Cơ duyên từ hũ sành tới Tửu lầu Vọng Giang
Tiếng lọc cọc khô khốc của trục bánh xe lừa nện trên lớp sỏi vụn đầu ngõ xé toang cái tĩnh mịch hanh hao của buổi ban trưa. Con lừa đực lông xám tro, lườn thắt lại vì phi nhanh, vừa ghìm chân trước hàng rào dâm bụt đã thở hồng hộc từng luồng hơi trắng xóa vào làn gió xuân còn se sắt. Bốn móng guốc dính bê bết lớp bùn non đỏ quạch từ mạn đường cái lớn rẽ vào, đuôi quất liên hồi xua đám ruồi muỗi bám theo từ chân đê.
Trên càng xe gỗ sến, Đào Tam Nương gần như nhảy bổ xuống đất. Tấm áo ngắn nhuộm chàm cộc tay của nàng lấm lem những vệt bùn sét xám chưa kịp phủi khô, chiếc tạp dề bằng da bò quấn ngang hông hãy còn vương vụn trấu hun cùng mùi khói lò bầu nồng đượm. Nàng không buồn buộc thừng lừa vào cọc giậu tre, một tay xốc vội vạt áo, tay kia nắm chặt một phong thư bằng giấy hoa tiên dày cộp, mép gập miết sáp đỏ au có triện nổi hình con thuyền buồm ba cánh đang cưỡi trên sóng cuộn.
"Tiểu Mãn! Muội muội ơi! Cả nhà chú Diệp Thành có ai trong buồng không, mau mau chân ra đây mà xem cái chuyện lạ đời trời cho này!"
Tiếng thét sang sảng lanh lảnh như chuông đồng gióng giữa trưa trật làm mấy con gà mái hoa mơ đang bới rơm dưới gốc xoan giật nảy mình, quang quác nhảy thốc lên chái chuồng lợn.
Trong gian nhà giữa, Tiểu Mãn đang ngồi cạnh Tạ Cảnh bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát cửa sổ liếp. Nàng cầm thỏi mực Tùng Hạc mài dở trên nghiên đá xanh, cẩn thận đối chiếu từng nét chữ cuối cùng trên thẻ tre năm cột ghi chép số dư nợ gốc bảy lượng bạc trắng mà nhà họ Diệp vừa mới ký nhận gia hạn với quản sự họ Lương bên xưởng ép dầu ban sáng. Nghe tiếng quát gấp gáp quen thuộc, ngón tay thon thả của nàng khẽ khựng lại, vội vàng gác chiếc bút lông thỏ lên giá đỡ bằng sành men lam.
"Tam Nương tỷ tỷ đến đấy ư?"
Nhị Hòa ở xái bếp đang mài dũa dở chiếc then chốt xe cút kít, nghe tiếng gào thì ném phịch thanh gỗ nghiến xuống nền đất nện, chân trần thoăn thoắt nhảy tót ra thềm trước tiên: "Tỷ Tam Nương! Sao xe lừa hôm nay phi như có giặc đuổi sau mông thế kia? Bụi đất bay mù cả rặng dâm bụt rồi!"
Từ sau cánh liếp buồng trong, Diệp Thành cũng chống chiếc gậy gỗ nghiến bước ra. Tiếng đầu gậy bọc đồng gõ cộc cộc đều đặn trên ngưỡng cửa đất, gương mặt sạm đen vì sương gió vừa thoáng nét âu lo lại vừa ngơ ngác nhìn người nữ thợ gốm xứ Nam Bãi.
"Tam Nương cháu," Diệp Thành cất giọng trầm đục, mắt ngó trân trân vào phong thư đỏ chói: "Giữa trưa nắng gắt thế này, lò nung bên ấy có bề gì chăng? Hay là... mười lăm chiếc chum ngấn nước nắp vồng ở lò số ba bị nứt men, sụp vòm lửa?"
Tiểu Mãn bước nhanh qua bậc cửa đất ra sân. Làn gió trưa thổi tung mấy lọn tóc mai lòa xòa trước trán, đôi mắt nàng trong veo mở to nhìn thẳng vào phong bao có niêm sáp đỏ thắm: "Tỷ tỷ, mười lăm chiếc chum ngấn nước ấy tối qua muội vừa sang xem thợ đốt củi gụ, ngọn lửa hoa đào đang lên đều lắm cơ mà. Chẳng lẽ tro bay làm lem men da lươn?"
"Trục trặc cái con khỉ khô ấy!"
Đào Tam Nương bước phăm phăm qua khoảnh sân gạch vồ, bộ ngực phập phồng sau làn vải chàm đẫm mồ hôi. Nàng đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang trán, hít sâu một hơi rồi toét miệng cười, để lộ hai hàm răng trắng bóng đều tăm tắp:
"Lò bầu nung mười lăm chiếc chum ấy lửa đỏ đều như tơ nhộng, gạch vòm đã trong veo, muộn nhất là trưa mai dỡ lò nguội, men da lươn bóng loáng không một vết châm kim! Ta phi xe lừa hộc bơ về đây là vì một chuyện còn gấp hơn lửa táp lò gốm gấp mười lần! Tiểu Mãn, muội có nằm mơ cũng không đoán nổi sáng sớm nay ai đã đích thân cưỡi ngựa trạm từ huyện thành Vân Thủy phóng thẳng về xưởng Nam Bãi tìm ta đâu!"
Không đợi cho ai kịp đoán, Tam Nương giơ phắt phong thư dày cộp ra trước mặt Tiểu Mãn, ngón tay cái dính sét xám miết mạnh lên vết sáp đỏ:
"Lão Tôn béo! Tôn Như Hải—đại chưởng quầy kiêm tổng quản trù phòng của Tửu lầu Vọng Giang ngoài bến huyện đấy! Trời đất quỷ thần ơi, hôm qua ta đánh xe chở hai cái hũ mẫu ngấn nước nắp vồng lên huyện thành giao cho phường nấu rượu để thử thố sành kho cá trắm đen. Tiện tay còn chiếc hũ con đựng lưng bát tương hoa cau mà đợt trước muội biếu ta nếm thử men da lươn giữ mùi, ta liền mang ra trù phòng mời lão nhấp một đầu đũa. Ta thề có thổ công chứng giám, ta chỉ định khoe nước men lò Nam Bãi kín hơi thế nào thôi, ai ngờ lão Tôn vừa múc một thìa tương sánh đặc đưa lên mũi hít một hơi dài, rồi chấm vào đầu lưỡi..."
Tam Nương hoa chân múa tay, mắt trợn tròn diễn tả lại:
"Hai con mắt lão trừng to như hai con ốc nhồi! Lão đứng phắt dậy mạnh đến nỗi cái bụng phệ hất tung chiếc ghế trắc lót đệm gấm ngã chỏng gọng ra sàn gỗ! Lão túm chặt lấy tay áo chàm của ta giật lia lịa, gặng hỏi bằng được tương này do ai làm, nếp cái hoa vàng lấy ở ruộng nào, đậu nành ngâm nước giếng gì, và... người đứng bếp có phải là người họ Lâm hay không!"
Vừa dứt câu, từ mé chái bếp hiên sau, Lâm Tú Nương bưng rổ đậu nành sảy dở bước ra. Nghe nhắc tới họ Tôn ở huyện thành cùng chuyện người đứng bếp họ Lâm, bước chân bà khựng phắt lại giữa sân. Rổ tre trên tay khẽ chao nghiêng làm rơi mấy hạt đậu vàng óng xuống kẽ gạch. Nét mặt người đàn bà luống tuổi thoáng chốc tái đi rồi ửng đỏ, đôi môi run rẩy:
"Tam Nương... cháu nói Tôn chưởng quầy nào? Tôn Như Hải... có phải người béo thấp, tai dày như tai phật, dưới cằm có ba chòm râu cá trê tỉa rất kỹ không?"
"Đúng phóc thím ơi! Béo phốp pháp, bụng tròn như tượng Di Lặc, giọng nói ồm ồm như chuông vỡ đáy!" Tam Nương đét mạnh một cái vào bắp đùi săn chắc: "Lão nắm lấy cổ tay cháu lắc như lắc chuông, bảo rằng cái vị tương sánh mượt như mật ong, ngọt bùi đượm sâu nơi cuống họng, lại thoảng hương hoa cau quyện mùi mía nướng vùi tro rơm này... đúng là phong vị tuyệt kỹ mà hơn hai mươi năm trước lão từng được nếm khi còn làm chân tiểu nhị phụ bếp ở hoa viên của Thẩm Tri phủ ngoài huyện lỵ! Lão bảo thuở ấy, trù phòng phủ quan do một vị nhũ mẫu họ Lâm danh tiếng lẫy lừng cai quản, sau này bà về quê ở ẩn, phong vị ấy tuyệt tích khỏi đất Vân Thủy suốt ngần ấy năm trời!"
Tiểu Mãn đứng lặng giữa khoảng sân ngập nắng trưa, một luồng xúc cảm ấm nóng và tê dại từ đốt sống lưng lan nhanh ra khắp lồng ngực. Nàng quay đầu nhìn mẹ.
Dưới mái hiên lợp rạ xám xịt, Lâm Tú Nương đã buông rơi rổ đậu xuống chiếc đôn gỗ đào, hai bàn tay gầy guộc chắp lại trước ngực. Đôi mắt người mẹ từng trải qua bao cơ cực, tủi nhục bỗng chốc ầng ậc nước mắt. Bà nghẹn ngào, giọng run lên theo từng nhịp thở:
"Đúng rồi con ơi... Mẹ nhớ ngày mẹ mới mười tuổi, bà ngoại con từng làm đầu bếp quản lĩnh trù phòng cho phủ họ Thẩm ròng rã mười năm trước khi sức yếu xin về lại Thanh Khê tĩnh dưỡng. Hũ men tương hoa cau, cách vùi mía nướng lấy than đượm ngọt, bí quyết đãi đậu chín mọng không nát vỏ... đều là của bà truyền lại trong buồng kín. Không ngờ... không ngờ hơn hai mươi năm vật đổi sao dời, giữa chốn huyện thành phù hoa lại có người vẫn ngửi ra được cái vị tương lam lũ của bà ngoại con..."
"Thế nên lão Tôn mới phát sốt phát rét lên như phải bỏng!" Tam Nương đưa hai tay dâng phong thư ra: "Huynh Tạ tú tài mau mau bóc ra xem lão viết những gì! Lão Tôn đích thân dặn cháu phải đánh xe lừa chạy bạt mạng về Thanh Khê trao tận tay Diệp cô nương, bảo đây là mối làm ăn định đoạt cả tiền đồ hợp tác ba năm tới của Vọng Giang Lâu!"
Tạ Cảnh bước tới, phong thái trầm tĩnh đĩnh đạc như tùng bách giữa cơn xao động của cả nhà. Chàng nhận lấy phong thư, dùng lưỡi dao bài nhỏ bằng thép rèn sắc lẻm khéo léo rọc theo mép sáp đỏ mang hình thuyền ba cánh, tránh làm rách lớp hoa tiên tinh xảo bên trong.
Tờ giấy hoa tiên màu ngà được mở rộng trên mặt chiếc bàn mộc. Cả khoảnh sân dường như nín thở. Gió trưa ngừng thổi, chỉ còn tiếng lá xoan xào xạc bên hiên và tiếng cựa mình của mấy hũ sành ngấn nước đang ủ men ngoài vạt nắng.
Nét chữ trên giấy thuộc lối chữ hành tháu phóng khoáng, nét bút cứng cáp gãy gọn, mực xạ đen nhánh tỏa ra mùi hương trầm thoang thoảng—thứ chữ viết của một kẻ vừa sành sõi phong vị ẩm thực lại vừa lão luyện chốn thương trường gió tanh mưa máu. Tạ Cảnh lướt nhanh mắt qua từng hàng chữ, đôi lông mày thanh tú khẽ nhíu lại rồi giãn ra, đoạn chàng hắng giọng đọc chậm rãi từng câu:
"'Tôn mỗ khúm núm kính thư gửi Diệp cô nương chốn Thanh Khê. Vị tương nếp hoa cau nếm được tại lò gốm Nam Bãi hôm qua quả thực là báu vật nhân gian tái hiện, gợi lại trọn vẹn phong vị trác tuyệt của cố sư phụ Lâm Thu Bà năm xưa, khiến kẻ hèn này suốt đêm trằn trọc khôn nguôi.
Nay ngày rằm tháng hai, Tửu lầu Vọng Giang vinh hạnh đứng ra đăng cai yến tiệc nghênh đón đoàn đại thuyền của các đại thương nhân đường sông từ phương Nam ghé bến Vân Thủy nhân tiết xuân giang. Tiệc lớn ba mươi bàn, quy tụ toàn bậc hào phú sành ăn chốn bến thuyền, cần một lượng lớn thực phẩm hương đồng gió nội thanh khiết bậc nhất để thết đãi quý khách.
Tôn mỗ mạo muội đặt một đơn hàng thử nghiệm tối khẩn: Thứ nhất: Bốn mươi thăng tương đậu nành hoa cau hảo hạng loại sánh đặc, ngấu men tầng giữa lòng chum. Thứ hai: Sáu mươi cân dưa cải bẹ sen muối nén róc nước vàng ươm, giòn rụm và dậy mùi thơm men chua thuần khiết. Thứ ba: Năm mươi cân rau cải bẹ non trái vụ tươi nõn mọng sương, búp lá còn nguyên vẹn.
Hạn định giao hàng ngặt nghèo như sau: Toàn bộ hàng hóa phải được áp tải an toàn, có mặt tại cửa sau trù phòng Tửu lầu Vọng Giang bên bến huyện trước giờ Ngọ ngày rằm tháng hai—tức đúng ba ngày nữa kể từ giờ khắc bức thư này tới tay cô nương.
Yêu cầu phẩm chất: Rau non phải nguyên vẹn từng búp, tươi mơn mởn không được dập nát, héo úa dù chỉ một cọng; tương dưa phải đạt độ chín ngấu tuyệt đỉnh, không sủi bọt trắng, không váng nhớt, hương vị đồng nhất từ hũ đầu đến hũ cuối.
Nếu hàng hóa giao đúng giờ khắc, phẩm vị đạt chuẩn thượng hạng, Vọng Giang Lâu sẽ thanh toán trọn gói tiền mặt theo giá cao nhất thị trường huyện lỵ, đồng thời ký kết văn khế bao tiêu dưa tương định kỳ độc quyền dài hạn ba năm. Nhược bằng trễ quá giờ Ngọ một khắc, hoặc phẩm chất tì vết làm hỏng đại yến đón khách phương Nam, đơn hàng lập tức hủy bỏ, đôi bên đoạn tuyệt quan hệ thương giao.'"
Tiếng Tạ Cảnh vừa dứt, cả gian nhà ba gian rơi tọt vào một khoảng lặng im phăng phắc đến ngột ngạt.
Chiếc bút lông thỏ gác trên nghiên mực dường như cũng run rẩy theo nhịp thở gấp của mọi người.
Nhị Hòa nuốt ực một ngụm nước bọt, hai mắt trợn trừng nhìn vào bức thư: "Bốn mươi thăng tương đặc! Sáu mươi cân dưa muối róc nước! Lại còn... năm mươi cân rau cải bẹ non mọng sương trái vụ? Trời ơi đất hỡi, từ thôn Thanh Khê chúng ta ra đến trạm dịch Thạch Đình rồi tới bến Liễu Kiều đã mất tròn ba mươi dặm đường đất gập ghềnh đá cuội. Từ bến Liễu Kiều ngược dòng sông lên bến huyện Vân Thủy lại thêm hai mươi dặm nữa! Nếu đẩy xe cút kít dọc đường cái quan vừa dằn vừa xóc, mất trọn một ngày một đêm mới tới nơi. Tính cả gom rau, vớt dưa, đong tương, nẹp vò... chúng ta chỉ vỏn vẹn có ba ngày tròn trĩnh!"
Diệp Thành ngồi bệt xuống mép chõng tre, bàn tay gân guốc siết chặt lấy đầu gậy nghiến đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Trên vầng trán nhăn nheo của người thợ mộc tàn tật hằn sâu những nếp gấp u tối:
"Tiểu Mãn à... đơn này quá lớn, mà hạn định lại rát như lửa táp chân mày thế này. Bốn mươi thăng tương với sáu mươi cân dưa... nhà ta chắt chiu, vét sạch mấy chum mấy vò men da lươn may ra vừa vặn đủ số. Nhưng còn năm mươi cân rau non trái vụ? Vườn nhà mình sau đợt sương muối tháng giêng đã cắt bán cạn kiệt cho chợ phiên cầu đá, khoảnh đất sau hè mới gieo mầm nhú lên chưa đầy ba lóng tay, bới đâu ra năm mươi cân rau mơn mởn nõn nà đền cho lão Tôn bây giờ?"
Lâm Tú Nương cũng bước tới, gương mặt đầy sự thảng thốt lo âu: "Tiểu Mãn, hay là... mình liệu sức mà chối từ? Người chốn huyện thành buôn to bán lớn, quy củ ngặt nghèo, lỡ chậm một khắc hay dập vài cọng rau, người ta phạt vạ thì nhà mình lấy gì đền đáp khoản nợ bảy lượng bạc còn treo trên đầu?"
Giữa những lời bàn lùi và nỗi âu lo như tảng đá đè nặng lên ngực từng người, Tiểu Mãn vẫn đứng thẳng tắp.
Ánh nắng trưa rọi xiên qua kẽ liếp, dát một vệt sáng vàng óng lên khuôn mặt thanh tú của nàng. Đôi mắt hạt huyền sâu thẳm nhìn chằm chằm vào con dấu thuyền buồm ba cánh đỏ rực. Trong lồng ngực nàng, trái tim đập từng nhịp dồn dập nhưng đầu óc lại sáng rõ lạ thường.
Từng con số, từng cung đường, từng mốc thời gian và những bài toán chi phí rủi ro bắt đầu xoay chuyển vun vút trong trí óc nàng như những hàng thẻ tre được lật giở mau lẹ.
Cơ hội này lớn đến mức nào, nàng là người hiểu rõ nhất. Vọng Giang Lâu không phải là sạp dưa lẻ tẻ ngoài chợ phiên Cầu Đá đổi lấy vài chục đồng kẽm đong gạo qua ngày. Nó cũng không phải là những chuyến ép giá bấp bênh của gã lái buôn giảo hoạt Phùng Kế Sinh. Nếu đặt chân được vào nhà bếp của tửu lầu lớn nhất nhì huyện thành Vân Thủy, không những gánh nợ bảy lượng bạc của gia đình sẽ được san bằng trong nháy mắt, mà thương hiệu dưa tương Thanh Khê sẽ chính thức có một chỗ đứng vững chắc, mở đường cho việc xây dựng cơ nghiệp điền trang ven bãi sông sau này.
Nhưng Tôn Như Hải là một con cáo già trong nghề ẩm thực. Đưa ra một đơn hàng ngặt nghèo cả về thời gian lẫn quy chuẩn phẩm chất thế này, chính là lão đang muốn thử thách toàn diện bản lĩnh của nàng: thử tay nghề chế biến men tương gia truyền, thử năng lực tổ chức nhân công tại chỗ, và thử cả khả năng xoay xở vận tải đường trường trong gang tấc.
Nếu nàng lùi bước, cánh cửa lớn này sẽ vĩnh viễn khép lại.
"Huynh Tạ Cảnh," Tiểu Mãn ngẩng đầu lên, thanh âm trong trẻo vang lên dõng dạc, phá tan bầu không khí ảm đạm trong gian nhà: "Đoạn đường năm mươi dặm từ đây ra huyện thành nếu đi đường bộ qua ngả đê Trâu thì xe bò chở nặng mất bao lâu?"
Tạ Cảnh bước lại gần chiếc bàn, trải tấm địa đồ vẽ tay các nhánh sông vùng Vân Thủy mà chàng đã cẩn thận ghi chép từ dạo trước ra. Ngón tay chàng chỉ dọc theo con đường nét mực đỏ:
"Nếu đi đường bộ vòng qua ngả đê Trâu, đường đất đỏ nhiều sống trâu đá hộc, xe bò chở nặng hàng trăm cân sành sứ ít nhất phải mất trọn một ngày đêm. Bò đi chậm, xóc nảy liên miên, dưa tương trong hũ sóng sánh dễ sủi bọt khí, rau tươi buộc trên nóc xe gặp gió Lào hanh hao chắc chắn sẽ rũ lá úa vàng. Đi đường bộ là hạ sách."
"Vậy còn đường thủy?" Ánh mắt Tiểu Mãn lóe lên tia sáng rực rỡ.
Tạ Cảnh khẽ nhếch môi mỉm cười, trong mắt chàng ánh lên sự khâm phục không hề che giấu:
"Đường thủy từ bến Liễu Kiều ngược lên huyện thành là ba mươi dặm sông. Đang cữ trung tuần tháng hai, nước sông Vân Thủy bắt đầu dâng cao, gió đông nam thổi thuận chiều mạn thuyền. Nếu chúng ta dùng xe cút kít cải tiến hai bánh của Nhị Hòa, đẩy ba mươi dặm đường liên thôn ra bến Liễu Kiều lúc rạng sáng, kịp giờ Thìn đón chuyến thuyền buôn hàng bông ngược sông, thì chỉ mất chừng một canh giờ rưỡi đến hai canh giờ là thuyền cập bến Tây huyện thành. Từ bến Tây vào cửa sau Vọng Giang Lâu chỉ cách ba con ngõ lát đá xanh. Tức là nếu tới bến Liễu Kiều trước giờ Thìn, chúng ta sẽ có mặt ở trù phòng của lão Tôn vào đầu giờ Tỵ—sớm hơn hạn định giờ Ngọ gần một canh giờ!"
"Được lắm!" Tiểu Mãn vỗ mạnh bàn tay nhỏ nhắn xuống mép bàn gỗ: "Đường đi nước bước đã thông suốt. Giờ đến bài toán ruột gà bên trong!"
Nàng xoay người nhìn thẳng vào cha mẹ và Đào Tam Nương, giọng điệu dứt khoát không chút do dự:
"Về phần bốn mươi thăng tương hoa cau: Bốn chiếc chum sành da lươn kê giữa sân nhà ta phơi trọn cái nắng hanh tháng giêng, men hoa cau đã chín tới độ đượm nhất. Đợt trước bán sỉ cho khách buôn năm mươi thăng, hiện tại trong bốn chum mẫu mới và hai vò cũ còn non sáu mươi thăng tương đặc. Ta sẽ chắt lọc múc lấy bốn mươi thăng tương sánh mượt nhất ở tầng giữa lòng chum—nơi tinh túy nhất của mẻ tương, tuyệt đối không đụng vào lớp cặn đáy hay lớp men màng phía trên. Về sáu mươi cân dưa cải sen muối nén: Ba vò sành ngấn nước ủ bằng đá cuội sông của mẹ đã ngấu vàng ruộm, nước dưa trong veo thơm mùi gừng già và đường mía. Ta chỉ việc vớt ra mẹt tre lót vải thô róc kiệt nước chua, cân đủ sáu mươi cân dưa loại một là nắm chắc trong tay!"
Diệp Nhị Hòa sốt ruột chen vào: "Thế còn năm mươi cân rau cải bẹ non mọng sương trái vụ? Chị kiếm đâu ra giữa cái mùa giáp hạt này?"
Tiểu Mãn mỉm cười, đôi mắt cong cong hình bán nguyệt:
"Em quên mất bản giao kèo liên kết đất bãi bồi ven sông mà chị vừa ký chu sa mấy hôm trước rồi sao? Đất của thím Ngô Quế Hoa!"
Cả gian nhà sững sờ trong chốc lát, rồi Nhị Hòa vỗ trán đánh đét một cái: "Úi chà! Em quên béng mất hai sào bãi cát phù sa ngoài bãi bồi! Đợt trước chị bày cho thím ấy đắp luống mai rùa, rải tro trấu hun giữ ấm chân rễ, lại đưa trọn số hạt giống cải bẹ vụ đông của bà ngoại để thím ấy gieo đón đầu tiết mưa xuân! Mấy hôm nay em đi chăn lừa ngang qua bãi sông, thấy nguyên một dải xanh mướt mọng nước, cây nào cây nấy búp lá cuộn chặt như bắp cải bao!"
"Chính là nó!" Tiểu Mãn gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ tự tin rạng rỡ: "Bản giao kèo đã ký kết rành rành: Ta bao tiêu toàn bộ cải bẹ đạt chuẩn với giá sàn cố định hai đồng một cân tươi, đổi lại thím Quế Hoa phải tuyệt đối tuân thủ quy chuẩn canh tác sạch: không tưới nước bẩn rãnh mương, không dùng phân tươi xú uế, chỉ tưới nước giếng đá lắng cặn và bón tro mục ủ rơm. Đơn hàng này, phần tương dưa chế biến gia đình ta tự lực làm để giữ trọn bí quyết họ Lâm; phần rau non tươi mát ta thu mua trọn gói từ luống rau liên kết của thím ấy. Như thế vừa vặn giải quyết xong bài toán năm mươi cân rau non, lại giúp nông hộ liên kết có ngay một món tiền tươi thóc thật!"
Đào Tam Nương nghe xong, sướng quá cười ha hả, bước tới giáng một cái vỗ vai làm Tiểu Mãn lảo đảo:
"Khá lắm con bé này! Gan to tày trời mà tính toán đâu ra đấy chẳng thua gì bậc trượng phu! Được, mười lăm chiếc chum ngấn nước ở lò số ba ta sẽ đốc thúc phường thợ dỡ lò sớm ngay trong đêm nay, rửa nước giếng thấu ba lần, lau khô bóng loáng rồi đánh xe lừa chở thẳng sang đây cho muội đóng hàng! Giờ muội mau mau ra bãi bồi kiểm tra luống cải đi, kẻo trễ một khắc là lỡ việc lớn!"
Không một phút chần chừ, Tiểu Mãn mang theo chiếc cân đồng có khắc niêm phong của Thị Ty chợ huyện mà Tạ Cảnh mượn được, cùng tập thẻ tre năm cột giắt bên hông. Nàng gọi thêm Trần A Lan—cô bạn thân cùng xóm được giao nhiệm vụ giám sát đồng ruộng—rồi hai người rảo bước thoăn thoắt về phía bãi bồi ven sông.
Bãi cát phù sa ven dòng Khe Thanh mùa này đất ẩm mềm xôm xốp dưới từng bước chân, mùi phù sa mới ngai ngái quyện lẫn mùi tro rơm nồng ấm bốc lên trong nắng trưa. Từ trên triền đê nhìn xuống, hai sào đất của Ngô Quế Hoa nổi bật lên như một ốc đảo xanh biếc giữa những vạt đất trơ trọi xơ xác của các hộ dân lân cận.
Nhờ áp dụng răm rắp kỹ thuật mà Tiểu Mãn truyền dạy—đắp luống mai rùa cao một gang rưỡi để thoát nước triều, phủ lớp rơm mục trộn tro bếp hun trấu giữ nhiệt độ cho bộ rễ, lại có hàng rào nứa ken dày chắn gió bấc—từng khóm cải bẹ sen đang độ cuộn búp lá xanh mướt mọng nước. Phiến lá dày dặn, gân lá trắng nõn nà nổi rõ, trên mặt lá hãy còn đọng lại những giọt sương non lấp lánh như hạt ngọc.
Dưới rãnh luống, Ngô Quế Hoa đang lom khom nhổ từng ngọn cỏ gấu. Chiếc nón mê rách mép che sụp nửa khuôn mặt đen sạm vì sương gió, vạt áo tơi lá cọ khoác hờ sau lưng đã rách tả tơi.
Vừa nghe tiếng bước chân xào xạc trên bờ ruộng, Quế Hoa giật thót mình, vội vàng chống chiếc cuốc con đứng thẳng dậy. Nhìn thấy Tiểu Mãn và A Lan đi tới mép luống, hai bàn tay lấm lem bùn đất của người đàn bà góa luống cuống chùi lia lịa vào vạt áo, vẻ mặt thoáng hiện nét âu lo, sợ sệt tột cùng:
"Tiểu... Tiểu Mãn cô nương? Sao... sao hôm nay cháu lại đích thân ra tận bãi bồi thế này? Có phải... có phải rau trên luống của thím có chỗ nào sâu bệnh, không vừa mắt cháu chăng?"
Kể từ sau vụ vu vạ đổi trắng thay đen ở bến giếng làng bị vạch trần thảm hại, rồi lại được Tiểu Mãn dang tay cứu vớt bằng bản giao kèo bao tiêu rau sạch, Ngô Quế Hoa đối với cô thôn nữ mười bảy tuổi này vừa tôn sùng vừa khiếp sợ. Trước mặt Tiểu Mãn, bà ta không còn dám mở miệng chua ngoa hay lấm lét toan tính như dạo trước, lúc nào cũng giữ lễ khép nép như con dâu mới về nhà chồng.
Tiểu Mãn không vội đáp lời. Nàng vén nhẹ tà áo chàm, bước thoăn thoắt xuống rãnh luống ẩm ướt, rồi ngồi xổm xuống bên một bụi cải bẹ xum xuê nhất.
Nàng vươn bàn tay thon nhỏ, nhẹ nhàng lật từng phiến lá xanh non lên kiểm tra tỉ mỉ. Mặt dưới phiến lá trơn láng bóng bẩy, không hề có dấu vết của rệp muội hay những đốm phấn trắng sương mai; phần cuống lá mập mạp búng ra nước; đất quanh gốc tơi xốp, bốc lên mùi ngai ngái thuần khiết của đất ải hoai mục chứ tuyệt đối không có mùi hôi nồng gắt của phân tươi xú uế.
"Thím Quế Hoa," Tiểu Mãn ngẩng đầu lên, ánh mắt nghiêm nghị dò xét: "Mấy ngày qua thím tưới luống cải này bằng nước gì? Đã bón thêm thứ gì vào gốc chưa?"
Ngô Quế Hoa nuốt ực một ngụm nước bọt, giơ ba ngón tay khẳng khiu đen đúa lên trời, giọng run rẩy thề thốt:
"Thím thề có thần sông chứng giám, từ ngày điểm chỉ chu sa vào tờ khế ước với cháu và cô A Lan đây, thím không dám trái nửa lời răn! Ngày nào thím cũng thức từ lúc gà gáy le te, gánh từng đôi nước từ giếng đá đầu nguồn khe về đổ vào vại sành cho lắng trong rồi mới múc tưới bằng thùng ô-dzoe vào lúc mặt trời chưa đứng bóng! Phân bón thì chỉ dùng tro bếp trộn phân chuồng hoai mục đã ủ rơm trấu kín mít suốt ba tháng ròng rã như cháu chỉ bảo, tuyệt đối không dám tưới một gáo nước rãnh bẩn hay vãi một hạt phân sống nào! Cháu... cháu cứ nhìn lá rau thì biết, nếu có nửa lời gian dối, trời tru đất diệt thím!"
A Lan bước lại gần, ngồi thụp xuống bốc một nắm đất phù sa dưới chân luống đưa lên mũi ngửi rồi gật đầu thật mạnh với Tiểu Mãn:
"Tiểu Mãn, tớ giám sát luống rau này suốt từ hôm ký giao kèo. Sáng nào tớ cũng ra đây từ tờ mờ đất. Thím Quế Hoa làm đúng quy chuẩn lắm, nhổ cỏ tỉ mỉ từng gốc, không hề làm ẩu đâu."
Gương mặt căng thẳng của Tiểu Mãn lúc này mới hoàn toàn giãn ra thành một nụ cười rạng rỡ như hoa nở ban mai. Nàng đứng dậy, phủi nhẹ lớp đất bám trên đầu ngón tay:
"Thím Quế Hoa, cháu sang đây là để báo cho thím một tin mừng lớn. Nhà cháu vừa nhận được một đơn hàng phục vụ đại yến ngoài huyện lỵ. Cháu cần thu mua toàn bộ năm mươi cân rau cải bẹ non đạt chuẩn thượng hạng trên luống này của thím!"
Ngô Quế Hoa đứng sững sững như chôn chân xuống bùn, hai mắt đờ đẫn mất mấy giây như người nằm mơ giữa ban ngày, rồi lắp bắp run rẩy:
"Bao... bao nhiêu cơ cháu? Năm... năm mươi cân rau non? Mua... mua một lần hết sạch cả luống này thật sao?"
"Thật một trăm phần trăm!" Tiểu Mãn rút từ trong túi vải thô giắt bên hông ra một xâu tiền kẽm Cảnh Hưng xâu bằng lạt giang sáng loáng, đếm đủ một trăm đồng tiền kẽm đặt thẳng vào đôi bàn tay chai sần nứt nẻ đang run lẩy bẩy của người đàn bà góa: "Giá sàn theo đúng giao kèo liên kết đã ký: Hai đồng một cân tươi mọng sương, năm mươi cân tổng cộng là đúng một trăm đồng tiền kẽm. Cháu thanh toán đủ tiền mặt tại bờ ruộng cho thím ngay lúc này!"
Ngô Quế Hoa nhìn chăm trân vào xâu tiền kẽm nặng trĩu nằm gọn trong lòng bàn tay mình. Những đồng tiền kẽm mát lạnh, tròn trịa, ánh lên tia sáng bạc dưới ánh trưa rực rỡ—đây là tiền tươi thóc thật, không phải mang gánh rau ra chợ ngồi chầu chực dưới mưa phùn gió bấc, không phải chịu cảnh người ta bới lông tìm vết ép giá một đồng hai mớ, cũng không lo rau ế úa vàng phải đổ cho lợn ăn.
Hốc mắt trũng sâu của người đàn bà góa bụa bỗng chốc đỏ hoe. Hai dòng nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo đen sạm, bà ta sụp xuống mép luống, nghẹn ngào không thốt nên lời:
"Tiểu Mãn à... thím... thím cảm ơn cháu... Cháu đúng là Bồ Tát sống giáng trần cứu vớt mẹ con thím! Nếu không có cháu bao tiêu chỗ rau này, ít bữa nữa cải nở ngồng già cọng, thím mang ra chợ bán đổ bán tháo cũng chẳng đủ tiền đong bát gạo cho thằng Cẩu ăn học... Thím đội ơn cháu suốt đời!"
"Thím đứng dậy đi, tiền cháu trao tay sòng phẳng, nhưng yêu cầu thu hoạch thì ngặt nghèo vô cùng, thím phải nghe cho thật kỹ ba điều dặn của cháu đây," Tiểu Mãn đỡ lấy cánh tay gầy guộc của Quế Hoa, giọng điệu trở lại vẻ cẩn trọng, dứt khoát của một người nắm quyền thương thảo:
"Thứ nhất, tuyệt đối không được thu hoạch vào buổi trưa hay chiều nắng gắt làm rau mất nước héo rũ tế bào. Thím phải hái vào đúng đầu giờ Dần sáng sớm ngày rằm—tức canh năm rạng sáng ngày kia, khi sương sớm còn đọng nguyên trên búp lá nhưng trời chưa tỏ mặt người.
Thứ hai, khi cắt cải, phải dùng dao bài thép thật bén đã mài liếc qua đá mịn, cắt dứt khoát cách gốc một tấc, tuyệt đối không được dùng tay giật hay bẻ làm dập nát mao mạch hút nước của bẹ lá non.
Thứ ba, chuẩn bị sẵn ba chiếc sọt tre đan thưa đã được lót một lớp lá chuối tươi hơ lửa cho mềm dẻo ở đáy và xung quanh thành sọt. Cắt đến đâu, xếp nhẹ tay từng lớp búp quay vào trong, cuống quay ra ngoài đến đấy. Tuyệt đối không được nhồi nhét, không ném rau từ xa vào sọt làm gãy gân lá non. Cắt xong, phủ một tấm vải mộc sạch thấm ướt nước sương lên miệng sọt. Nếu sọt nào có rau dập nát, úng nước, cháu sẽ kiên quyết loại bỏ theo đúng quy tắc giao kèo!"
Ngô Quế Hoa nghe từng lời dặn tỉ mỉ như khắc cốt ghi tâm, đầu gật lia lịa như gà mổ thóc:
"Cháu yên tâm! Thím nhớ từng câu từng chữ rồi! Đầu giờ Dần sáng ngày kia, thím sẽ bảo thằng Cẩu đốt đuốc bổi soi cho thím tự tay dùng dao bài bén cắt từng cây một, xếp nâng như nâng trứng vào sọt lá chuối! Có cô A Lan đứng giám sát bên cạnh, nếu hỏng dù chỉ một cọng rau dập, thím xin đền tiền gấp đôi không dám cãi nửa lời!"
Giải quyết xong mắt xích rau non tươi mát từ bãi bồi, Tiểu Mãn cùng A Lan rảo bước quay về nhà họ Diệp.
Lúc này đã sang đầu giờ Mùi. Vừa bước chân vào đầu ngõ, tiếng ríu rít nói cười rộn rã hòa cùng tiếng lách cách của đồ sành đã vang vọng khắp xóm. Nhóm phụ nữ đổi công gồm thím Năm xóm Cầu Đá, chị Dâu bác Tư bến sông, cô Ba Thược và dì Bảy Đậu vừa nghe phong thanh nhà họ Diệp nhận được đại đơn hàng huyện lỵ đã tề tựu đông đủ không thiếu một ai. Người nào người nấy đều mang theo khăn vải thô sạch bịt gọn tóc mai, ống tay áo xắn cao quá khuỷu, tạp dề vải mộc quàng ngang bụng tinh tươm.
Tiểu Mãn bước vào giữa sân. Bốn chiếc bàn gỗ dài đóng bằng gỗ xoan nhẵn bóng đã được kê ngay ngắn thẳng hàng. Dưới bóng râm của cây mít mật, Diệp Thành ngồi trên chiếc ghế đẩu, đôi bàn tay thợ mộc khéo léo đang cùng Nhị Hòa gọt nhẵn từng thanh tre cật để chuẩn bị nẹp miệng hũ. Mé chái bếp, Lâm Tú Nương đang cời than hồng đun một nồi nước lá ổi tươi sôi sùng sục, hơi nước bốc lên thơm ngát để thanh trùng toàn bộ muôi gỗ, đũa tre và âu sành.
"Các thím, các chị!" Tiểu Mãn cất tiếng thanh thoát, cả khoảnh sân lập tức im bặt, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía người thiếu nữ trẻ tuổi đang đứng giữa nắng trưa:
"Đơn hàng Tửu lầu Vọng Giang lần này là cơ hội lớn nhất từ trước tới nay của thôn Thanh Khê chúng ta, nhưng hạn định chỉ còn đúng hai ngày đêm rưỡi nữa. Khách quý phương Nam ăn tiệc lớn, yêu cầu sạch sẽ tinh khiết như ngọc. Cháu chia công việc ra làm ba nhóm rõ ràng, ai việc nấy làm, không giẫm chân lên nhau:
Nhóm thứ nhất do thím Năm và chị Dâu bác Tư phụ trách: Rà soát bốn chum tương sành da lươn kê giữa sân. Dùng muôi gỗ mít đã tráng qua nước sôi lá ổi, nhẹ tay gạt lớp màng men hoa cau mỏng trên bề mặt sang một âu riêng, sau đó múc phần tương đặc sánh mượt ở tầng giữa lòng chum chia đều vào bốn mươi hũ sành ngấn nước loại một thăng mà Tam Nương tỷ tỷ chở tới. Mỗi hũ đong đúng vạch ngấn nước, dùng khăn mộc ẩm miết sạch mép miệng hũ, tuyệt đối không để rây một giọt tương ra thành ngoài.
Nhóm thứ hai do cô Ba Thược và dì Bảy Đậu phụ trách: Mở ba vò sành dưa muối cải sen. Dùng đũa tre dài gắp từng bẹ dưa đã chín ngấu vàng ươm đặt lên mẹt tre lót vải thô cho róc kiệt nước chua cũ. Sau đó nén lại vào sáu chiếc hũ sành ngấn nước cỡ mười cân, chèn chặt bằng phên nứa con và đá cuội nhẵn đã luộc nước sôi. Rót nước muối đường phèn gừng già mới nấu nguội ngập mặt dưa để giữ độ giòn tan, cân đủ sáu mươi cân dưa róc nước.
Nhóm thứ ba do em Nhị Hòa và muội Tam Nha phụ trách: Rà soát toàn bộ cỗ xe kéo cải tiến hai bánh. Gia cố lại các then giằng gỗ nghiến, đan thêm nan nứa phụ quanh thành xe. Lót một lớp rơm nếp khô sạch dày nửa gang tay dưới sàn xe, bện các con cúi rơm hình múi bưởi thật chặt để chèn xung quanh từng chiếc hũ sành theo đúng ngón nghề chèn gốm của Tam Nương tỷ tỷ. Dùng dây thừng bện vỏ đay chằng néo hình chữ nhân qua cổ từng hũ xuống then sàn xe, bảo đảm xe có xóc nảy dọc đường thì đồ sành cũng không thể va vào nhau nứt vỡ!"
"Tiểu Mãn cứ yên tâm!" Thím Năm cười tươi rói, xắn mạnh tay áo để lộ bắp tay chắc nịch: "Tương dưa nhà cháu mấy tháng nay bọn thím làm đổi công quen từng thớ cải, từng hạt đậu rồi! Bọn thím bảo đảm làm sạch boong kin kít, hạt bụi cũng không lọt nổi vào miệng hũ sành đâu!"
Không khí lao động lập tức bùng nổ, nhịp nhàng và chuẩn xác như một cỗ máy đã tra đẫm dầu mỡ.
Mùi thơm ngào ngạt của tương nếp hoa cau bốc lên ngây ngất khắp sân khi nắp chum sành được hé mở. Dưới lớp màng men mỏng màu vàng rơm, từng muôi tương màu nâu hạt dẻ óng ả, quánh đặc và sánh mượt như mật ong rừng được cẩn thận múc ra.
Tam Nha với chiếc mũi thính bẩm sinh túc trực ngay bên cạnh miệng hũ. Cứ mỗi mẻ tương múc lên, cô bé mười hai tuổi lại ghé sát mũi hít một hơi thật sâu, chốc chốc lại dùng chiếc que tre con nhúng một giọt đặt lên đầu lưỡi nếm thử:
"Hũ này vị mặn ngọt rất đượm, thơm nồng mùi mía nướng vùi tro rơm, đạt chuẩn rồi chị Tiểu Mãn!"
"Hũ bên góc đông hơi sánh đặc quá cọ, cho thêm nửa thìa nước cốt tầng trên vào khuấy nhẹ cho mượt cọ!"
Bên mé hiên tây, cô Ba Thược và dì Bảy Đậu thoăn thoắt gắp những bẹ cải sen vàng ươm, dày cùi từ trong vò sành lớn đặt lên mẹt tre. Từng giọt nước chua trong vắt róc xuống chậu hứng bên dưới, để lộ những cọng dưa óng ả, giòn rụm, thơm nức mùi hành hoa và gừng già nướng.
Tiểu Mãn đứng bên chiếc bàn con kê giữa sân, tay cầm cuốn thẻ tre năm cột, ngòi bút lông thỏ chấm mực xạ đen nhánh thoăn thoắt ghi chép từng con số cân đong do Tạ Cảnh đứng bên bàn cân đồng đọc to rành rọt:
"Hũ tương số một: Một thăng chẵn, chuẩn."
"Hũ tương số hai: Một thăng chẵn, chuẩn."
"Vò dưa số một: Mười cân hai lạng, róc nước vàng giòn, đạt chuẩn loại một!"
Tiếng lách cách thanh giòn của thẻ tre va vào nhau, tiếng cười đùa rộn rã của các bà các chị, tiếng đập búa chan chát đanh gọn của Nhị Hòa đang gia cố trục bánh xe cút kít dưới bóng mít mật hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản trường ca lao động sôi sục và ấm áp lạ kỳ nơi xóm nghèo ven khe.
Đến chiều muộn ngày thứ mười bốn tháng hai, toàn bộ công việc chuẩn bị cho phần dưa tương cơ bản đã hoàn tất mỹ mãn.
Bốn mươi hũ tương sành ngấn nước men da lươn bóng loáng và sáu hũ dưa cải sen nén chặt đã được niêm phong miệng bằng lớp vải mộc tẩm sáp ong kín mít, bên ngoài nẹp chặt bằng dây giang chẻ mỏng, xếp ngay ngắn thành từng hàng thẳng tắp dưới mái hiên râm mát của chái nhà tây. Cỗ xe kéo cải tiến hai bánh của Nhị Hòa đã được gia cố vững chãi như một pháo đài thu nhỏ: sàn xe lót rơm nếp dày dặn, từng con cúi rơm múi bưởi chèn khít rịt vào khe hở giữa các thân hũ sành, dây thừng chữ nhân buộc néo giằng chéo vào các then gỗ nghiến chắc như bàn thạch, thử rung lắc mạnh tay mà không một chiếc hũ nào suy chuyển dù chỉ nửa phân.
Tiểu Mãn mở hầu bao vải thô, thanh toán sòng phẳng tiền công nhật cho bốn phụ nữ nhóm đổi công: mỗi người mười lăm đồng tiền kẽm cho một ngày rưỡi làm việc cật lực, kèm theo một âu dưa chua bọc túi vải thô mang về ăn cơm tối. Ai nấy đều hân hoan rạng rỡ, tíu tít cảm ơn Diệp gia rồi lục tục ra về trong bóng hoàng hôn, hẹn sáng sớm tinh mơ ngày mai sẽ ra đầu ngõ đưa tiễn đoàn xe khởi hành lên đường.
Đêm ngày mười bốn tháng hai âm lịch buông xuống thôn Thanh Khê.
Màn đêm đen đặc như mực tàu bao trùm lấy xóm làng ven khe. Trong gian nhà ba gian, ngọn đèn dầu lạc leo lét hắt ánh sáng vàng vọt lên vách đất nện.
Tiểu Mãn ngồi bên bàn cùng Tạ Cảnh và Nhị Hòa rà soát lại lần cuối cùng từng mốc thời gian trên bảng lộ trình vẽ trên thẻ tre:
Đúng đầu giờ Dần—tức canh năm rạng sáng mai, khi sao Mai vừa mọc, Nhị Hòa và A Lan sẽ mang ba chiếc sọt tre lót lá chuối sang bãi bồi cùng Ngô Quế Hoa thu hoạch năm mươi cân rau non mọng sương, gánh nhanh về sân. Toàn bộ rau non sẽ được đặt cẩn thận lên khung đỡ phía trên cỗ xe kéo, phủ vải mộc đẫm sương để giữ nguyên độ tươi nõn.
Tiểu Mãn, Nhị Hòa cùng Tạ Cảnh sẽ thay nhau đẩy cỗ xe ba mươi dặm ra bến Liễu Kiều. Với sức vóc của Nhị Hòa kết hợp kỹ thuật đẩy xe hai bánh cải tiến, họ sẽ chỉ mất chưa đầy ba canh giờ để vượt qua trạm dịch Thạch Đình, kịp đón chuyến thuyền buôn hàng bông vào đầu giờ Thìn xuôi dòng nước lớn ngược lên huyện lỵ Vân Thủy.
Mọi phương án, mọi ngóc ngách, từng bài toán rủi ro đều đã được tính toán kỹ lưỡng đến chân tơ kẽ tóc.
Tiểu Mãn khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm, đưa hai bàn tay nhỏ nhắn lên xoa nhẹ thái dương đã thấm mệt. Nàng nhìn cha mẹ đang say ngủ thanh thản trên chõng tre buồng trong, nhìn Tam Nha ôm khư khư chiếc que nếm tương ngủ ngon lành bên góc phản, thầm nhủ chỉ cần chuyến đi sáng mai trót lọt, uy tín của nàng và thương phẩm dưa tương Thanh Khê sẽ vững vàng cắm rễ chốn huyện thành phù hoa.
Nhưng đúng vào lúc sự tĩnh mịch của đêm đen tưởng chừng như vĩnh cửu ấy, từ phía rặng núi Thanh Lĩnh ở mạn bắc bỗng nổi lên những cơn gió bấc thổi giật từng hồi hun hút.
Gió rít qua rặng tre ngà sau hè kẽo kẹt rợn người, cuốn theo hơi ẩm buốt lạnh thấu xương tủy. Bầu trời đêm vốn hãy còn lác đác vài vì sao le lói bỗng chốc bị những mảng mây đen kịt, nặng trĩu như chì từ bốn phương cuồn cuộn kéo tới nuốt chửng. Không khí trong gian nhà bỗng trở nên ngột ngạt, đặc quánh một cách bất thường.
"Ầm... ầm... đoàng!"
Một vệt chớp bạc ngoằn ngoèo xé toang màn đêm u tối, theo sau là tiếng sấm sét nổ vang rền chuyển đất lệch trời dội thẳng xuống hẻm núi Cây Gạo phía đầu nguồn.
Chỉ trong chớp mắt, những hạt mưa to bằng hạt ngô bắt đầu nện lộp độp liên hồi trên mái ngói cũ, rồi nhanh chóng biến thành một trận mưa rào đầu mùa dữ dội, xối xả như trút nước từ chín tầng mây đổ ụp xuống trần gian.
Nước mưa tuôn xối xả làm xói lở những bờ đất, biến con đường đất sét độc đạo—lối duy nhất nối liền thôn Thanh Khê ra trạm dịch Thạch Đình để đi tới bến sông Liễu Kiều—thành một bãi sình lầy ngập ngụa, trơn trượt đến mức người đi bộ không tải còn trượt ngã, huống chi là một cỗ xe kéo chở nặng hàng trăm cân đồ sành và rau tươi mỏng manh.