Chén Trà Chia Lưng
Khói bếp thoang thoảng quyện với hơi ẩm đọng trên vách đá gian kho, nơi những tiếng xì xào nghi ngại của nhóm người tị nạn lớn tuổi đang đòi truất quyền giữ kho của Phạm Sương.
Gió lạnh từ thung lũng thốc ngược lên sườn nam Đoạn Phong, luồn qua những chấn song gỗ vừa mới đóng gá tạm bợ, mang theo mùi ngai ngái nồng nặc của bùn non, lá rữa và cỏ dập sau chuỗi ngày mưa lũ dầm dề. Dưới mái hiên gian chái tây, hơi nước ngưng tụ thành từng vệt dài xám đục, trườn dọc bờ đá ráp rồi nhỏ tí tách xuống ngạch đá xanh đã mòn vẹt mép. Từng giọt buốt giá rớt trên nền đá phát ra âm vang khô khốc, đứt quãng, nhưng không át nổi sự ngột ngạt đang dâng cao đến nghẹt thở trước cánh cửa then gỗ đôi dẫn vào kho lương.
Mấy người đàn ông luống tuổi đứng ken dày, chắn trọn lối đi lát đá hẹp dẫn vào cửa kho. Đi đầu là Trần Thốc, người thợ đánh cá gầy guộc ở Bến Bạch Sa, hai bàn tay chai sần nổi đầy nốt sẹo lưới bấu chặt lấy thân gậy tre đực già, chiếc áo tơi tước rách tả tơi quấn quanh đôi vai gầy guộc còn vương nguyên mùi tanh nồng của bùn đáy sông và nước lợ. Đôi chân trần của ông ta bấm chặt xuống kẽ đá trơn tuột, các khớp ngón chân tái nhợt vì cước lạnh. Phía sau lưng ông, Trịnh thị ôm chặt lấy đứa cháu nội đang thút thít dúi đầu vào ngực bà, trong khi mấy người thợ đò lực lưỡng khác thì khoanh chặt hai tay trước ngực, nét mặt căng cứng như da trống, ánh mắt đục ngầu dán chặt vào bóng người đàn bà gầy guộc đang đứng nép mình bên bậu cửa đá.
"Sương chưởng quỹ, không phải bọn này muốn làm khó bà làm gì cho mang tiếng bất nhân," giọng Trần Thốc khàn đặc, từng chữ bật qua kẽ răng run rẩy kèm theo luồng hơi thở nồng nặc mùi lá vối nấu lại đến nước thứ ba. "Nhưng sáu mươi tư lượng bạc trắng của hiệu buôn Vĩnh Mậu không phải là vỏ trấu hay bèo tấm trôi sông! Hồi sớm nay lão chủ sự Tống Khải đứng dưới chân dốc buông lời răn đe thế nào, cả ba mươi hai cái tai của đám người tàn tạ ở đây đều nghe rành rọt không sót một nửa chữ. Lão bảo sẽ cho chặn đứng bến sông, cấm tiệt muối hột với gạo tấm chuyển ngược lên mỏm núi này. Nếu mai này người của thương hội Tam Giang đem khế ước lên đòi người, đòi đồ, vin vào cái cớ bà giữ chìa khóa kho mà siết luôn mấy bao ngũ cốc sống mạng của cả lũ, thì chúng tôi biết ngửa tay xin ai miếng cháo?"
"Phải đấy... bác Thốc nói trúng cái bụng bọn này rồi..." Trịnh thị lí nhí chen vào, giọng the thé run lên vì nỗi kinh hãi đã đè nặng trong lồng ngực suốt từ sáng sớm. "Cái kho lương chắp vá này là cơm cháo, là hơi thở sống còn của cả ba mươi hai con người. Chìa khóa kho lủng lẳng bên sườn một người đang mang nợ ngập đầu ngập cổ, đêm hôm nằm nghe gió rít ngoài vách nứa chúng tôi nhắm mắt làm sao cho yên? Nhỡ đâu... nhỡ đâu người ta túng quá hóa liều, đêm hôm cấn một đấu gạo trắng, bớt nửa thúng kê vàng đem đi giấu giếm để lót tay cho chủ nợ thì sao?"
Phạm Sương đứng tựa lưng vào vách đá nứt nẻ, mặt tái nhợt không còn một giọt máu, nom chẳng khác nào tàu lá chuối héo rũ sau cơn dông. Đôi môi thâm sì vì lạnh của bà mím chặt lại đến mức bật cả máu tươi, hai bàn tay thô ráp chằng chịt những vết sẹo bỏng mỡ cũ từ hồi còn mở quán cơm bến nước giờ đây run bắn lên, nhưng vẫn bấu chặt lấy sợi dây gai thô thắt ngang lưng—nơi chùm chìa khóa bằng sắt đen nặng trịch đang cọ vào xương hông đau điếng. Từng thớ thịt trên gò má hốc hác của bà giật giật từng cơn. Nỗi tủi nhục ê chề khi món nợ riêng tư bị phơi bày trần trụi giữa thanh thiên bạch nhật chưa kịp nguôi ngoai, thì sự ghẻ lạnh, ngờ vực độc địa từ chính những con người từng chung lưng đấu cật chia nhau từng cọng rau má, từng ngụm nước suối trong hoạn nạn lại như mũi dùi nung đỏ đâm thấu tâm can.
"Tôi... tôi không bao giờ tơ hào một hạt gạo chung của đạo quán," giọng Phạm Sương nghẹn ứ nơi cuống họng, khô khốc và rạn vỡ như vỏ cây tràm cháy dở qua mùa khô. "Bao gạo hỏng hôm trước do ngấm nước mưa sụt bùn từ mái hiên, chính tay tôi ngồi sàng sảy suốt hai canh giờ, lượm từng hạt sạn, cân đong từng lạng rồi mượn than củi ghi rành rọt lên vách đá cho mọi người trông thấy. Mười mấy ngày lên non tránh bão, tôi thức khuya dậy sớm nấu nướng, chưa một ngày nào tôi bớt xén của ai dù chỉ nửa muỗng cháo loãng..."
"Ai mà biết được lòng dạ con người khi bước đến đường cùng ngõ hẻm!" Một người phu kéo lưới đứng cạnh Trần Thốc bực dọc gắt lên, vung tay chém mạnh vào khoảng không đầy hơi nước. "Tống Khải là hạng buôn tàn độc, ăn thịt người không nhả xương, chuyện ấy cả vùng Tam Giang này ai chẳng tỏ! Hắn đã cầm chuôi dao kề cổ bà, bà lại cầm chuôi chìa khóa mở kho thóc của chúng tôi. Lấy gì bảo đảm bà không mềm lòng trộm của công bù nợ tư? Giao chìa khóa ra! Giao cho người khác trông nom, bà lui xuống làm việc tạp dịch bếp núc thôi, thế mới rạch ròi, mới công bằng cho ba mươi hai miệng ăn này được!"
"Bác nói thế mà nghe được à?"
Tiếng bước chân dồn dập vang lên từ phía gian mộc phía trước. Lâm Tự sải những bước dài, tay còn cầm chiếc bào gỗ bằng gỗ lim lấm lem mạt cưa mịn. Anh bước phăm phăm tới, chiếc vóc người vạm vỡ như thân cây táu đứng chắn ngang giữa đám đông đang xao động và người phụ nữ góa bụa đang run rẩy sau lưng. Đôi mắt Lâm Tự thâm quầng trũng sâu sau một đêm thức trắng cùng Bùi Hạ đục đẽo then cài, dựng khung cửa kép chắn gió đông, nhưng ánh nhìn rực lên vẻ cương trực, đanh lại như thép nguội:
"Các bác làm cái trò gì thế này? Điều lệ hôm trước chúng ta bỏ sỏi trắng dưới chân bệ đá, mọi người đã đem vứt xuống vực hết rồi sao? Bất kỳ việc lớn việc nhỏ nào liên quan đến người trong quán, liên quan đến ăn ở sinh tồn, đều phải đem ra trước điện bàn luận công khai, lấy số đông làm trọng. Cớ sao sớm ngày ra đã xúm năm tụm ba lại đây ép người ta giao quyền giữ kho? Làm như thế có khác nào phường dồn người vào chân tường hay không?"
"Thợ cả Lâm, chú đừng có đem cái lý lẽ chữ nghĩa ấy ra mà bênh người nhà!" Trần Thốc gõ mạnh gốc gậy tre đực xuống nền đá, vang lên một tiếng *cộp* khô khốc, chát chúa, làm văng ra những giọt nước đọng xám xịt. "Chú có đôi bàn tay vàng, có tay nghề mộc thợ, mai này chú đi đục cột dựng rạp cho người ta còn đổi được công mà trừ nợ, gánh nợ. Còn bọn cùng đinh này thì có cái gì ngoài hai bàn tay trắng quen kéo lưới thuê dầm dề dưới nước? Chúng tôi sợ đói! Chúng tôi sợ cái cảnh chết trôi chết dạt, bụng trương phềnh vì ăn rễ cỏ dưới chân núi Đoạn Phong này! Muốn lòng người yên ổn, muốn cả bọn không phát điên vì ngờ vực thì bà Sương phải buông chùm chìa khóa ấy ra!"
Mấy người đàn ông phía sau lập tức gầm gừ phụ họa. Tiếng xì xào ken đặc lại thành một mớ âm thanh hỗn độn, gay gắt, chực chờ bùng nổ thành một vụ xô xát ngay trước thềm kho lương.
Giữa lúc sợi dây căng thẳng như sắp đứt phựt ấy, một mùi thơm trầm ấm, dịu ngọt thoang thoảng bay tới. Đó là mùi ngai ngái quen thuộc của rễ cỏ tranh khô quyện với vị the ấm nồng của gừng già nướng vùi tro, lẩn khuất qua làn gió ẩm ướt, nhẹ nhàng lách vào từng kẽ áo rách của những con người đang sôi sục giận dữ.
Bùi Hạ bước ra từ lối thông gió hẹp nối giữa gian chính điện và chái bếp.
Trên tay trái vững chãi, nàng nâng chiếc khay gỗ mộc cũ kỹ, bên trên đặt một ấm trà bằng gốm da chu nứt mép đang bốc từng lọn khói trắng nghi ngút, cùng một chồng chén đất nung tráng men lam lem luốc cáu ghét. Toàn bộ cẳng tay và cổ tay phải của nàng vẫn quấn chặt nẹp tre cật vót nhẵn, bọc nhiều lớp vải xô trắng sạch sẽ, cố định gập ngang trước ngực áo theo đúng lệnh nghiêm ngặt của Đỗ Nghi. Khuôn mặt thanh tú của nàng hãy còn vương nét nhợt nhạt sau trận nội thương kinh mạch do trận bão hôm trước, dưới khóe mắt đọng lại quầng thâm nhàn nhạt, nhưng bờ vai buông thõng tự nhiên và từng bước chân giẫm lên phiến đá ẩm lại vững chãi, trầm tĩnh đến lạ kỳ.
"Trà rễ cỏ tranh nấu với lá cối xay và gừng khô xắt mỏng, nước múc từ tầng lọc thứ ba của mạch Thạch Nhãn vừa sôi sùng sục trên bếp than," Bùi Hạ nhẹ nhàng lên tiếng. Giọng nàng không quá lớn, thanh âm trong trẻo rơi xuống đều đặn, nhịp nhàng, nhưng kỳ lạ thay lại át hẳn tiếng gió rít qua khe ngói và tiếng lách tách của nước mưa. "Ngoài trời gió thốc buốt đến tận xương, chân tay các bác, các chú ai nấy đều thâm tím cả rồi. Bác Thốc, bác Trọng, thím Trịnh, cả chị Sương nữa... xin mời tất cả vào gian chính điện ngồi uống chén nước nóng rồi nói chuyện tiếp. Chuyện sống chết của người Vọng Đăng, xưa nay chưa từng giải quyết ngoài ngõ gió bao giờ."
Ánh mắt nàng dừng lại trên gương mặt giận dữ của Trần Thốc, lướt qua đôi bàn tay đang co quắp của Phạm Sương, rồi khẽ gật đầu trấn an Lâm Tự. Cái vẻ điềm đạm, không chút gợn sóng toát ra từ người thợ sửa trận khiến đám đông đang hừng hực lửa giận bỗng khựng lại. Trần Thốc ngơ ngác nhìn ngọn khói trà ấm áp bay là là giữa màn mưa phùn, rồi nhìn lại đầu gậy tre lấm bùn của mình. Nỗi sợ hãi và uất ức vẫn còn đó, nhưng không khí cay nghiệt đã chùng xuống một nhịp. Không ai nói thêm lời nào, từng người một lặng lẽ dời bước, lê những đôi chân lạnh cóng bước theo tà áo mộc mạc của Bùi Hạ tiến vào gian chính điện.
***
Chính điện của Đạo quán Vọng Đăng rộng thênh thang nhưng trơ trọi và hoang tàn sau nhiều năm bỏ phế. Những bệ thờ bằng đá xanh ven tường rêu phong bám đầy, tượng thần linh xưa kia đã đổ vỡ hoặc lưu lạc chỉ còn lại những bệ trơn nhẵn bóng. Ở gian giữa, bệ đá thanh hoa vững chãi sừng sững nâng đỡ bàn trận hộ sơn Bắc Đẩu; trên mặt đá xám, những đường trận văn khắc chìm đang lặng lẽ tỏa ra từng đợt ánh sáng lam nhạt yếu ớt, như hơi thở thoi thóp của một sinh linh cổ xưa đang gắng gượng giữ lại chút hơi ấm cho gian phòng. Một đống củi khô cháy liu riu trong góc lò sưởi dã chiến đắp bằng đá hộc, phả ra luồng nhiệt lượng ấm áp xua bớt cái giá buốt cắt da cắt thịt của buổi sáng vùng núi vỡ.
Bùi Hạ cẩn trọng đặt khay trà lên chiếc bàn gỗ dài ghép bằng những tấm ván giằng cũ mà Lâm Tự mới bào nhẵn hôm qua. Nàng dùng tay trái thuần thục nhấc chiếc ấm sành nặng trịch, nghiêng vòi rót từng dòng nước trà vàng óng ánh sắc hổ phách vào từng chiếc chén đất nung. Hơi nóng cuồn cuộn bốc lên, mang theo vị cay the của gừng già và vị ngọt bùi của cỏ tranh, phả vào khuôn mặt hốc hác của những người tị nạn, làm giãn dần những nếp nhăn cau có hằn sâu trên vầng trán đen sạm vì nắng gió.
Cánh cửa ngách khẽ lay động. Đỗ Nghi tay xách hòm thuốc bằng gỗ sơn then bước vào. Nàng không nói một lời, chỉ lặng lẽ kéo chiếc ghế đẩu ngồi xuống góc bàn, đôi mắt phượng sắc sảo lướt qua sắc diện xám xịt của từng người có mặt. Lão thợ đá Nguyễn Mộc cũng chống chiếc gậy trúc bóng loáng bước tới, chầm chậm ngồi xếp bằng trên chiếc bồ đoàn bện bằng rơm rạ bên mép bệ đá thanh hoa. Trong nách lão cắp chặt một cuốn sổ lớn bìa bọc giấy bồi dày cộp đã ngả màu ố vàng vì hơi ẩm của núi rừng.
Đợi cho mỗi người trong điện đều đã bưng trọn chiếc chén đất nung ấm sực trong hai lòng bàn tay thô ráp, Bùi Hạ mới ngồi xuống chiếc ghế đẩu nơi đầu bàn. Nàng nâng chén trà nhấp một ngụm nhỏ, để vị đắng ngọt thấm nhuần nơi đầu lưỡi, rồi ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt khắc khổ của Trần Thốc, trước khi phóng tầm mắt bao quát lấy đám thợ chèo đò đang ngồi thu lu:
"Bác Thốc và mọi người lo sợ việc Tống Khải hay thương hội Vĩnh Mậu kéo người lên núi siết nợ, nỗi sợ ấy là có cơ sở, hoàn toàn không sai. Đứng trước một thương hội lớn nắm trọn từ đường muối, đường gạo Bến Bạch Sa cho đến tận chợ phiên huyện lỵ An Lưu, bất kỳ ai trong chúng ta, dù là kẻ mạnh khỏe hay người ốm yếu, đều có quyền sợ hãi. Nếu kho lương thực này bị kẻ ngoài niêm phong, ba mươi hai con người ở đây, từ đứa trẻ con như bé An cho đến người già như lão Nguyễn, đều không thể sống sót qua nổi bảy ngày mưa bão kế tiếp."
Trần Thốc ngước đôi mắt đỏ ngầu lên, dường như tìm thấy sự đồng cảm từ người đứng đầu đạo quán, liền vội vã cướp lời: "Đấy! Bùi cô nương là người có học, hiểu sâu biết rộng, cô nương nói câu ấy là phải cái lý! Thế thì cớ gì..."
"Nhưng bác Thốc và mọi người ngồi đây đã tính sót một điều cốt tử," Bùi Hạ ngắt lời ông lão, giọng nàng trầm xuống nửa cung nhưng dứt khoát, từng thanh âm gõ nhịp rành rọt vào không gian tĩnh lặng của gian điện. "Mọi người nghĩ rằng chỉ cần tước chùm chìa khóa sắt của chị Sương, đẩy chị ấy ra khỏi việc coi sóc kho lương là kho thóc sẽ tự nhiên an toàn. Nhưng tôi xin hỏi thật các bác một câu: ở cái đạo quán chênh vênh trên vách đá này, ngoài chị Phạm Sương ra, ai là người biết cách trừ bì chuẩn xác cho từng bao tải gai bị ngấm nước mưa? Ai biết tính toán độ hao hụt khi phơi sấy ngô kê để không làm rỗng ruột sổ sách? Ai biết cách nhìn sắc mặt con buôn ngoài bến sông để đem từng bó củi khô, từng gùi măng le đổi lấy từng bát muối hạt, từng lạng dầu thắp mà không bị phường gian thương ép giá đến tận xương tủy?"
Gian chính điện bỗng rơi vào một khoảng lặng tờ mờ, nặng trịch. Tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi dã chiến nghe rõ mồn một.
Bùi Hạ chuyển ánh mắt sang người thợ đò trẻ tuổi ngồi cạnh góc tường: "Lê Trọng, anh là tay chèo cừ khôi trên sóng dữ sông Lãng, nhưng anh có biết phân biệt bao gạo nào đang ngậm mạt linh sa độc từ dòng lũ thượng nguồn, bao gạo nào chỉ đơn thuần nhiễm nước mưa để mà đem ra hong sấy trước hay không? Hay bác Thốc, bác bủa lưới bắt cá không ai sánh bằng, nhưng nếu phải bước chân ra chợ phiên Tam Giang ngã giá, bác có biết một đấu thóc giống hạt tròn đổi được bao nhiêu cân bột mì thô loại hai mà không bị chủ vựa tráo hàng mốc mọt?"
Mấy người đàn ông đưa mắt nhìn nhau lúng túng. Những đôi bàn tay gân guốc siết chặt lấy miệng chén trà nóng, từng cái đầu chầm chậm cúi gục xuống sàn đá.
"Chị Sương từng mở quán cơm bình dân nơi ngã ba bến nước suốt mười mấy năm trời," Bùi Hạ tiếp tục, ánh mắt nàng ấm áp dời sang người phụ nữ đang cắn chặt môi, bờ vai vẫn còn run lên từng chặp ở góc bàn. "Món nợ sáu mươi tư lượng bạc trắng kia không phải sinh ra từ trò đỏ đen cờ bạc, không phải từ thói ăn tiêu hoang phí của một kẻ buông tuồng, mà là vì chị ấy đã liều mình vay mượn của Vĩnh Mậu để gom từng bao gạo tấm, nấu những nồi cháo hoa cứu đói cho cả xóm vạn đò trong trận đại hồng thủy mùa thu năm ngoái—ngay trước khi cơn lũ cuốn phăng toàn bộ cơ nghiệp, nhà cửa của chị ấy xuống đáy sông sâu. Món nợ ấy hình thành từ chính cái tâm thơm thảo của một người làm ăn nương tựa vào bến nước. Nếu ngày hôm nay, chỉ vì một câu đe nẹt sặc mùi con buôn của Tống Khải mà chúng ta ruồng bỏ chị ấy, tước đoạt danh phận và công việc của chị ấy, thì tôi xin nói thẳng: toàn bộ hệ thống cân đong, bảo quản lương thực và việc thương thảo nhu yếu phẩm với bên ngoài của Vọng Đăng sẽ tê liệt hoàn toàn ngay từ ngày mai!"
Lâm Tự đặt mạnh bàn tay chai sạn của mình xuống mặt bàn gỗ, tạo nên một tiếng *bịch* trầm đục:
"Chưởng môn nói không sai một ly nào. Một người thợ mộc cưa đục như tôi chỉ biết đo đạc mộng mang cá, xẻ gỗ đóng then cài cửa. Đưa chùm chìa khóa kho cho tôi, tôi cũng chỉ biết tròn mắt nhìn bao thóc mục rữa mà chịu chết, làm sao biết cách bảo quản ngũ cốc qua mùa nồm ẩm? Hơn thế nữa, các bác thử nghĩ lại xem: hôm qua trước mặt Tống Khải và đám gia nhân mang đao kiếm, chúng ta đã cùng nhau thả sỏi trắng thề thốt điều gì? Chúng ta đã khẳng định rằng tai ương, hoạn nạn hay nợ nần của bất kỳ ai trong ba mươi hai con người này đều là việc chung của toàn đạo quán! Bản điều lệ mộc mạc khắc dưới chân tượng đá chữ nghĩa chưa ráo mực, lẽ nào bát nước chè còn chưa nguội mà chúng ta đã vội vàng tự tay xé bỏ đi danh dự của chính mình?"
Nguyễn Mộc khẽ hắng giọng một tiếng khô khốc. Lão thợ đá chậm rãi đặt chén trà đã cạn xuống mặt bàn, dùng bàn tay nổi đầy gân guốc vuốt nhẹ chòm râu bạc phơ đã bết dính vì gió sương. Đôi mắt lão hõm sâu nhưng sáng quắc, quét qua từng gương mặt đang cúi gằm:
"Lão già này sống ở cái đất An Lưu này ngót nghét gần bảy mươi năm trời, đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu nhóm người, bao nhiêu phường hội cùng nhau chạy giặc, chạy lũ rồi cuối cùng tan đàn xẻ nghé trong cay đắng. Các ngươi có biết vì sao họ tan vỡ không? Họ không chết vì nước lũ dâng cao, không chết vì đao kiếm của giặc cướp, mà họ chết vì chính sự ngờ vực, đố kỵ gặm nhấm từ bên trong ruột thịt! Một khi lòng dạ đã sinh nghi, thì một hạt thóc rơi vãi ngoài sàn cũng biến thành tang chứng ăn cắp, một câu nói buột miệng lúc mệt mỏi cũng hóa thành mưu mô hiểm độc. Tống Khải phong tỏa bến đò, buông lời hù dọa là để ép chúng ta tự cắn xé lẫn nhau, tự làm loạn từ trong trứng nước! Nếu hôm nay chúng ta hùa theo dã tâm của hắn mà xua đuổi, nghi kỵ người nhà của mình, thì ngọn đèn Vọng Đăng thắp trên đỉnh Đoạn Phong này phỏng có ích gì nữa?"
Trần Thốc thở dài sườn sượt, hai bàn tay run rẩy mân mê thân gậy tre đực. Gân xanh trên thái dương ông ta giật giật từng hồi. Ông ngước nhìn Bùi Hạ, rồi nhìn sang Phạm Sương đang cúi đầu nức nở, giọng chùng hẳn xuống, xen lẫn nỗi băn khoăn day dứt khôn nguôi:
"Nhưng... Bùi cô nương, thợ cả Lâm, cả bác Mộc nữa... Lũ thuyền chài chúng tôi đâu phải loài cầm thú không biết đến cái nghĩa cái tình! Chúng tôi biết chị Sương khổ, biết chị ấy là người tốt. Khổ nỗi, ngộ nhỡ ngày mai ngày kia, người của nha môn huyện An Lưu hay tay chân của thương hội Tam Giang cầm công văn sai nha lên núi đòi niêm phong kho thóc thật, thì mấy cái miệng trần mắt thịt, áo rách khố ôm như chúng tôi lấy cái gì để cãi lại trát của quan trên?"
"Lấy sự minh bạch," Đỗ Nghi bất chợt lên tiếng.
Thanh âm của nữ y giả lành lạnh như lưỡi dao cạo, nàng khẽ gõ nhẹ ngón tay thon dài có vệt ố vàng của thảo mộc lên nắp hòm thuốc gỗ. Đôi mắt sắc lẹm của nàng nhìn thẳng vào Trần Thốc:
"Làm nghề chữa bệnh cứu người, muốn trừ bệnh thì phải nhổ từ cái gốc sinh ra uế khí. Trị mối nghi ngờ trong lòng người cũng vậy, phải triệt tiêu mảnh đất màu mỡ của sự mập mờ, giấu giếm. Nỗi lo âu của bác Thốc và mọi người bắt nguồn từ việc một người duy nhất nắm trọn từ khâu mở cửa kho, cân đong lương thực, cho đến kiểm tra chất lượng và quyết định cấp phát. Khi mọi việc nằm trọn trong tay một người, người ngoài tự khắc sinh lòng nghi kỵ. Vậy thì giải pháp rất giản đơn: từ giờ phút này, không để một người đơn độc làm những việc đó nữa."
Bùi Hạ khẽ mỉm cười, ánh mắt nàng sáng lên vẻ tán đồng:
"Đúng như lời Đỗ cô nương vừa nói. Chúng ta không truất quyền của chị Sương, bởi không ai có đủ năng lực và sự tỉ mỉ để thay thế chị ấy; nhưng chúng ta cũng tuyệt đối không để tài nguyên sống còn của tập thể phụ thuộc vào sự phán xét riêng lẻ của bất kỳ ai. Ngay tại chính điện này, trước bệ đá thanh hoa và bàn trận Bắc Đẩu, tôi đề xuất thiết lập một cơ chế giám sát ba bên hoàn toàn minh bạch cho kho lương Vọng Đăng."
Nàng đứng dậy, dùng đầu ngón tay trái nhúng vào chén nước trà còn ấm, vẽ ba vòng tròn giao nhau rõ nét lên mặt gỗ mộc:
"Vòng tròn thứ nhất: Chị Phạm Sương tiếp tục giữ chìa khóa xuất nhập kho thóc. Chị chịu trách nhiệm chính về việc cân đong, tính toán tỷ lệ hao hụt thực tế qua từng ngày ẩm ướt, điều phối định mức lương thực cho từng bữa ăn theo nhân khẩu, và đứng ra thương thảo các cuộc giao dịch đổi công lấy nông sản, muối mắm với bên ngoài. Đây là nghiệp vụ và công sức mà không ai có thể làm thay."
Phạm Sương run rẩy ngẩng đầu lên, trong khóe mắt trũng sâu ánh lên sự ngỡ ngàng cùng niềm xúc động nghẹn ngào khó tả.
"Vòng tròn thứ hai," ngón tay Bùi Hạ dời sang vòng tròn bên phải, ánh mắt nàng hướng về phía Đỗ Nghi. "Đỗ cô nương là y giả, nắm giữ quyền kiểm định phẩm chất và vệ sinh lương thực. Bất kỳ bao gạo, thúng kê nào nhập vào kho hay xuất ra nấu cháo cho ba mươi hai con người đều phải qua tay Đỗ Nghi kiểm tra nghiêm ngặt: xem hạt thóc ngấm nước mưa hay ngấm mạt sa khoáng độc, có phát sinh mầm nấm thanh hủ hay không, than củi dùng lọc nước có đạt chuẩn hay không. Nếu Đỗ Nghi kết luận bao lương thực đó nhiễm độc hay biến chất không thể ăn, thì dù là Chưởng môn, thợ cả hay bất kỳ ai cũng tuyệt đối không được phép mở lời đòi giữ lại."
Đỗ Nghi khẽ nghiêng đầu, giọng nói bình thản nhưng chắc nịch: "Ta nhận việc này. Kể từ trưa nay, ta sẽ kiểm tra độc tính và độ ẩm ngũ cốc mỗi ngày hai lần, vào đầu giờ Thìn và cuối giờ Thân."
"Vòng tròn thứ ba," ngón tay Bùi Hạ dừng lại ở vòng tròn dưới cùng, nhìn về phía lão thợ đá già. "Bác Nguyễn Mộc sẽ là người ghi chép sổ sách kế toán hoàn toàn độc lập. Một cuốn sổ kho riêng biệt, ghi rõ từng thúng ngô, từng bát kê nhập vào từ nguồn nào, xuất ra bao nhiêu lạng, cấp cho ai dùng, lý do xuất kho là gì. Mỗi một lần mở then cửa kho để bốc dỡ hay cấp phát lương thực, bắt buộc phải có mặt đầy đủ cả ba người: chị Sương mở khóa, Đỗ Nghi kiểm định độc chất, và bác Mộc hạ bút chấm mực vào sổ. Thiếu vắng bất kỳ một người nào trong ba người, cánh cửa kho lương tuyệt đối không được hé mở."
Nguyễn Mộc vỗ mạnh bàn tay lên cuốn sổ bìa bọc giấy bồi dày cộp trong lòng, chòm râu bạc rung rinh, cất giọng sang sảng đầy uy nghi:
"Được lắm! Lão già này cả một đời cầm búa đục chữ trên văn bia đá xanh, quen cái tính bẻ gãy không chịu cong, một nét sổ một dấu chấm cũng chưa từng làm gian dối! Cuốn sổ kho này lão sẽ lập thành hai bản giống hệt nhau như đúc: một bản cất trong hòm khóa tại kho, còn một bản treo công khai ngay trên vách tường đá của chính điện này. Bất kỳ ai, dù biết chữ hay không biết chữ, lúc rảnh rỗi đều có thể bước lại gần, nhờ người đọc lại từng dòng từng chữ để kiểm tra, đối chiếu hàng ngày!"
Lão thợ đá dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc bén như mũi ve đục đá quét qua một lượt đám phu chèo đò và dân chài Bến Bạch Sa, giọng lão đanh lại bằng sự từng trải của một người đã nếm đủ mùi quan trường phong kiến:
"Các ngươi hãy mở to mắt ra mà nghe cho rõ lời lão: trong cái thời tao loạn này, trước công đường huyện nha hay trước lưỡi đao của Trấn Linh Ty, nước mắt và lời van xin của kẻ áo rách không đáng giá bằng nửa hạt trấu lép! Nhưng một cuốn sổ sách kế toán minh bạch, ghi chép rành rọt từng ngày từng giờ, có đủ chữ ký và dấu điểm chỉ độc lập của ba bên, sẽ là tấm khiên vững chắc nhất để bảo vệ mạng sống của chúng ta! Nếu mai này Tống Khải hay bất kỳ tên chủ nợ nào dám dẫn sai nha lên núi vu khống rằng Vọng Đăng dùng lương thực công để cấn trừ nợ riêng, lão già này sẽ đích thân cầm cuốn sổ này, ném thẳng vào mặt bọn chúng giữa thanh thiên bạch nhật!"
Lời phân tích khúc chiết, chặt chẽ và thấu tình đạt lý như những khớp mộng ngàm gỗ táu của Lâm Tự khiến toàn bộ gian chính điện chìm vào sự tĩnh lặng tuyệt đối. Mọi nỗi hồ nghi, những toan tính hẹp hòi và sự bất an dồn nén bấy lâu nay bỗng chốc tan biến sạch trơn trước một quy trình kiểm soát rành mạch, công bằng đến từng chi tiết nhỏ nhất.
Trần Thốc từ từ hạ cây gậy tre xuống sàn đá, đôi vai gầy guộc chùng xuống như vừa trút bỏ được tảng đá tảng ngàn cân đè nặng trên ngực. Ông đưa mắt nhìn quanh những người bạn chài của mình, thấy ai nấy đều khẽ gật đầu, ánh mắt lộ rõ vẻ nhẹ nhõm và khâm phục. Ông lão thở hắt ra một hơi dài, giọng nghẹn lại vì hối hận:
"Bùi cô nương... phân xử thấu đáo, trọn tình trọn nghĩa đến mức này, lão Thốc này nếu còn nhiều lời ngang ngược thì quả thực không bằng loài súc sinh ngoài bãi sông. Tôi xin thuận theo! Cả đám vạn đò chúng tôi xin tuân theo sự cắt đặt của Chưởng môn và ban giám sát ba bên!"
"Chúng tôi cũng thuận theo!"
"Làm theo quy củ ba bên là yên cái bụng nhất!"
Từng tiếng hưởng ứng vang lên, ban đầu còn ngập ngừng, sau rộ lên đồng thanh khắp gian điện.
Cô bé Lâm An từ nãy giờ đứng nép sau lưng cha liền nhanh nhẹn chạy vòng quanh chiếc bàn dài, cẩn thận đặt vào lòng bàn tay của mỗi người một viên sỏi trắng tròn trịa nhặt từ lòng suối cạn. Khi ba mươi hai viên sỏi trắng cùng rơi lách cách vào chiếc bát sành đặt giữa mặt bàn đá thanh hoa, không một viên sỏi đen nào xuất hiện. Điều lệ Vọng Đăng một lần nữa khẳng định sức mạnh bền bỉ của nó: dập tắt rạn nứt bằng sự công khai, dùng lá phiếu bình đẳng để bảo vệ nhân phẩm và sự sống của từng con người cùng khổ, mà không đẩy bất kỳ ai vào bước đường cùng.
Giữa những tiếng thở phào nhẹ nhõm của mọi người, Phạm Sương không thể kìm nén được nữa. Bà quỳ sụp xuống bên mép bàn gỗ mộc, hai bàn tay thô ráp bưng chặt lấy khuôn mặt gầy guộc, những giọt nước mắt nóng hổi tuôn trào qua kẽ ngón tay nứt nẻ, rơi ướt đẫm vạt áo nâu chắp vá chằng chịt.
Đó không phải là những giọt nước mắt nhục nhã, bế tắc như lúc đứng trước lời đe nẹt cay nghiệt của Tống Khải ngoài sân mưa, mà là những giọt nước mắt vỡ òa vì được thấu hiểu, chở che và tin cậy tuyệt đối giữa một tập thể cùng cảnh ngộ.
"Tôi... tôi đội ơn Chưởng môn, đội ơn các bác, các chú..." Phạm Sương nghẹn ngào, từng lời thốt ra đứt quãng trong những tiếng nấc xé lòng. Bà gạt nước mắt, ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên, giơ ba ngón tay hướng về phía bệ đá thanh hoa: "Trời cao đất dày chứng giám, anh linh tổ tiên soi xét, tôi xin đem toàn bộ tiền công dệt vải, công đan lát nong nia và từng phần công lao động đổi ngoài của tôi từ nay về sau gom góp từng đồng để tự mình trả dứt điểm món nợ sáu mươi tư lượng bạc cho hiệu Vĩnh Mậu! Tôi thề trước tính mạng của ba mươi hai người ở đạo quán này: nếu tôi tơ hào dù chỉ nửa hạt kê, một cọng rau của kho lương chung để lo việc riêng tư, xin cho trời tru đất diệt, sét đánh tan xác không còn mảnh xương tàn!"
Bùi Hạ bước tới, dùng bàn tay trái nhẹ nhàng đỡ lấy bờ vai gầy guộc của người đàn bà góa, khẽ kéo bà đứng dậy. Đỗ Nghi cũng bước qua, đặt vào tay Phạm Sương một chiếc khăn vải thô sạch sẽ, giọng nữ y giả tuy vẫn giữ vẻ lạnh lùng nghiêm cẩn nhưng ánh mắt đã dịu lại muôn phần:
"Lau mặt đi. Khóc nhiều chỉ tổ hao tổn can khí, hại mắt. Kho ngũ cốc ẩm ngoài kia còn đang đợi bà ra sàng sảy, tính toán khẩu phần ăn trưa cho mọi người đấy."
Trịnh thị từ phía sau cũng rụt rè bước lại gần, ngập ngừng đưa tay nắm lấy vạt áo Phạm Sương, ái ngại cất tiếng: "Chị Sương ơi... ban nãy tôi hồ đồ, bụng dạ hẹp hòi nói năng cạn nghĩ... Chị đừng để bụng bà già này nhé."
Phạm Sương lắc đầu lia lịa, vội vã lau khô dòng lệ. Trên gương mặt hằn sâu những nếp nhăn cơ cực bỗng bừng lên một sức sống kiên cường, dẻo dai như loài cỏ tranh cắm sâu rễ vào khe đá Đoạn Phong sau bão lớn.
***
Mưa phùn ngoài trời bắt đầu ngớt hạt, chỉ còn lại những giọt sương đọng trên cành cây rơi lộp độp xuống mái ngói rêu phong. Gió lạnh tuy vẫn rít từng cơn qua thung lũng nhưng không khí đã bớt đi phần ẩm ướt, hanh hao mở ra một buổi trưa tạnh ráo hiếm hoi giữa mùa dông bão.
Ngay sau buổi họp giải tỏa mọi mối nghi ngại, Ban kiểm kho ba bên lập tức bắt tay vào công việc kiểm kê toàn diện gian chái tây.
Hai cánh then gỗ đôi mở rộng toang, đón luồng gió ráo từ sườn núi ùa vào, cuốn bớt mùi ẩm mốc tích tụ qua nhiều ngày đóng kín. Nguyễn Mộc kê một chiếc bàn nhỏ ngay sát cửa ra vào nơi có ánh sáng tốt nhất, cẩn thận mài thỏi mực đen trên nghiên đá nhỏ, trải phẳng phiu tập giấy bồi dày cộp. Đỗ Nghi mang theo que tre vót nhọn và một chiếc khay đồng nhỏ, tỉ mỉ lật từng lớp bao tải gai, chọc sâu que tre vào giữa lõi ngũ cốc để kiểm tra mùi vị, sắc hạt và độ ẩm. Phạm Sương thoăn thoắt móc chiếc cân đồng lớn vào quai bao tải, cùng hai người thợ đò nâng bổng lên, miệng đọc to từng con số rành rọt:
"Bao thứ nhất, kê vàng khô ráo, ba mươi hai cân sáu lạng. Trừ bì vỏ bao hai lạng, còn ba mươi hai cân tư!"
Nguyễn Mộc chấm ngọn bút lông vào nghiên mực, nắn nót hạ bút: "Nguyễn Mộc đã vào sổ: ba mươi hai cân tư kê vàng loại tốt, phẩm chất đạt chuẩn."
"Bao thứ hai, gạo trắng do Tống Mai giao đổi công hôm trước, hai mươi tám cân tám lạng..."
Lâm An được cha giao cho một cây chổi tre nhỏ quét dọn rác rưởi, mạt trấu vụn và bụi đất bám quanh các góc phòng. Cô bé mười một tuổi chăm chỉ khom lưng quét từng kẽ đá, đôi mắt đen láy lấp lánh niềm vui khi thấy bầu không khí ấm áp, chan hòa đã thực sự trở lại với đạo quán. Thỉnh thoảng, cô bé lại đưa tay sờ nhẹ vào vạt áo trước ngực—nơi mảnh thẻ bài bằng gỗ liễu gãy nát nhặt được ở Bến Bạch Sa vẫn nằm im lìm, như một lời nhắc nhở thầm lặng về những biến cố khôn lường ngoài chân núi.
Đang lui cui quét dọn ở góc trong cùng của gian kho—nơi vách đá giáp liền với sườn đông từng bị nứt toác trong trận bão kinh hoàng mấy hôm trước—chiếc chổi tre của Lâm An bỗng khựng lại.
"Cha ơi..." Cô bé cất tiếng gọi khẽ, âm điệu đầy vẻ ngập ngừng và hoài nghi.
Lâm Tự đang cùng mấy người thợ đò khiêng một sọt muối hạt sấy khô đặt lên kệ, nghe tiếng con gái gọi liền đặt sọt xuống, quệt mồ hôi trên trán bước lại: "Sao thế con gái? Quét trúng mảnh sành à?"
"Chỗ này kỳ lắm cha," Lâm An chỉ đầu chổi tre vào khe hở hẹp giữa tấm ván sàn gỗ táu và chân vách đá ẩm ướt. "Con quét thấy có rất nhiều bụi gỗ mịn như cám rải ra từ kẽ nứt này. Với lại... ván sàn ở đây hình như bị phồng lên, con dẫm chân lên thấy xốp xốp, lún xuống như dẫm vào xơ mướp ấy."
Bùi Hạ và Phạm Sương đang đứng kiểm tra gần đó nghe thấy thế cũng lập tức buông việc, bước nhanh lại góc kho.
Lâm Tự quỳ một chân xuống sàn đá, rút chiếc đục bén ngót dắt bên hông ra. Anh dùng mũi thép cạy nhẹ vào mép tấm ván sàn giáp chân tường. Tấm ván gỗ táu dày dặn vốn nổi tiếng là cứng như sắt đá, vậy mà mũi đục vừa ấn nhẹ đã lún sâu vào trong thớ gỗ một cách dễ dàng, phát ra tiếng *xộp* khô khốc, rỗng tuếch.
Lâm Tự bặm môi bẩy mạnh một cái. Một mảng vỏ gỗ mỏng tanh mục nát bung ra, để lộ bên dưới là một cảnh tượng khiến tất cả mọi người đều phải lạnh sống lưng: vô số những đường hào ngoằn ngoèo màu bùn xám đục đan xen chằng chịt như mạng nhện, và hàng ngàn con mối đất màu trắng sữa, nhỏ li ti đang bò lúc nhúc, ngọ nguậy bên trong lõi gỗ đã bị khoét rỗng hoàn toàn!
"Mối đất!" Phạm Sương thốt lên một tiếng kinh hãi, mặt cắt không còn hạt máu. "Trời đất ơi, mối từ lòng đất đục ngầm lên tự bao giờ thế này!"
Bùi Hạ lập tức ngồi xổm xuống, nàng đưa bàn tay trái áp sát vào mặt đá lộ ra bên dưới tấm ván mục. Linh thức mỏng manh của một tu sĩ Luyện Khí tầng ba khẽ vận chuyển, men theo từng đường vân đá nứt nẻ. Trong nháy mắt, nàng cảm nhận được một luồng khí ẩm ướt lạnh lẽo và dòng nước ngầm rỉ ra từ vết nứt sạt lở phía sườn đông đang âm thầm len lỏi qua các tầng địa chất nứt toác, tụ lại thành một vũng bùn ngầm ngay dưới chân móng gian kho.
"Không phải loài mối gỗ thông thường," Bùi Hạ nghiêm giọng nói, ngón tay nàng miết lấy một nhúm bùn xám nơi đường mối bò qua để kiểm tra. "Dòng nước ngầm rỉ ra từ vết sạt lở sườn đông mang theo uế khí và cặn khoáng thực vật mục rữa, tạo thành một ổ ẩm cực lớn ngay dưới chân ván sàn này. Loài mối đất ngửi thấy mùi ẩm mục đã theo khe nứt ăn thông lên. Nhìn quy mô đường mối này, chúng đã ăn rỗng ruột ba tấm ván lót sàn rồi, chỉ cần chậm trễ thêm hai ngày nữa thôi, mối sẽ đục thủng đáy bao tải lương thực!"
Lời cảnh báo của Bùi Hạ khiến ai nấy đều thót tim. Ngay phía trên ba tấm ván sàn đang bị mối gặm rỗng ấy chính là sáu bao lương thảo dự trữ quý giá nhất của cả đạo quán: hai bao gạo trắng vừa đổi được từ Tống Mai, hai bao kê vàng khô ráo và hai bao ngô giống hạt tròn.
Đỗ Nghi vội vã bước tới cúi xuống kiểm tra đáy bao. Quả nhiên, đáy của hai bao ngô giống đã bắt đầu chuyển sang màu xám thẫm vì hơi ẩm bốc lên từ ổ mối, lớp vải gai bên ngoài đã có dấu vết bị gặm nham nhở từng mảng nhỏ.
Nếu không nhờ ánh mắt tinh tường và sự cẩn thận tỉ mỉ của bé Lâm An khi quét dọn, chỉ cần để qua thêm một đợt mưa ẩm kéo dài, toàn bộ sáu bao ngũ cốc sống mạng này sẽ bị mối đất đục thủng đáy, hạt ngấm nước ẩm mốc meo và biến chất hoàn toàn thành chất độc thanh hủ chết người.
Đỗ Nghi dùng que tre chọc sâu vào đáy bao ngô, rút ra một nắm hạt ngửi thử rồi thở phào nhẹ nhõm: "May phúc tổ ba đời, ngũ cốc bên trong bao chưa bị ngấm nước sâu, mầm hạt vẫn còn khô ráo nguyên vẹn! Mau lên, phải chuyển toàn bộ số bao này lên chỗ cao ráo ngay lập tức!"
Lâm Tự đứng phắt dậy, khí chất của một người thợ cả dạn dày sương gió lập tức bộc phát đầy quyết đoán:
"Lê Trọng! Trần Đại! Hai anh chạy ngay ra ngoài sân dọn mấy súc gỗ nghiến chẻ đôi hôm trước vào đây! Chúng ta phải dùng đá kê cao chân móng, gác đà gỗ cách mặt sàn ít nhất một gang tay để thông gió!"
"Để tôi đi lấy tro bếp với vôi sống!" Phạm Sương nhanh nhẹn lau hai bàn tay vào tạp dề, thoăn thoắt bước ra cửa. "Tro củi than sạch trộn với vôi bột rải một lớp dày xuống nền đá, loài mối đất này sợ cay sợ nóng, tuyệt đối không bao giờ dám bén mảng bò qua!"
Không cần ai phải phân công thêm một lời, toàn bộ những người có mặt lập tức lao vào công việc với một sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý đến kỳ lạ. Đám thợ chèo đò lực lưỡng cẩn thận khiêng từng bao ngũ cốc nặng trịch chuyển sang khu vực cao ráo giữa gian kho. Lâm Tự dùng búa và đục khéo léo bóc tách toàn bộ những tấm ván sàn đã bị mối ăn rỗng ruột, gom sạch tổ mối non và mạt cưa mục đổ vào chiếc xô sắt đem ra hố than nung ngoài sân để thiêu hủy.
Phạm Sương và Trịnh thị bưng từng thau tro bếp nóng hổi trộn lẫn vôi bột rải đều lên khắp các kẽ nứt chân tường, tạo thành một vành đai trắng xóa, ngăn cách kiên cố vừa chống ẩm vừa xua đuổi triệt để côn trùng gây hại. Những thanh đà gỗ nghiến chắc nịch được kê ngay ngắn trên các khối đá xanh phẳng phiu, tạo thành một giàn giá đỡ thông thoáng, cách biệt hoàn toàn với hơi ẩm lạnh lẽo của nền đất.
Đến khi bao ngô giống cuối cùng được chuyển an tọa vững chãi trên giàn gỗ nghiến cao ráo, thơm nồng mùi tro bếp và gỗ mới, vầng thái dương giữa trưa cũng vừa vặn xé toạc màn mây mù u ám, rọi những tia nắng vàng ấm áp đầu tiên qua ô cửa sổ kho lương. Ánh nắng rọi lên những bao tải gai ngay ngắn, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo, ẩm mốc của những ngày dông bão.
Nguyễn Mộc cẩn thận chấm ngọn bút lông vào nghiên mực, nắn nót ghi dòng chữ cuối cùng vào trang sổ kho:
*“Ngày mười ba tháng bảy, kiểm kê toàn diện. Lương thực an toàn tuyệt đối. Đã kê cao chống ẩm và trừ mối ngầm.”*
Bên dưới dòng chữ mực đen nhánh ấy, ba con dấu và vết điểm chỉ đỏ au của Phạm Sương, Đỗ Nghi và Nguyễn Mộc nằm thẳng hàng ngay ngắn, minh bạch và vững chãi như một lời cam kết bằng sắt đá trước toàn thể ba mươi hai con người.
Lâm Tự đưa bàn tay thô ráp xoa nhẹ lên mái tóc bù xù của con gái, ánh mắt người cha ánh lên niềm tự hào khôn xiết: "Hôm nay con gái cha giỏi lắm. Một cái chổi tre nhỏ của con đã cứu sống cả kho lương của ba mươi hai mạng người đấy."
Lâm An ngượng ngùng nép sát vào lòng cha, nụ cười rạng rỡ nở bừng trên khuôn mặt ngây thơ lấm lem bụi tro bếp.
Bùi Hạ đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ, nhìn nụ cười của hai cha con, nhìn Phạm Sương đang tỉ mẩn dùng dây gai buộc lại từng góc bao tải với vẻ mặt thanh thản, an lòng. Một luồng hơi ấm dịu dàng len lỏi vào từng ngóc ngách tâm can nàng, xoa dịu đi nỗi đau buốt âm ỉ nơi cổ tay phải bị thương tổn kinh mạch. Sau cơn giông bão kinh hoàng suýt quét sạch tất cả, sau những toan tính ép nợ tàn nhẫn của phường gian thương và những nghi kỵ, rạn nứt tưởng chừng không thể hàn gắn giữa những kẻ bần cùng, Đạo quán Vọng Đăng không những không sụp đổ, mà trái lại, đang tự tay dựng nên những chiếc rễ móng vững chắc nhất từ sự công bằng, lòng bao dung và trật tự tự giác.
Bất chợt—
*Keng! Keng! Keng!*
Tiếng chuông gió bằng đồng treo dưới mái cổng tam quan phía trước đạo quán đột ngột rung lên từng hồi dồn dập, chát chúa!
Âm thanh không phải do một ngọn gió núi vô tình thổi qua, mà là do sự chấn động dữ dội của một luồng linh áp sắc bén, nặng nề từ ngoài dốc núi tràn tới, khiến những sợi dây đồng treo chuông căng ra như sắp đứt. Luồng linh áp mang theo hàn khí lạnh lẽo thấu xương và mùi hương trầm xa hoa quen thuộc của những tiên môn đại phái, đè nặng lên màn chắn linh khí yếu ớt của hộ sơn trận Bắc Đẩu.
Không khí ấm cúng trong gian kho bỗng chốc đông cứng lại. Nụ cười trên môi Lâm An vụt tắt. Lâm Tự lập tức đưa tay nắm chặt lấy cán đục, bước lên chắn trước mặt con gái. Bùi Hạ khẽ nheo mắt, toàn thân căng lên khi nhận ra dấu vết chân khí quen thuộc đến rợn người.
Tiếng bước chân chậm rãi, ung dung gõ đều đặn trên những bậc tam cấp sứt mẻ ngoài sân trước.
Một người đàn ông thân vận đạo bào màu xanh ngọc bích thêu hoa sen ba cánh bằng chỉ bạc lộng lẫy, đầu đội ngọc quan sáng loáng, tay cầm phất trần cán ngà, sải bước thẳng qua cổng tam quan tiến vào sân chính điện. Ánh mắt y sắc lạnh như dao, quét qua khung cảnh đạo quán nghèo nàn bằng vẻ khinh miệt không hề che giấu, trước khi dừng lại ngay trên gương mặt Bùi Hạ.
Bóng áo bào xanh quen thuộc của Tạ Duy bước thẳng vào sân chính điện, phá tan bầu không khí ấm cúng bằng lời tuyên bố phục chức cho Bùi Hạ.