Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.3 / 45
Chapter 3

Cuốn sổ đầu tiên và nghi vấn văn tự nợ

Tiếng đọc sách trầm ấm của người thư sinh trẻ tuổi đều đặn ngân nga, vọng ra từ căn phòng trọ nhỏ lợp mái tranh nằm sát bên mé tường rêu phong của nhà từ đường.

Âm thanh khoan thai, tròn vành rõ chữ ấy tựa như một dòng suối trong trẻo khẽ lách qua những phiến đá, chầm chậm hòa vào làn sương sớm bảng lảng còn đang giăng mắc chằng chịt trên những ngọn tre gai cao vút. Nó mang lại cho góc xóm phía tây thôn Thanh Khê một vẻ thanh tịnh, tĩnh mịch đến lạ thường, hoàn toàn đối lập với cái không khí ngột ngạt, đượm mùi thuốc sắc cháy khét và nỗi lo âu trĩu nặng đang đè nghiến lên từng nếp nhà tranh xiêu vẹo ở chái ba gian bên mé đông của gia đình họ Diệp.

Trên con đường đất nện nham nhở dấu chân trâu bò, mặt đất còn đẫm hơi sương lạnh buốt của buổi tàn thu, Diệp Tiểu Mãn bước đi thoăn thoắt. Đôi chân cô xỏ trong đôi giày vải thô tự khâu, mũi giày đã sờn rách để lộ một mảng vải lót màu nâu xám, được chắp vá lại bằng những đường chỉ gai vụng về nhưng vô cùng chắc chắn. Mỗi bước chân đạp đều lên thảm cỏ gà mọc tràn hai bên lề đường lại làm bắn lên những giọt sương mai lạnh buốt, thấm ướt cả gấu quần vá chằng vá đụp, phả vào da thịt một cảm giác buốt giá tê tái. Thế nhưng bóng lưng mảnh dẻ của cô gái mười bảy tuổi vẫn thẳng tắp, bờ vai hơi gầy khẽ nhấp nhô theo từng nhịp thở đều đặn và kiên định.

Đi sát bên cạnh cô, Diệp Nhị Hòa chốc chốc lại đưa bàn tay gầy guộc, đen nhẻm vì dầm mưa dãi nắng lên xốc lại chiếc rổ xảo đan bằng tre cật đang ôm khư khư trước ngực. Chiếc rổ ấy đựng những ngọn rau muống dại xanh mướt, thân mập mạp và non búng, ngọn nào ngọn nấy đều tăm tắp vừa được hai chị em tỉ mỉ bấm ở mé bờ đầm sát chân núi Thanh Lĩnh từ lúc trời đất còn nhập nhoạng, chưa tỏ rõ mặt người. Bên trên rổ rau, Tiểu Mãn cẩn thận phủ thêm một lớp lá dong tươi còn đọng những hạt nước trong suốt, vừa để chắn những cơn gió sớm hanh hao làm se ngọn rau non, vừa để giữ cho từng phiến lá không bị giập nát, héo úa.

"Tỷ..." Nhị Hòa bỗng dưng đi chậm lại nửa bước, hạ thấp giọng xuống chỉ vừa đủ cho hai chị em nghe thấy. Đôi mắt cậu thiếu niên mười bốn tuổi mở to, lộ rõ vẻ e dè, lo sợ khi nhìn về phía hàng rào dâm bụt xanh rì được cắt tỉa phẳng phiu, vuông vức của khoảnh sân nhà họ Lưu cách đó không xa. Cậu bé ngập ngừng, yết hầu khẽ nhấp nhô: "Tạ tú tài... liệu có bằng lòng tiếp chúng ta không tỷ? Đệ thường nghe mấy người lớn trong thôn kháo nhau rằng, những bậc văn nhân đọc sách thánh hiền xưa nay đều coi chữ nghĩa quý hơn vàng ngọc, tính khí lại thanh cao, rất ghét bị những kẻ áo vải bần hàn mang chuyện cơm áo gạo tiền tầm thường nơi trần tục đến làm vẩn đục cửa phòng văn."

Tiểu Mãn khẽ dừng bước, quay đầu sang nhìn cậu em trai. Dưới ánh sáng lờ mờ của buổi bình minh đang rạng dần nơi chân trời, gương mặt trái xoan gầy guộc của cô hiện rõ vẻ điềm tĩnh khác thường. Ánh mắt cô trong veo như nước suối đầu nguồn, phẳng lặng không một gợn sóng tự ti, nhưng sâu thẳm bên trong lại ánh lên một thứ ý chí cứng cỏi khó lay chuyển:

"Tạ tướng công tuy là người đọc sách đỗ đạt, có công danh tú tài của triều đình, nhưng tuyệt đối không phải là hạng hủ nho cao ngạo, xa rời thế sự đời thường. Huynh ấy tới thôn Thanh Khê trọ học ở nhà Lưu đại thúc đã hơn nửa năm nay, ngày ngày vẫn tự mình xắn tay áo chẻ củi, tự gánh nước từ giếng làng về đổ đầy chum, lại còn chẳng nề hà mở lớp dạy vỡ lòng cho đám con nít trong thôn chỉ để đổi lấy chút gạo ăn và vài đồng tiền dầu đèn. Một người biết tự lực cánh sinh, không nề hà việc chân tay như thế, ắt là người hiểu rõ lẽ đời và biết trân trọng giọt mồ hôi của người lao động bần hàn."

Nói đến đây, Tiểu Mãn đưa tay chỉnh lại mép lá dong trên rổ rau của em trai, giọng nói thêm phần rành rọt, dứt khoát:

"Huống hồ, chị em chúng ta sớm hôm nay tìm đến cửa không phải để ngửa tay cầu xin sự thương hại hay bố thí của ai. Tỷ mang rổ rau tươi đầu mùa này đến, trước là làm chút lễ mọn tạ ơn theo đúng lễ nghĩa thông thường, sau là thành tâm nhờ huynh ấy chỉ điểm đôi đường về cách thức tính toán sổ sách, đồng thời soi xét lại tờ văn tự vay nợ cho sáng tỏ. Chúng ta nghèo về tiền bạc nhưng không hèn về cốt cách. Chỉ cần trong lòng mình ngay thẳng, cử chỉ có chừng mực, việc gì đệ phải rụt rè, sợ sệt như kẻ làm điều khuất tất?"

Từng lời, từng chữ của người chị gái như một gáo nước mát lành dội tan đi sự bồn chồn, nhút nhát đang bủa vây trong lòng Nhị Hòa. Cậu bé hít sâu một hơi, bờ vai gầy đang căng cứng dần dần thả lỏng ra. Cậu siết chặt hai quai rổ vào sát người, khẽ gật đầu lia lịa rồi rảo bước theo sát ngay sau gót chân Tiểu Mãn.

Hai chị em dừng lại trước chiếc cổng tre đan mắt cáo được khép hờ hững bằng một then cài bằng gỗ xoan. Bên trong khoảnh sân đất nện rộng rãi, sạch bóng không vương lấy một cọng rác rưởi, một người đàn ông trung niên trạc chừng năm mươi tuổi, vóc người đẫy đà, nét mặt phúc hậu đang cầm chiếc chổi đót cán tre, cần mẫn quét từng vệt lá ổi vàng rụng tản mác sau cơn gió lạnh ban đêm. Đó chính là Lưu Văn Hòa, người chủ tốt bụng của khu nhà trọ.

Nghe thấy tiếng bước chân lạo xạo dẫm lên lớp đá dăm nhỏ ngoài lối ngõ, Lưu Văn Hòa dừng tay chổi, ngẩng đầu nhìn ra. Khi nhận ra hai bóng dáng quen thuộc của hai đứa con lớn nhà Diệp Thành, nét mặt ông thoáng hiện lên một tia kinh ngạc, rồi rất nhanh sau đó, nụ cười hiền hậu, xởi lởi quen thuộc lại nở bừng trên khuôn mặt chữ điền rám nắng:

"Ủa, Tiểu Mãn đấy hả cháu? Kìa, cả thằng Nhị Hòa nữa. Sáng sớm tinh sương, sương mù còn dày đặc thế này mà hai chị em đã dắt díu nhau đi đâu mà lần sang tận mé xóm tây, qua nhà từ đường này thế?"

Tiểu Mãn đưa tay đẩy nhẹ cánh cổng tre kêu kẽo kẹt, bước qua ngưỡng cửa sân rồi dừng lại ở khoảng cách vừa phải. Cô khẽ cúi đầu, vòng hai tay ra phía trước thi lễ theo đúng phép tắc của bậc con cháu nơi thôn dã:

"Cháu chào Lưu đại thúc. Sáng nay lúc trời còn chưa tỏ, cháu ra mé khe nước ven núi hái được một ít rau muống dại đầu mùa mọc non mơn mởn. Cháu nhớ dạo này thúc và thím ăn chay niệm Phật vào tuần đầu tháng, nên cháu chọn lấy những ngọn mập nhất, rửa sạch bùn non rồi mang sang biếu thúc thím một rổ nhỏ để thím luộc chấm tương cho ngọt giọng ạ."

Lưu Văn Hòa buông cây chổi đót tựa vào gốc cây ổi bên hiên, bước lại gần đón lấy chiếc rổ từ tay Nhị Hòa. Khi lớp lá dong được hé mở, nhìn những cọng rau xanh mướt, cuống tròn mập, từng ngọn đều tăm tắp, sạch bong không dính lấy một hạt cát hay chút bùn lầy, trong lòng người đàn ông trung niên không khỏi dâng lên một niềm cảm khái xen lẫn xót xa. Chuyện gia đình Diệp Thành gặp đại nạn, bị cây gỗ trên núi Thanh Lĩnh đè gãy giập xương chân, rồi chuyện tên quản sự Lương Quảng Tài mặt sắt đen sì dẫn theo đám gia đinh hùng hổ xông vào tận buồng đòi siết đất, đòi nợ gán con chiều hôm qua... cả cái thôn Thanh Khê này từ trên xuống dưới, từ đầu làng đến cuối xóm nào có ai là không hay biết. Giữa lúc lâm vào cảnh nhà tan cửa nát, cha nằm liệt giường rên rỉ vì đau đớn, vậy mà đứa con gái lớn này không hề ngồi một chỗ ôm mặt khóc lóc than thân trách phận. Ngược lại, sáng sớm tinh mơ nó đã thức dậy tinh tươm, chăm chút từng cọng rau mang đi biếu xén đền ơn đáp nghĩa, đối nhân xử thế đâu ra đấy, đĩnh đạc lạ lùng.

"Gớm chết, nhà cháu đang lúc ngặt nghèo trăm bề như thế này, có mớ rau tươi ngon thế này sao không giữ lại trong nhà mà nấu độn với chút cháo loãng cho đàn em nó lót dạ, lại lặn lội mang sang cho thúc làm cái gì?" Lưu Văn Hòa vừa đỡ lấy chiếc rổ tre, miệng trách yêu nhưng ánh mắt lại chứa chan sự trìu mến và hài lòng. "Thúc nhận tấm lòng thơm thảo của hai đứa, nhưng lần sau không được bày vẽ thế này nữa đâu đấy nhé."

"Dạ, thúc cứ yên tâm, ở nhà cháu vẫn còn hái được một rổ đầy nữa, đủ cho cả nhà ăn hai bữa ạ." Tiểu Mãn khẽ mỉm cười, giọng điệu tự nhiên, chân thành không chút gượng gạo. "Thúc và thím nhận cho chúng cháu vui lòng. Nhân tiện... cháu cũng mạo muội muốn hỏi thăm thúc một câu, Tạ tướng công sớm nay đã thức giấc chưa ạ? Cháu có chút việc nan giải về chữ nghĩa, muốn cậy nhờ vào sự hiểu biết của huynh ấy chỉ dạy cho đôi điều."

Tiểu Mãn vừa dứt lời thì cánh cửa liếp đan bằng nứa của gian chái bên tả khẽ phát ra một tiếng cọt kẹt êm ái. Một bóng người cao gầy, đĩnh đạc trong bộ áo dài vải thô nhuộm màu xanh chàm đã giặt nhiều lần đến bạc phếch ở hai đầu cổ tay chậm rãi bước ra ngoài mái hiên.

Đó là Tạ Cảnh. Chàng thư sinh trạc chừng hai mươi mốt, hai mươi hai tuổi, sở hữu một gương mặt thanh tú, khôi ngô với sống mũi cao thẳng như tạc và đôi lông mày rậm hơi xếch lên. Đôi mắt chàng đen láy, sâu thẳm, toát ra một vẻ điềm tĩnh, ung dung và thông tuệ khác xa với vẻ nhốn nháo của những kẻ phàm phu tục tử. Mái tóc đen dài được chải chuốt gọn gàng, cố định bằng một chiếc trâm tiện từ gỗ mộc đơn sơ. Trên tay chàng lúc này đang cầm một cuốn sách thẻ tre đã sờn rách những sợi dây liên kết bằng da thuộc. Thấy hai chị em Tiểu Mãn đang đứng nép mình giữa khoảng sân ngập nắng sớm, Tạ Cảnh khẽ dừng bước, đưa tay lên ngang ngực khẽ gật đầu đáp lễ. Phong thái của chàng đĩnh đạc, hòa nhã, tuyệt nhiên không vương một chút kiêu ngạo hay xa cách thường thấy ở những bậc sĩ tử đối với kẻ dân cày lam lũ.

"Tiểu Mãn cô nương, Nhị Hòa đệ đệ, sớm mai sương lạnh thế này, hai người tìm đến Tạ mỗ có điều chi cần bàn bạc chăng?" Tạ Cảnh cất tiếng hỏi. Chất giọng của chàng trầm ấm, tròn trịa, vang lên giữa sớm mai tĩnh lặng nghe êm ái như tiếng khánh ngọc.

Lưu Văn Hòa thấy vậy liền vỗ tay cười xòa, quay sang nói với Tạ Cảnh rồi lại nhìn Tiểu Mãn:

"Đấy, cháu xem, Tạ tiên sinh của cháu ngày nào cũng thức dậy từ canh năm, đọc xong một lượt kinh thư cổ thư rồi mới chịu bước ra ngoài đấy. Có chuyện gì khó xử thì hai đứa cứ việc bước lên hiên mà giãi bày. Để thúc thu dọn chiếc bàn gỗ mộc ngoài chái cho thoáng đãng, đón gió sớm cho mát mẻ."

Nói đoạn, người chủ nhà trọ xốc lại vạt áo, nhanh nhẹn bước tới góc hiên, lấy chiếc khăn vải sạch lau cẩn thận mặt chiếc bàn gỗ dài và hai chiếc ghế đẩu mộc mạc, đoạn quay đầu lại nhìn Tiểu Mãn với ánh mắt đầy vẻ thán phục:

"Nói thật với hai đứa, chuyện xảy ra ở nhà họ Diệp chiều ngày hôm qua, cả cái xóm này người ta bàn tán xôn xao suốt từ tối đến giờ. Thúc nghe người ta kể lại mà không khỏi giật mình kinh ngạc. Cháu gái nhà họ Diệp quả thực là có lá gan bằng đồng, quả tim bằng sắt! Đổi lại là những đứa con gái khác bằng tuổi cháu trong làng, hễ thấy cái mặt hung hăng như hổ đói của Lương quản sự dắt theo lũ sai nha đến gõ cửa đòi siết nhà, siết đất thì đã sớm hồn xiêu phách lạc, chỉ biết chui vào xó buồng ôm chân cha mẹ mà khóc lóc thảm thiết. Vậy mà cháu lại dám đứng phắt ra chắn trước giường bệnh, giữ chặt tay cha không cho ấn dấu điểm chỉ vào tờ giấy gán ruộng, kiên quyết giữ lại bằng được hai mẫu đất hương hỏa ở Cồn Gió. Cả cái thôn Thanh Khê này, từ già đến trẻ ai nghe xong cũng phải thốt lên lời nể phục. Thôi, hai đứa mau ngồi xuống đây đi. Có Tạ tiên sinh ngồi đây làm chứng, chữ nghĩa hay giấy tờ tính toán gì cũng rành mạch, dẫu bọn cường hào ác bá có trăm phương ngàn kế xảo quyệt cũng chẳng mong qua mặt được đâu."

"Cháu đa tạ Lưu đại thúc đã có lòng thương xót và nâng đỡ chị em cháu." Tiểu Mãn cúi người cảm tạ một cách đoan trang.

Lưu Văn Hòa mỉm cười gật đầu rồi bưng chiếc rổ rau bước nhanh ra phía sau chái bếp để chuẩn bị nhóm lửa nấu bữa sớm, nhường lại khoảng không gian yên ắng ngoài hiên cho ba người trẻ tuổi. Không khí se lạnh của buổi sớm mai thoang thoảng mùi hương trầm mặc, thanh khiết của mực tàu và giấy bản từ trong gian phòng trọ của người thư sinh bay ra, xua tan đi phần nào mùi ẩm mốc của cỏ dại và sương đêm.

Tạ Cảnh ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện với hai chị em Tiểu Mãn. Ánh mắt chàng khẽ hạ xuống, kín đáo dừng lại trên đôi bàn tay của cô gái nhỏ. Đó là một đôi bàn tay gầy gò, các khớp xương ngón tay nổi rõ lên vì phải làm lụng vất vả từ thuở ấu thơ, trên mu bàn tay có những vệt da nứt nẻ vì ngâm nước lạnh, nơi khóe móng tay hãy còn vương lại chút nhựa rau xanh đen và những vết xước dăm do gai cỏ cào phải. Thế nhưng, khi chàng ngước mắt lên nhìn vào gương mặt cô, điều khiến Tạ Cảnh thực sự bất ngờ chính là ánh mắt ấy. Đôi mắt của Tiểu Mãn sáng rực, thẳng thắn, chứa đựng một nguồn sinh lực dồi dào và một sự tự chủ mạnh mẽ, hoàn toàn không có lấy một chút vẻ tự ti, rụt rè hay khúm núm của một kẻ bần nông đang đứng trước cửa nhà người có học.

"Tiểu Mãn cô nương, hôm nay cô nương tìm đến Tạ mỗ, chẳng hay có điều chi cần ta đem chút hiểu biết thô thiển ra san sẻ, đỡ đần?" Tạ Cảnh nhẹ nhàng mở lời, ngữ điệu mang theo sự trang trọng và bình đẳng tuyệt đối.

Tiểu Mãn khẽ hít một hơi thật sâu để giữ cho lồng ngực mình phẳng lặng. Cô thò tay vào trong bọc ngực áo, cẩn thận lấy ra một chiếc bọc bằng vải thô màu nâu đất được gấp thành bốn góc vuông vức, phẳng phiu. Cô đặt chiếc bọc vải lên mặt bàn gỗ mộc nhưng chưa vội mở ra ngay, đôi mắt nhìn thẳng vào người thư sinh đối diện, cất giọng rành rọt, khúc chiết:

"Tạ huynh, tiểu nữ mạo muội tìm đến huynh sớm nay, thực lòng là có hai việc lớn mang tính sống còn đối với gia đình cháu, tha thiết muốn cậy nhờ vào sự chỉ bảo của huynh. Việc thứ nhất, cả nhà cháu vừa trải qua một cơn đại nạn, chân của cha cháu bị gãy giập, tạm thời không thể bước xuống ruộng cày cấy hay lên rừng đốn củi được nữa, trong khi món nợ mười lăm lượng bạc vay của Lương gia như một tảng đá ngàn cân treo lơ lửng trên đầu. Cháu không thể ngồi yên chờ chết, cháu muốn tự mình đứng ra chèo chống, bắt tay vào việc trồng trọt các loại rau màu ngắn ngày và tính chuyện buôn bán nhỏ để kiếm từng đồng tiền bát gạo nuôi sống đàn em và tích cóp trả nợ. Thế nhưng, người xưa có câu 'buôn có bạn, bán có phường, làm ăn phải có sổ sách'. Cháu muốn nhờ Tạ huynh tận tình chỉ dạy cho cháu cách thức lập ra một cuốn sổ thu chi rõ ràng, mạch lạc, để làm sao mỗi một đồng tiền vào ra, từng cân hạt giống bỏ xuống đất, từng chiếc cuốc chiếc cày đem dùng đều được kiểm soát minh bạch, không bị thất thoát, hao hụt."

Đôi mày thanh tú của Tạ Cảnh khẽ nhướng lên, trong đôi mắt sâu thẳm bừng lên một tia kinh ngạc tột độ xen lẫn niềm tán thưởng khôn nguôi. Ở chốn thôn dã hẻo lánh này, việc đồng áng xưa nay vốn chỉ được người nông phu làm theo thói quen truyền đời, ngay cả những bậc gia trưởng từng trải nhiều năm còn chưa bao giờ nghĩ đến chuyện ghi chép sổ sách chi li, mọi việc chi tiêu đều chỉ ước lượng bằng mắt, áng chừng bằng bụng, hoặc đợi đến cuối năm gom góp lại thành một đống hỗn độn rồi than ngắn thở dài. Vậy mà một thiếu nữ mới mười bảy tuổi, sống giữa cảnh cơ hàn khốn khó cùng cực, lại có thể thấu suốt được cái đạo lý cốt lõi của việc quản lý tài chính và nhìn xa trông rộng đến mức độ này!

"Đó là một suy nghĩ vô cùng sáng suốt và đáng quý," Tạ Cảnh gật đầu, ánh mắt chan chứa sự khích lệ. "Thế còn việc thứ hai?"

Tiểu Mãn đưa những ngón tay gầy guộc, nhẹ nhàng mở từng lớp nếp gấp của mảnh vải thô, để lộ ra một tờ giấy bản ố vàng nằm nép mình bên trong. Mép của tờ giấy đã hơi sờn rách, ngả sang màu xám xịt của thời gian và khói bếp:

"Việc thứ hai... cháu muốn khẩn khoản nhờ Tạ huynh dùng con mắt tinh tường của người đọc sách soi xét giúp cháu bản văn tự vay nợ này. Đây là tờ khế ước mà cha cháu đã điểm chỉ vay nợ của trang viện Lương gia vào đầu tháng bảy vừa qua. Cháu dốt nát không biết mặt chữ, cha cháu quanh năm cắm mặt vào đất cát cũng chỉ nhận biết được lõm bõm dăm ba chữ thông dụng trên bảng chia ruộng của lý trưởng. Chiều ngày hôm qua, khi tên Lương quản sự dẫn người đến đòi nợ, ông ta liên tục nói năng quanh co, lấp liửng về những khoản chi phí phát sinh, đòi thêm năm tiền bạc ngoài số hai lượng tiền lãi định kỳ. Cháu linh cảm thấy trong bản văn tự này có điều gì đó mờ ám, uẩn khúc không thỏa đáng, nhưng vì không đọc thông viết thạo khế ước nên không dám chắc chắn để cãi lại bọn họ."

Tạ Cảnh chăm chú lắng nghe từng lời của cô gái, sự trầm tĩnh trên gương mặt chàng dần chuyển thành vẻ trang nghiêm, thấu hiểu. Chàng khẽ gật đầu, đứng dậy bước vào gian phòng trọ của mình. Chỉ một lát sau, chàng đã quay trở lại với những vật dụng quen thuộc trên tay: một phiến nghiên mực bằng đá xám cổ kính, một thỏi mực thông yên đen nhánh tỏa ra mùi hương nhựa thông dìu dịu, một chiếc bút lông thỏ ngòi nhọn hoắt đã được tỉa tót cẩn thận, cùng một tập thẻ tre gồm hàng chục thanh tre cật đã được vót mỏng, mài nhẵn thín hai mặt và buộc lại bằng những sợi dây bện chắc chắn.

"Việc học cách lập sổ sách và tính toán số học là nền tảng căn bản nhất của đạo kinh doanh và quản lý gia nghiệp. Cô nương có chí hướng tự lập, có lòng muốn học điều ngay lẽ phải, Tạ mỗ đâu dám tiếc chút công sức mọn này." Tạ Cảnh vừa cầm thỏi mực mài đều đặn trên mặt phiến đá xám đã nhỏ vài giọt nước giếng trong vắt, vừa chậm rãi truyền dạy: "Chúng ta hãy bắt đầu từ cuốn sổ tay của cô nương trước. Khi đầu óc đã được sắp xếp trật tự, tinh thần sáng suốt, việc soi xét lại văn tự nợ nần mới không bị những nỗi lo âu làm cho thiên lệch, rối rắm."

Chàng đặt tập thẻ tre xuống giữa mặt bàn gỗ. Từng thanh tre vàng óng ả màu nắng phơi, thớ tre mịn màng tỏa ra mùi ngai ngái, thơm nồng của cật tre già.

"Lập một cuốn sổ thu chi, điều tối kỵ nhất của người quản lý chính là ghi chép một cách hỗn tạp, việc nọ xọ việc kia, không phân định rõ ràng nguồn cơn gốc rễ." Tạ Cảnh nhẹ nhàng chấm ngòi bút lông vào nghiên mực đen láy, cổ tay chàng khẽ chuyển động, một đường thẳng tắp như sợi chỉ căng mực lập tức hiện ra dọc theo chiều dài của thanh tre đầu tiên. "Ta sẽ phân chia phiến tre này thành năm cột dọc chính yếu: Cột thứ nhất là 'Nhật kỳ', tức là ghi rõ ngày tháng phát sinh công việc; cột thứ hai là 'Danh mục', ghi chép cụ thể tên của từng loại vật phẩm, công việc hoặc sự tình cần chi tiêu; cột thứ ba là 'Nhập', là ghi lại số tiền thu về hoặc số lượng hạt giống, nông cụ, phân bón nhận vào; cột thứ tư là 'Xuất', ghi rõ rành mạch những gì bản thân đã phải bỏ ra, tiêu tốn đi; và cột cuối cùng là 'Tồn', tức là số lượng thực tế còn lại sau khi lấy cột 'Nhập' trừ đi cột 'Xuất'."

Tiểu Mãn mở to đôi mắt, chăm chú theo dõi từng nét bút dứt khoát, uyển chuyển của Tạ Cảnh. Dù chưa từng được học qua chữ nghĩa của thánh hiền, nhưng nhờ có sự nhạy bén thiên bẩm và những lời răn dạy tỉ mỉ của người bà ngoại quá cố—Lâm Thu Bà, một người đàn bà sắc sảo từng nếm trải bao sóng gió—Tiểu Mãn nhanh chóng nắm bắt được cái logic chặt chẽ trong cách sắp xếp không gian trên từng thanh tre nhỏ hẹp ấy.

"Tạ huynh giảng giải quả thực vô cùng thông suốt và dễ hiểu." Tiểu Mãn khẽ mấp máy đôi môi, cất lời tiếp nối: "Ý của huynh có phải là, nếu sáng nay cháu đem gieo nửa đấu hạt giống rau cải bẹ, ngày mai lại bỏ ra hai thúng tro bếp để ủ phân bón lót, thì tất cả những thứ ấy cháu đều phải ghi chép cẩn thận vào cột 'Xuất', tuyệt đối không được bỏ sót một cọng rơm hạt thóc nào? Để đến khi rau lớn, cắt bán ra tiền ở chợ huyện, cháu mới có thể đem số tiền thu được trừ ngược lại cho chỗ hạt giống và tro trấu đã bỏ ra, từ đó mới biết chính xác mồ hôi công sức của mình thực sự sinh ra được bao nhiêu đồng tiền lời, có đúng không ạ?"

Nghe xong câu hỏi ấy, ngòi bút lông trên tay Tạ Cảnh đột ngột dừng sững lại giữa khoảng không. Chàng ngẩng đầu lên, ánh mắt chạm thẳng vào ánh mắt của Tiểu Mãn, trong đáy mắt chàng dâng lên một sự kinh ngạc khôn xiết xen lẫn niềm thán phục chân thành:

"Đúng vậy! Cô nương nói trúng ngay vào chỗ tinh túy nhất của việc tính sổ! Phàm là những kẻ buôn thúng bán mẹt ngoài chợ đời, mười người thì có đến chín người chỉ chăm chăm đếm số tiền xâu lẻ thu được sau buổi chợ mà vội vàng mừng rỡ, hoàn toàn quên khuấy đi mất tiền mua giống, tiền mua tro trấu, thậm chí quên cả công sức thức khuya dậy sớm gánh nước tưới tắm của chính bản thân mình. Họ tưởng mình có lãi, nhưng kỳ thực là đang lấy chính công lao khổ cực của mình đem bù vào chỗ lỗ lã mà không hề hay biết. Một người nông thôn chưa từng bước chân vào chốn nha môn hay phố thị như cô nương, mà lại có thể thấu suốt được khái niệm về chữ 'Vốn' một cách toàn diện, sâu sắc đến nhường này, quả thực là có thiên tư trác tuyệt về đường tính toán, kinh doanh!"

Nhị Hòa đứng nép bên cạnh mép bàn, nghe thấy vị tú tài học rộng tài cao không tiếc lời khen ngợi chị gái mình, khuôn mặt đen nhẻm vì cháy nắng của cậu bé bỗng chốc rạng rỡ hẳn lên. Cậu bé tự hào ưỡn ngực, ánh mắt lấp lánh niềm vui sướng, chăm chú nhìn từng nét sổ dọc, nét móc ngang trên phiến tre như muốn nuốt trọn lấy từng lời chỉ dẫn quý báu ấy vào sâu trong tâm trí.

"Bây giờ, cô nương hãy nói cho ta biết những con số cụ thể, chân thực nhất về gia cảnh hiện tại của nhà cô nương, ta sẽ hướng dẫn cô nương ghi lại mục đầu tiên vào cuốn sổ này." Tạ Cảnh thu lại nét mặt nghiêm nghị, lại khẽ chấm đầu bút lông vào nghiên mực.

Tiểu Mãn không cần phải đắn đo hay nhẩm tính lấy nửa khắc. Những con số lạnh lùng, chuẩn xác mà đêm qua cô đã dùng mẩu than củi vạch từng vạch nguệch ngoạc lên chiếc nong rách nát bên cạnh giường bệnh của cha lập tức hiện lên rõ mồn một trong tâm trí:

"Dạ thưa Tạ huynh, hiện tại trong hũ gạo nhà cháu chỉ còn vỏn vẹn mười tám bát gạo tấm mạt, nếu đem đong bằng thúng gạt ngang miệng thì chưa đầy hai phần mười của một thúng. Ngô hạt loại lép và vụn còn lại một thúng rưỡi, cân lên nặng chừng hai mươi mốt cân, nhưng trong đó đã có khoảng ba cân ngô nằm ở sát đáy thúng bị ẩm ướt và chớm mốc meo ở đầu mày hạt, bắt buộc phải sàng sảy đãi bỏ để tránh ngộ độc. Nông cụ dùng để cày xới trong nhà thì chỉ có một chiếc lưỡi cày bằng gang thô đã bị mẻ mất một góc rộng chừng ba phân, hai chiếc cuốc chim thì đều bị gãy đôi cán tre mục, tối qua thằng Nhị Hòa vừa mới lặn lội đi chặt cành cây xoan già về tra lại được một cán; ngoài ra còn một chiếc bừa tre đan cật thì đã bị gãy rụng mất đúng năm chiếc răng bừa."

Cô gái mười bảy tuổi cất giọng nói một hơi dài, âm lượng không cao nhưng đều đặn, rành mạch và chuẩn xác đến từng chi tiết vụn vặt nhất của một gia đình nông dân nghèo khó. Tạ Cảnh lại một lần nữa sững sờ. Bàn tay cầm bút lông của chàng khẽ bất động trên mặt thẻ tre, ánh mắt chàng nhìn chăm chú vào gương mặt gầy guộc của cô gái, vẻ mặt càng lúc càng trở nên nghiêm túc hơn:

"Mười tám bát gạo tấm mạt, nếu tính theo mức ăn tằn tiện nhất của một gia đình gồm sáu miệng ăn, trong đó có một người bệnh nặng cần bồi dưỡng, mỗi bữa dùng một bát rưỡi nấu thành cháo hoa thật loãng độn cùng thật nhiều rau dại, mỗi ngày ăn hai bữa cầm hơi, thì số gạo tấm này chỉ có thể duy trì được đúng trong vòng sáu ngày. Còn lại hai mươi mốt cân ngô hạt, trừ đi ba cân bị chớm mốc phải vứt bỏ thì còn lại mười tám cân ngô lành. Nếu đem số ngô đó giã thành bột thô rồi đem độn chung vào nồi cháo..."

Tạ Cảnh còn chưa kịp nhẩm hết câu tính trong đầu thì Tiểu Mãn đã lập tức cất giọng tiếp lời một cách trôi chảy, không một chút vấp váp:

"Mười tám cân ngô hạt loại lép sau khi xay xát và loại bỏ hết phần mày ngô cùng vỏ trấu cám bã thì chỉ còn thu về được chừng mười lăm cân bột ngô thô. Mỗi một ngày, nhà cháu bắt buộc phải chia đều, độn thêm đúng một cân hai lạng bột ngô vào nồi cháo rau loãng cho cả nhà húp cầm hơi. Như vậy, số lương thực ít ỏi này sẽ giúp gia đình cháu duy trì được mạng sống trong vòng mười hai ngày rưỡi nữa, tính chuẩn xác từ bữa sáng ngày hôm nay cho đến đúng buổi trưa ngày mười bốn tháng mười âm lịch, tức là vừa vặn trước cái hạn chót nộp hai lượng bạc tiền lãi cho Lương gia đúng một ngày rưỡi."

Bàn tay cầm bút của Tạ Cảnh khẽ run rẩy một nhịp rất nhẹ. Chàng không kìm được mà ngẩng phắt đầu lên, trân trân nhìn vào cô thôn nữ nhỏ bé trước mặt mình. Không có một chiếc bàn tính bằng gỗ mun với những hạt tính gẩy lách cách bên cạnh, cũng chẳng có lấy một mảnh giấy nháp hay giọt mực nào để đặt phép tính nhân chia, chỉ bằng vài cái chớp mắt và sự suy xét thầm lặng trong đầu óc, cô gái này đã nhẩm tính ra được độ hao hụt chuẩn xác của ngũ cốc sau khi xay giã, tỷ lệ chia khẩu phần ăn từng bữa cho sáu con người đói rách, và thậm chí còn xác định được cái mốc thời gian sinh tồn sống còn chuẩn xác đến từng nửa ngày trời! Một trí nhớ siêu phàm về những con số cụ thể, một khả năng tính nhẩm nhanh như chớp giật và một sự chuẩn xác đến lạnh lùng như thế... Tạ Cảnh dám khẳng định, ngay cả những gã kế toán trưởng lão luyện nhất đang làm việc trong các hiệu buôn lớn trên huyện lỵ, hay đám môn sinh chuyên dùi mài kinh sử chuẩn bị thi vào Hộ bộ ở kinh thành, cũng chưa chắc đã có được sự nhạy bén và sắc sảo nhường này!

"Cô nương... trước đây chẳng hay đã từng được bậc danh sư nào truyền dạy qua về thuật toán số, hay đã từng học qua cách sử dụng bàn tính của các thương nhân?" Tạ Cảnh buột miệng cất tiếng hỏi, trong thanh âm của chàng tràn ngập sự thán phục sâu sắc không cách nào che giấu nổi.

Tiểu Mãn khẽ lắc đầu, đôi gò má gầy hơi ửng lên một vệt hồng nhạt vì ánh mắt nhìn chăm chú đầy kinh ngạc của người thư sinh tuấn tú:

"Dạ bẩm Tạ huynh, cháu nào có diễm phúc được học hành cao xa như thế. Trước kia khi bà ngoại cháu còn sống trên cõi đời, bà cháu thường xuyên dắt cháu theo bên mình. Bà dạy cho cháu cách đong đếm từng bát hạt giống khi đem phơi trên sân gạch, cách ước lượng từng vốc muối hạt khi muối dưa chua, ủ vại tương bần. Bà ngoại cháu từng bảo: 'Người làm ruộng nghèo khổ thì không bao giờ được phép để rơi vãi, lãng phí dù chỉ là một hạt thóc mẩy, muốn sống sót qua được những mùa đông giá rét cắt da cắt thịt thì từng hạt gạo trong hũ sành, từng hạt muối trong vò đất đều phải được đếm rành rẽ trong đầu óc'. Cháu sống bên cạnh bà từ nhỏ, nhìn quen mắt, làm quen tay, nên tự khắc trong đầu cứ hình thành thói quen tính toán chi li từng li từng tí như vậy thôi ạ."

Tạ Cảnh lặng người đi trong giây lát, ánh mắt nhìn Tiểu Mãn lại càng tăng thêm vài phần kính trọng và trân quý. Đó tuyệt đối không phải là thứ học vấn giáo điều, sáo rỗng chết cứng được nhồi nhét từ những trang sách thánh hiền kinh điển, mà đó chính là sự thông tuệ được kết tinh từ chính nỗi thống khổ gian truân của kiếp nhân sinh, từ bản năng sinh tồn quật cường và mãnh liệt của những con người gắn chặt máu thịt mình với từng tấc đất bờ ruộng.

"Được lắm, rất tốt!" Tạ Cảnh khẽ mỉm cười. Đó là một nụ cười hiếm hoi, ấm áp như ánh nắng mùa xuân rọi chiếu, làm bừng sáng cả gương mặt vốn luôn đượm vẻ nghiêm nghị, trầm mặc của chàng thư sinh. "Có được một trí tuệ sắc sảo và bản lĩnh kiên cường như thế này, thì việc học cách quản lý sổ sách đối với cô nương sẽ chẳng có gì là khó khăn cả. Nào, Tiểu Mãn cô nương, cô nương hãy cầm lấy chiếc bút này, ta sẽ cầm tay chỉ cho cô nương cách viết từng chữ số cơ bản từ một cho đến mười, cùng ba chữ cốt lõi nhất: 'Thu', 'Chi', và 'Tồn'."

Nói rồi, Tạ Cảnh xoay cán bút lại, đưa chiếc bút lông thỏ về phía Tiểu Mãn. Bàn tay thô ráp, nứt nẻ của cô thôn nữ khẽ vươn ra đón lấy. Đầu ngón tay thô ráp của cô vô tình chạm nhẹ vào những ngón tay thon dài, ấm áp và mềm mại của người thư sinh trẻ. Tiểu Mãn hơi giật mình, một cảm giác tê rần kỳ lạ thoáng lướt qua nơi đầu ngón tay, nhưng cô nhanh chóng nén lòng lại, lấy lại sự bình thản và tập trung cao độ. Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ, kiên nhẫn từng li từng tí của Tạ Cảnh, Tiểu Mãn run run nắn nót đưa từng nét bút vụng về nhưng vô cùng dứt khoát lên trên từng thanh tre mỏng. Từng con số một, hai, ba... từng danh mục hạt giống cải bẹ, củ cải trắng, số lượng tro trấu, phân ủ dần dần hiện ra ngay ngắn, rành mạch trên cuốn sổ thẻ tre đầu tiên trong cuộc đời cô.

Từng vệt mực đen nhánh thấm đều vào thớ cật tre đã được mài nhẵn, dưới ngọn bút lông mềm mại của Tạ Cảnh, những con số khô khan biến thành những hàng lối trật tự, lớp lang rõ ràng. Không còn là những mảnh vụn ký ức mập mờ chực chờ rơi rụng sau mỗi phiên chợ, cũng chẳng còn là nỗi âu lo mơ hồ về vài đồng tiền kẽm thất thoát không rõ tung tích, tất cả tài sản, manh mối sinh kế và từng phần công sức của hai chị em đã được đóng đinh trên từng phiến cật mỏng manh mà bền bỉ ấy.

Sau gần nửa canh giờ tỉ mẩn chép lại từng khoản thu chi vụn vặt, cuốn sổ tay ban đầu rốt cuộc cũng hoàn thành. Mực trên những thẻ tre cuối cùng vừa kịp se lại dưới làn gió hanh hao thổi qua bậu cửa. Nhị Hòa đứng nép bên cạnh mép bàn mộc, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước bụng, đôi mắt mở to sáng ngời đầy vẻ khâm phục và tự hào. Thằng bé nhìn xấp thẻ tre được xâu lại bằng sợi dây gai se đôi chắc chắn, khẽ chớp mắt như thể vẫn chưa dám tin rằng gia cảnh nghèo túng, chật vật của mấy cha con lại có thể được thu gọn ngay ngắn trong lòng bàn tay một cách trang nghiêm đến thế.

"Bây giờ," Tạ Cảnh đặt chiếc bút lông đã chấm bớt mực thừa xuống chiếc gác bút bằng gốm thô màu da lươn, khẽ vươn vai xua đi cơn mỏi nơi bả vai, ánh mắt anh dần chuyển hướng sang tờ giấy bản ố vàng nằm lặng lẽ ở mép bàn bên cạnh, "chúng ta hãy xem đến bản văn tự nợ của Lương gia."

Tiểu Mãn khẽ thở phào một hơi dài, lồng ngực vừa vơi bớt phần nào ức nghẹn nay lại bất giác thắt lại khi nhìn thấy góc giấy đã ngả màu nâu xỉn. Cô cẩn thận dùng hai đầu ngón tay nâng mép giấy, đẩy nhẹ về phía Tạ Cảnh:

"Nhờ Tạ huynh xem kỹ giúp cháu. Cha cháu kể, ba tháng trước khi bị cây gỗ đè gãy chân trên núi Thanh Lĩnh, vết thương hoại tử sốt mê man, bác cả Diệp Đại Phúc là người đứng ra làm mối để vay mười lăm lượng bạc từ trang viện họ Lương. Lúc đó cha cháu đau đớn không ngồi dậy nổi, chỉ nghe đọc qua rồi ấn dấu tay điểm chỉ. Hôm qua Lương quản sự đến, giọng điệu rất hung hăng, nằng nặc đòi hai lượng bạc tiền lãi đợt một kèm theo năm tiền phí sổ sách gì đó, nếu không sẽ tịch thu hai mẫu ruộng Cồn Gió của nhà cháu."

Giọng cô gái nhỏ đều đều, cố giữ vẻ bình thản đến mức gượng gạo, nhưng từng ngón tay gầy guộc tỳ lên mặt bàn gỗ thô vẫn lộ rõ những đốt xương trắng bệch vì kìm nén. Nỗi thống khổ của những đêm dài cha cô rên rỉ vì mảnh xương vụn đâm thủng da thịt, mùi thuốc lá đắng chát xông sực trong gian nhà dột nát, cùng nụ cười ngọt nhạt đầy toan tính của người bác ruột khi dẫn tay quản sự họ Lương bước vào ngõ... tất cả dường như lại dội về, buốt nhói trong từng thớ thịt.

Sắc mặt Tạ Cảnh trở nên nghiêm nghị khác thường. Vẻ hòa nhã, cởi mở ban nãy khi chỉ dạy bọn trẻ hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự cẩn trọng, sắc sảo của một kẻ đã từng dùi mài kinh sử, thấu tỏ sự lắt léo nơi cửa quan và những cạm bẫy giấy tờ nơi thôn dã. Anh đưa tay nâng mép tờ giấy nợ lên, động tác vô cùng nâng niu như sợ lớp giấy giòn xốp ấy có thể rách toạc bất cứ lúc nào. Tạ Cảnh đặt phẳng phiu tờ văn tự xuống giữa mặt bàn gỗ, rồi hơi nghiêng người đón ánh nắng ban mai rọi xiên qua giàn dâm bụt bên hiên để soi rõ từng nét mực.

Tờ văn tự được viết bằng thứ chữ khải chân phương, nét bút cứng cáp, gãy gọn, từng nét sổ như rạch đá, từng nét mác như lưỡi dao chém xuống, rõ ràng là do một thư ký chuyên nghiệp của phủ địa chủ họ Lương chấp bút. Loại giấy bản này pha nhiều xơ tre, mặt giấy thô ráp và dễ loang mực, nhưng người viết hạ bút rất mực dứt khoát, chứng tỏ bản lĩnh của kẻ đã quen tay thảo hàng trăm khế ước siết nợ khắp dải Thanh Khê này.

Tạ Cảnh khẽ hắng giọng, đọc lướt qua phần đầu bằng giọng điệu trầm trầm, chậm rãi để hai chị em cùng nghe:

"Chính văn ghi rất rõ: Vào ngày mùng ba tháng bảy năm Cảnh Hòa thứ mười hai, nông hộ Diệp Thành, trú tại thôn Thanh Khê, có vay của bản trang Lương phủ số bạc trắng là mười lăm lượng nguyên bảo. Kỳ hạn vay là một năm, chia làm bốn kỳ đóng lãi. Mỗi kỳ ba tháng, tiền lãi là hai lượng bạc trắng. Hạn nộp lãi kỳ thứ nhất là ngày rằm tháng mười cùng năm. Nếu đến hạn không nộp đủ lãi, chủ nợ có quyền phát mãi tài sản thế chấp là hai mẫu ruộng tại gò Cồn Gió..."

Nghe đến đây, Nhị Hòa không kìm được bức xúc trong lòng, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau nghe ken két, viền mắt đỏ hoe:

"Mười lăm lượng bạc gốc, mỗi năm đóng bốn kỳ lãi, mỗi kỳ hai lượng, vậy một năm tiền lãi đã là tám lượng bạc trắng! Lãi mẹ đẻ lãi con, bọn họ quả thực muốn ép chết nhà người ta!"

Thằng bé siết chặt nắm tay, ngực phập phồng giận dữ. Tám lượng bạc trắng đối với một gia đình nông dân cày sâu cuốc bẫm ở xóm bãi này là cả một gia tài khổng lồ, là mồ hôi nước mắt của mấy mùa lúa, là biết bao gánh củi, gánh rau bán thâu đêm suốt sáng. Mười lăm lượng nợ gốc còn trơ trơ ra đó, chưa trả được một đồng, mà chỉ riêng tiền lãi một năm đã nuốt trọn hơn nửa số vốn vay ban đầu. Đó chẳng phải là muốn đẩy người ta vào đường cùng, ép người ta phải bán con đợ mình hay sao?

Tạ Cảnh dừng lại một nhịp, khẽ thở dài, trong mắt thoáng qua nét xót xa quen thuộc của một kẻ áo vải thấu hiểu nỗi khổ của bần nông:

"Mức lãi này tuy cao, nhưng đối với các khoản vay khẩn cấp không có tài sản lớn bảo chứng ở vùng nông thôn, nha môn thường coi là giao kèo dân sự đôi bên cùng thuận tình, khó mà dùng luật để bãi bỏ. Điều này cha các người khi vay hẳn đã chấp nhận."

"Chuyện đó thì cha cháu hiểu rõ." Tiểu Mãn điềm tĩnh ngắt lời, đôi mày thanh tú khẽ nhíu lại, ánh mắt không hề dao động. "Hai lượng bạc tiền lãi cho kỳ một, dù có phải vắt kiệt mồ hôi nước mắt, bán từng mớ rau non, nhà cháu cũng sẽ gom đủ trước giờ ngọ ngày rằm để nộp cho bọn họ. Điều cháu nghi ngờ là năm tiền phí mà Lương quản sự nhắc tới chiều qua. Trong lời ăn tiếng nói của ông ta có sự chần chừ, mập mờ, dường như đang thăm dò xem nhà cháu có biết chữ hay không."

Nàng nhớ lại từng cái liếc xéo sắc lẻm, cái nhếch mép nửa miệng và thái độ giấu giấu giếm giếm của Lương Quảng Tài khi đứng dưới bóng râm gốc mít chiều hôm ấy. Hắn cố tình nhắc đến khoản tiền năm trăm đồng tiền kẽm như một lẽ dĩ nhiên, nhưng khi thấy nàng nhìn thẳng vào mắt hắn gặng hỏi về giấy trắng mực đen, đáy mắt hắn lại gợn lên một tia chột dạ thoáng qua. Sự gian trá của kẻ quen nghề lừa lọc khó lòng che giấu được trước một ánh nhìn chăm chú và kiên định.

Lời nói của Tiểu Mãn khiến Tạ Cảnh chú ý hơn. Anh nhận ra cô thôn nữ này tuy tuổi đời còn nhỏ, lại sống nơi thôn dã hẻo lánh, nhưng tâm tư lại kín kẽ và bén nhạy đến lạ thường. Anh không đọc lướt nữa mà cúi sát người xuống, ngón tay trỏ chầm chậm rà theo từng dòng chữ, từng dấu triện đỏ từ trên xuống dưới một cách tỉ mỉ.

Mọi điều khoản về số tiền vay, ngày trả, chữ ký của người vay Diệp Thành, người làm chứng là trưởng thôn Phạm Đức Thuận và người bảo lãnh Diệp Đại Phúc đều hiện rõ ràng trên nền giấy vàng. Nét mực son của con dấu hình vuông khắc bốn chữ "Lương Phủ Điền Trang" đỏ tươi như máu, đóng đè lên chữ ký của các bên, nom vô cùng vững chắc và hợp pháp.

Tạ Cảnh lần giở từng góc giấy, đối chiếu từng câu cú theo lối hành văn khế ước thông dụng thời Cảnh Hòa. Thoạt nhìn, quả thực không có gì sai sót hay sơ hở để bẻ lại.

Tuy nhiên, khi ánh mắt Tạ Cảnh di chuyển xuống góc dưới cùng bên tay phải của tờ giấy bản—nơi giáp ranh giữa mép giấy bị sờn rách vì cọ xát và viền ngoài dấu triện đỏ của phủ địa chủ họ Lương—đôi chân mày thanh tú của anh đột ngột thắt chặt lại.

Đầu ngón tay trỏ của Tạ Cảnh khựng lại giữa không trung. Anh nheo mắt, đưa ngón tay chạm nhẹ vào một vệt mực màu xám nhạt nằm lọt thỏm nơi nếp gấp cũ. Vệt mực ấy dường như cố tình dùng loại mực kém phẩm chất, pha nhiều nước và dùng ngòi bút cực nhỏ để viết đè lên những đường vân gỗ gồ ghề của thớ giấy dó, khiến người đọc nếu chỉ nhìn lướt qua dưới ánh sáng trong nhà sẽ ngỡ đó chỉ là những vết mốc ẩm hoặc đường chỉ xơ của giấy.

"Tạ huynh, có điều gì bất thường sao?" Tiểu Mãn tinh ý nhận ra sự biến đổi trên sắc mặt của anh, liền khẽ hỏi, giọng nói vô thức hạ thấp xuống như sợ làm vỡ tan sự tập trung cao độ của người đối diện.

Tạ Cảnh không đáp ngay. Anh cẩn thận cầm hai góc tờ giấy lên, giơ thẳng về phía luồng ánh sáng mặt trời rọi qua khe lá dâm bụt, soi thật kỹ từng nét móc li ti, từng nét phẩy mảnh như sợi tóc. Dưới ánh sáng ban mai gay gắt, lớp mực xám nhạt kia hiện hình rõ rệt, tách biệt hẳn với lớp mực tàu đen bóng của phần chính văn bên trên.

Sau một lúc lâu trầm mặc, trong gian nhà trọ chỉ còn nghe tiếng gió khẽ lay cành lá bên ngoài và tiếng thở nặng nề của Nhị Hòa, Tạ Cảnh mới đặt tờ giấy xuống mặt bàn. Anh thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực khẽ run lên, trong đôi mắt vốn dĩ luôn điềm đạm bỗng bốc lên ngọn lửa giận dữ kìm nén:

"Quả nhiên là có quỷ kế! Lương Quảng Tài và kẻ chấp bút cho Lương gia thật là nham hiểm vô cùng!"

Nhị Hòa giật nảy mình, mặt mày tái mét:

"Có chuyện gì vậy Tạ tiên sinh? Bọn họ gian lận cái gì trong đó?"

Tạ Cảnh đưa đầu ngón tay chỉ thẳng vào góc dưới cùng, nơi có một dòng chữ nhỏ chỉ bằng hạt kê, nếu không nhìn kỹ dưới ánh sáng mạnh thì sẽ dễ dàng tưởng nhầm là những vết ố bẩn do nước mưa hay giấy cũ để lại:

"Các người nhìn kỹ chỗ này. Ở góc dưới mép giấy, ngay sát cạnh dấu triện đỏ, có một dòng chữ phụ ghi chèn vào: 'Phí bảo quản văn tự mỗi kỳ ba phần trăm'. Nét chữ này nhỏ hơn hẳn văn bản chính, dùng mực nhạt, lại cố tình viết chèn vào khoảng trống hẹp giữa dòng cuối và mép giấy bị gấp nếp!"

Tiểu Mãn lập tức ghé sát lại gần mặt bàn, nheo mắt dồn toàn bộ sự chú ý vào điểm Tạ Cảnh vừa chỉ. Quả đúng như lời anh nói, nơi góc giấy gồ ghề ấy, lẩn khuất dưới bóng mờ của một nếp gấp chéo đã sờn rách, là một hàng chữ li ti viết bằng lối chữ thảo nguệch ngoạc. Trái tim cô như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt lại, từng nhịp đập giáng mạnh vào lồng ngực, nhưng đầu óc cô lại càng thêm tỉnh táo, sắc lạnh như dòng nước suối đầu đông:

"Phí bảo quản văn tự mỗi kỳ ba phần trăm? Khoản tiền này tính cụ thể là như thế nào hả huynh?"

Tạ Cảnh không trả lời ngay bằng lời. Anh cầm lấy chiếc bút lông, chấm một chút mực còn sót lại nơi nghiên đá rồi viết một phép tính rõ ràng lên một phiến tre nháp đặt bên cạnh:

"Ba phần trăm! Nghe qua thì tưởng là một con số nhỏ, nhưng chữ 'ba phần trăm' này không ghi rõ là ba phần trăm của tiền lãi hai lượng, hay là ba phần trăm của tổng số bạc gốc mười lăm lượng!"

Tạ Cảnh gằn giọng phân tích, từng lời từng chữ sắc bén như dao mổ trút bỏ lớp vỏ bọc mỹ miều của lũ cường hào:

"Nếu tính theo tiền lãi hai lượng, ba phần trăm chỉ là sáu mươi đồng tiền kẽm. Đó là một khoản tiền nhỏ, chỉ tương đương vài mớ rau, người vay nếu túng thiếu cũng có thể cắn răng chịu đựng được. Nhưng nếu bọn chúng giải thích theo nghĩa là ba phần trăm trên tổng số bạc gốc mười lăm lượng, thì mỗi kỳ ba tháng, ngoài hai lượng bạc lãi trắng trợn kia, gia đình cô nương sẽ phải nộp thêm đúng bốn trăm năm mươi đồng tiền kẽm—tức là gần nửa lượng bạc nữa! Chiều qua Lương quản sự đòi năm tiền phí sổ sách, chính là hắn đã tự tiện làm tròn con số bốn trăm năm mươi đồng này lên năm trăm đồng!"

"Trời đất ơi!" Nhị Hòa tức đến run rẩy cả người, hai bàn tay nắm chặt lại thành nắm đấm, khớp ngón tay trắng bệch, toàn thân run lên bần bật vì phẫn uất. "Bốn trăm năm mươi đồng tiền kẽm! Nửa lượng bạc trắng! Nhà chúng ta kiếm đâu ra ngần ấy tiền ngoài số hai lượng bạc lãi? Lương gia bọn họ... bọn họ rõ ràng là muốn dồn cả nhà ta vào chỗ chết để cướp ruộng mà!"

Thằng bé nhìn chị gái, trong hốc mắt ngân ngấn nước nhưng không phải vì yếu đuối mà vì uất ức tột cùng. Bốn trăm năm mươi đồng tiền kẽm, đối với nhà họ lúc này, là một gánh nặng khổng lồ. Để có được số tiền đó, chị em cô phải bán bao nhiêu gánh cải, gánh bao nhiêu thùng nước tưới, thức trắng bao nhiêu đêm bên luống đất cằn cỗi?

Tiểu Mãn hít một hơi thật sâu, luồng khí mát lạnh đầu ngày tràn vào cuống họng, thấm sâu vào lồng ngực giúp cô dập tắt cơn chấn động và giận dữ đang chực bùng lên như lửa củi. Nàng nhắm mắt lại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, rồi mở ra. Đôi mắt đen láy của nàng lúc này tối sầm lại, sâu thẳm, tĩnh lặng và lạnh lùng đến mức khiến người đối diện phải rùng mình:

"Không chỉ có vậy đâu, Nhị Hòa."

Tiểu Mãn chuyển ánh nhìn sang Tạ Cảnh, cất giọng trầm tĩnh đến đáng sợ:

"Tạ huynh, có phải nếu đến kỳ hạn, chúng ta mang đủ hai lượng bạc tiền lãi đến nộp, nhưng không có đủ bốn trăm năm mươi đồng tiền phí bảo quản mờ ám này, bọn chúng hoàn toàn có thể lấy cớ chúng ta 'không hoàn thành nghĩa vụ theo văn tự' để từ chối nhận tiền lãi, rồi tuyên bố chúng ta bội ước mà kéo nha dịch về xiết ruộng Cồn Gió, đúng không?"

Tạ Cảnh nhìn thẳng vào mắt Tiểu Mãn, trong lòng không khỏi chấn động mãnh liệt trước sự nhạy bén và tầm nhìn sắc sảo của cô thôn nữ áo vải này. Cô không chỉ nhìn thấy số tiền bị mất trước mắt, không chỉ biết xót xa cho mấy trăm đồng tiền kẽm mồ hôi nước mắt, mà còn nhìn thấu tận đáy cái bẫy hiểm độc giấu sau điều khoản mờ ám kia! Một thiếu nữ mười mấy tuổi, chưa từng bước chân ra khỏi ranh giới huyện thành, lại có thể trong chớp mắt nhìn thấu được mưu sâu kế bẩn của những tay cáo già nơi phủ địa chủ!

"Cô nương nói trúng tim đen của bọn chúng rồi." Tạ Cảnh gật đầu, giọng điệu vô cùng nghiêm trọng, ánh mắt nhìn cô đầy vẻ thán phục lẫn xót thương. "Đây chính là thủ đoạn 'cài bẫy văn tự' mà bọn cường hào địa chủ và những tay quản sự xảo quyệt thường dùng để đối phó với những nông hộ mù chữ. Ban đầu khi vay tiền, người vay đang lúc nguy cấp, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc, trong nhà có người ốm đau bệnh tật, tâm trí hoảng loạn, bọn chúng chỉ đọc phần chính văn về gốc và lãi. Dòng chữ phụ này được cố ý thêm vào sau hoặc viết lướt qua như một lệ phí nhỏ nhặt. Khi đến hạn, nếu con nợ xoay xở đủ tiền lãi, bọn chúng sẽ lôi dòng chữ này ra ép con nợ vào thế vi phạm khế ước. Dù có đưa lên nha môn, quan huyện nhìn thấy giấy trắng mực đen có điểm chỉ của Diệp thúc, cũng sẽ phán Lương gia có lý!"

Tạ Cảnh chỉ tay vào dấu vân tay màu đỏ thẫm mờ nhạt nằm ở góc dưới:

"Dấu tay này là bằng chứng thép. Quan huyện ngồi trên công đường chỉ xem khế ước, chẳng hơi đâu quản xem lúc ký người vay có tỉnh táo hay không, có bị lừa gạt hay không. Luật pháp triều đình bảo hộ khế ước bằng giấy trắng mực đen, bọn chúng nắm đằng chuôi, còn dân nghèo thì nắm đằng lưỡi!"

Tiểu Mãn siết chặt vạt áo vải thô, lồng ngực khẽ phập phồng. Đúng là một nước cờ hiểm độc khôn lường! Nếu hôm nay cô không mang tờ văn tự này đến nhờ Tạ Cảnh soi xét từng chân tơ kẽ tóc, cứ ngây thơ cắm đầu cày cuốc, chắt bóp từng đồng tiền bán cải vụn, gom đủ hai lượng bạc trắng mang sang kho thóc Lương gia vào ngày rằm, chắc chắn Lương Quảng Tài sẽ lập tức tung đòn sát thủ này ra.

Giữa chốn đông người, trước mặt bao tá điền nộp tô, hắn chỉ cần bĩu môi bảo: "Thiếu năm tiền phí sổ sách, khế ước chưa vẹn toàn, bản trang không nhận bạc lẻ!" Thế là xong. Tiền lãi không được thu nhận đồng nghĩa với việc quá hạn nộp nợ. Hắn sẽ lập tức biến gia đình cô thành kẻ bẻ gãy giao kèo, và hai mẫu ruộng cằn ở gò Cồn Gió—mảnh đất hương hỏa duy nhất của gia đình—sẽ danh chính ngôn thuận rơi vào tay bọn họ mà chẳng ai có thể hé răng kêu oan nửa lời!

"Vậy bây giờ chúng ta phải làm sao hả Tạ huynh?" Nhị Hòa hoang mang hỏi, ánh mắt đầy vẻ lo sợ xen lẫn hoảng loạn. "Hay là chúng ta đến gặp trưởng thôn Phạm Đức Thuận để tố cáo? Trưởng thôn là người ký tên làm chứng cơ mà! Ông ấy là người đứng đầu làng, chẳng lẽ lại giương mắt nhìn người trong làng bị ức hiếp trắng trợn như thế?"

"Tuyệt đối không được vội vàng đánh động!" Tạ Cảnh lập tức giơ tay xua mạnh, giọng dứt khoát ngăn lại.

Anh nhìn Tiểu Mãn, trầm giọng khuyên nhủ bằng tất cả sự từng trải của mình:

"Trưởng thôn Phạm Đức Thuận tuy là người trọng thể diện và lệ làng, nhưng ông ta cũng là người thận trọng, không bao giờ muốn đắc tội với thế lực nhà địa chủ họ Lương nếu không có bằng chứng mười mươi. Lương gia có tiền, có thế, lại có người quen biết trên nha môn huyện. Huống hồ, bản thân ông ta khi ký làm chứng có khi cũng chẳng đọc kỹ dòng chữ li ti này, hoặc giả có thấy cũng chỉ coi là chuyện riêng của đôi bên vay mượn. Nếu bây giờ cô nương đùng đùng mang tờ giấy này đi chất vấn Lương Quảng Tài hoặc kêu ca với trưởng thôn, Lương Quảng Tài sẽ lập tức chối bay chối biến, bảo rằng đó là khoản phí đã thỏa thuận từ trước, thậm chí hắn có thể vu cho Diệp gia muốn quỵt nợ. Lúc đó, quan hệ xé rách, hắn sẽ càng tăng cường sức ép, làm khó dễ gia đình cô nương trên từng bước đường buôn bán."

Tạ Cảnh nhìn thẳng vào mắt Tiểu Mãn, nhấn mạnh từng tiếng:

"Bứt dây động rừng, kẻ chịu thiệt thòi đầu tiên chính là gia đình cô nương."

Tiểu Mãn khẽ gật đầu, hoàn toàn đồng tình với sự phân tích thấu đáo, cặn kẽ của Tạ Cảnh:

"Huynh nói rất đúng. Rắn chưa lộ đầu thì không thể đập gậy xuống cỏ. Nếu đánh động bây giờ, chỉ làm cho bọn chúng đề phòng và nghĩ ra những mưu mô bẩn thỉu khác mà thôi. Chúng ta ở ngoài sáng, bọn chúng ở trong tối, dây dưa lúc này chỉ chuốc lấy bại vong."

"Đúng vậy." Tạ Cảnh khẽ thở phào khi thấy Tiểu Mãn giữ được sự bình tĩnh phi thường hiếm có ở lứa tuổi này. Anh cẩn thận cuộn tờ văn tự lại theo nếp gấp cũ, đặt vào giữa tấm vải bọc thô màu chàm: "Kế sách tốt nhất lúc này là: Thứ nhất, cô nương phải cất giữ bản gốc này thật kín đáo, tuyệt đối không để lọt vào tay người ngoài, kể cả những người thân thích trong họ."

Nói đến đây, Tạ Cảnh hơi ngừng lại một chút, ánh mắt đầy ngụ ý nhìn Tiểu Mãn. Không cần anh nói toạc móng heo ra, cả hai người đều ngầm hiểu người thân thích đó là ai—bác cả Diệp Đại Phúc, kẻ đã lấp ló đầu ngõ với nụ cười toan tính chiều qua, kẻ đã sốt sắng dẫn mối cho khoản vay này ba tháng trước. Nếu bản gốc rơi vào tay Diệp Đại Phúc hoặc bị đánh tráo, toàn bộ quyền chủ động sẽ mất sạch.

"Thứ hai," Tạ Cảnh nói tiếp, giọng anh đanh lại, mạch lạc từng bước đi, "từ nay đến ngày rằm tháng mười, mục tiêu hàng đầu của cô nương vẫn là dốc toàn lực kiếm đủ số bạc hai lượng tiền lãi. Nhưng đồng thời, trong các tính toán chi tiêu, cô nương phải ngầm dự trù thêm cả khoản bốn trăm năm mươi đồng này. Ta sẽ giúp cô nương sao chép lại nguyên văn từng câu chữ trên bản văn tự này ra một thẻ tre riêng, bao gồm cả dòng chữ phụ, để cô nương giữ bên mình theo dõi. Đến đúng ngày rằm, khi đến kho thóc Lương gia nộp bạc, cô nương nhất định phải mời bằng được Trưởng thôn Phạm Đức Thuận cùng đi với tư cách người làm chứng ban đầu."

Đôi mắt Tiểu Mãn ánh lên tia sáng sắc bén, khóe môi hơi mím lại:

"Ý Tạ huynh là, chúng ta sẽ chọn thời điểm đông đủ nhân chứng nhất mới lật bài ngửa?"

"Phải!" Khóe môi Tạ Cảnh khẽ nhếch lên, lộ ra sự quyết đoán và cơ trí của một người có học vấn và mưu lược. "Trước mặt trưởng thôn và dân làng đến nộp tô thuế ngày rằm, khi Lương Quảng Tài nhận đủ hai lượng bạc trắng tiền lãi và bắt đầu giở trò đòi thêm phí bảo quản, lúc đó cô nương mới đem dòng chữ phụ này ra đối chất công khai! Dưới sự chứng kiến của mọi người, hỏi thẳng trưởng thôn xem lệ làng Thanh Khê từ trước tới nay có khoản 'phí bảo quản văn tự' quái gở này hay không! Lúc ấy, vì danh dự của bản thân và lệ làng, trưởng thôn buộc phải đứng ra phân xử công bằng. Lương Quảng Tài muốn giở trò ép giá, cướp đất cũng không thể làm trái sự đồng thuận của cả thôn xóm!"

Tạ Cảnh dừng lại một nhịp, nhìn sâu vào mắt Tiểu Mãn rồi nói tiếp:

"Địa chủ tuy mạnh, nhưng vẫn sợ dư luận dân làng làm loạn trong ngày thu tô. Trưởng thôn dù muốn dĩ hòa vi quý, nhưng danh tiếng 'công minh' của ông ta ở chốn hương đình còn quý hơn vài đồng tiền lót tay của họ Lương. Chúng ta dùng chính quy củ của làng để trói tay bọn chúng lại!"

Từng lời phân tích của Tạ Cảnh như những ngọn đuốc soi sáng màn sương mù dày đặc đang bủa vây lấy tâm trí Tiểu Mãn suốt những ngày qua. Cô cảm thấy một sự nhẹ nhõm và tự tin chưa từng có lan tỏa khắp cơ thể, tựa như người lữ khách đi trong đêm tối bỗng tìm thấy con đường mòn giữa rừng rậm. Con đường phía trước dẫu còn muôn vàn chông gai, khoản tiền cần kiếm trong mười ngày tới bỗng dưng phình to thêm gần nửa lượng bạc, nhưng ít nhất, cô đã nhìn thấy rõ từng cạm bẫy của kẻ thù để mà né tránh và phản kích, chứ không còn là con mồi ngơ ngác chờ bị người ta xâu xé.

"Tiểu Mãn xin ghi lòng tạc dạ lời chỉ bảo của Tạ huynh." Tiểu Mãn đứng dậy, chỉnh lại vạt áo ngay ngắn, nghiêm trang cúi đầu cảm tạ. "Ơn giúp đỡ ngày hôm nay của huynh, chị em cháu không biết lấy gì đền đáp. Nếu không có huynh soi tỏ, gia đình cháu e rằng ngày rằm này sẽ rơi vào bẫy sâu của bọn họ mà không có đường lui."

Tạ Cảnh cũng vội vàng đứng lên, chắp tay đáp lễ, vẻ mặt khiêm nhường:

"Cô nương khách khí rồi. Tạ mỗ chỉ là một thư sinh áo vải, thấy chuyện bất bình dùng chút chữ nghĩa mọn để phân giải, nào có công lao gì. Ngược lại, sự kiên cường và tấm lòng gánh vác gia đình của cô nương khiến Tạ mỗ vô cùng kính phục. Bản sao khế ước trên thẻ tre này, cô nương hãy cầm lấy."

Anh đưa tay nhấc phiến tre vừa chép xong, thổi nhẹ cho nét mực khô hẳn rồi trao tận tay Tiểu Mãn.

Tiểu Mãn cẩn thận đón lấy phiến tre ghi lại bản sao văn tự và xấp thẻ tre làm sổ thu chi đầu tiên của mình, nâng niu như báu vật rồi trao lại cho Nhị Hòa. Cậu bé ôm bọc vải chàm vào lòng, ép chặt vào lồng ngực, khuôn mặt gầy gò rạng rỡ niềm tin và hy vọng.

Hai chị em khẽ cúi đầu chào từ biệt Tạ Cảnh và Lưu Văn Hòa để trở về nhà. Lưu Văn Hòa đứng bên bậc cửa khẽ vẫy tay dặn dò hai đứa đi đường cẩn thận, trong mắt người đàn ông lam lũ ấy cũng ánh lên niềm cảm thông sâu sắc.

Bước chân của Tiểu Mãn khi rời khỏi khoảng sân nhỏ của nhà trọ họ Lưu dường như thanh thoát và vững vàng hơn rất nhiều. Mặt trời đã lên cao quá ngọn sào, sương sớm trên những ngọn cỏ ven đường làng đã tan biến tự lúc nào, nhường chỗ cho một buổi ban trưa trong trẻo. Nàng đã có trong tay công cụ để quản lý tài chính, đã nhìn thấu âm mưu của chủ nợ, đường đi nước bước đã rõ ràng từng tấc một. Việc còn lại duy nhất lúc này là dốc toàn bộ sức lực vào mảnh vườn sau nhà để biến những mầm cải non thành tiền tươi thóc thật, tích tiểu thành đại gom cho đủ số bạc lẫn số tiền kẽm kia.

Thế nhưng, khi hai chị em vừa rảo bước đến con dốc đất đỏ dẫn về chái nhà ba gian ở mé đông, một sự biến đổi kỳ lạ của đất trời bỗng nhiên ập tới.

Tiểu Mãn giật mình dừng bước, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời.

Mới ban sáng trời còn quang đãng với những vạt nắng sớm mỏng manh, không khí tuy se lạnh nhưng vẫn còn vương chút hơi ấm dịu dàng của tiết thu muộn. Vậy mà chỉ trong chớp mắt, dường như chỉ sau một cái chớp mắt của tạo hóa, những dải mây xám xịt, nặng trĩu từ phương bắc đã ùn ùn kéo tới như thác đổ. Đám mây đen kịt như mực đặc cuồn cuộn trườn qua các đỉnh đèo, nuốt chửng đỉnh núi Thanh Lĩnh non trùng điệp trong nháy mắt.

Gió bắt đầu rít lên từng hồi qua những ngọn tre gai ven đường, ban đầu chỉ là những đợt gió xoáy cuốn tung bụi đất đỏ, nhưng rất nhanh sau đó đã biến thành những luồng cuồng phong gầm rú. Gió mang theo cái lạnh thấu xương, khô khốc và buốt giá đặc trưng của tiết trời đại hàn, táp thẳng vào mặt hai đứa trẻ khiến da thịt chúng rát buốt như bị dao lam cứa.

Gió mùa đông bắc bất ngờ ùa về sớm hơn lệ thường mang theo cái lạnh cắt da đe dọa luống đất vừa lên mầm.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories