Tín Hiệu Gửi Từ Sao XaCh.10 / 30
Chapter 10

Con đường không phải phép màu

Linh trải rộng tập bản vẽ cơ khí liên sao lên mặt bàn làm việc ngổn ngang thiết bị của An. Những mép giấy can dày cộm, đã ố vàng vì hơi ẩm mặn mòi của biển cả, bị đè chặt dưới bốn chiếc cữ chặn bằng đồng thau xước xát. Dưới luồng sáng trắng gắt gao từ ngọn đèn chùm treo lơ lửng giữa trần xưởng Triều Trắng, từng con số tính toán tiêu hao năng lượng, từng đường cong biểu diễn phản lực và xung lượng hành trình hiện lên chìm nổi, như một mạng lưới gân guốc giăng kín khoảng không gian phẳng lặng.

Gió mặn luồn qua những khe thông gió hẹp của Nhà Nghe Mưa, mang theo vị rỉ sét nồng đượm và tiếng kim loại cọ xát ken két từ các khớp neo thủy lực đang gồng mình níu giữ các mảng đảo nổi ngoài âu thuyền. Ở tuổi sáu mươi, bàn tay An đã nổi rõ những đường gân xanh xao chằng chịt, lớp da mỏng hơi đồi mồi khẽ rung rinh mỗi khi anh cử động, nhưng ngón tay anh khi miết qua mép giấy can vẫn giữ nguyên sự cẩn trọng, chuẩn xác của một người cả đời sống bằng việc lắng nghe và bóc tách từng vết rạn vi mô của âm thanh.

Trên mặt bàn, bản phác thảo một con tàu xung lực đẩy ion thứ cấp nằm chỏng chơ giữa những cuộn băng từ tính khổ lớn, những thấu kính quang sai và ống nghiệm chân không bám bụi thạch anh. Đó không phải là một ý niệm viển vông vừa nảy ra sau một đêm trằn trọc mất ngủ; đó là tập hồ sơ khả thi mà An đã lặng lẽ gom góp, đối chiếu suốt nửa thập kỷ qua. Anh đã chắt lọc từng thông số về độ dày của lớp vỏ hợp kim titan-boron chịu ứng suất, thiết kế buồng bảo quản sinh học làm lạnh sâu bán phần, và cả những quỹ đạo gia tốc tiệm cận vận tốc tương đối tính hòng luồn lách qua các túi nhiễu loạn hấp dẫn của hệ sao mẹ.

Linh đứng dựa lưng vào mép bàn tiện cơ khí, hai cánh tay khoanh chặt trước ngực. Mái tóc chị đã điểm nhiều sợi bạc, rễ tóc khô xơ vì sương muối và dầu mỡ công nghiệp, nhưng ánh mắt sắc sảo của một kỹ sư kết cấu lão luyện vẫn nhìn xoáy vào từng biểu đồ gia tốc mà An đã tỉ mẩn kẻ bằng mực xanh lưu huỳnh. Chị không cười cợt, không nhếch mép, cũng không thốt ra một tiếng thở dài trịch thượng. Linh hiểu An quá rõ; chính sự thấu hiểu xuyên suốt những năm tháng thanh xuân cùng vật lộn với các cơn bão biển ấy khiến nét mặt chị càng thêm đanh lại. Đó là vẻ nghiêm cẩn lạnh lùng của một người đã dành trọn đời mình để đối diện với bài toán tải trọng, sự mỏi của kim loại và giới hạn không thể lay chuyển của vật liệu học.

"Anh đã tính đến mức tiêu hao phản vật chất cho chu kỳ giảm tốc chưa?" Linh cất tiếng, thanh âm khô ráp phá vỡ tiếng rù rì đơn điệu phát ra từ cuộn dây cảm ứng của chiếc máy khử ẩm góc phòng. "Tôi đã nạp lại toàn bộ mô phỏng của anh vào máy tính tải trọng bến cảng đêm qua, chạy thử ba kịch bản biên với biên độ dung sai hào phóng nhất. Kết quả không thay đổi, An à."

Linh rút cây bút chì kỹ thuật vỏ thép cài trên túi áo bảo hộ, đầu ngòi kim loại gõ nhẹ lên một dãy số nằm thu gọn ở góc phải bản vẽ chính:

"Hành trình một chiều từ Lam Hải tới Vọng Sa bằng phương tiện dưới tốc độ ánh sáng, ngay cả trong điều kiện tối ưu nhất về lực đẩy hành trình liên tục và góc thoát quỹ đạo sao mẹ, sẽ kéo dài ít nhất bốn mươi lăm năm lịch chuẩn. Bốn mươi lăm năm, An. Đó là thời gian đo theo đồng hồ nội tại của con tàu sau khi đã trừ đi độ co giãn thời gian tương đối tính ở dải vận tốc đỉnh."

Chị lật tiếp một trang phụ lục rời, nơi ken đặc những phương trình nhiệt động học phi tuyến tính và các bảng tra cứu mật độ vật chất liên sao. Từng con số do chính tay An viết đều thẳng tắp, ngay ngắn đến mức tuyệt vọng.

"Để đẩy một con tàu có khối lượng cấu trúc tối thiểu—nghĩa là một cái vỏ rỗng chỉ vừa đủ chỗ cho một khoang ngủ đông bán phần, hệ thống tái tạo dưỡng khí bằng tảo khép kín và một lớp vỏ chắn bức xạ mỏng manh nhất—lên tới hai mươi phần trăm vận tốc ánh sáng, lượng nhiên liệu phản ứng đòi hỏi là một con số điên rồ. Chi phí chế tạo, làm giàu nhiên liệu và tiếp vận hậu cần cho một chuyến đi đơn độc như thế tương đương với toàn bộ ngân sách duy tu, bảo dưỡng hệ thống khớp nối giảm chấn và các vòm chắn bão muối của cả thành phố cảng Triều Trắng trong suốt ba mươi năm ròng. Nó sẽ ngốn sạch nguồn kim loại hiếm mà Hội Đồng Lá Chắn đang phải chắt chiu, cân đong từng lạng nhỏ để gia cố chân móng Đài Chân Trời trước các đợt đứt gãy đáy biển sắp tới."

Linh dừng lại một nhịp. Chị hạ cây bút chì xuống mặt bàn, tiến thêm nửa bước và nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm của An. Giọng chị chùng xuống, nhưng từng âm tiết phát ra lại nặng tựa những khối neo bê tông thả xuống lòng vực:

"Và đó mới chỉ là bài toán tĩnh trên giấy mực. Không gian giữa hai hệ sao không phải là một khoảng chân không tuyệt đối sạch sẽ. Ở vận tốc một phần năm tốc độ ánh sáng, một hạt bụi vũ trụ nặng chưa đầy một microgam khi va chạm trực diện vào mũi tàu sẽ giải phóng một động năng tương đương một quả mìn định hướng phát nổ ở cự ly số không. Tấm khiên chắn ablative phía trước sẽ bị bào mòn với tốc độ khủng khiếp mà không có vật liệu nào bù đắp kịp. Tỷ lệ rò rỉ buồng lạnh, đột biến tế bào gốc do bức xạ nền vũ trụ tích lũy và xác suất tử vong sinh học trước khi tàu chạm tới quỹ đạo hãm của Vọng Sa là hơn bảy mươi lăm phần trăm. Anh không phải đang lên kế hoạch cho một cuộc hội ngộ, An. Anh đang cặm cụi vẽ bản thiết kế cho một cỗ quan tài bay."

An im lặng. Anh cúi đầu nhìn những đường cong suy giảm khối lượng nhiên liệu theo hàm mũ đang trải dài trên trang giấy can. Đáy mắt anh phẳng lặng như mặt biển ngoài khơi xa trước khi dông lốc ập đến—không có nét bốc đồng nông nổi của tuổi trẻ, cũng không hề gợn lên một vẻ thất vọng cay đắng nào.

Anh đã biết trước những con số ấy từ rất lâu trước khi Linh chạy mô phỏng. Là một kỹ thuật viên phục chế âm thanh chuyên làm việc với các dải tần số suy giảm qua thời gian và không gian, anh hiểu hơn ai hết sự tàn nhẫn của khoảng cách và sự tiêu tán nghiệt ngã của năng lượng qua môi trường vật chất. Sóng vô tuyến mang thanh âm vượt qua hai mươi sáu năm ánh sáng chỉ cần nguồn năng lượng của một cụm máy phát điện từ đặt trên đỉnh giàn khoan, nhưng để mang một khối cơ thể bằng xương bằng thịt vượt qua vực thẳm đen ngòm ấy, thực tại vật lý đòi hỏi một cái giá mà không một cá nhân nào có quyền tự ý đứng ra gánh vác.

Linh bước tới gần hơn, đặt bàn tay thô ráp vì bụi mài kim loại lên bờ vai hơi chùng xuống của anh:

"Không một chính quyền, không một ủy ban điều hành hay liên minh dân sự nào trên Lam Hải này chấp nhận chi trả cái giá khổng lồ đó chỉ để phục vụ nguyện vọng đoàn tụ của một cá nhân duy nhất. Họ không thể và không có quyền rút ruột nguồn điện duy trì sự sống của hàng vạn cư dân trên các đảo nổi để đóng một con tàu cho một người đi tìm một bóng hình cách xa hai mươi sáu năm ánh sáng. Và với tư cách là bạn của anh—một người từng cùng anh trải qua những năm tháng thanh xuân gian khó nhất—bản thân tôi cũng sẽ là người đầu tiên ký vào lá đơn bác bỏ nếu đề án này được đưa ra bỏ phiếu công khai. Tôi không bao giờ ủng hộ một chuyến đi liều mạng, ngụy trang dưới danh nghĩa tình yêu để trốn chạy thực tại."

An khẽ thở ra, một hơi thở dài và nhẹ nhõm đến bất ngờ, như thể vừa tháo bỏ được một khối kim loại vô hình đè nặng trên lồng ngực suốt bao năm tháng. Anh ngước nhìn Linh. Dưới ánh đèn trần, khóe mắt chị đã hằn sâu những nếp nhăn của gió biển, của những đêm thức trắng bên bản vẽ kết cấu và của tinh thần trách nhiệm với từng mạng người nơi bến cảng.

"Cảm ơn cô, Linh," An nói, giọng anh trầm, đều và bình thản lạ lùng. "Tôi không định nộp đề án này cho ai cả. Tôi chỉ cần một người hiểu rõ kết cấu vật liệu xác nhận lại lần cuối cùng điều mà trực giác tôi đã biết từ lâu. Tôi cần nhìn thấy sự bất khả thi được chứng minh bằng các con số, để tâm trí mình không còn lén lút tìm kiếm những lối thoát huyễn hoặc."

***

Cách Lam Hải hai mươi sáu năm ánh sáng, trên vùng cao nguyên khô cằn của Vọng Sa, mùa đông khắc nghiệt đang siết chặt vòng vây băng giá quanh các vòm kính của Vườn Hạt Cuối Đông. Gió cát lạnh buốt từ phía hẻm núi quất ràn rạt vào những tấm màng lọc áp suất ngoài rìa thung lũng, tạo nên những chuỗi âm thanh ken két, giòn tan như tiếng ai rải sỏi thô lên những tấm tôn kim loại rỉ sét.

Trong phòng thí nghiệm sinh học ngầm nằm sâu dưới tầng đá vôi thứ ba, Kha và Yên đang đứng lặng trước buồng mô phỏng bức xạ liên sao tầm xa. Khối thiết bị hình trụ đồ sộ đúc bằng hợp kim chì và beryllium dày cộp đang phát ra thứ ánh sáng tím lơ ma quái qua khe quan sát bằng thạch anh chịu lực. Bên trong khoang chân không lạnh âm độ tuyệt đối ấy, hàng trăm khay nhỏ bằng gốm sứ đang chứa phôi hạt giống của các loài thực vật chủ lực: ngô tuyết, đậu rễ gai và loài thông đá bản địa—những sinh mệnh thực vật kiên cường nhất của vùng đất này.

Yên, ở tuổi ba mươi, thao tác trên bàn điều khiển quang học với sự chuẩn xác lạnh lùng của một chuyên viên khảo sát thực địa kỳ cựu. Ánh sáng xanh nhạt từ màn hình phản chiếu lên gương mặt cương nghị, góc cạnh của cô, làm nổi bật đôi mắt sâu thẳm, tĩnh tại—một nét tính cách giống hệt Kha trong những ngày ông phải đứng đầu ngọn gió đối diện với giông bão trên hoang mạc.

"Chu kỳ bức xạ tương đương bốn mươi năm hành trình không gian sâu đã hoàn tất, thưa bố," Yên thông báo, thanh âm rành rọt, không vướng bận một chút cảm xúc cá nhân nào. "Nồng độ ion hóa được duy trì nghiêm ngặt ở mức tối thiểu đo được tại vành đai bụi liên sao. Con bắt đầu giai đoạn giải đông thứ cấp và kiểm tra kích hoạt mầm."

Kha mang đôi găng tay cách ly dày, cẩn thận vặn chốt cơ học và kéo khay mẫu số 12 ra khỏi khoang khóa khí. Dưới thấu kính hiển vi điện tử quét độ phân giải cao, cấu trúc tế bào mầm của giống đậu rễ gai—loài cây bền bỉ nhất từng giúp các thế hệ cư dân Vọng Sa sống sót qua những mùa hạn hán kinh hoàng kéo dài hàng thập kỷ—hiện lên trên màn hình hiển thị lớn.

Những chuỗi liên kết DNA không còn giữ được trật tự nguyên vẹn vốn có. Thay vì cấu trúc xoắn kép đều đặn, nhịp nhàng như những bậc thang sinh mệnh, màn hình phơi bày những đoạn đứt gãy nham nhở, tưa ra như sợi vải mục. Các điểm liên kết chéo bị bẻ gãy hoàn toàn bởi các dòng hạt thứ cấp giàu năng lượng đã bắn xuyên qua lớp vỏ bảo vệ mô phỏng của vỏ tàu.

"Tỷ lệ đột biến gây chết phôi vượt quá tám mươi hai phần trăm," Yên đọc to các thông số phân tích sinh trắc học đang nhảy dồn dập trên thanh trạng thái. "Mười tám phần trăm còn lại chỉ phát triển được các cụm mô dị dạng, mất hoàn toàn khả năng tổng hợp diệp lục và phân chia tế bào rễ. Tỷ lệ sống sót thực tế của ngân hàng hạt giống sau một hành trình bốn mươi lăm năm dưới tốc độ ánh sáng là bằng không. Không có lớp vỏ kim loại thông thường nào của kỹ nghệ tàu vũ trụ hiện nay có thể bảo vệ được phôi mầm sinh học trước mưa hạt cosmic mà không làm khối lượng tàu tăng vọt lên đến mức các động cơ đẩy không thể tải nổi."

Kha chậm rãi đặt mẫu vật xuống đĩa petri bằng thủy tinh borosilicate. Anh tháo găng tay cách ly, để lộ những ngón tay khô ráp, chai sần vì nhiều thập kỷ bới đất, ươm mầm và chọn lọc từng hạt giống.

Sau phiên điều trần chấn động vạch trần ảo tưởng của kế hoạch TĐ-44 do phe chủ chiến trong Liên Hội Mở Cửa khởi xướng, một bộ phận cư dân hoang mang vẫn nuôi dưỡng hy vọng ngấm ngầm về việc đóng những "con tàu hạt giống"—những cỗ máy viễn chinh khổng lồ chở theo toàn bộ mẫu sinh thái và những người di tản sang Lam Hải bằng động cơ phản lực truyền thống. Họ bám víu lấy ảo ảnh về một cuộc di cư chậm rãi, an toàn qua không gian sâu để thoát khỏi hành tinh đang cạn kiệt tài nguyên này.

Nhưng những phôi hạt đen đúa, vỡ vụn dưới ánh sáng điện tử vừa dập tắt tàn dư cuối cùng của giấc mộng đào thoát đó.

"Ngay cả mầm hạt còn không sống sót nổi, huống chi là cơ thể con người," Kha khẽ nói, ánh mắt anh dừng lại trên những đốm tế bào đã hóa thành một đám tàn tích vô hồn. "Bốn mươi lăm năm bị giam hãm trong một không gian chật hẹp, chịu đựng sự suy thoái xương, thoái hóa tế bào thần kinh và nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ tích lũy qua từng ngày. Đến khi con tàu ấy chạm tới mép khí quyển Lam Hải, bên trong lớp vỏ kim loại rỉ sét sẽ chỉ còn lại những xác khô và tro bụi."

Yên đưa tay ngắt nguồn điện buồng chiếu xạ. Tiếng vo ve cao tần lịm dần, căn phòng ngầm rơi trở lại vào thứ ánh sáng vàng ấm quen thuộc của hệ thống đèn huỳnh quang duy trì sự sống. Cô quay sang nhìn cha mình, ánh mắt chứa đựng sự thấu hiểu sâu sắc của một người trẻ đã sớm nếm trải thực tế khắc nghiệt:

"Và Lam Hải cũng không có nghĩa vụ phải tiếp nhận một con tàu như thế, phải không bố? Không một hành tinh nào có thể đột ngột mở cửa đón nhận hàng ngàn người tị nạn khi bản thân họ cũng đang phải vật lộn từng ngày để duy trì lá chắn từ trường và phân phối năng lượng cho các đảo nổi. Không có hậu cần tiếp quản, không có sự chấp thuận ngoại giao liên hành tinh, việc đóng một con tàu viễn chinh chỉ là hành vi ném sinh mạng vào bóng tối để trốn tránh trách nhiệm với mảnh đất này."

Kha gật đầu. Anh đưa bàn tay thô ráp chạm nhẹ vào vai con gái, cảm nhận sự vững chãi, kiên định của một thế hệ mới—một thế hệ không còn bị ru ngủ bởi những câu chuyện cổ tích về những cuộc vượt thoát thần kỳ qua ngàn sao.

"Đúng vậy, Yên. Giấc mơ đóng tàu sang Lam Hải là một sự viển vông ích kỷ. Nó đòi hỏi tài nguyên nước, kim loại và công sức mà Vọng Sa không thể và không bao giờ được phép phung phí. Chúng ta không thể cứu vãn sự sống ở đây bằng cách ảo tưởng về một vùng đất hứa ở bên kia bầu trời."

***

Tại Lam Hải, khi bóng tối mặn chát của màn đêm hoàn toàn phủ kín bến cảng Triều Trắng, An ngồi lại một mình trong gian phòng rộng của Nhà Nghe Mưa. Tiếng quạt thông gió vẫn rít qua khe cửa, hòa cùng nhịp sóng đập vào bờ kè đá hộc bên dưới móng xưởng.

Anh cẩn thận nâng từng trang của bản vẽ cơ khí liên sao, vuốt phẳng các nếp gấp rồi cuộn tròn chúng lại. Anh dùng một sợi dây gai biển thô ráp buộc chặt ống giấy, thắt một nút đôi dứt khoát, rồi bước tới góc phòng, mở cánh cửa sắt nặng nề của chiếc tủ tài liệu lưu trữ. Anh đặt cuộn giấy vào góc sâu nhất của ngăn đáy—nơi chứa những dự án bất khả thi, những bản thiết kế sai lầm và những ước mơ dang dở của tiền nhân từng bị hiện thực nghiền nát.

Kỳ lạ thay, An không hề cảm thấy cay đắng hay hụt hẫng. Ngược lại, một cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm lan tỏa trong lồng ngực anh. Suốt nhiều năm ròng, ý nghĩ về một chuyến đi dưới tốc độ ánh sáng, về khả năng dấn thân vào một cuộc hành trình bốn mươi lăm năm cô độc để được một lần chạm vào Kha bằng xương bằng thịt, từng là một ngọn lửa ngầm âm ỉ thiêu đốt tâm trí anh. Nó cám dỗ anh bằng vẻ lãng mạn bi tráng của sự hy sinh cá nhân. Nhưng đêm nay, những con số lạnh lùng của Linh, sức nặng của bài toán ngân sách bảo trì bến cảng, và trách nhiệm sống còn với hàng ngàn cư dân đang bám víu vào sự an toàn của các đảo nổi đã kéo anh trở về mặt đất một cách dứt khoát.

Tình cảm mà anh dành cho Kha không thể và không được phép trở thành một gánh nặng ký sinh lên sự sinh tồn của cộng đồng. Nó không thể là cái cớ vị kỷ để đòi hỏi xã hội phải đánh đổi mồ hôi, tài nguyên và sự an nguy công cộng cho một cuộc đoàn tụ cá nhân viển vông.

Cùng lúc đó, tại Vọng Sa, Kha bước lên đài quan sát nằm trên điểm cao nhất của Vườn Hạt Cuối Đông. Cánh cửa thông hơi mở ra, gió đêm lạnh buốt mang theo cát mịn thổi bay làn tóc hoa râm của anh. Trước mắt anh, những luống đất cằn cỗi đang ngủ yên dưới vòm kính cách nhiệt, chở che cho hàng triệu mầm sống nhỏ bé đang kiên nhẫn chờ đợi mùa xuân gieo hạt.

Kha ngước nhìn lên vòm trời đen thẳm, trong vắt như một khối thạch anh đen. Giữa muôn vàn tinh tú lạnh lẽo, một chấm sáng mờ nhạt tượng trưng cho hệ sao của Lam Hải đang lấp lánh tĩnh lặng.

Kha hiểu rằng trong suốt cuộc đời hữu hạn này, anh sẽ không bao giờ đặt chân lên hành tinh đại dương xa xôi ấy. Anh sẽ không bao giờ bước trên những bến cảng nổi bồng bềnh, không bao giờ ngửi thấy mùi muối mặn nồng nàn của Triều Trắng, và cũng sẽ không bao giờ được nắm lấy bàn tay An trong cõi đời thực này.

Cả hai người, ở hai bờ của vực thẳm hai mươi sáu năm ánh sáng, độc lập đưa ra cùng một kết luận không hẹn mà gặp.

Họ từ chối huyễn hoặc bản thân bằng những lối thoát kỳ diệu không có thật. Họ từ chối những giấc mơ đóng tàu vượt biển sao đầy chết chóc và lãng phí. Họ gạt bỏ ảo ảnh để dồn toàn bộ tâm trí, sức lực và sự tỉnh táo còn lại vào một thực tế duy nhất, nghiệt ngã và nguy hiểm hơn gấp bội: sự thật về hai đài liên sao và bí mật thảm họa Tịch Quang đang nằm im dưới chân móng của hai thế giới.

Bởi nếu không có con đường nào bằng sắt thép và động cơ phản lực có thể nối liền hai hành tinh mà không tàn phá sự sống, thì thiết bị kích hoạt cổ xưa chôn sâu dưới lòng đất—thứ đang phát ra những nhịp xung 14–16 Hz đầy ám ảnh kia—chính là cánh cửa duy nhất từng tồn tại. Và việc tìm hiểu xem cánh cửa đó là lối đi hay là cái bẫy diệt vong không còn là chuyện của riêng hai người, mà là vận mệnh của cả hai nền văn minh.

Tại xưởng Nhà Nghe Mưa, Linh thu dọn nốt những dụng cụ đo đạc cuối cùng vào hộp đồ nghề bằng thép. Chị nhìn An đang lặng lẽ lau chùi đầu đọc băng từ, bóng lưng anh đổ dài trên nền sàn gỗ ẩm ướt dưới ánh đèn vàng vọt.

Linh đặt tập tài liệu xuống bàn và nói rằng vũ trụ không hào phóng với những kẻ muốn đi tắt qua khoảng cách.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories