Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.19 / 40
Chapter 19

Chiếc Thuyền Không Đón Tất Cả

Áo bào tơ tằm thêu chỉ bạc của Tạ Duy không dính một hạt bùn, bước vào sân đá Vọng Đăng với phong thái trịch thượng hoàn toàn đối lập với những bộ áo gai vá víu của đoàn người tị nạn.

Gió núi Đoạn Phong thổi lồng qua cổng tam quan sứt mẻ, mang theo hơi ẩm mốc từ sườn đông vừa sạt lở quất thẳng vào vạt áo màu ngọc bích của vị quản sự phái Thanh Huyền. Nhưng lạ lùng thay, luồng linh áp Luyện Khí tầng chín cuộn quanh người y như một tấm màn vô hình, đẩy bạt từng hạt bụi sỏi cùng mùi tro bếp ngai ngái ra xa ba thước. Dưới chân y, đôi hài mây thêu vân lôi trắng muốt lướt trên những phiến đá xanh nứt nẻ nhẹ bẫng, tựa hồ bùn lầy của trần thế sau cơn đại hồng thủy chưa từng có tư cách chạm tới gấu quần tiên gia. Từng nếp gấp của tấm áo gấm vân mây sắc sảo rủ xuống đều đặn, không một gợn nhăn, phẳng phiu như thể y vừa bước ra từ tĩnh thất xông trầm hương đắt giá ở Bản Sơn, chứ không phải vừa vượt qua hàng chục dặm đường rừng lầy lội ngập ngụa xác súc vật trôi nổi dọc lưu vực sông Vân Hà.

Phía sau y, hơn ba mươi con người vừa dốc sức dọn xong ổ mối đất dưới kho lương vẫn còn đứng chết lặng giữa sân. Không khí trong kho thóc cũ vừa mới được quét dọn hãy còn nồng nặc mùi bùn thối ủ lâu ngày trộn lẫn với rơm rạ mục nát. Lê Trọng, Trần Đại tay còn lăm lăm đòn khiêng bằng gỗ nghiến bóng loáng mồ hôi; trên tấm tạp dề bằng vải thô nhuộm vỏ cây của Phạm Sương vương trắng từng mảng bụi vôi sống chưa kịp phủi; còn bàn tay thô ráp của thợ mộc Lâm Tự vẫn ghì chặt chuôi đục thép, khớp ngón tay trắng bệch ra dưới ánh nắng trưa nhạt nhòa le lói qua tầng mây xám xịt. Những giọt mồ hôi đọng trên trán họ chưa kịp khô, bết chặt những lọn tóc rối bù, hòa cùng đất cát khô khốc đóng vảy trên gò má hốc hác vì nhiều ngày liền chỉ húp cháo loãng cầm hơi.

Tạ Duy dừng bước ngay trước lư hương đá sứt góc. Y chậm rãi nâng mắt, ánh nhìn sắc lạnh lướt qua ngọn Đèn Dẫn Lộ đang chập chờn trên gác chuông cổ kính, quét qua vách tường chắp vá mộng gỗ của gian kho chứa vừa mới được chèn tạm bằng mấy thân cây táu xẻ vội, rồi dừng lại trên người Bùi Hạ. Ánh mắt ấy dừng lại rất lâu, tựa như một người thợ ngọc đang săm soi một món đồ sứ cổ tráng men từng rất quý giá nhưng nay đã vỡ nát thành từng mảnh, vương vãi giữa đống rác rưởi của trần gian.

Nơi cổ tay phải của Bùi Hạ, dải băng vải gai nhuốm màu nước thuốc thảo mộc sẫm đen vẫn quấn chặt lấy vết sẹo kinh mạch bầm tím chạy dọc từ mu bàn tay lên tận cùi chỏ. Vết thương cũ của phế đồ, nơi từng bị khí kình của hình phạt sơn môn xé rách kinh lạc ba năm trước, dường như vẫn giật lên từng cơn âm ỉ dưới áp lực vô hình từ luồng uy áp đối phương phát ra. Thế nhưng nàng đứng thẳng, hai vai mở rộng vững chãi, đôi mắt đen sâu thẳm không gợn một tia dao động, lặng lẽ nghênh đón luồng uy áp bức người đang đè nặng lên từng tấc đất của đạo quán. Gió núi thổi tung mấy sợi tóc mai bên thái dương nàng, để lộ khuôn mặt gầy gò mang sắc vàng nhạt của kẻ lao lực trường kỳ, nhưng sống mũi thẳng tắp và bờ môi mím chặt lại toát lên vẻ cứng cỏi lạnh lùng như phiến đá hoa cương ngâm dưới đáy thác lũ ngàn năm.

Một nụ cười nhàn nhạt, nửa như khoan dung nửa như bố thí, khẽ hiện trên khóe môi Tạ Duy. Y không thèm để mắt nhìn đám dân tị nạn đang co cụm phía sau như một bầy kiến hôi thối, chỉ chậm rãi đưa tay vào ống tay áo rộng thênh thang, rút ra một cuộn trục gấm sắc xanh viền chỉ vàng lóng lánh ánh kim quang. Đó là gấm Lưu Vân thượng phẩm, thứ chỉ được dùng cho những văn thư quan trọng nhất phát xuất từ nội đình của Thanh Huyền Môn, nơi cách biệt hoàn toàn với bùn lầy nhân gian.

"Bùi Hạ, đã bao lâu rồi ngươi chưa thấy văn thư từ Bản Sơn?"

Giọng Tạ Duy không lớn, nhưng ngậm theo chân khí thuần hậu của Luyện Khí tầng chín đỉnh phong, vang lên sang sảng giữa sân đá, chấn động đến mức làm rung rinh mấy mắt xích đồng treo chiếc chuông cổ trên xà nhà chính điện. Âm thanh ấy dội vào vách đá phía sau hoa viên, tạo thành những tiếng u u trầm đục như sấm rền giữa trời quang. Cổ tay y khẽ rung, dải lụa đỏ buộc ngoài trục gấm tự động tháo nút, cuộn trục gấm bung ra giữa không trung, bay lơ lửng cách mặt đất ba thước nhờ một luồng linh lực nâng đỡ, để lộ dải giấy tuyên hoa dày dặn mang con dấu triện son đỏ chói hình hoa sen ba cánh của Ty Trận Vụ Thanh Huyền Môn. Mùi mực thông yên hòa lẫn với chu sa thanh khiết tỏa ra thơm ngát, lấn át hoàn toàn mùi tanh tao của bùn lầy và rơm mục đang bốc lên từ các góc sân.

"Chiếu thư có triện son của Chưởng Vụ Đường," Tạ Duy cao giọng tuyên đọc, từng chữ rành rọt như đóng đinh vào phiến đá dưới chân. "Xét thấy thiên tai hoạn nạn ngập lụt khắp lưu vực, Bùi thị từng có công lao bảo trì trận môn trong quá khứ, lại biết thu nạp nạn dân, tạm giữ bờ cõi hoang phế nơi tiền đồn cũ, sơn môn quyết định rộng mở đức hiếu sinh của bậc bề trên. Nay hủy bỏ toàn bộ án phạt trục xuất năm Kỷ Mão đối với Bùi Hạ, xóa tên khỏi sổ phế đồ trừng giới, phục hồi thân phận đệ tử ngoại môn và tái bổ nhiệm chức Quản sự phó vụ cấp dưới thuộc Ty Trận Vụ."

Cả khoảng sân đá rộng lớn bỗng chốc lặng ngắt như tờ. Chỉ có tiếng gió núi rít qua khe ngói vỡ trên mái đông lương và tiếng xào xạc của đám lá thông rụng bên bờ tường đất.

Phục chức.

Ba chữ ấy rơi xuống nền đất Vọng Đăng nặng tựa ngàn cân, khuấy đảo tâm can của tất cả những ai đang có mặt. Xóa bỏ vết nhơ phế đồ, rũ sạch thân phận một kẻ bị ruồng bỏ mang án phạt đày ải, trở lại làm quản sự có quyền phân phối vật tư của đệ nhất đại phái vùng hạ lưu Vân Hà – đó là thứ ân huệ ngút trời mà bất kỳ một tán tu cùng quẫn hay một kẻ lưu vong nào cũng sẵn sàng quỳ mòn đầu gối, dập đầu tạ ơn đến chảy máu trán để cầu xin có được. Nó có nghĩa là địa vị, là sự bảo hộ của đại môn phái, là con đường tu tiên vốn tưởng chừng đã đứt đoạn vĩnh viễn nay lại được mở ra thênh thang trước mắt.

Tạ Duy nhìn thẳng vào mắt Bùi Hạ, trong đáy mắt y ánh lên vẻ tự đắc không thèm che giấu của kẻ nắm trọn cán cân sinh sát, kẻ đang nắm trong tay chiếc phao cứu sinh duy nhất giữa biển nước cuồn cuộn:

"Sơn môn xưa nay không để người có công phải chịu thiệt thòi nơi rừng thiêng nước độc. Ngay khi ngươi tiếp nhận điều động, ký tên điểm chỉ vào bản đăng bộ phục vị này, mười bình Tụ Khí Đan trung phẩm, năm rương linh thạch tiêu chuẩn cùng ba xe gỗ táu ngâm dầu và linh sa thượng hạng đang đậu tại dịch trạm huyện An Lưu sẽ lập tức được vận chuyển thẳng lên đỉnh Đoạn Phong. Toàn bộ tổn hại của đạo quán này do đợt mưa lũ vừa qua, sơn môn sẽ cấp tài lực, điều phái thợ chuyên trách sửa sang lại thành một tiền đồn đàng hoàng, vững chãi, xứng đáng với uy danh của phái ta."

Lời hứa hẹn vừa dứt, một vài thợ chèo đò đứng sau lưng Lâm Tự khẽ nuốt nước bọt ực một tiếng. Mười bình đan dược, năm rương linh thạch lấp lánh linh khí, ba cỗ xe bò chất đầy gỗ táu ngâm dầu chống mục và linh sa đắt đỏ... Những thứ ấy đối với những kẻ vừa phải chắt chiu từng hạt kê khô mốc meo, chia nhau từng mẩu củ mài sượng ngắt nhiễm độc bùn để kéo dài hơi tàn qua từng ngày đoạn tháng chẳng khác nào một giấc mộng hoang đường giữa ban ngày. Đối với người phàm và những kẻ tu hành tầng đáy, chừng ấy tài nguyên đủ để một xóm vạn đò ăn no mặc ấm suốt ba năm ròng rã, đủ để dựng nên những căn nhà ngói kiên cố không sợ mưa gió dập vùi.

Thế nhưng, Bùi Hạ không hề nhúc nhích.

Nàng đứng yên như một pho tượng đá đã cắm rễ sâu vào nền móng của Vọng Đăng. Nàng không đưa tay đón lấy cuộn chiếu thư đang lơ lửng tỏa ánh sáng nhàn nhạt trước ngực, thậm chí mí mắt cũng không thèm chớp lấy một lần. Bàn tay trái buông thõng bên hông của nàng khẽ siết nhẹ lại, những đầu ngón tay thô ráp chạm vào chiếc que đo góc bằng đồng giắt bên thắt lưng vải gai, cảm nhận được cái lạnh buốt sắc sảo của kim loại truyền qua da thịt.

"Điều kiện là gì?"

Bùi Hạ cất tiếng. Giọng nàng khàn khàn vì những đêm thức trắng đo đạc mắt trận và hít phải bụi vôi nồng nặc, nhưng âm điệu lại lạnh tanh, rạch đôi sự im lặng ngột ngạt đang bao trùm lấy không gian.

"Tạ quản sự cất công lội bùn, lội qua cả chục dặm đường sạt lở để leo lên đỉnh núi này, hẳn không phải chỉ để đọc một bức thư tha bổng chứa chan lòng từ bi như thế."

Nụ cười trên môi Tạ Duy thu lại đôi chút, hàng lông mày tỉa tót cẩn thận hơi nhíu vào nhau. Y hừ nhẹ một tiếng qua kẽ mũi, ngón tay khẽ ngoắc, cuộn trục gấm lập tức thu mình lại, rơi gọn gàng vào lòng bàn tay y. Ngón tay cái với chiếc nhẫn ngọc bích của y gõ từng nhịp cồm cộp lên dấu triện son đỏ thắm:

"Bùi sư muội quả nhiên vẫn là người thực tế như xưa, nói chuyện trước sau vẫn thẳng thắn đến mức gai góc. Được, người thông minh nói chuyện với nhau không cần vòng vo tam quốc. Ta nói thẳng. Ơn mưa móc của tiên môn không bao giờ ban phát vô cớ cho những kẻ đứng ngoài quy củ. Để nhận lại danh phận, đan dược và vật tư tái thiết, Vọng Đăng các ngươi phải thực hiện sòng phẳng ba việc."

Y đưa ngón tay trỏ thứ nhất lên, móng tay cắt tỉa sạch sẽ chỉ thẳng vào mặt nàng:

"Thứ nhất, lập tức hạ tấm biển 'Vọng Đăng Tông' tự lập kia xuống, chẻ củi đốt bỏ ngay trước mặt ta. Đồng thời, hủy bỏ toàn bộ đơn từ đăng bộ Tông Môn Sơ Lập mà các ngươi đã lén lút nộp xằng bậy ở Trấn Linh Ty huyện An Lưu ba ngày trước. Nơi này từ nay trở đi chỉ là một trạm kiểm soát ngoại vi cấp bốn của Thanh Huyền Môn, chịu sự quản hạt trực tiếp từ Chưởng Vụ Đường. Không có bất kỳ tông môn, bang phái hay thế lực nào khác được phép tồn tại ngoài vòng cương tỏa của sơn môn trên toàn cõi hạ lưu Vân Hà."

Ngón tay thứ hai giơ lên, sắc bén và lạnh lùng như một mũi kiếm thép vừa tuốt khỏi vỏ:

"Thứ hai, toàn bộ quyền quản trị, phân bổ và khai thác linh tuyền Thạch Nhãn phía sau hậu viện phải bàn giao vô điều kiện cho Ty Trận V vụ. Ta đã mang theo sơ đồ điều chuyển, nội trong ba ngày tới sẽ cho đặt một trận bàn rút linh cấp ba bằng đồng đen ngay tại cửa hang Thạch Nhãn, nắn dòng linh khí ngầm đưa toàn bộ về bổ trợ cho phân đà và trang viên đan dược dưới chân núi. Đạo quán này chỉ được phép giữ lại một mạch nước ngầm thông thường phục vụ sinh hoạt tối thiểu. Các ngươi tuyệt đối không có quyền tự ý ngăn dòng, đắp đập, hay chia chác linh dịch cho đám phàm nhân ô hợp."

Và ngón tay thứ ba hạ xuống, ấn mạnh vào không trung như một cái ấn triện vô hình đè nặng lên bầu không khí:

"Thứ ba, đình chỉ dứt điểm mọi hoạt động khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp. Cấm tuyệt đối việc rà soát, đối chiếu danh sách thuyền cứu nạn mất tích tại Bến Bạch Sa, cũng như việc điều tra sổ sách vật tư kiên cố hóa Đê Hồi Long trong mùa mưa lũ vừa qua. Những mảnh đá vỡ mang phù văn lỗi, những mẫu xỉ than cháy dở hay giấy tờ thu chi sai lệch mà các ngươi nhặt nhạnh được dọc triền đê sụp đổ, phải giao nộp toàn bộ vào hòm sắt của ta để tiêu hủy ngay trong ngày hôm nay. Từ nay về sau, nếu có bất kỳ lời đồn đại nào về việc đê vỡ do phẩm cấp trận thạch không đạt chuẩn xuất phát từ đỉnh núi này, sơn môn sẽ chiếu theo môn quy xử tội phỉ báng và phản nghịch."

Từng điều kiện thốt ra như những nhát búa tạ nện thẳng vào tim gan những người đang đứng nghe.

Hạ biển hiệu tự lập? Giao nộp Thạch Nhãn – nguồn nước sống mạng duy nhất mà ba mươi hai con người đã trầy vi tróc vảy, đổ máu và mồ hôi suốt mấy ngày đêm để nạo vét từng tảng đá bùn, đắp từng gờ đá chia lọc nước sạch để cứu sống những người nhiễm độc nước lũ? Và trên hết, là vùi dập toàn bộ sự thật tàn khốc về những chuyến đò cứu nạn ma quái không bao giờ cập bến, vùi dập bí mật đen tối về lô đá trận thiêu kết pha đầy xỉ than phế phẩm mang mã hiệu Tam-Bính-Hỏa-Tạp đã làm sập toang Đê Hồi Long trong đêm mưa bão, dìm chết hàng trăm phu phen và dân lành vô tội dưới chân núi.

Lâm Tự bước lên nửa bước, bả vai vạm vỡ căng cứng dưới lớp áo cộc nâu sờn rách, hơi thở bắt đầu dồn dập và nặng nề như ống bễ lò rèn. Lão thợ đá Nguyễn Mộc đứng bên cạnh run rẩy siết chặt cây gậy chống bằng gỗ nghiến xù xì, khớp xương ngón tay kêu lên từng tiếng lách cách giòn giã vì uất ức.

Nhưng Tạ Duy dường như hoàn toàn không bận tâm đến sự phẫn nộ câm lặng đang sôi sục ấy. Y khẽ nghiêng đầu, đuôi mắt hẹp dài lướt qua đám đông tị nạn đang run rẩy sau lưng Bùi Hạ, khóe môi nhếch lên một nụ cười giễu cợt đầy toan tính, giọng điệu chuyển sang vẻ trịch thượng của kẻ bố thí rủ lòng thương:

"Tất nhiên, sơn môn cũng thấu hiểu đạo quán này sau cơn hoạn nạn đang thừa mứa những miệng ăn vô dụng, tài lực kiệt quệ, cháo không đủ húp qua ngày. Để giảm tải gánh nặng cho Bùi sư muội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng đối với những kẻ biết quy phục, Thanh Huyền Môn đã định sẵn một phương án tiếp nhận nhân khẩu hết sức nhân đạo."

Y thong thả rút ra từ thắt lưng một tờ danh sách bằng giấy quy kinh mỏng manh mạ vàng mép, liếc mắt nhìn lướt qua những dòng chữ mực đen thẳng thớm:

"Thanh Huyền Môn chỉ đưa đúng mười người trẻ tuổi, khỏe mạnh, có linh căn tương đối về núi, thu nhận làm đệ tử ngoại môn chính thức. Bốn tên phu chèo đò có sức vóc dẻo dai, kinh mạch thông suốt có thể dẫn khí; mấy gã thợ mộc, thợ rèn trai tráng chưa quá hai mươi lăm tuổi... đó là những kẻ có đủ tư cách bước chân lên thuyền tế độ của sơn môn. Sau khi nhập môn, các ngươi sẽ được cấp phát đạo bào lụa xanh, mỗi tháng lĩnh đủ hai viên Tụ Khí Đan sơ cấp, có cơm trắng thịt cá ăn đàng hoàng, thoát khỏi cảnh chui rúc húp cháo loãng độn củ mài mục nát nơi núi hoang rừng rậm này."

Lời vừa buột ra khỏi miệng Tạ Duy, một luồng sóng lạnh buốt như băng tuyết lập tức quét qua đám đông.

Mười người? Chỉ lấy đúng mười người trẻ tuổi có linh căn?

Trịnh thị đang ngồi bệt dưới gốc cột hiên, hai tay ôm chặt đứa con nhỏ vừa dứt cơn sốt co giật, nghe đến đó thì toàn thân lảo đảo như muốn ngã quỵ xuống nền đá ẩm. Đôi mắt trũng sâu của người mẹ trẻ mở to bàng hoàng, nhìn chằm chằm vào tờ giấy trên tay Tạ Duy. Cụ già Trần Thốc ho sù sụ bên bậu cửa gian nhà kho, hàm răng rụng gần hết lập cập va vào nhau thành từng tiếng run rẩy. Những đôi mắt đục ngầu của những người già tàn phế, những khuôn mặt hốc hác vàng vọt vì đói khát của những người phụ nữ góa bụa, và ánh nhìn ngơ ngác đầy sợ hãi của những đứa trẻ con lấm lem bùn đất... tất cả bỗng chốc cứng đờ lại trong một nỗi kinh hoàng tột độ vượt quá sức chịu đựng.

Mười người đi, nghĩa là hai mươi hai người còn lại sẽ bị vứt bỏ lại nơi này.

Bị bỏ lại trên ngọn núi Đoạn Phong trơ trọi giữa vùng đồng bằng ngập lụt, không còn quyền quản lý nguồn nước sạch Thạch Nhãn đã bị rút kiệt linh khí, không còn danh nghĩa một tông môn được quan phủ thừa nhận để che chở trước những trát bắt phu dịch tàn bạo của huyện nha An Lưu. Và nguy hiểm hơn cả, là họ sẽ mất đi toàn bộ những lao động trẻ khỏe nhất – những bờ vai duy nhất có thể trèo đèo lội suối kiếm củi khô, gánh nước sạch, đào củ mài và vá lại từng viên ngói dột để nuôi sống những kẻ già nua, tàn tật và ốm yếu. Đó tuyệt đối không phải là cứu giúp hay ban ơn. Đó là một bản án tử hình chậm rãi, tàn nhẫn và lạnh lùng nhất, được bọc cẩn thận trong lớp nhung lụa mỹ miều của sự chiêu an môn phái.

Bé Lâm An đứng nép sát vào hông cha, bàn tay nhỏ bé gầy guộc níu chặt lấy vạt áo vải thô dính đầy mạt cưa của Lâm Tự. Đôi mắt con bé tròn xoe, đong đầy những giọt nước mắt sợ hãi, ngước nhìn Tạ Duy như thể đang nhìn thấy một con quái vật ăn thịt người vừa ngoi lên từ đầm lầy chết chóc.

Bùi Hạ khẽ cử động. Nàng bước lên một bước dài, tà áo gai mộc mạc quét qua bụi đá, thân hình mảnh khảnh nhưng vững chãi chắn ngang tầm mắt soi mói, khinh miệt của Tạ Duy đối với đám đông phía sau.

Nơi cổ tay phải của nàng, vết sẹo kinh mạch lại giật nhói lên một cơn buốt rát buốt quen thuộc, như có hàng ngàn mũi kim châm vào da thịt. Cơn đau thấu xương ấy nhắc nhở nàng về cái giá của sự phản kháng trong quá khứ, nhưng nàng vẫn giữ thẳng lưng, cằm khẽ nâng lên, đối diện trực tiếp với ánh nhìn của vị quản sự đầy quyền uy:

"Mười người theo ngươi về núi. Vậy hai mươi hai người còn lại thì sao?"

Giọng Bùi Hạ không hề gắt gỏng, không có nửa phần phẫn nộ hay kích động, chỉ có một sự lạnh lẽo thấu xương, từng chữ thốt ra rành rọt và nặng trịch:

"Những người già từng dùng đôi bàn tay bật máu đục từng viên đá lát nền, dọn từng hòn sỏi cho đạo quán này? Những người phụ nữ thức trắng thâu đêm bên bếp lửa, cẩn thận sàng sảy từng bát kê ẩm mốc để nấu cháo nhường phần cho bọn trẻ? Những đứa trẻ con chưa đầy mười tuổi như bé Lâm An? Những người bệnh tật nằm liệt giường như bác Thốc? Ngươi định định đoạt số phận của hai mươi hai con người đó như thế nào trên đỉnh núi này?"

Tạ Duy nghe câu hỏi ấy, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười giễu cợt đầy tàn nhẫn. Y phất nhẹ chiếc phất trần cán ngà đeo bên hông, giọng nói thản nhiên, trơn tru như đang bàn luận về việc dọn dẹp một đống cỏ rác vô giá trị bên vệ đường sau cơn bão:

"Hai mươi hai người đó ư? Ngươi hỏi một câu thật nực cười và ấu trĩ, Bùi Hạ. Ngươi đã ở Thanh Huyền Môn ròng rã mười mấy năm trời, từng leo lên tới chức vụ giám sát trận vụ, chẳng lẽ đến tận giờ phút này vẫn chưa hiểu thấu quy củ vận hành của trời đất hay sao?"

Y tiến lên nửa bước, khoảng cách giữa hai người chỉ còn lại chừng một trượng. Y nhìn thẳng vào mắt nàng, từng lời nhả ra lạnh lùng đến rợn gáy, đượm mùi tanh nồng của thứ quy tắc sinh tồn tàn nhẫn nơi tiên giới:

"Tiên môn là nơi tụ khí tu tiên, đoạt thiên địa tạo hóa, nghịch thiên cải mệnh, chứ không phải cái miếu tế bần hay trại dưỡng lão chuyên nuôi dưỡng lũ phế vật mang tạp căn hạ phẩm! Những kẻ già nua gần đất xa trời, những kẻ tàn tật mù lòa, những kẻ khí hải bế tắc hoàn toàn, không thể tạo ra nổi nửa phần giá trị cho sự hưng thịnh của tu hành thì lấy tư cách gì đòi bước chân lên thuyền của tiên môn? Thiên tai hồng thủy tràn qua, kẻ mạnh sinh tồn, kẻ yếu bị đào thải, đó là lẽ tự nhiên không thể đảo ngược của Thiên đạo. Để lại bọn họ ở đây, không đuổi cùng giết tận, cho bọn họ một mái nhà dột nát để nằm chờ chết già, đó đã là sự từ bi tột bậc mà sơn môn rủ lòng ban phát cho lũ sâu kiến rồi!"

"Từ bi cái con mẹ nhà ngươi!"

Một tiếng chửi xối xả vang lên, xé toạc bầu không khí trịnh trọng giả tạo.

Không phải từ Bùi Hạ, mà là từ Phạm Sương. Người đàn bà góa bụa từng một tay quán xuyến quán cơm nhộn nhịp nhất bến Bạch Sa bước chéo ra khỏi hàng ngũ, hai tay chống nạnh, đôi mắt quầng thâm vì mất ngủ bỗng đỏ hoe rực lửa giận dữ:

"Thì ra cái gọi là đại phái danh môn các người mở miệng ra là Thiên đạo, ngậm miệng lại là từ bi, thực chất chỉ là một lũ buôn người chọn lọc không hơn không kém! Chọn kẻ khỏe mạnh, trai tráng về để bòn rút xương tủy, sức lao động, vứt bỏ người già, con nít ốm yếu lại giữa rừng sâu nước độc cho chết đói, chết rét! Đan dược của các người thơm tho lóng lánh lắm đấy, nhưng nuốt vào bụng e rằng tanh nồng mùi máu của những xác người chết trôi dạt vào bãi sậy bến Bạch Sa đêm đê vỡ! Bà đây thà ăn rễ cỏ với đám trẻ con ở cái am rách này, còn hơn phải quỳ lạy xin mấy hạt cơm thừa canh cặn dính máu của phường súc sinh các người!"

"Hỗn xược! Đồ tiện dân to gan!"

Tạ Duy biến sắc, gầm lên một tiếng sấm sét.

Linh áp Luyện Khí tầng chín lập tức bộc phát toàn diện, cuồng phong vô hình từ quanh thân y quét ngang mặt sân đá khiến bụi vôi, mạt cưa bay lên mù mịt. Một luồng uy áp nặng tựa bàn thạch giáng thẳng xuống đầu Phạm Sương, mang theo sát ý thực chất của một tu sĩ tiên môn bị kẻ phàm trần xúc phạm. Áp lực không khí ép chặt lấy lồng ngực khiến Phạm Sương nghẹt thở, sắc mặt tím tái, lảo đảo lùi lại ba bước, khóe miệng rớm ra một vệt máu tươi.

Thế nhưng, luồng linh áp bạo ngược ấy chưa kịp đánh gãy xương cốt người đàn bà thì đã bị một bóng người cao lớn lực lưỡng như gấu rừng chặn đứng lại.

Lâm Tự bước xộc tới, hai bàn chân mang hài vải rách cắm chặt xuống khe nứt của phiến đá như rễ cây tùng ngàn năm ăn sâu vào lòng núi. Anh dùng tấm lưng trần vạm vỡ và bờ vai rộng lớn che chắn hoàn toàn cho Phạm Sương và đứa con gái nhỏ phía sau. Cơ bắp trên cánh tay cầm đục mộc gân guốc nổi cộm lên cuồn cuộn, ánh mắt sắc như lưỡi rìu chém đá găm thẳng vào mặt Tạ Duy, không hề chớp lấy một lần:

"Ở đất Vọng Đăng này, không có chỗ cho lũ sâu mọt áo lụa các người ra oai ức hiếp đàn bà con gái. Muốn động vào người ở đây, trước hết phải bước qua cái xác của thợ mộc này đã!"

Tạ Duy nheo mắt lại, sát khí lạnh lẽo lóe lên trong con ngươi. Tay áo y rung lên, chân khí ngưng tụ nơi đầu ngón tay chực phóng ra một đạo kiếm khí trừng trị tên phàm nhân không biết trời cao đất rộng. Nhưng ngay khoảnh khắc y vừa nâng tay, khóe mắt y chợt giật thót khi nhìn thấy Bùi Hạ.

Nàng đã lặng lẽ rút chiếc que đo góc bằng đồng ra từ thắt lưng. Đầu ngón tay trái của nàng – ngón tay duy nhất còn vận chuyển được linh lực tinh thuần – đang phát ra một tia thanh quang sắc bén như kim châm, cắm thẳng xuống đường rãnh cấm chế trên bệ đá ngay dưới chân Tạ Duy.

Đó là mắt trận trung tâm của hộ sơn trận Bắc Đẩu tàn khuyết.

Tạ Duy là quản sự của Ty Trận Vụ, y hiểu quá rõ năng lực của Bùi Hạ. Dù nàng đã bị phế đi cánh tay phải, dù tu vi tụt dốc thảm hại, nhưng sự am tường trận đạo của nàng đối với hệ thống phòng ngự cổ xưa trên ngọn núi này vẫn vượt xa y một bậc. Nếu Bùi Hạ liều mạng kích phát cấm chế tự hủy hoặc đảo ngược trận nhãn ngay tại vị trí y đang đứng, dù y có hộ thân linh khí Luyện Khí tầng chín thì cũng khó lòng toàn mạng rút lui êm thấm.

Bàn tay đang giơ lên của Tạ Duy khựng lại giữa không trung. Y hít một hơi thật sâu, cố nén sát ý đang sôi trào trong ngực xuống, từ từ hạ tay áo. Ánh mắt y dời khỏi Lâm Tự, quét qua đám đông một lượt nữa với vẻ thâm độc, rồi đột nhiên dừng khựng lại ở góc mái hiên phía sau lưng nữ y giả Đỗ Nghi.

Ở góc khuất ấy, thiếu nữ mười bảy tuổi Vũ Liên đang đứng nép sát vào vách đá phủ rêu xanh.

Sắc mặt nàng trắng bệch không còn một giọt máu, đôi môi mỏng run rẩy bị hàm răng cắn chặt đến mức rỉ máu tươi, nhỏ từng giọt đỏ thẫm xuống vạt áo vá. Cả thân hình mảnh khảnh, gầy guộc của nàng run lên bần bật như chiếc lá úa trước cơn bão lớn. Đôi mắt nàng ngập tràn nỗi kinh hoàng tột độ, hai bàn tay bấu chặt vào góc áo rách của Đỗ Nghi, móng tay ngập sâu vào lớp vải gai thô ráp.

Nụ cười hiểm độc, thỏa mãn trên mặt Tạ Duy lập tức nở rộ trở lại, tàn nhẫn và xảo quyệt hơn gấp bội:

"Ồ? Ta cứ tưởng là ai xa lạ lẩn trốn ở đây. Hóa ra là con nha đầu Vũ Liên!"

Tạ Duy cất tiếng cười khẩy đầy mỉa mai, giọng điệu the thé vang lên khắp sân:

"Con nha đầu tạp căn ngũ hành hạ phẩm năm xưa từng quỳ lạy trước cổng Ty Tuyển Mộ suốt ba ngày ba đêm dưới trời mưa tuyết, dập đầu đến toác trán chỉ để cầu xin một chân đệ tử tạp dịch ngoại môn đây mà! Ngươi trốn lên tận cái ổ chuột trên đỉnh núi này sao? Ngươi có biết trên sổ hộ tịch của huyện nha và sổ đinh của Ty Vật Tư, tên của ngươi cùng gia đình ngươi đã được ghi rõ ràng bốn chữ 'Đã được an trí' sau đợt vỡ đê hay không? Một tên đệ tử trốn chạy mang thân phận tạp căn ti tiện, lại dám cả gan cạo xóa ấn ký môn phái trên cổ tay áo, trốn tránh sai phái của sơn môn..."

Y quay ngoắt sang nhìn Bùi Hạ, giọng gằn từng tiếng đầy ác độc, đắc ý như kẻ vừa túm được thóp của đối phương:

"Bùi Hạ! Ngươi mở to hai con mắt ra mà nhìn cho kỹ! Con tiện tỳ này chính là tang chứng sống rành rành! Nếu các ngươi ngoan cố không chịu phục tùng chiếu thư chiêu an của Chưởng Vụ Đường, ta chỉ cần gửi một tờ công văn hỏa tốc tới Trấn Linh Ty và huyện nha An Lưu, khép Đạo quán Vọng Đăng vào tội danh mưu phản, câu kết và dung dưỡng đệ tử đào tẩu của Thanh Huyền Môn! Đến lúc đó, quan quân huyện phủ phối hợp cùng chấp pháp đệ tử kéo lên vây núi, đừng nói là chín cái tên ký bừa trên đơn đăng bộ Tông Môn Sơ Lập bị xé nát, mà ngay cả cái xác thối của hơn ba mươi mạng người các ngươi cũng sẽ bị quăng xuống sông Vân Hà cho cá rỉa sạch thịt xương!"

Tiếng đe dọa độc địa như nọc rắn phả thẳng vào mặt khiến Vũ Liên run rẩy dữ dội hơn nữa. Tiếng nấc nghẹn ngào chực vỡ òa nơi cổ họng bị nàng dùng tay bịt chặt lại. Nỗi sợ hãi tột cùng từ những ngày tháng bị xua đuổi, bị lăng nhục thậm tệ ở bến nước, vết thương kinh mạch phế phủ do làm việc quá sức chưa từng lành lặn, cùng bóng ma quyền lực ngút trời của tiên môn đại phái như một tảng đá ngàn cân đè nghẹt lồng ngực nàng. Nàng muốn lùi lại, muốn co rúm người trốn chạy vào bóng tối ẩm thấp của gian nhà kho phía sau, muốn biến mất khỏi cõi đời này để không làm liên lụy đến những người xung quanh.

Thế nhưng, một bàn tay ấm áp, khô ráo và vững chãi đột ngột đặt lên bờ vai đang run rẩy của nàng.

Đỗ Nghi khẽ nghiêng người, kéo Vũ Liên ra sau lưng mình một cách dứt khoát. Nữ y giả quanh năm gắn bó với cỏ cây, thảo dược đứng thẳng lưng, ánh mắt bình thản như mặt nước hồ mùa thu không một gợn sóng, lạnh lùng nghênh tiếp ánh nhìn hiểm độc của Tạ Duy. Bên cạnh nàng, lão thợ đá Nguyễn Mộc cũng chậm rãi bước lên, gõ nhẹ đầu gậy bằng gỗ nghiến xuống nền đá xanh, phát ra tiếng "cộc" trầm vang, đanh gọn:

"Tạ quản sự, lão già này tuy mắt đã mờ, tai đã hơi điếc, nhưng *Điển chế Vân Hà* và toàn bộ luật lệ hộ tịch lưu vực con sông này lão đã đích thân cầm đục khắc lên bia đá công quyền suốt bốn mươi năm có lẻ. Kẻ nào làm khống danh sách thuyền cứu nạn để ăn chặn lương thảo và đan dược cứu tế của triều đình, kẻ nào lén lút trục xuất người dân gặp nạn ra bãi bùn lầy hoang vu rồi vu khống cho họ tội danh đào tẩu, Trấn Linh Ty và Ty sở Phủ chưa kịp cử khâm sai tra xét tới thì thôi, chứ ngươi chớ vội vàng lấy cái chết ra dọa dẫm những người nghèo khổ chỉ biết bám vào nhau mà sống."

Sắc mặt Tạ Duy sầm tối lại như mây đen trước cơn giông. Y nhận ra sự cứng đầu, ngoan cố của cái đám tàn binh bại tướng này đã vượt xa mọi sự trù tính ban đầu của y. Những lời đe dọa về quan phủ hay môn quy dường như không thể bẻ gãy được cái ý chí quái đản đang gắn kết bọn họ lại với nhau.

Y hít sâu một hơi, cố đè nén cơn giận dữ đang bốc hỏa trong lồng ngực, dời ánh mắt sắc lạnh hướng về phía mười thanh niên và thợ chèo đò đang đứng phân vân ở giữa sân:

"Các ngươi nghe cho thật kỹ đây! Cơ hội đổi đời, một bước lên mây chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong đời các ngươi mà thôi! Theo ta về Thanh Huyền Môn, các ngươi lập tức trở thành người của tiên môn tôn quý, được ăn đan dược thanh khiết, mặc áo lụa là, tương lai tu tiên xán lạn vô cùng! Còn nếu ngoan cố ở lại cái đống gạch vụn hoang tàn này, các ngươi chỉ có thể chờ chết đói, chết rét, hoặc bị dòng nước lũ cuốn trôi mất xác trong đợt triều cường sắp tới! Ai muốn sống, ai muốn đổi đời, bước ra đây ngay lập tức!"

Sự im lặng ngột ngạt lại một lần nữa bao trùm lấy toàn bộ sân đá Vọng Đăng.

Mười người trẻ tuổi. Bốn người thợ chèo đò dạn dày sông nước – Lê Trọng, Trần Đại, Ngô Bính, Hà Tam. Mấy người thanh niên thợ mộc, thợ rèn từng theo Lâm Tự xẻ gỗ, quai búa. Những người có linh căn, dù chỉ là tạp căn mỏng manh như sợi tơ nhện giữa gió bão, nhưng vẫn đủ điều kiện tối thiểu để bước chân qua ngưỡng cửa tiên gia, thoát ly khỏi kiếp phàm trần lấm lem bùn đất.

Ánh mắt của họ dao động dữ dội.

Ai mà không sợ chết đói giữa mùa đông giá rét sắp tới? Ai mà không từng ôm mộng được thoát khỏi kiếp phàm nhân quanh năm ngâm mình dưới làn nước đục ngầu, quanh năm lội bùn đến thối loét bàn chân, để được khoác lên mình chiếc áo bào thêu hoa sen ba cánh rực rỡ, ngẩng cao đầu bước đi giữa nhân gian? Chiếc áo lụa màu xanh ngọc bích của Tạ Duy, những bình đan dược thơm phức và những thỏi linh thạch sáng rực đang bày ra trước mắt họ như một thiên đường có thật, chỉ cách họ một bước chân bước qua vạch đá ranh giới.

Hai mươi hai người còn lại – những người già cả hom hem, những người mẹ gầy gò ôm con thơ, những kẻ tạp căn mang thương tật đầy mình – chỉ biết cắn chặt môi, đứng nép vào nhau nhìn chằm chằm vào lưng mười người trai tráng.

Không một ai dám mở miệng van xin một câu. Không một ai bước tới níu kéo hay cản trở.

Bởi vì họ hiểu quá rõ, cái giá của sự ở lại trên đỉnh núi hoang phế này là quá tàn khốc, quá đắt đỏ. Và không một ai trong số những kẻ tàn tật, già nua kia có quyền tước đoạt cơ hội sống sót, cơ hội đổi đời chính đáng của những người anh em, con cháu của mình. Sự im lặng của hai mươi hai con người ấy nặng trĩu nỗi đau đớn và sự cam chịu của những kẻ sinh ra dưới đáy cùng xã hội.

Bùi Hạ chậm rãi đưa mắt nhìn lướt qua gương mặt của từng người một trong số mười thanh niên. Ánh mắt nàng dừng lại trên đôi bàn tay chai sần, nứt nẻ vì chèo đò ngược lũ của Lê Trọng; dừng lại trên những giọt mồ hôi đang lăn dài trên gò má xạm đen của đám thợ mộc trẻ tuổi; dừng lại nơi bờ ngực đang phập phồng những nhịp thở rối loạn của Trần Đại.

Nàng không hề cao giọng quát tháo, không hề dùng bất kỳ lời lẽ hoa mỹ hay đạo lý môn phái nào để trói buộc hay kích động lòng trung thành của họ. Nàng chậm rãi xoay người lại, đưa lưng về phía Tạ Duy, đối diện trực tiếp với toàn thể ba mươi mốt con người của Đạo quán Vọng Đăng.

"Mọi người hãy nghe ta nói," Bùi Hạ cất tiếng. Giọng nàng trầm ổn, rành rọt, vang lên êm đềm nhưng vững chãi giữa tiếng gió núi gầm gào:

"Khi ta lập ra điều lệ Vọng Đăng, đưa mọi người vượt qua dòng nước lũ ngập ngụa để lên ngọn núi Đoạn Phong này, ta chưa từng coi mình là ân nhân cứu mạng của bất kỳ ai, và càng không bao giờ coi mình là chủ nhân để định đoạt số phận của các ngươi. Mạng sống là do cha mẹ các ngươi ban cho, tương lai phía trước là do chính đôi chân của các ngươi tự mình lựa chọn."

Nàng hơi nghiêng người, chỉ tay về phía Tạ Duy và cuộn chiếu thư bằng gấm lụa:

"Ai trong số mười người các ngươi muốn theo Tạ quản sự trở về Thanh Huyền Môn, cứ việc đường hoàng bước chân ra phía trước. Ta, Bùi Hạ, sẽ đích thân dùng tư cách người đứng đầu đạo quán này ký giấy giải trừ toàn bộ ràng buộc điều lệ, trao trả đầy đủ giấy tờ tùy thân và sổ hộ tịch cho các ngươi, rồi tiễn các ngươi xuống núi trong danh dự. Sẽ không có bất kỳ ai ở Vọng Đăng này được phép oán trách, không ai có quyền coi các ngươi là những kẻ phản bội hay tham sống sợ chết. Sống sót giữa một trận thiên tai ngập trời để tìm kiếm một con đường sáng sủa hơn, đó là mong muốn chính đáng nhất, lương thiện nhất của một con người bằng xương bằng thịt."

Nói đến đây, Bùi Hạ khẽ dừng lại một nhịp thở. Nàng ngước nhìn lên mái chính điện đã được giằng chống kiên cố bằng những thanh gỗ táu tươi do chính tay họ vừa kéo lên từ vực sâu đêm qua; nhìn ngọn Đèn Dẫn Lộ đang cháy âm ỉ tỏa ra luồng ánh sáng vàng ấm áp trên đỉnh gác chuông hoang phế; rồi nàng quay lại, ánh mắt bao dung nhìn thẳng vào hai mươi hai con người tàn tật, già yếu đang đứng nép mình phía sau:

"Nhưng riêng ta, Bùi Hạ, sẽ không bao giờ bước chân lên chiếc thuyền đó."

Nàng từ từ nâng cánh tay phải đang quấn chặt những lớp băng nẹp đượm mùi thuốc thảo mộc lên ngang ngực. Giọng nói của nàng bỗng chốc đanh thép, sắc bén như một thanh sắt nguội vừa được tôi luyện qua ngàn lần nước lạnh:

"Ta đã từng ở trên chiếc thuyền lộng lẫy, nguy nga ấy của Thanh Huyền Môn suốt mười lăm năm trời. Và ta biết rõ hơn bất kỳ ai trong số các ngươi: chiếc thuyền dát vàng ấy sẵn sàng đạp bất kỳ ai xuống dòng nước xiết, sẵn sàng nghiền nát xương tủy của những kẻ yếu thế để làm chất bôi trơn cho bánh lái của nó khi sóng gió ập tới! Ta sẽ ở lại đây, trên đỉnh núi Đoạn Phong hoang vu này. Ở lại với cái mái nhà tranh dột nát này, với nguồn nước Thạch Nhãn trong lành này, và ở lại cùng hai mươi hai con người bị coi là phế vật vô dụng kia!"

Nàng nhìn thẳng vào từng đôi mắt đục ngầu của những người già, từng khuôn mặt ngơ ngác của những đứa trẻ:

"Dù kho lương chỉ còn lại một bát cháo loãng chia đôi, dù ngày mai nước lũ có dâng cao tràn ngập tới tận chân móng đá, thì chừng nào ngọn đèn Vọng Đăng trên gác chuông kia còn sáng một ngày, ta, Bùi Hạ, sẽ dùng tính mạng này để canh giữ nó cùng những người bị bỏ rơi!"

Lời nói của Bùi Hạ không hề có nửa phần gào thét, nhưng từng chữ, từng câu rơi vào lòng người nghe như những hòn than hồng rực rỡ rớt thẳng vào đống rơm khô giữa mùa đông giá rét. Nó thổi bùng lên một thứ hơi ấm kỳ lạ, đánh thức lòng tự trọng và sự kiêu hãnh vốn đã bị vùi dập dưới bùn lầy của những kiếp người cùng khổ.

Một nhịp thở nặng nề trôi qua.

Hai nhịp thở trôi qua.

Khoảng sân đá im phăng phắc, không có lấy một tiếng động nhỏ.

Không một cánh tay nào giơ lên. Không một bước chân nào dịch chuyển về phía chiếc áo bào lụa xanh của Tạ Duy.

Người đầu tiên cất bước phá vỡ sự im lặng lại chính là thợ mộc Lâm Tự. Anh không hề bước chân về phía trước cổng tam quan, mà bước sang bên cạnh một bước dài, đứng ngang hàng bên cạnh Bùi Hạ.

Anh buông thõng chiếc đục thép dính mạt cưa xuống bên hông, bàn tay to lớn, thô ráp kia vươn ra nắm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của con gái Lâm An. Giọng nói của người thợ mộc khô khốc, trầm đục vang lên giữa sân đá:

"Tôi là một người thợ mộc. Thợ mộc khi dựng một ngôi nhà lớn thì ai cũng muốn chọn những cây gỗ thẳng tắp, lõi chắc không tì vết. Nhưng một cái rui cong queo, một cái mè sứt sẹo, nếu biết đục đẽo đúng thế, đặt đúng chỗ thì nó vẫn gánh được một góc mái che mưa che nắng cho con người. Một cái tông môn mở miệng xưng là tiên gia mà chỉ biết chọn những cây gỗ thẳng để trục lợi, còn cành cong, nhánh gãy thì vứt hết vào lò lửa cho cháy thành tro, thì cái tông môn đó, cái ngôi nhà lộng lẫy đó sớm muộn gì cũng mục ruỗng từ bên trong rồi sụp đổ tan tành!"

Lâm Tự nghiêng đầu, nhổ một bãi nước bọt sang bên cạnh, mắt quắc lên nhìn Tạ Duy:

"Tôi ở lại đây với con gái tôi, với cái đạo quán này. Mấy viên đan dược thơm tho nhuốm máu của các người, thợ mộc này nuốt vào họng e rằng nghẹn chết!"

Bé Lâm An đứng bên cạnh ngẩng cao khuôn mặt lấm lem bùn đất, đưa mu bàn tay áo quẹt ngang dòng nước mắt trên má, dõng dạc nói lớn theo cha:

"Cháu ở lại với cha! Cháu quét kho thóc cho cô Bùi Hạ! Cháu không cần áo lụa của ông đâu!"

Ngay sau câu nói non nớt của đứa trẻ, một tiếng cười sảng khoái, ngông nghênh bỗng vang lên từ phía đám thợ chèo đò.

Lê Trọng vác chiếc đòn khiêng bằng gỗ nghiến bóng loáng lên vai, sải những bước chân dài đầy dứt khoát tiến lên phía trước. Anh bước tới đứng sát cạnh Lâm Tự, ngực ưỡn ra đón gió núi, nhổ toẹt một bãi nước bọt đỏ lòm vì nhai trầu xuống nền đá xanh ngay trước mũi hài thêu của Tạ Duy:

"Mẹ kiếp! Dân vạn đò chúng tao cả đời lênh đênh lướt sóng gió trên khúc sông Vân Hà này, đò thủng thì cùng nhau tát nước, thuyền chìm thì cùng nhau ôm phao mà bơi vào bờ! Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, dân chèo đò chưa từng thấy cái thứ đạo lý chó má nào dạy người ta nhảy tót lên chiếc thuyền lớn sơn son thiếp vàng rồi thẳng chân đạp mẹ già, con thơ của bạn đò xuống dòng nước lũ để giữ cho thuyền mình nhẹ bớt cả! Tạ quản sự, bốn anh em chèo đò chúng tao tay chân thô lậu, quen cầm chèo kéo lưới, cái ngữ người bùn lầy này không xứng bước chân lên làm đệ tử tiên môn cao quý của các người đâu! Cút mẹ các người về núi mà ôm lấy đan dược với đạo bào lụa mà tu tiên với nhau đi!"

Trần Đại, Ngô Bính và Hà Tam đồng loạt tiến lên ba bước. Những cánh tay gân guốc từng quen chống chèo vượt thác lũ siết chặt lấy những cây đòn khiêng, bước chân rầm rập giẫm nát lớp rêu trơn trượt, đứng ken đặc thành một bức tường thịt sừng sững che chở cho đám người già và phụ nữ phía sau lưng họ.

"Tôi còn nợ sáu mươi tư lượng bạc trắng cứu tế của xóm đò Bạch Sa!"

Phạm Sương cũng bước xộc tới, lưng bà thẳng tắp như một cây tre già trước gió bão, khóe mắt ánh lên sự kiêu hãnh và bất khuất của một người đàn bà từng trải qua bao kiếp nạn giông tố:

"Món nợ cứu đói sáu mươi tư lượng bạc của mấy chục mạng người xóm đò tôi còn dám lấy cái mạng rách này ra gánh vác suốt đời, thì cái thân đàn bà góa này cần quái gì mấy hạt cơm thừa canh cặn của Thanh Huyền Môn các người bố thí! Đạo quán Vọng Đăng này tuy rách nát, nhưng ở đây người ta đối xử với nhau như con người, chứ không coi nhau như súc vật để lựa béo bỏ gầy!"

Và rồi, từ phía sau tấm lưng áo chắp vá của nữ y giả Đỗ Nghi, một bóng người gầy guộc chầm chậm, từng bước một bước ra.

Vũ Liên.

Đôi chân trần của nàng vẫn còn run rẩy vì nỗi sợ hãi tột cùng đã in sâu vào tận tủy xương, từng thớ thịt trên người nàng vẫn chưa thôi co giật dưới áp lực của tên quản sự quyền uy. Nhưng khi nàng bước tới, đứng sóng vai ngay bên cạnh Bùi Hạ, đôi mắt của người thiếu nữ mười bảy tuổi bỗng sáng quắc lên một thứ ánh sáng rực rỡ, kiên cường chưa từng có.

Nàng ngẩng cao đầu, đứng thẳng người đối diện trực tiếp với kẻ từng là cơn ác mộng kinh hoàng nhất trong những năm tháng tủi nhục của đời mình. Nàng hít sâu một hơi lồng ngực đầy gió lạnh của đỉnh núi Đoạn Phong, cất tiếng nói rõ ràng, dứt khoát, vang vọng khắp bốn bề sân đá:

"Năm năm trước, ta từng quỳ lạy trước cổng Ty Tuyển Mộ rách cả trán chỉ để cầu xin các người thu nhận... Nhưng ngày hôm nay, ta đứng ở đây nói thẳng vào mặt ngươi, Tạ Duy: Dù ta chỉ mang tạp căn ngũ hành ti tiện, dù cả đời này ta không có tư cách Trúc Cơ, ta cũng thà làm một người thợ sửa trận quét rác, bưng nước ở cái đạo quán Vọng Đăng này, chứ tuyệt đối không bao giờ thèm bước nửa bàn chân lên chiếc thuyền mục nát, tàn nhẫn của các người nữa!"

Từng người, từng người một tiếp tục cất bước.

Cụ già Trần Thốc chống gậy bước lên, hàm răng rụng lập cập nở một nụ cười móm mém nhưng kiêu hãnh. Trịnh thị bế đứa con nhỏ tiến lên, đứng nép sau lưng Phạm Sương, ánh mắt không còn một tia sợ hãi. Lão thợ đá Nguyễn Mộc nâng cao cây gậy gỗ nghiến, đứng sừng sững bên cạnh bàn cấm chế đá.

Ba mươi mốt con người.

Không phân biệt già trẻ, gái trai, phàm nhân tay trắng hay những kẻ mang linh căn tàn khuyết, tất cả đồng loạt bước lên phía trước. Họ đứng san sát bên nhau, vai kề sát vai, tay nắm chặt tay, ánh mắt rực lửa đồng loạt nhìn thẳng vào Tạ Duy, tạo thành một bức tường thành kiên cố bằng xương bằng thịt bao quanh lấy Bùi Hạ và bệ đá hộ sơn trận.

Không một ai dao động. Không một ai cúi đầu lùi bước.

Toàn bộ lời chiêu an tàn nhẫn, toàn bộ những lời hứa hẹn về đan dược, lụa là và sự sống còn ích kỷ của một đại phái danh môn đã bị ba mươi mốt con người cùng khổ nghiền nát tan tành dưới gót chân trần ngay trên khoảng sân đá lộng gió này.

Sắc mặt Tạ Duy thay đổi liên tục. Từ vẻ tự đắc, ngạo mạn ban đầu chuyển sang kinh ngạc tột độ, rồi từ kinh ngạc nhanh chóng biến thành tím tái, xanh mét vì nỗi nhục nhã và cơn giận dữ không thể kiềm chế.

Bàn tay cầm cuộn chiếu thư bằng gấm lụa của y run lên bần bật. Y là Quản sự trận vụ tôn quý của Thanh Huyền Môn, nhân vật mà quan lại các huyện nha ven sông gặp mặt đều phải cúi đầu khép nép, tán tu gặp mặt đều phải dập đầu xưng tụng. Vậy mà ngày hôm nay, ngay trên cái đỉnh núi hoang tàn ngập ngụa bùn đất và rác rưởi này, một lũ nạn dân rách rưới bần hàn, một lũ tạp căn phế vật mang thân phận sâu kiến lại dám đồng thanh nhổ vào mặt y, dám cự tuyệt thẳng thừng ơn mưa móc cửu trùng mà sơn môn ban phát!

"Một lũ ngu xuẩn! Lũ sâu bọ ngoan cố không biết sống chết!"

Tạ Duy nghiến răng ken két, từng đường gân xanh trên trán và thái dương y giật giật dữ dội. Hai mắt y đỏ ngầu tia máu, sát khí cuồn cuộn dâng lên làm vạt áo bào ngọc bích bay phần phật.

Nhưng y biết rõ mười mươi, trong tình thế này, khi Bùi Hạ đang nắm chặt cấm chế cốt lõi của hộ sơn trận Bắc Đẩu dưới chân, khi ba mươi mốt con người kia đã sẵn sàng liều chết để kéo y chôn cùng, nếu y cưỡng ép ra tay tàn sát ở đây, sự việc chắc chắn sẽ kinh động tới Trấn Linh Ty và ty sở quan phủ. Khi đó, bí mật về đợt vỡ đê Hồi Long, về những chuyến đò cứu nạn ma và những lô đá trận thiêu kết gian lận mã hiệu Tam-Bính-Hỏa-Tạp sẽ bị phơi bày hoàn toàn ra ánh sáng trước cuộc đại thanh tra đê điều sắp tới của triều đình. Cái giá đó, ngay cả Chưởng Vụ Đường cũng không gánh nổi.

Rắc!

Cuộn trục gấm Lưu Vân thượng phẩm trong tay y bị chân khí bộc phát bóp nát vụn thành từng mảnh, dải lụa vàng rách toạc giòn giã rơi lả tả xuống vũng nước bùn dưới chân.

Tạ Duy phất mạnh tay áo bào, một luồng kình phong giận dữ quét tung đám lá rụng và tro bụi vôi sống dưới đất bay mù mịt, làm rung chuyển cả hệ khung cửa gỗ lim mà Lâm Tự và Bùi Hạ vừa kỳ công lắp đặt đêm qua. Y quay ngoắt người lại, bước chân giẫm mạnh lên từng bậc tam cấp đá nứt nẻ, hướng thẳng ra cổng tam quan.

Dưới mái cổng vòm hoang phế, Tạ Duy phất tay áo bỏ đi, gằn giọng để lại lời đe dọa:

"Để xem một lũ tàn binh tạp căn các ngươi giữ được ngọn đèn này qua đợt nước tới hay không!"

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories