sau bức bình phong. Chiếc tủ mở ra với tiếng cót két khô khốc. Hoàng Cẩn với tay vào trong, lôi ra một chiếc thẻ bài bằng đồng đỏ khắc bốn chữ "Dự Bị Quân Lương", đặt lên bàn án thư trước mặt Bùi Hạ:
"Để bảo toàn tiến độ gia cố đê điều và ghi nhận đóng góp kỹ thuật kịp thời đêm qua của Vọng Đăng Am... bản quan dùng quyền hạn điều phối khẩn cấp thời thiên tai, ngầm cấp thêm cho nhóm các ngươi năm bao lương khô dự phòng từ kho dự trữ quân lương của huyện phủ. Đây là khoản bồi dưỡng kỹ thuật đặc cách ngoài sổ sách, tuyệt đối không ghi vào hồ sơ cứu tế công cộng để tránh tai mắt dòm ngó của thương hội và các tông môn khác ngoài kia."
Bùi Hạ khẽ giật mình, lồng ngực đập thót một nhịp. Năm bao lương khô dự phòng!
Nàng biết quá rõ giá trị của thứ này. Đó không phải là loại kê mốc hay cám bổi của phu dịch, mà là loại bánh lương nén đặc chế của quân đội: làm từ ngô hạt và kê thượng hạng sấy khô, ép chặt cùng muối hầm và mỡ trâu béo ngậy, bên ngoài bọc da dầu tráng sáp kín mít. Loại lương này có thể cất giữ cả năm trời trong hầm ẩm mà không hề biến chất hay mốc meo; khi ăn chỉ cần bẻ một mẩu nhỏ thả vào nước sôi là nở bung ra thành một nồi cháo đặc quánh, giàu năng lượng và giữ ấm cơ thể tuyệt hảo. Trong hoàn cảnh kho lương thực trên đỉnh Vọng Đăng chỉ còn có thể cầm cự được hơn chục ngày dè sẻn từng bát cháo loãng, năm bao lương khô quân dụng này chính là một chiếc phao cứu sinh vô giá để ba mươi hai con người vượt qua những ngày bão lũ kinh hoàng sắp tới.
"Đa tạ Huyện thừa đại nhân," Bùi Hạ chắp tay nghiêng mình hành lễ. Lần này, lời cảm tạ của nàng không còn mang tính chất đối phó quan trường, mà chứa đựng sự trân trọng đối với một sự đổi chác sòng phẳng và chút lương tri còn sót lại của một viên chức vùng lũ.
"Cầm lấy thẻ kho số hai, đi vòng ra cổng sau nhận hàng rồi rời khỏi huyện thành ngay lập tức," Hoàng Cẩn phất mạnh tay áo bào, quay lưng lại với bọn họ, hướng mắt nhìn ra bức tường ẩm mốc loang lổ. "Trước khi bão lớn quét sạch mọi thứ, hãy lo mà giữ lấy cái mạng của ba mươi hai con người trên ngọn núi vỡ ấy đi."
***
Rời khỏi bậc thềm đá của huyện phủ An Lưu, đất trời bên ngoài đã hoàn toàn biến thành một màn nước xám xịt, mịt mùng. Mưa không còn rơi thành hạt nữa mà như trút nước từ trên trời cao xuống, quất rát mặt người đi đường. Gió rít từng cơn điên cuồng qua những ngõ hẻm lầy lội, bẻ gãy những cành xoan khẳng khiu và giật tung những mảnh mái tranh rách nát của cư dân huyện thành.
Vừa bước chân qua khỏi cánh cổng gỗ lim nặng nề gắn đinh đồng của huyện nha, khi bóng dáng của nha môn vừa khuất sau bức tường thành đá rêu phong, cơn sốt ngầm tích tụ bấy lâu cùng sự kiệt sức cùng cực sau một đêm thức trắng bỗng chốc bùng nổ dữ dội. Sự căng thẳng thần kinh giúp nâng đỡ cơ thể Bùi Hạ suốt buổi đối chất nơi công đường bỗng sụp đổ như một con đê bị khoét rỗng chân móng.
Đất trời trước mắt nàng chao đảo nghiêng ngả. Tiếng gió gầm rú và tiếng nước chảy bỗng biến thành những tiếng u u quái đản dội thẳng vào màng nhĩ. Lồng ngực nàng thắt nghẽn lại, từng múi cơ co rút đau đớn như bị một bàn tay sắt bóp nghẹt. Một cơn ho dữ dội, đau đớn từ sâu trong phế quản xé toạc cuống họng nàng trào lên.
Nàng lảo đảo ngã dúi dụi về phía bức tường đá ẩm ướt rêu phong bên lề đường, vội vã đưa bàn tay trái lên bịt chặt lấy miệng, toàn thân gập cong lại như một cánh cung gãy.
"Khụ... khụ... khụ khụ!"
Từng tiếng ho quặn ruột xé lòng vang lên ngắt quãng giữa tiếng mưa xối xả. Cơn co thắt khiến nàng không thể hít thở, hai đầu gối khuỵu xuống bùn lầy lạnh ngắt. Đến khi cơn ho tạm lắng xuống, nàng run rẩy rút bàn tay trái ra nhìn lại.
Giữa lòng bàn tay nhợt nhạt, lạnh ngắt của nàng là một ngụm máu tươi đỏ thẫm, lẫn với những bọt khí li ti sủi tăm—dấu hiệu không thể chối cãi của việc kinh Phế đã bị tổn thương sâu sắc do nhiễm phải hàn độc của nước lũ và sự phản phệ của luồng linh khí vận hành vượt quá giới hạn thể xác.
"Bùi cô nương!"
Lâm Tự hốt hoảng kêu lên một tiếng thất thanh, chiếc đòn gánh bằng tre già vác trên vai suýt nữa trượt khỏi tay rơi xuống vũng bùn. Anh vội vã lao tới, dùng một cánh tay vạm vỡ đỡ lấy bờ vai mảnh khảnh đang run rẩy bần bật của nàng. Đôi mắt người thợ mộc mở to, tràn đầy vẻ kinh hoàng và xót xa tột độ khi nhìn thấy vệt máu đỏ thẫm loang lổ trên bàn tay và khóe môi nàng:
"Cô nương... cô nương ho ra máu rồi! Trời ơi, người cô nóng như một hòn than nung thế này! Mau, để tôi cõng cô quay lại y quán lớn ở đầu phố đông trong thành! Không thể chậm trễ được nữa!"
"Không được... tuyệt đối không được!" Bùi Hạ nghiến chặt răng, dùng vạt áo tơi thô ráp lau mạnh vệt máu tươi trên khóe môi, để lại một vết quệt đỏ lòm trên làn da trắng bợt. Giọng nàng đứt quãng, từng hơi thở phì phò nóng rẫy, nhưng ánh mắt toát lên vẻ cương quyết đến tàn nhẫn đối với chính bản thân mình. "Tuyệt đối không... được vào bất kỳ y quán nào trong huyện thành lúc này. Lũ lớn sắp về... Tạ Duy và đám người của Thanh Huyền Môn đang đóng quân ngay tại dịch trạm bờ sông... nếu để lộ tông tích và bệnh trạng kiệt quệ của ta lúc này... bọn chúng sẽ lập tức ra tay thanh trừng Vọng Đăng không chút kiêng dè. Ta... ta chỉ bị nhiễm lạnh kinh mạch... uống thuốc hạ sốt của Đỗ Nghi là có thể kìm lại được. Mau... ra cổng sau nhận lương... rồi về núi ngay lập tức!"
Lâm Tự nhìn chằm chằm vào vệt máu đỏ thẫm trên vạt áo nàng, rồi nhìn sâu vào đôi mắt kiên định, quật cường đến mức bướng bỉnh ấy. Người đàn ông thô mộc hiểu rằng một khi nàng đã quyết, không một sức mạnh nào có thể lay chuyển được ý chí của con người này. Anh không nói thêm một lời thừa thãi nào nữa, siết chặt hai hàm răng, cởi phăng chiếc áo tơi dày dặn nhất đan bằng sợi vỏ bồ của mình trùm kín lên đầu và vai Bùi Hạ để chắn gió mưa, rồi dùng cánh tay rắn chắc như cột gỗ ghì chặt lấy nàng, nửa dìu nửa nâng nàng đi nhanh về phía cổng sau của kho dự phòng số hai.
Tại cổng sau của huyện nha, nép mình dưới bóng những cây đa cổ thụ rũ rượi trong mưa bão, viên thủ kho già nua đón lấy chiếc thẻ đồng đỏ từ tay Lâm Tự. Lão ta soi đi soi lại chiếc thẻ dưới ánh đèn lồng le lói rồi lẳng lặng quay vào gian kho tối om, ẩm thấp. Không lâu sau, lão cùng hai tên phu dịch kéo ra năm bao tải lớn bằng vải gai thô, bên ngoài được bọc thêm hai lớp da dầu tráng sáp màu nâu sẫm, buộc chặt bằng dây mây dẻo dai.
Bên trong mỗi bao là những tảng bánh lương nén vuông vức, cứng như đá hộc và nặng trịch. Lâm Tự cùng Bùi Hạ vội vã chất cả năm bao lương lên chiếc xe thồ hai bánh bằng gỗ táu mà anh đã nhờ cậy mượn được từ người bạn chèo đò ở Bến Bạch Sa từ sáng sớm. Chiếc xe lún sâu xuống bùn lầy dưới sức nặng của gần năm trăm cân lương thực quý giá.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt hơn, trút xuống như những trận roi quất xối xả vào mặt hai người khi họ đẩy chiếc xe thồ kĩu kịt rời khỏi cổng sau thành An Lưu. Con đường thiên lý ven sông giờ đây đã biến thành một dòng sông bùn đỏ quạch, ngập sâu đến bắp chân. Gió rít từng cơn qua những rặng tre bên đường, bẻ gãy răng rắc những thân tre già, quăng quật cành lá tả tơi khắp lối đi.
Hai người cắm đầu cắm cổ đi ngược dòng nước lũ, nhắm thẳng hướng sườn nam núi Đoạn Phong mà tiến bước.
Con đường mòn men theo chân núi trơn trượt như đổ mỡ gà. Nước lũ từ các khe đá trên cao bắt đầu đổ tràn xuống sườn dốc xối xả, cuốn theo bùn đất sét đỏ ngầu và rác rưởi mục nát, mang theo mùi tanh nồng ngai ngái đặc trưng của phù sa sông Vân Hà khi trở dạ. Lâm Tự gồng toàn bộ thân mình, hai bắp tay cuồn cuộn nổi rõ những đường gân xanh như rễ cây, hai bàn chân trần bấm sâu vào bùn lầy trơn trượt, ghì chặt sợi dây thừng bện bằng vỏ gai để kéo chiếc xe thồ nặng trịch nhích từng bước một lên dốc đá. Bùi Hạ một tay ôm chặt lấy cổ tay phải đang nhức buốt tận óc, một tay tỳ chặt vào càng xe bằng gỗ táu, cắn răng dồn chút tàn lực cuối cùng đẩy phụ anh qua những hộc đá ngập nước.
Cơn sốt ngầm biến từng hơi thở của nàng thành những luồng nhiệt nóng rực, bỏng rát giữa làn mưa gió buốt giá thấu xương. Nước mưa hòa lẫn mồ hôi chảy ròng ròng trên trán, cay xè nơi khóe mắt. Thế nhưng bên dưới lớp vỏ bọc kiệt quệ ấy, trong tâm trí Bùi Hạ, từng dòng suy nghĩ vẫn sắc lạnh và tỉnh táo như một lưỡi dao vừa mài:
Lệnh bắt phu của Lâm Tự đã bị hủy bỏ vĩnh viễn bằng dấu triện đỏ của huyện phủ; món nợ ba lượng bạc trắng mà tên cai thầu Cổ Thiệu dùng để trói buộc Đỗ Tín đã bị vô hiệu hóa hoàn toàn trước pháp luật; họ đã có thêm năm bao lương khô quân dụng quý như vàng ròng. Bằng trí tuệ, bằng kỹ thuật công trình chuẩn xác và bằng sự kiên định không lùi bước, họ đã giành giật lại từng sinh mạng, từng hạt thóc trước miệng hùm nọc rắn của chốn nha môn và phường thầu phụ bất lương.
Chỉ cần đưa được chiếc xe lương này vượt qua con dốc cuối cùng lên đến đạo quán, chỉ cần đóng chặt cánh cổng chắn bão kiên cố mà Lâm Tự đã dày công gia cố ở mé đông sườn núi, ba mươi hai con người tị nạn khốn khổ sẽ có đủ cái ăn, có đủ hơi ấm và nơi trú ẩn an toàn để cùng nhau chống chọi qua trận đại hồng thủy thế kỷ đang gầm rú ngoài kia.
Nhưng niềm hy vọng vừa le lói trong lòng nàng bỗng chốc bị dập tắt không thương tiếc.
Khi chiếc xe thồ nhọc nhằn vượt qua rặng tre ngà gãy đổ ở khúc quanh hiểm trở dưới chân dốc Đoạn Phong—nơi bắt đầu con đường lát đá mòn dẫn thẳng lên tiền sảnh Đạo quán Vọng Đăng—một bóng người từ trong màn mưa dày đặc bỗng thất thanh lao vụt ra chặn ngay đầu xe.
Đó là Đỗ Nghi.
Nàng thầy thuốc trẻ tuổi quấn một chiếc khăn vải trắng đã ướt sũng ngang trán, chiếc áo tơi bằng lá cọ rách bươm dán chặt vào thân hình gầy guộc, mảnh khảnh. Nàng đứng sừng sững giữa lối đi ngập bùn của trạm xá dã chiến dưới chân dốc, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo ướt đẫm, run rẩy không ngừng. Khuôn mặt ngày thường vốn luôn giữ vẻ điềm tĩnh, lạnh lùng và xa cách của nàng giờ đây trắng bệch không còn một giọt máu, đôi môi thâm tím vì lạnh và vì một nỗi kinh hoàng tột độ. Đôi mắt nàng mở to trừng trừng khi nhìn thấy chiếc xe thồ và hai bóng người lấm lem bùn đất đang tiến lại gần.
"Bùi tỷ! Lâm huynh!" Tiếng Đỗ Nghi lạc đi, vỡ vụn giữa tiếng gió gầm rú và tiếng thác nước đổ ầm ầm từ vách đá Đoạn Phong dội xuống.
Chiếc xe thồ hai bánh khựng lại giữa một vũng bùn lầy ngập sâu. Lâm Tự buông vội sợi dây thừng kéo xe, thở hổn hển từng ngụm lớn, đưa mu bàn tay quẹt dòng nước mưa đang chảy tràn trên mặt, lo lắng hỏi dồn:
"Đỗ Nghi muội? Sao muội lại chạy xuống tận đây giữa lúc mưa gió thế này? Đỗ Tín và mấy anh em phu ốm trên lán ra sao rồi? Bọn họ có bị trở bệnh không?"
Đỗ Nghi không trả lời câu hỏi của Lâm Tự. Nàng lao thẳng tới bên chiếc xe thồ, bàn tay run rẩy nắm chặt lấy cánh tay trái của Bùi Hạ. Toàn thân nàng run rẩy bần bật như một nhánh cây non trước cơn cuồng phong, các đầu ngón tay lạnh ngắt như băng tuyết bấu chặt qua lớp vải áo của Bùi Hạ:
"Không phải chuyện của Đỗ Tín... Đỗ Tín đã nằm yên trong buồng thuốc rồi! Trên núi... trên núi xảy ra chuyện lớn rồi Bùi tỷ ơi!"
Bùi Hạ cố nén cơn choáng váng đang quay cuồng trong đầu, dùng bàn tay trái siết chặt lấy những ngón tay đang run rẩy của Đỗ Nghi, giọng nàng trầm xuống nhưng đanh gọn:
"Bình tĩnh lại Đỗ Nghi! Hít một hơi thật sâu rồi nói rõ ràng: rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra trên đạo quán?"
Đỗ Nghi nuốt một ngụm nước bọt nghẹn ứ nơi cổ họng, đôi mắt ngập tràn vẻ hoảng loạn nhìn lên vách đá sườn đông của ngọn Đoạn Phong đang chìm ngập trong làn sương mù xám xịt và những dòng nước lũ đục ngầu cuồn cuộn đổ xuống:
"Các bể phụ... toàn bộ hệ thống ba bể chứa nước phụ dẫn từ Thạch Nhãn xuống khu sinh hoạt và gian sắc thuốc... sáng nay nước rỉ ra bỗng đổi sang màu xám đen nhờ nhờ, bốc lên mùi lưu huỳnh nồng nặc và nổi váng mỡ chì dày đặc trên mặt nước! Muội... muội nghi ngờ có điều chẳng lành nên đã bắt hai con gà nuôi ở góc sân cho uống thử nước dẫn từ bể chứa phụ... chúng chỉ kịp giãy giụa được nửa nén nhang rồi co giật, hộc máu đen chết tươi ngay tại chỗ! Nguồn nước ngầm của Thạch Nhãn... mạch nước ngầm duy nhất nuôi sống ba mươi hai con người chúng ta suốt bao tháng ngày qua... đang có dấu hiệu bị ô nhiễm độc chất cực nặng từ lòng núi sạt lở tràn vào rồi!"
Từng lời nói của Đỗ Nghi như những tiếng sét nổ ngang tai giữa màn mưa bão mù mịt.
Bùi Hạ đứng chôn chân giữa vũng bùn lầy lạnh ngắt, chiếc áo tơi sũng nước trĩu nặng trên vai. Nàng ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm vào đỉnh núi Đoạn Phong đang mờ mịt trong màn mưa đen kịt như mực, cảm thấy một luồng hàn khí sắc nhọn và buốt giá hơn cả cơn sốt ngầm trong cơ thể đang từ từ, chậm rãi bóp nghẹt lấy trái tim mình.