Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.5 / 45
Chapter 5

Thức trắng đêm sưởi lửa cứu mầm xanh

Không khí trong chái nhà buốt giá như hầm băng, hơi thở phả ra làn khói mờ trắng đục.

Tiểu Mãn bật dậy khỏi tấm phản gỗ ken dày chiếu cói rách. Cái lạnh âm u không rít gào thành từng cơn giật thốc như gió bấc giữa ban ngày, mà nó tĩnh lặng đến rợn ngườicái lạnh lầm lì, thấm thía lách qua từng kẽ hở của vách nứa, xuyên qua lớp vải chàm sờn bạc, đâm buốt nhức từng đốt ngón tay ngón chân dù cô vẫn mang nguyên đôi bao vải thô độn bông vụn do chính tay mẹ khâu dạo đầu đông. Trên mái ngói âm dương phủ đầy rêu phong phía trên đầu, những tiếng lách tách rất khẽ, vụn vặt và khô khốc thỉnh thoảng lại vọng xuống. Đó tuyệt đối không phải tiếng của những hạt mưa đêm rả rích, mà chính là thanh âm của hơi ẩm trong không khí bị cái rét cực điểm ngưng kết lại, vừa chạm vào mặt ngói nung liền lập tức đông cứng thành những hạt băng nhỏ li ti.

Đó là dấu hiệu của sương muối. Loại thiên tai tàn khốc, âm thầm và chết chóc nhất đối với những người cả đời cắm mặt xuống đất kiếm miếng ăn.

Chẳng dám chần chừ dù chỉ nửa khắc, Tiểu Mãn quờ tay về phía góc cột đầu giường, với lấy chiếc áo tơi chằm bằng lá cọ rách tươm đã khô cứng vì sương gió. Cô khoác vội manh áo lên vai, kéo dải thừng bện bằng vỏ bao tải quanh eo buộc siết lại thật chặt để ngăn gió lùa. Bàn tay đã cóng buốt lần vào bọc cói nhỏ nơi góc vách, chụp lấy bao bùi nhùi nứa tơi xốp cùng hòn đá lửa và chiếc liềm con nhét sâu vào túi trong của vạt áo, rồi dứt khoát đẩy chốt then cài cửa gian giữa.

"Két... cọt kẹt..."

Cánh cửa gỗ mộc cong vênh phát ra một chuỗi âm thanh khô khốc, rạch toạc sự tĩnh mịch ngột ngạt của màn đêm. Gió ngoài trời gần như đã lặng hẳn, mặt đất im lìm như tờ, nhưng chính cái tĩnh mịch chết chóc này mới là lúc khí lạnh ngưng tụ đậm đặc nhất. Màn sương đêm dày đặc, đục ngầu như váng cháo, lững lờ trôi là là sát mặt đất tựa một dải lụa xám chì vô tận. Luồng hàn khí từ ngọn núi Thanh Lĩnh dội xuống buốt ngắt, bén tựa lưỡi dao cạo róc thẳng vào từng tấc da thịt hở ngoài manh áo.

Tiểu Mãn cắm đầu rảo bước, đôi chân bọc vải giẫm nhanh qua khoảnh sân đất nện cứng đơ như đá tảng, lao thẳng ra nửa sào vườn phía sau nhà. Vừa chạy tới mé luống đầu tiên, cô lập tức sụp gối xuống, lồng ngực thắt nghẽn lại, từng mạch máu nơi thái dương giật lên thon thót.

Dưới ánh trăng suông mờ nhạt chật vật xuyên qua tầng mây mỏng xám xịt, một lớp tinh thể băng trắng xóa, mịn và óng ánh hệt như bột muối mịn đã bắt đầu kết tụ thành một màng mỏng bao phủ khắp mặt đất. Những đọt lá non nớt của mầm cải bẹ và củ cải trắng mới nhú lên khỏi mặt luống chừng hai, ba đốt ngón tay, ban chiều hãy còn xanh biếc mọng nước, thì nay đã bị một lớp màng giá lạnh ngắt, trong suốt bọc kín lấy từng phiến lá. Cảnh tượng ấy thoạt nhìn như được rắc một lớp đường phèn tinh khiết, nhưng đối với người trồng rau, đó chính là chiếc khăn liệm trắng toát báo hiệu sự diệt vong. Nếu cứ để mặc cho lớp băng giá này tiếp tục bám chặt và dày thêm cho đến khi vầng thái dương ló rạng, sức nóng đột ngột của ánh nắng ban mai sẽ làm lớp băng tan chảy quá nhanh. Khi ấy, vách tế bào mỏng manh của những đọt mầm non sẽ đồng loạt vỡ nát, toàn bộ nửa sào cải bẹ sẽ bị cháy đen rũ rượi, úng thối hoàn toàn từ búp ngọn lan dần xuống tận chóp rễ.

Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm sau gáy Tiểu Mãn, hòa lẫn vào cái buốt giá khiến cô run rẩy, nhưng hàm răng vẫn cắn chặt vào môi dưới đến bật máu.

Toàn bộ tiền bạc để trả món nợ hai lượng bạc trắng đang cận kề ngày đáo hạn của nhà phú hộ họ Lương, toàn bộ hy vọng giữ lại hai mẫu ruộng hương hỏa ở gò Cồn Gió, và trên hết là miếng ăn sống còn của sáu miệng ăn trong cái gia đình khốn khó này suốt mấy tháng đông giá rét, tất cả đều nằm trọn trên nửa sào đất này. Mồ hôi, nước mắt và cả những đêm mất ngủ để cuốc từng nhát đất, lượm từng gốc rễ cỏ tranh, ủ từng gáo phân trấu mấy ngày qua... tuyệt đối không thể để công sức ấy đổ xuống sông xuống bể chỉ trong một đêm hàn sương!

Nghĩ đến đó, Tiểu Mãn bật dậy như một chiếc lò xo nén chặt. Cô quay ngoắt người, lao ngược trở lại gian nhà đất, đôi chân vừa chạy vừa dậm thình thịch xuống nền đất cho bớt cóng buốt. Đứng trước cánh vách nứa ngăn buồng trong, cô giơ tay đập dồn dập vào gióng tre, ghìm giọng gọi gấp gáp nhưng rành rọt từng tiếng:

"Nhị Hòa! Nhị Hòa, dậy mau lên em! Sương muối xuống rồi, đóng băng trắng xóa trên đọt lá rồi!"

Bên trong buồng, Diệp Nhị Hòa vốn ngủ rất thính, vừa nghe thấy tiếng gọi thất thanh nhưng dứt khoát của chị gái thì chiếc chăn bông mỏng chắp vá bằng trăm mảnh giẻ vụn lập tức bị tung sang một bên. Cậu bé mười bốn tuổi quần áo vẫn mặc chỉnh tề để chống rét, hai mắt dù còn cay sè ngái ngủ nhưng vừa nghe lọt tai hai chữ "sương muối", thần trí cậu liền lập tức tỉnh như sáo. Nhị Hòa vơ vội chiếc áo tơi lá vụn treo đầu giường khoác lên mình, hai chân xỏ nhanh vào đôi guốc mộc cũ mòn vẹt gót, vừa kéo then cửa buồng vừa lao bổ ra gian ngoài, giọng vỡ đôi vì hốt hoảng:

"Chị! Sương muối thật sao? Trời ơi, mới đầu tháng một mà đã có sương muối dày thế ư? Phải làm sao bây giờ chị?"

"Đừng hoảng, mau ra chái bếp khiêng hai sọt mùn cưa và trấu khô hôm qua bác Mộc gọt gỗ cho ta! Gom thêm cả mấy bao vỏ trấu khô A Lan gánh sang ban chiều nữa!" Tiểu Mãn vừa thoăn thoắt phân phó, vừa chạy vội vào góc bếp quơ lấy nắm đóm nứa khô giắt trên giàn bếp và chiếc liềm con. "Chúng ta phải vun thành từng ụ nhỏ rải rác ở đầu ngọn gió bắc sau rặng phên nứa, châm lửa un khói ngay lập tức! Gió đang thổi liu riu từ hướng bắc xuống, chỉ có khói ẩm dày đặc và hơi ấm âm ỉ mới đẩy nổi màn sương muối độc địa này ra khỏi mặt luống!"

Tiếng bước chân gấp gáp và tiếng bàn bạc dồn dập ngoài gian giữa đã đánh thức cả Diệp Thành và Lâm Tú Nương ở buồng bên.

Trong bóng tối lờ mờ, tiếng lục cục của chiếc gậy tre vang lên đầy nặng nề. Diệp Thành nén chặt cơn đau buốt thấu xương nơi khớp đầu gối sưng tấy do vết thương cũ tái phát mỗi khi trời trở lạnh, khập khiễng lê từng bước ra mé cửa buồng. Khuôn mặt gầy gò, hốc hác của người cha lộ rõ dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn dầu lạc, giọng ông run rẩy, ngập tràn vẻ bất lực và lo âu:

"Tiểu Mãn, ngoài vườn thế nào rồi con? Trời lạnh thế này... sương muối thật ư? Cái chân khốn khổ này của cha, sao lại vô dụng đúng vào lúc dầu sôi lửa bỏng thế này chứ..."

"Cha đừng sốt ruột!" Tiểu Mãn ngoái đầu lại, ánh mắt kiên định ngời lên dưới ánh đèn mờ ảo, giọng cô chắc nịch như đinh đóng cột để trấn an cha. "Con và Nhị Hòa đã tính trước từ chiều, đào sẵn các hố trấu rồi. Cha cứ ngồi yên trong nhà giữ ấm chân, lấy bao tải quấn chặt khớp gối lại, tuyệt đối đừng ra gió kẻo hàn khí nhập sâu vào xương tủy là liệt đấy!"

Dứt lời, cô không để cha kịp nói thêm câu nào, xoay người chạy ào ra ngoài màn đêm.

Lúc này, Nhị Hòa đã thoăn thoắt vác hai chiếc sọt tre to tướng chứa đầy mùn cưa mịn và trấu mục từ chái bếp lao phăng phăng ra vườn. Tiểu Mãn xốc thêm một chiếc thúng trấu khô nữa rảo bước theo sau.

Ra đến mé vườn phía bắc – nơi tấm phên mắt cáo đan bằng những thanh nứa già mà Diệp Thành cùng Nhị Hòa cặm cụi đan suốt ngày hôm qua đang đứng sừng sững như một bức tường thành thấp – Tiểu Mãn quỳ một gối xuống nền đất lạnh buốt. Cô dùng chiếc xẻng con bằng sắt hoen gỉ, nhanh chóng xúc mùn cưa và trấu chia thành sáu ụ nhỏ, mỗi ụ cách nhau chừng năm bước chân, dàn đều thành một hàng ngang dọc theo chiều dài của bức phên, đón đúng hướng gió bấc đang từ từ tràn xuống.

"Nhị Hòa, nhớ kỹ lời chị dặn lúc chập tối!" Tiểu Mãn vừa gạt một lớp lá tre khô giòn làm mồi nhóm vừa cất giọng dặn dò em trai. "Không được phép để lửa bùng to thành ngọn lửa đỏ! Lửa bén ngọn chỉ tổ tốn củi và làm cháy rụi tấm phên nứa của cha, hơn nữa nhiệt lượng bốc thẳng lên trời chẳng có tác dụng gì cả. Cái chúng ta cần là khói đặc, khói ẩm và hơi ấm là là mặt đất. Cho một nắm lá khô nhỏ nhóm cho bén lửa than, sau đó phải lập tức ụp mùn cưa ướt và trấu mục lên trên để dằn ngọn lửa lại, bắt nó phải un khói!"

"Em nhớ rồi, chị yên tâm!" Nhị Hòa quỳ thụp xuống bên ụ trấu thứ hai, hai bàn tay thoăn thoắt bới một hốc nhỏ ở giữa đống trấu, nhét mồi rơm khô vào trong.

Tiểu Mãn lấy hòn đá lửa xám đen và miếng bùi nhùi nứa khô ra. Đôi ngón tay cô đã cứng đờ vì cóng, mất một lúc mới kẹp chặt được miếng sắt nhỏ của lưỡi liềm. Cô nghiến răng, gõ mạnh sống liềm vào cạnh sắc của hòn đá lửa.

"Chát! Chát! Chát!"

Những tia lửa đỏ rực rạch qua màn đêm đen đặc, tóe ra những chấm sáng li ti rồi rơi chuẩn xác vào nhúm bùi nhùi nứa tơi mịn như bông. Tiểu Mãn lập tức cúi rạp người xuống sát mặt đất, hai má phồng lên, cẩn thận thổi nhẹ từng hơi dài và đều đặn.

"Phù... phù..."

Đốm than đỏ hồng từ từ bừng sáng, lan rộng ra xung quanh rồi bén sang nắm lá tre khô ròn rụm. Khi một đốm lửa vàng le lói vừa chực nhú lên, Tiểu Mãn không một chút chần chừ, lập tức vốc một nắm lớn trấu ẩm trộn lẫn mùn cưa ướt phủ trùm lên trên ngọn lửa.

"Xèo... xèo..."

Một tiếng thở dài ẩm ướt và nặng nề vang lên từ lòng đất. Ngọn lửa non nớt bị ém chặt lại, tức thì chuyển hóa thành một luồng khói xám đục ngầu, dày đặc và cuồn cuộn bốc lên. Hơi ấm nồng nặc mùi ngai ngái của trấu mục, mùi khen khét của lá tre và hương gỗ tươi từ mùn cưa tỏa ra ngây ngất. Theo từng làn gió thoảng nhẹ từ hướng bắc lùa qua những mắt cáo thưa của bức phên nứa, luồng khói ấm ấy không thể bốc thẳng lên tầng không mà bị sức cản của phên ghì sát xuống mặt đất. Nó lững lờ, chậm rãi trườn qua rãnh thoát nước sâu, rồi như một tấm chăn dày tãi rộng ra, phủ trùm lên bề mặt những luống rau hình mai rùa cong vút.

"Chị ơi, bên này bén rồi! Khói nhiều lắm!" Nhị Hòa reo khẽ, trong giọng nói lộ rõ vẻ phấn khích. Đôi bàn tay nhỏ bé của cậu thoăn thoắt vun thêm một lớp mùn cưa dày lên đống than hồng đang âm ỉ cháy đỏ rực bên dưới.

Tiểu Mãn chạy dọc theo bức phên, thoăn thoắt châm lửa cho bốn ụ trấu còn lại, rồi vòng xuống hai góc vườn phía nam châm tiếp hai hố hun khói đã đào sẵn từ chiều.

Chẳng mấy chốc, sáu ụ trấu ở đầu ngọn gió bắc cùng bốn hố un khói ở bốn góc vườn đồng loạt nhả khói nghi ngút. Làn khói xám đục, ấm áp và ẩm ướt dâng cao chừng nửa thước so với mặt luống, bồng bềnh kết thành một tầng mây nhân tạo che chở cho toàn bộ nửa sào rau non nớt. Hơi ấm từ từ thẩm thấu qua làn không khí buốt giá, bao bọc lấy từng đọt mầm mỏng manh. Dưới tác động của nhiệt lượng âm ỉ và khói ẩm, những tinh thể sương muối li ti đóng bám trên mặt lá cải bẹ khẽ rùng mình, tan dần ra thành những giọt nước ẩm lăn tăn, từ từ rỏ xuống lớp trấu bón lót dưới gốc cây chứ không kịp đông cứng thêm để phá hủy tế bào.

Đúng lúc hai chị em đang bận rộn đến toát mồ hôi thì nơi cửa chái nhà lại vang lên tiếng bước chân lẹp xẹp cùng tiếng ho khẽ khàng.

Lâm Tú Nương khoác chiếc áo vải bông cũ kỹ đã sờn rách cả hai bên vai, trên đầu quấn chiếc khăn chàm che kín nửa khuôn mặt, dẫn theo Tam Nha mới mười tuổi bước ra vườn. Trên tay hai mẹ con ôm theo hai bó rơm khô vàng óng, mịn màng – thứ rơm nếp dẻo đã được đập giập kỹ càng từ vụ gặt mùa thu năm ngoái để dành làm ổ rơm.

"Mẹ! Sao mẹ lại ra đây?" Tiểu Mãn giật mình, vội vàng buông chiếc xẻng sắt chạy lại đỡ lấy bó rơm trên tay mẹ. "Trời lạnh thấu xương thấu thịt thế này, chứng ho hen của mẹ vừa mới đỡ được vài hôm, ngộ nhỡ hàn khí lại xông vào phổi thì khổ!"

Lâm Tú Nương khẽ lắc đầu, kéo lại nếp khăn che kín cổ họng, giọng bà khàn đặc vì lạnh nhưng ánh mắt lại ngập tràn sự kiên quyết của một người mẹ:

"Mẹ không sao đâu con. Nhìn thấy hai chị em con thức trắng đêm ngoài này chống chọi với trời đất, mẹ nằm trong buồng ấm làm sao cho đành lòng. Mẹ với Tam Nha mang rơm ra phủ thêm cho luống cải đây. Ban nãy ngồi trong buồng, mẹ sực nhớ lại lời bà ngoại con dặn ngày xưa... Những đêm đại hàn sương muối rơi dày thế này, chỉ un khói thôi thì mới giữ ấm được phần ngọn, còn chân rễ nếu bị rét ngậm vào đất thì mầm cây vẫn bị chột. Phải rải một lớp rơm mỏng tang như mạng nhện lên mặt luống, vừa ngăn sương muối rớt trực tiếp xuống búp lá, vừa giữ lại hơi ấm bốc lên từ lòng đất."

Tam Nha cũng ôm ghì bó rơm nhỏ trước ngực, hai gò má cô bé lạnh buốt đỏ ửng như hai quả táo chín, đôi mắt đen láy mở to lấp lánh dưới làn khói mờ, miệng thở ra từng luồng khói trắng:

"Chị Mãn, em không sợ rét đâu! Chân em đi bao vải ấm lắm. Em phụ mẹ rải rơm nhẹ tay cực kỳ, nhất định không làm gãy một cái mầm cải non nào của chị đâu!"

Nhìn ánh mắt chan chứa tình thương và sự đồng lòng của mẹ cùng đứa em gái nhỏ, trong lồng ngực Tiểu Mãn bỗng dâng lên một luồng nhiệt lưu ấm áp khôn tả. Cái lạnh tê tái đang gặm nhấm từng đầu ngón tay ngón chân dường như tan biến đi quá nửa. Cô khẽ gật đầu, mỉm cười nói:

"Dạ, vậy mẹ và Tam Nha làm từ mé luống phía tây này nhé. Nhớ là rải thật mỏng thôi mẹ ạ, cứ tãi từng cọng rơm vắt chéo nhau như mắc cửi, đừng để rơm dồn thành búi nặng đè bẹp những đọt lá non mới nhú."

"Mẹ biết rồi, con cứ lo việc giữ lửa un khói đi."

Hai mẹ con Lâm Tú Nương lập tức chia nhau ra hai bên rãnh luống. Dưới làn khói xám mờ ảo lượn lờ sát mặt đất, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết chai sần của người mẹ cùng những ngón tay nhỏ nhắn, thoăn thoắt của cô bé mười tuổi nhẹ nhàng bốc từng nhúm rơm khô, tãi đều thành một tấm lưới mỏng như cánh ve che phủ trên mặt mầm xanh. Từng cọng rơm vàng óng như những cánh tay chở che nâng niu, đỡ lấy từng hạt sương muối đang chực rơi xuống từ trời cao, đồng thời lưu giữ lại hơi ấm ẩm ướt bốc lên từ lớp đất xốp đã được ủ phân trấu hoai mục bên dưới.

Trong khi đó, nơi chái hiên nhà, một ngọn lửa than đỏ rực cũng bắt đầu bừng sáng.

Diệp Thành không thể lội xuống rãnh luống ẩm ướt ngoài vườn vì cái chân tật nguyền, nhưng ông tuyệt đối không chịu ngồi yên một chỗ nhìn vợ con vất vả. Người cha tàn tật đã chống gậy kéo chiếc lò than đất nung cũ kỹ ra đặt ngay giữa chái hiên – nơi có chiếc cót nứa quây tròn che chở cho đàn gà con mười hai con mới nở hồi đầu tháng. Ông tỉ mẩn dùng chiếc kẹp sắt gắp từng thanh than củi nhóm đỏ hồng xếp vào lòng lò, cẩn thận đặt một chiếc vỉ sắt hoen gỉ lên miệng lò rồi phủ một lớp trấu khô thật mỏng lên trên để nhiệt lượng tỏa ra đều đặn, không bị quá gắt làm cháy lông đàn gà.

Đàn gà con lông vàng óng như những cục bông tròn xoe ríu rít chen chúc, chụm đầu lại quanh mé cót nứa, thỏa thuê đón nhận hơi ấm dịu nhẹ tỏa ra từ lò than, thoát khỏi cái chết cóng đang chực chờ nuốt chửng chúng trong đêm giá rét. Diệp Thành ngồi tựa lưng vào cây cột hiên bằng gỗ xoan, bàn tay thô ráp liên tục xoa bóp khớp gối đang nhức nhối như bị kim châm, đôi mắt đăm đăm nhìn qua làn sương mờ hướng về phía khoảnh vườn sau nhà, dõi theo từng bóng hình mờ ảo của vợ con, canh chừng từng cơn gió thoảng qua rặng tre đầu ngõ.

Thời gian của đêm đại hàn trôi qua một cách chậm chạp, khắc nghiệt và nghẹt thở.

Canh ba điểm, rồi canh tư trôi qua. Gió bấc thỉnh thoảng lại bất ngờ đổi hướng, giật từng cơn thốc qua rặng tre gai đầu ngõ, cuốn theo những đám lá khô bay xào xạc. Cứ mỗi lần gió chuyển hướng bất thường, ngọn lửa âm ỉ trong các ụ trấu lại bị kích thích, có nguy cơ bùng phát thành ngọn lửa ngọn nguy hiểm.

"Nhị Hòa! Coi chừng ụ trấu số ba ở góc luống cải bẹ, lửa sắp bén ngọn rồi kìa! Mau hốt mùn cưa ẩm đè xuống ngay!" Tiểu Mãn đứng ở mé đông hét lớn, vừa hô vừa vội vã xách chiếc xô gỗ chạy bổ tới.

Nhị Hòa nhanh nhẹn như một con sóc nhỏ, một tay xách chiếc chậu sành đựng nước, một tay vốc một vốc lớn mùn cưa ướt chụp thẳng vào chỗ than hồng đang bắt đầu le lói ánh lửa đỏ.

"Xèo xèo! Xèo..."

Ngọn lửa vừa mới ngoi lên lập tức bị dập tắt ngấm dưới lớp mùn cưa ẩm, khói xám lại đặc quánh cuộn trào lên như suối. Hai chị em mặt mũi lấm lem tro trấu, mồ hôi túa ra trên trán hòa cùng bụi than biến thành những vệt đen sì nhem nhuốc. Hai mắt cay xè vì khói cay nồng, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng trên má, nhưng cả hai đều không dám chớp mắt hay rời khỏi các ụ un dù chỉ trong nửa khắc.

Cứ cách chừng một tuần trà, Tiểu Mãn lại lội chân dọc theo từng con rãnh luống sâu hoắm, cẩn thận cúi sát người xuống kiểm tra từng khoảnh đất. Cô nhẹ nhàng luồn những ngón tay thon dài qua kẽ hở của lớp rơm mỏng, áp mu bàn tay sát vào bề mặt đất nện.

Hơi đất ẩm ướt và ấm nóng phả nhẹ vào da thịt cô. Lớp trấu mục trộn tro bếp ở chân rễ vẫn giữ được nhiệt độ ổn định, ấm áp như có một mạch nước ngầm sưởi ấm bên dưới. Những đọt mầm cải non nớt nép mình dưới bóng rơm rạ, ngậm những giọt sương tan trong veo lấp lánh, thân cây vẫn căng mọng, thẳng thớm và cứng cáp, tuyệt nhiên không có lấy một dấu hiệu nào của sự thâm sì hay nhũn nhão.

"Tốt rồi... mầm vẫn sống nguyên... rễ vẫn ấm..." Tiểu Mãn lẩm bẩm một mình, lồng ngực khẽ phập phồng thở phào nhẹ nhõm.

Thế nhưng, đôi chân mày thanh tú của cô vẫn không hề giãn ra. Cô ngước nhìn lên vòm trời đen thẫm hun hút. Giờ khắc hiểm nghèo nhất của đêm đông vẫn chưa thực sự tới. Canh năm – cái khoảng thời gian chừng nửa canh giờ trước khi vầng dương ló rạng – mới chính là lúc hàn khí của đất trời tích tụ nặng nề nhất. Khi ấy, bóng tối chuẩn bị rút lui nhường chỗ cho rạng đông, nhiệt độ sẽ tụt dốc không phanh xuống tận đáy của sự buốt giá.

Đến lúc này, cả bốn con người nhà họ Diệp ngoài vườn đều đã thấm mệt.

Lâm Tú Nương đã bắt đầu ho hắng từng cơn khẽ khàng, tiếng ho rũ rượi nghẹn lại trong lồng ngực. Bà ngồi bệt xuống mé thềm hiên, kéo chặt Tam Nha vào lòng, dùng vạt áo tơi lá của mình bao bọc lấy tấm thân nhỏ bé của con gái để truyền chút hơi ấm ít ỏi. Nhị Hòa hai bàn tay lạnh cóng đến mức đỏ ửng như quả ớt chỉ thiên, các khớp ngón tay sưng húp lên vì buốt, nhưng cậu bé mười bốn tuổi vẫn cắn răng kiên cường cầm chiếc xẻng sắt nhỏ đi tuần tra dọc theo sáu ụ trấu, thỉnh thoảng lại dùng thanh củi gạt nhẹ tro tàn, châm thêm trấu khô vào những nơi khói bắt đầu có dấu hiệu loãng dần.

Tiểu Mãn bước lại gần em trai. Thấy đôi môi cậu tím tái vì lạnh, cô thò tay vào túi áo trong, lấy ra một củ khoai lang nướng vùi tro than từ tối hôm qua mà mẹ đã cẩn thận bọc trong mảnh lá chuối khô để dành cho hai chị em. Cô bẻ đôi củ khoai nóng hổi, đưa nửa lớn hơn cho Nhị Hòa:

"Ăn đi em, cắn một miếng cho ấm bụng. Cố lên một chút nữa thôi, trời sắp sáng rồi."

Nhị Hòa nhận lấy nửa củ khoai thơm phức, vỏ khoai cháy sém còn vương mùi khói bếp thân thuộc. Cậu há miệng cắn một miếng to, nhai ngấu nghiến, cái vị ngọt lịm và hơi nóng bùi bùi của củ khoai như xua tan đi phần nào cái đói và cái rét đang cào xé ruột gan. Nuốt xong miếng khoai, cậu ngẩng đầu nhìn chị, nở một nụ cười toe toét, hàm răng trắng lóa nổi bật một cách kỳ lạ trên khuôn mặt lem luốc bồ hóng và tro bếp:

"Chị, khoai ngọt và ấm bụng quá! Em không mệt đâu, thật đấy! Nhìn mấy luống rau mơn mởn thế này, em thấy công sức mấy ngày qua bỏ ra đáng giá từng đồng tiền kẽm một. Đố cái lão phú hộ Lương Quảng Tài hay mụ Ngô Quế Hoa có nằm mơ cũng không tưởng tượng nổi nhà mình lại giữ được mầm rau non sống sót trơ trơ giữa đêm sương muối tuyết giá thế này!"

Tiểu Mãn nhìn nụ cười hồn nhiên nhưng quật cường của em trai, trong lòng vừa xót xa vừa ấm áp. Cô vỗ nhẹ lên bờ vai gầy của Nhị Hòa, khẽ nói:

"Chuyện lão Lương đòi nợ hay thím Quế Hoa dòm ngó cứ tạm gác sang một bên đã. Giữ được nửa sào rau này sống sót nguyên vẹn qua buổi sớm mai, chúng ta mới có tư cách ngẩng cao đầu mà nói chuyện làm ăn ở chợ phiên."

Gió bấc lại rít lên một hồi dài qua rặng nứa mắt cáo, nhưng bức phên kiên cố do chính tay Diệp Thành chẻ từng nan nứa, vót từng chiếc lạt tre đã cản lại phần lớn sức gió hung hãn. Bức phên chỉ để lọt qua những luồng khí vừa đủ nhẹ để đẩy làn khói ấm lượn vòng quanh mặt luống hình mai rùa cong vút rồi từ từ thoát ra các rãnh sâu hai bên. Kỹ thuật đắp luống vát cong mai rùa và xẻ rãnh thoát nước sâu một gang rưỡi của bà ngoại Lâm Thu Bà truyền lại quả nhiên đã phát huy tác dụng thần kỳ: không khí lạnh vốn nặng trĩu tự động chìm sâu xuống đáy rãnh thoát nước, trong khi nhiệt lượng ấm áp và khói dày từ các hố un lại trôi bồng bềnh là là ngay trên mặt luống, tạo thành một tầng bảo vệ vững chắc tựa như một bức thành đồng vách sắt vô hình ngăn cách mầm cây với khí độc của sương giá.

Thời gian nặng nề trôi đi. Bầu trời phía chân trời đằng đông dần dần chuyển biến, từ màu đen kịt như mực tàu chuyển sang màu lam xám ảm đạm, rồi rạng dần thành một vệt sáng màu lòng đỏ trứng gà mỏng manh.

Tiếng gà trống le te gáy báo sáng từ những thôn xóm xa xa bắt đầu vọng lại qua màn sương mù dày đặc của thôn Thanh Khê.

Mặt trời mùa đông chậm chạp và nhọc nhằn nhô lên sau những rặng thông già của dãy núi Thanh Lĩnh trùng điệp. Những tia nắng ban mai đầu tiên mỏng manh, yếu ớt xuyên qua kẽ lá của cây bàng cổ thụ đầu làng, rọi những vệt sáng vàng nhạt xuống mái ngói ba gian rêu phong của nhà họ Diệp. Khi ánh sáng rạng đông quét qua mặt đất, khung cảnh của làng quê dần hiện ra rõ nét trong sự ngỡ ngàng tột cùng của mọi người.

Một cảnh tượng xót xa, hoang tàn phơi bày khắp các khu vườn lân cận trong thôn.

Nhìn qua bờ rào nứa thấp thoáng sang mảnh vườn của nhà thím Ba bên cạnh, vườn rau nhà bác Thúc phía trước, và xa hơn nữa là khoảnh đất màu trồng rau vụ đông của nhà Ngô Quế Hoa nằm sát mé bờ khe, một màu trắng xóa thê lương bao trùm lên vạn vật. Lớp sương muối đóng băng dầy cộp trên các tán lá cải, lá đậu, đọt mướp muộn không được che chắn suốt đêm qua. Và rồi, bi kịch thực sự bắt đầu khi những tia nắng mặt trời ấm áp rọi thẳng xuống. Lớp băng giá tan ra quá đột ngột, biến thành một thứ nước độc lạnh buốt thẩm thấu vào vách tế bào đã bị tổn thương.

Gần như chỉ trong chớp mắt, những ngọn cải bắp, cải thìa mập mạp, xanh mướt của các nhà xung quanh bắt đầu rũ rượi gục xuống. Phiến lá thâm đen lại như bị người ta dội cả nồi nước sôi sùng sục lên trên, dập nát, úng thối và dính bết vào nền đất lạnh buốt bốc mùi ngai ngái khó chịu.

Chỉ vài khắc sau đó, tiếng than vãn, tiếng kêu trời trách đất, tiếng đấm ngực thùm thụp của mấy người phụ nữ trong xóm bắt đầu rộ lên từ khắp các ngõ ngách, xé toạc sự tĩnh mịch của buổi sớm mùa đông:

"Trời cao đất dày ơi là trời! Chết sạch rồi! Cả sào cải bắp với cải thìa của nhà tôi thế là đi tong hết rồi!"

"Sương muối thế này thì cả nhà tôi ra bến sông ăn mày mất thôi! Tiền mua hạt giống, tiền phân trân quý gom góp cả mùa thu coi như trôi sông trôi biển hết cả rồi ông trời ơi!"

Tiếng khóc lóc, xót xa, tiếng chửi đổng vang vọng khắp triền đê và bờ khe lạnh lẽo, nhuốm màu tang thương lên khắp thôn làng nghèo khó.

Thế nhưng, ngay tại khoảnh vườn sau nhà của gia đình họ Diệp, cảnh tượng lại hoàn toàn trái ngược, tựa như một góc trời riêng biệt được thần linh che chở.

Khi làn khói trấu cuối cùng từ từ tản mác theo ngọn gió mai nhè nhẹ, Lâm Tú Nương và Tam Nha cẩn thận cầm những thanh tre mỏng, nhẹ nhàng gạt lớp rơm mịn phủ trên mặt luống dồn gọn ra hai bên mép rãnh. Dưới ánh nắng vàng nhạt của buổi bình minh, một màu xanh mởn mỡ màng, mọng nước và tràn trề nhựa sống bừng sáng rực rỡ trước mắt cả gia đình.

Những mầm cải bẹ xanh ngắt, từng chiếc lá non mỡ màng ngậm những giọt sương mai long lanh như những hạt ngọc bích, kiêu hãnh vươn thẳng lên đón lấy ánh dương quang ấm áp. Củ cải trắng mới nhú đôi lá mầm răng cưa cứng cáp, rễ cọc cắm sâu vào lớp đất màu mỡ trộn tro trấu tơi xốp, không hề có lấy một vệt cháy lá, không một đốm thâm đen, cũng chẳng có một ngọn nào bị gục ngã hay dập nát. Toàn bộ nửa sào rau non trải dài ngăn nắp, tươi tốt mơn mởn như thể đợt sương muối tàn khốc đêm qua chỉ là một cơn ác mộng thoảng qua trong giấc ngủ.

Tam Nha buông rơi thanh tre trong tay, mừng rỡ nhảy cẫng lên trên bờ rãnh, vỗ tay reo hò vang dội:

"Sống rồi! Toàn bộ rau của nhà mình sống hết rồi! Chị Mãn ơi, anh Nhị Hòa ơi, nhìn này, mầm rau xanh mướt mượt mà luôn nè!"

Nhị Hòa quăng phịch chiếc xẻng sắt xuống nền đất ẩm, chống hai tay lên đầu gối, ngửa mặt lên trời thở phào một hơi dài đầy sảng khoái và kiêu hãnh. Đôi mắt cậu đỏ hoe vì cay khói nhưng giờ đây lại sáng rực lên niềm tự hào khôn xiết:

"Chị! Chúng ta thắng rồi! Cả vườn không hỏng một cây nào, một mầm nào cũng tươi rói!"

Lâm Tú Nương đứng lặng bên mé luống đất, đưa vạt tay áo chàm sờn rách quệt ngang dòng nước mắt xúc động đang lăn dài trên đôi gò má gầy guộc, hốc hác. Bà nhìn đứa con gái lớn của mình với ánh mắt chan chứa niềm tin yêu, cảm phục và kính nể. Người mẹ hiểu quá rõ rằng, nếu đêm qua không có sự quyết đoán phi thường, sự nhạy bén và những kiến thức canh tác tỉ mỉ mà Tiểu Mãn tiếp thu được từ bà ngoại, thì sáng nay, gia đình bà chắc chắn cũng đã phải cùng chung số phận quỳ gối khóc ròng trong tuyệt vọng như bao nhiêu số phận khốn khổ khác ngoài kia.

Từ chái hiên nhà, Diệp Thành chống gậy tre khập khiễng bước từng bước tập tễnh ra mé vườn. Nhìn luống cải xanh mướt mườn mượt đang khẽ đung đưa trong làn gió sớm, đôi môi khô nẻ của người đàn ông từng trải run rẩy dữ dội, lồng ngực ông phập phồng những đợt sóng cảm xúc trào dâng. Ông run run đặt bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sương gió lên bờ vai nhỏ nhắn của Tiểu Mãn, giọng nghẹn ngào trong khóe mắt đỏ hoe:

"Tiểu Mãn à... con giỏi lắm con ơi. Cha mẹ tự hào về con lắm, bà ngoại con dưới suối vàng nếu nhìn thấy cảnh này... chắc chắn cũng sẽ mỉm cười tự hào về con..."

Tiểu Mãn khẽ nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của cha, siết nhẹ như muốn truyền thêm hơi ấm và niềm tin cho ông, cô nở một nụ cười rạng rỡ nhưng vô cùng điềm tĩnh:

"Cha, con đã nói với cha rồi mà, trời xanh không bao giờ tuyệt đường sống của những người chịu thương chịu khó. Nửa sào rau này giữ được vẹn nguyên thế này là nhờ cả nhà mình đồng lòng, mỗi người một tay chống chọi suốt cả đêm qua đấy thôi."

Đúng lúc đó, từ bên ngoài con ngõ nhỏ dẫn ra giếng nước chung của thôn, bỗng vang lên tiếng bước chân vội vã lẹp xẹp cùng tiếng xì xào bàn tán to nhỏ vọng vào.

Vợ chồng bác cả Diệp Đại Phúc và Chu Kim Quế đang hớt hải dắt díu nhau chạy ra đồng xem khoảnh ruộng của nhà mình bị tàn phá ra sao sau đêm sương muối, tình cờ đi ngang qua bờ rào nứa sau nhà Diệp Thành. Nghe thấy tiếng cười nói reo hò rộn rã trong vườn, Chu Kim Quế tò mò nhón gót, thò chiếc cổ ngẳng dài qua hàng giậu dâm bụt trơ trụi lá để dòm ngó. Vừa nhìn thấy vạt rau xanh ngắt mỡ màng như một tấm thảm ngọc bích trải dài tít tắp sau khoảnh đất của nhà người em trai tàn phế, tròng mắt bà ta suýt nữa thì lọt tròng ra ngoài vì sững sờ.

"Ối giời cao đất dày ôi! Ông Đại Phúc ơi, ông mau ghé mắt nhìn vào đây mà xem này!" Chu Kim Quế giật mạnh vạt áo bông của chồng, cất giọng the thé đầy vẻ kinh ngạc xen lẫn sự ghen ăn tức ở không giấu giếm. "Khu vườn sau nhà chú Hai... sao... sao rau cỏ nhà nó vẫn còn xanh um tùm thế kia? Đêm qua trời rét buốt đến mức đóng băng cả nước trong lu sành ngoài sân, rau màu nhà người ta khắp làng cháy rụi đen thui cả lượt, thế mà rau nhà nó lại mơn mởn như thể đang giữa tiết xuân thế này?"

Diệp Đại Phúc nghe vợ la lối cũng tò mò thò cái đầu hói qua hàng rào, trố mắt nhìn nửa sào cải bẹ và củ cải trắng đang kiêu hãnh rung rinh đón nắng sớm. Sắc mặt ông ta thoạt tiên là sững sờ kinh hãi, nhưng sau đó liền nhanh chóng chuyển sang một màu xám ngoét, xịu xuống đầy vẻ hậm hực và khó chịu.

Trong bụng Diệp Đại Phúc vốn đã tính toán đâu ra đấy, đinh ninh rằng đợt sương muối đại hàn bất ngờ này chắc chắn sẽ giáng một đòn chí mạng vào gia đình người em trai khốn khổ, khiến họ hoàn toàn kiệt quệ, không còn đường lui và buộc phải quỳ lạy van xin ông ta đứng ra làm mối để gán non hai mẫu ruộng cằn ở gò Cồn Gió cho địa chủ họ Lương với giá rẻ mạt tám lượng bạc trừ nợ. Nào ngờ đâu, lũ nhãi ranh vắt mũi chưa sạch này lại có bản lĩnh và mưu mẹo giữ được cả một vạt rau non mơn mởn giữa trời đông băng giá đến mức này!

"Chắc... chắc là do cái khoảnh vườn nhà nó nằm khuất gió dưới chân núi Thanh Lĩnh thôi chứ có tài cán gì..." Diệp Đại Phúc hắng giọng một tiếng thật to, cố tìm một lý do gượng gạo để tự an ủi cái bụng dạ hẹp hòi, đố kỵ của mình. Nhưng đôi mắt ti hí của ông ta vẫn lấm lét liếc nhìn những ụ khói trấu còn vương làn khói nhạt nơi góc vườn và bức phên nứa mắt cáo chắn gió hướng bắc dựng đứng vững chãi. "Hừ, chẳng qua là ngữ chó ngáp phải ruồi! Mầm rau mới nhú được hai ba đốt ngón tay, đã chắc gì nuôi sống được đến ngày thu hoạch mà vội mừng rỡ!"

Chu Kim Quế bĩu môi dài thượt, liếc xéo vào trong vườn một cái đầy cay độc rồi ghé tai thì thầm to nhỏ với chồng:

"Tôi thấy con ranh Tiểu Mãn này nó ma mãnh lắm chứ chẳng đùa đâu! Ban nãy tôi vừa thấy mụ Ngô Quế Hoa ngồi đấm ngực khóc ngất ngoài bãi sông kìa, hai luống cải giống tốt của nhà mụ ấy cháy sạch bách không còn lấy một mầm lành. Quả này phiên chợ Thanh Khê ba ngày tới đây, người ta kiếm đâu ra rau xanh non mà bán? Nhà chú Hai phen này... khéo lại hốt bạc chứ chẳng chơi đâu ông ạ!"

Hai vợ chồng Diệp Đại Phúc vừa xầm xì to nhỏ vừa tức tối hậm hực rảo bước thật nhanh qua ngõ, không dám đứng lại lâu hơn để đối mặt với ánh nhìn bình thản, lạnh lùng như băng của Tiểu Mãn đang nhìn ra từ mé luống.

Tiểu Mãn thu lại tầm mắt, hoàn toàn không thèm bận tâm đến những lời xoi mói hay sự đố kỵ nhỏ nhen của vợ chồng người bác cả. Tâm trí cô lúc này đang vận hành vô cùng nhanh nhạy.

Cô biết rất rõ một quy luật tất yếu của chợ búa: sau đợt đại hàn sương muối tàn khốc đêm qua, toàn bộ rau xanh non ở thôn Thanh Khê và các làng mạc lân cận chắc chắn đã bị hủy hoại đến bảy, tám phần mười. Trong vòng mười ngày đến nửa tháng tới, rau tươi – đặc biệt là những đọt cải non đầu mùa giòn ngọt, mọng nước – sẽ trở thành một thứ mặt hàng cực kỳ khan hiếm và đắt đỏ trên khắp các chợ phiên, từ chợ làng Thanh Khê cho đến các sạp hàng rau quả của những phú hộ giàu có trên trấn Liễu Kiều.

Nửa sào cải bẹ xanh tươi này không chỉ đơn thuần là cứu sống gia đình cô khỏi miệng vực của nạn đói mùa đông, mà nó sẽ trở thành một chiếc phao cứu sinh bằng vàng, mang lại những đồng bạc trắng tinh tươm để giải quyết dứt điểm món nợ hai lượng bạc đang đè nặng lên lưng cha mẹ.

Tiểu Mãn lại ngồi xổm xuống bên mé luống đất, cẩn thận dùng những ngón tay bới nhẹ lớp mùn cưa và trấu mục quanh gốc một cây cải non để kiểm tra độ ẩm của đất. Những sợi rễ trắng muốt, mập mạp đã bám rất sâu vào tầng đất phù sa màu mỡ trộn tro trấu ấm áp. Thân cây mập mạp, tràn trề sinh khí. Với tốc độ phát triển mạnh mẽ này, chỉ cần trời tiếp tục hửng nắng ấm le lói của tiết đông trong ba đến bốn ngày tới, những đọt cải bẹ non đầu tiên sẽ có thể tỉa lứa lá đầu để đem ra chợ phiên bán được giá cao nhất.

Một ý nghĩ bất chợt lóe lên trong đầu Tiểu Mãn khi ánh mắt cô dừng lại trên những bụi cải mọc chen chúc nhau dày đặc trên mặt luống hình mai rùa.

Tỉa những búp ngọn non mơn mởn mang bán rau tươi cho các tửu lâu và nhà giàu ở trấn Liễu Kiều chắc chắn sẽ thu được món hời lớn vì hàng độc nhất vô nhị. Thế nhưng, trong quá trình chăm sóc luống rau, để cây cải có đủ không gian phát triển thân lá to mập, việc tỉa bớt những cây mọc quá dày và hái bớt những tàu lá cải bẹ già hơn ở tầng dưới cùng là điều bắt buộc phải làm. Những nhánh cải tỉa thưa ấy nếu chỉ đem nấu canh lõng bõng với bột ngô vụn ăn cho qua bữa thì thực sự là một sự lãng phí quá lớn.

Ký ức êm đềm về những ngày thơ ấu ngồi bên bậu cửa hiên nhà bà ngoại Lâm Thu Bà bỗng ùa về sống động, rõ nét đến từng chi tiết trong tâm trí Tiểu Mãn.

Ngày ấy, mỗi bận mùa đông sương muối buốt giá tràn về, bà ngoại thường tỉ mẩn chọn những bẹ cải non đầu mùa mập mạp nhất. Bà không đem muối ngay mà tãi mỏng trên những chiếc nia rách, phơi dưới nắng đông hanh hao cho đến khi phiến lá hơi se mặt, bẹ cải dẻo dai lại mà không mất đi sắc xanh. Sau đó, bà dùng nước giếng khơi trong vắt rửa từng bẹ lá thật sạch, để nơi đầu ngọn gió cho ráo kiệt từng giọt nước lã.

Bà ngoại đun một nồi nước sôi lớn, để nguội dần cho đến độ ấm tay – thứ hơi ấm vừa vặn không làm chín ép rau non. Rồi bà hòa muối hạt theo một tỷ lệ vàng nghiêm ngặt gia truyền: cứ ba phần muối hột sạch cho mười phần nước ấm, thêm vào một muỗng nước vo gạo đặc đã lắng trong để lấy men chua tự nhiên, cùng vài lát gừng già đập giập cho dậy mùi thơm ấm nồng. Từng bẹ cải được xếp lớp ngăn nắp, nén chặt vào chiếc vò sành tráng men da lươn bóng loáng bằng một vỉ nan tre và hòn đá cuội nhẵn thín. Chỉ sau ba ngày ba đêm ủ ấm cạnh bếp lò, mẻ dưa cải non mở nắp ra sẽ chuyển sang một màu vàng óng ả như hổ phách, mùi thơm chua dịu ngào ngạt lan tỏa khắp gian bếp, từng cọng dưa giòn sần sật, vị chua thanh ngọt hậu đượm đà chứ tuyệt đối không bao giờ bị khú hay nổi váng trắng.

Đó chính là món dưa muối trứ danh mà ngày xưa, mỗi độ đông về, các chủ quán ăn nhỏ trên trấn Liễu Kiều thường phải lặn lội đến tận nhà đặt tiền trước cả nửa tháng mới mua được của bà ngoại.

Tiểu Mãn đứng thẳng người dậy giữa vạt rau xanh ngắt đang tắm mình trong nắng sớm. Đôi mắt cô lấp lánh niềm tin sắt đá và một nguồn sinh lực dồi dào. Cô quay sang nhìn mẹ đang cẩn thận gom từng cọng rơm thừa, nhìn Nhị Hòa và Tam Nha đang háo hức bàn tán về phiên chợ sắp tới, trong lòng cô một kế hoạch kiếm tiền rõ ràng, chắc chắn từng bước một đã hoàn toàn thành hình.

Bên cạnh rau tươi, Tiểu Mãn nảy ra ý định muối thử một vò cải non theo tỷ lệ nước muối ấm mà bà ngoại từng chỉ dẫn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories