Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.25 / 45
Chapter 25

Kỳ đối chất sổ nợ nơi sân từ đường

Tiếng vó ngựa lộc cộc nện dồn dập trên con đường đất đỏ dẫn vào xóm Trại, hòa cùng tiếng thở phì phò của đôi tuấn mã kéo cỗ xe mui bạt xám tro, đã xé tan buổi trưa yên ả nơi thôn Thanh Khê. Bụi đất mù mịt cuộn lên dưới gầm bánh xe, bay là là qua những rặng tre ngà rồi tạt vào các mái rạ xiêu vẹo ven đường. Tiếng chó sủa ran khắp đầu thôn ngõ xóm, từ nhà này truyền sang nhà khác, the the và dồn dập như báo hiệu một tai ương sắp giáng xuống.

Chưa đầy nửa khắc sau, một tờ trát đòi nợ quét mực chu sa đỏ chót, viền đen bốn góc sắc lẹm như một nhát dao chém ngang mặt gỗ, đã được người của trang viện họ Lương vỗ mạnh, găm chặt lên cánh cổng lim đen bóng của từ đường họ Diệp. Tiếng dùi gỗ gõ vào cọc sắt vang lên chan chát, khô khốc giữa không gian đứng gió. Ngay lập tức, tin tức dữ dội ấy lan đi nhanh hơn ngọn lửa gặp cỏ khô mùa hạn. Bước chân dồn dập, tiếng gậy tre gõ lốc cốc trên đường đá cuội của các bô lão, tiếng gọi nhau thất thanh của các bậc cao niên và tộc đinh trong họ Diệp cùng đổ dồn về chốn từ đường tôn nghiêm năm gian lợp ngói vảy cá.

Nắng trưa hanh hao, gay gắt rọi xiên qua tán cây bồ đề cổ thụ ngót nghét ba trăm năm tuổi sừng sững bên giếng nước sân đình. Từng vệt sáng tròn lốm đốm, chói gắt hắt thẳng lên khoảng sân gạch Bát Tràng đã mọc rêu phong xanh rì, biến nơi vốn dĩ tôn nghiêm, thanh tịnh trở nên bức bối, ngột ngạt đến lạ thường. Mới quá trưa chừng một khắc, gian tiền tế rộng thênh thang đã chật ních người. Tiếng bước chân xao xác, tiếng làu bàu oán thán của đám trai tráng trong họ, tiếng thở dài sườn sượt đầy vẻ bất lực của mấy cụ già hom hem hòa lẫn vào mùi khói nhang trầm nồng đượm bốc lên từ chiếc lư đồng cổ kính, tạo nên một bầu không khí đặc quánh như thể chỉ cần một que diêm quẹt nhẹ là cả gian nhà sẽ bùng nổ tan tành.

Mọi cặp mắt đổ dồn về phía chiếc phản bằng gỗ gõ lau bóng loáng đặt ngay ngắn ở chính giữa gian đại sảnh. Nơi ấy, quản sự Lương Quảng Tài của trang viện họ Lương đang ngự trị với vẻ mặt nghênh ngang khinh khỉnh.

Lương Quảng Tài ngồi chễm chệ ở ghế trên, thân hình to béo phốp pháp lún sâu vào chiếc đệm cói dày dặn. Hắn trạc ngoại tứ tuần, nước da mai mái màu đồng hun, một bàn tay múp míp đầy lông lá không ngừng vuốt ve chòm râu dê tỉa tót kỹ lưỡng đến từng sợi, bàn tay còn lại lười biếng kẹp chiếc tẩu đồng nạm bạc sáng loáng. Cứ chốc chốc, hắn lại gõ nhẹ đầu tẩu xuống mặt bàn gỗ gõ vang lên từng tiếng cộc cộc khô khốc, chói tai, như muốn nện thẳng vào màng nhĩ của những người đang hiện diện. Khoác trên mình chiếc áo tráng đoạn màu lam sẫm viền chỉ xám bóng bẩy, bụng phệ tròn trùng trục thắt dải lụa xanh màu ngọc thạch, gã đảo cặp mắt ti hí, hấp háy tia nhìn nham hiểm quét quanh đám dân quê áo vải vá chằng vá đụp bằng nửa con mắt.

Bên cạnh gã, tờ trát nợ bằng giấy bản khổ lớn quét mực chu sa đỏ lòm trải rộng trên mặt bàn. Nét chữ son đỏ rực như máu tươi vẽ nên từng dòng chữ cứng ngắc, góc giấy bên hữu đè dưới chiếc chặn giấy bằng đồng thau hình con nghê nặng trịch. Sau lưng gã, hai tên gia đinh to lớn lực lưỡng của trang viện họ Lương khoanh tay đứng sừng sững, lưng đeo đoản bổng bọc đồng, mặt lạnh như tiền, ánh mắt dữ tợn như sẵn sàng vồ lấy bất cứ ai dám cất lời xúc phạm.

Nhận thấy các bậc bô lão trong tộc Diệp cùng Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đã tề tựu đông đủ, ngồi kín hai dãy ghế trắc hai bên tả hữu, Lương Quảng Tài mới thong thả nhổ toẹt một bãi bọt trầu đỏ quạch qua bậu cửa gỗ lim, tiếng nước bọt rơi xuống thềm đá nghe cái toẹt giòn tan. Hắn hắng giọng thật to, âm thanh the thé như tiếng kim loại cọ vào đá:

“Hôm nay bổn quản sự đích thân hạ cố đến cái xó Thanh Khê hẻo lánh này, tuyệt nhiên không phải để ngồi nhấm nháp mấy chén chè xanh chát ngắt suông của các vị! Kỳ hạn nộp bạc đã điểm đến từng khắc, từng canh rồi! Món nợ mười lăm lượng bạc trắng gốc vay từ mùa thu năm ngoái để chạy chữa cái chân gãy nát cho Diệp lão tam, theo khế ước ba bên đã ký kết rành rành, nhà họ Diệp các người hôm nay phải hoàn trả sòng phẳng cả gốc lẫn lãi đúng kỳ hạn. Thế nhưng, đến tận giờ này, trong sổ chi thu của Lương phủ vẫn còn thiếu hụt một khoản tiền lớn. Bổn quản sự nói thẳng một lời cho vuông tròn: hôm nay, nếu họ Diệp các người không gom đủ hai mươi lăm lượng bạc trắng nộp ngay tại chiếu này, đặt lên mặt bàn này, thì đừng trách Lương gia ta cạn tình cạn nghĩa! Hai mẫu ruộng gò Cồn Gió màu mỡ kia, trang viện họ Lương ta sẽ chính thức tịch thu để gán nợ, ngay chiều nay cắm cọc tre rào đất, tuyệt đối không cho nhà ai bước chân vào cấy vụ lúa chiêm tới!”

Từng lời, từng chữ thốt ra từ cái miệng đỏ lòm trầu cau của gã quản sự tựa như những nhát búa giáng thẳng xuống đầu đám đông.

Cả gian từ đường lập tức ồ lên một tiếng kinh hãi tột cùng. Mấy cụ già run rẩy chống gậy trúc lẩy bẩy, mặt mày tái mét không còn một giọt máu. Mười lăm lượng bạc gốc chỉ trong vòng chưa đầy một năm ròng rã nay lại đội lên thành hai mươi lăm lượng bạc trắng! Đối với những người nông dân Thanh Khê quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, chắt bóp từng đấu thóc, củ khoai, dành dụm từng đồng tiền kẽm rỉ sét để phòng khi ốm đau tang ma, thì hai mươi lăm lượng bạc trắng ròng chẳng khác nào một khối đá tảng từ trên trời rơi xuống đè nát cả dòng giống.

Đứng nép bên chiếc cột cái gian giữa, Diệp Thành run rẩy cả người. Chiếc chân phải gãy dập nát từ vụ tai nạn kéo gỗ trên ngàn vào mùa đông năm ngoái tuy đã đỡ sưng nhức nhờ uống ba mươi thang thuốc bắc lá đắng và ngày ngày chườm ngải cứu sao muối hạt, nhưng lúc này trước sức ép nghẹt thở của Lương Quảng Tài, chiếc chân tật nguyền ấy bỗng dưng giật thót từng cơn, run lên bần bật trên nền gạch.

Diệp Thành phải tựa gần như toàn bộ nửa thân trên vào cây gậy gỗ mít mộc mạc đã lên nước bóng loáng vì mồ hôi tay. Bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần, nứt nẻ của người đàn ông cả đời lam lũ siết chặt lấy mấu gậy đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, gân xanh nổi cộm trên mu bàn tay. Khuôn mặt sạm đen vì dãi nắng dầm sương, chằng chịt những nếp nhăn khổ cực của ông co rúm lại, lồng ngực phập phồng kịch liệt, giọng nói nghẹn ngào, run rẩy bật ra như tiếng khóc than xé ruột:

“Lương quản sự… trời cao có mắt, oan cho cả nhà tôi quá! Đầu xuân vừa rồi, con gái tôi là con Tiểu Mãn đã thức khuya dậy sớm, gom góp từng đồng từng cắc trả đủ tiền lãi đợt một hai trăm bốn mươi đồng kẽm, có cả biên nhận tay của chính ngài điểm chỉ chu sa đàng hoàng. Sau đó, đến đợt hai, cháu nó cũng đã thanh toán sòng phẳng bạc vụn nộp tận tay khố phòng Lương phủ, không hề chậm trễ lấy một ngày. Sao… sao nay ngài lại khống lên tới hai mươi lăm lượng bạc trắng ròng? Hai mẫu ruộng gò Cồn Gió là mồ hôi nước mắt ba đời nhà tôi khai hoang vỡ rậm, là manh đất duy nhất nuôi sống mấy miệng ăn, nuôi cả đứa con tàn tật này… Sao ngài nỡ lòng nào cướp đoạt, dồn gia đình tôi vào đường cùng ngõ cụt như thế?”

“Hừ! Oan cái nỗi gì! Nhà ngươi mở mồm ra là kêu oan, bộ trang viện họ Lương ta là phường cướp cạn hay sao?”

Lương Quảng Tài trợn ngược cặp mắt ti hí, vung mạnh tay áo lụa tráng đoạn, hất hàm lên trần nhà, giọng điệu sắc nhọn như dao cạo rạch vào da thịt:

“Một tên chân lấm tay bùn cả đời chỉ biết cúi đầu nhìn phân trâu như nhà ngươi thì biết cái thá gì về sổ sách luật lệ, về phép tắc của chốn phủ môn trang viện? Mười lăm lượng bạc gốc kia là tiền chết, nhưng tiền nợ nằm trong két bạc của trang viện một ngày là hao tổn chi phí một ngày! Các ngươi chỉ nộp ba đồng bạc vụn tiền lãi mặt, nhưng khoản ‘phí bảo quản văn tự’ tích lũy qua nhiều tháng ngày, tiền hao hụt sổ sách, công đinh gác kho ngày đêm canh giữ, rồi ngạch thuế điền trang quan trên vừa tăng thêm vào đầu mùa hạ, các ngươi đã nộp đồng nào chưa? Mỗi kỳ ba phần trăm, gộp lại qua bao mùa giáp hạt, tính cả gốc lẫn lãi phạt quá hạn, hai mươi lăm lượng bạc trắng là Lương phủ ta đã nể mặt tình làng nghĩa xóm chốn này lắm rồi đấy! Không có bạc thì giao đất, giấy trắng mực đen rành rành trên mặt giấy bản này, có kêu gào lên tận nha môn tri huyện, quan phụ mẫu cũng chiếu theo khế ước mà tróc nã thôi!”

Từng lời đe dọa của Lương Quảng Tài quất thẳng vào gian từ đường, khiến không khí càng lúc càng chìm sâu vào sự u ám nặng nề. Mùi khói hương trầm dường như cũng không xua nổi cái lạnh buốt của lòng người. Dưới dãy ghế trắc phía đông, Cụ Bảy họ Diệp – bậc cao niên ngoài tám mươi tuổi, râu tóc bạc phơ như cước, chiếc áo the thâm đã sờn rách ở cổ áo – khẽ khom lưng ho sù sụ. Cụ giơ bàn tay run lẩy bẩy vuốt ve chòm râu bạc, ánh mắt đục ngầu nhìn Diệp Thành rồi lại nhìn sang Lương Quảng Tài với vẻ bất lực sâu xa.

Người nông dân Thanh Khê thấp cổ bé họng xưa nay nghe đến hai chữ “nha môn”, “quan huyện” hay “khế ước” là hai đầu gối đã bủn rủn, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Thấp thoáng sau lưng Lương Quảng Tài là bóng dáng của quyền lực trang viện giàu nứt đố đổ vách, có quan hệ mật thiết với các nha lại trên huyện đường, ai dám cả gan mở miệng cãi lại nửa lời?

Nhận thấy thời cơ ngàn năm có một đã chín muồi, Diệp Đại Phúc – người đang đứng chắp tay trang nghiêm cạnh bàn tế sơn son thếp vàng – liền khẽ nhích chân bước lên một bước dài.

Khuôn mặt vuông vức mang vẻ hiền lành, chất phác giả tạo của ông ta thoáng hiện nét đắc ý khó nhận ra nơi đuôi mắt, nhưng chỉ trong chớp mắt, khóe môi ông ta lập tức kéo trĩu xuống thành một đường thê lương, bi thảm. Ông ta làm bộ thở dài sườn sượt một tiếng thật dài, rồi bước tới vỗ mạnh vào bờ vai gầy guộc đang run rẩy của Diệp Thành. Bằng một chất giọng rầu rĩ, trầm đục, thấm đẫm vẻ vì nghĩa diệt thân, ông ta cất lời:

“Chú Ba à… ta đã rỉ tai nói với chú bao nhiêu lần rồi mà chú có chịu nghe người anh ruột này đâu! Người nghèo hèn như anh em chúng ta, lấy vỏ trứng mà chọi với đá tảng ngàn cân sao cho nổi? Trang viện họ Lương thế lực ngút trời, gốc rễ ăn sâu tận trên huyện nha, quan huyện trông xuống, nha dịch trông vào, chú dây dưa với người ta làm sao được mà cố chấp? Hai mẫu ruộng gò Cồn Gió dẫu sao cũng chỉ là đất cằn đá sỏi, nước tưới không đủ, giữ lại làm gì cho thêm rước họa vào thân, để người ta kéo đinh tráng đến phá nhà dỡ ngói hay sao?”

Diệp Đại Phúc ngước mặt nhìn lên hàng ghế của Cụ Bảy và các bậc bô lão trong họ, rồi quay sang nhìn Trưởng thôn Phạm Đức Thuận. Ông ta hắng giọng, cố tình nâng cao âm lượng để từng lời của mình vang vọng khắp năm gian từ đường, rót thẳng vào tai từng tộc đinh:

“Hôm nay trước mặt bàn thờ linh thiêng của tổ tông họ Diệp, trước mặt Trưởng thôn và các bậc cao niên râu tóc bạc phơ, ta khuyên chú Ba một lời chí tình chí nghĩa, cạn ruột cạn gan: Chú nên tự nguyện giao hai mẫu đất gò Cồn Gió ấy cho nhánh bác cả này chuộc lại! Dù sao ta cũng là anh cả trong nhà, con trai Văn Long của ta học hành sáng dạ, sang năm lại lều chõng ứng thí thi cử chốn tỉnh thành. Nhánh chi trưởng đứng ra chuộc lại ruộng đất thì hai mẫu đất ấy vĩnh viễn vẫn nằm trong họ Diệp ta, không bị lọt vào tay người ngoài làng, lại vừa vặn giữ gìn thể diện tôn nghiêm cho tổ tiên dòng họ, khỏi mang tiếng với thiên hạ là có con cháu bị người ta siết nợ đuổi nhà, bêu riếu khắp tổng! Chú nhường đất cho ta, ta sẽ đứng ra gánh vác thay chú một phần bạc trắng trả cho Lương quản sự. Chú cần gì phải ngoan cố, cố đấm ăn xôi để cả dòng họ này phải chịu nỗi nhục nhã chung thế này hả chú Ba?”

Lời vừa dứt, một vài người thuộc chi trên và đám tộc đinh thân cận với Diệp Đại Phúc lập tức phụ họa theo. Tiếng xì xào, bàn tán vang lên râm ran khắp gian phòng:

“Phải đấy… bác cả nói chí phải, nghe thấu tình đạt lý lắm!”

“Ruộng đất của họ Diệp thì phải để người trong họ giữ. Chi trưởng đứng ra chuộc là giữ trọn cái phúc cho tổ tiên rồi!”

“Chú Ba đừng cố chấp làm gì nữa, nhượng lại cho anh cả có khi lại êm thấm chuyện cửa nhà, Lương quản sự cũng nể mặt chi trưởng mà bớt cho vài lượng…”

Từng lời hùa theo, từng ánh mắt thúc ép của bà con họ hàng như những nhát dao sắc lẹm cứa từng nhát vào khúc ruột đang quặn thắt của Diệp Thành. Bàn tay ông run rẩy dữ dội hơn, cả người lảo đảo như sắp ngã quỵ xuống mặt sàn gạch. Khuôn mặt sạm đen xám ngoét lại. Làm sao ông không hiểu dã tâm của người anh cả này? Từ bao năm nay, Diệp Đại Phúc đã thèm thuồng hai mẫu ruộng Cồn Gió tuy cằn nhưng lại có mạch nước ngầm thuận tiện ấy. Nay nhân lúc ông hoạn nạn, Lương phủ ép bức, ông ta lại đem danh dự tổ tông và tương lai thi cử của thằng cháu Văn Long ra làm bình phong để ép ông dâng trắng mảnh đất hương hỏa. Một nỗi uất nghẹn dâng lên ứ nghẹn nơi cổ họng Diệp Thành, môi ông run bần bật mà không thốt nên được một lời nào cho trọn vẹn.

“Bác cả nói nghe sao mà êm tai, xuôi chèo mát mái đến thế! Nhưng họ Diệp ta từ đời ông cha khai hoang lập ấp đến nay chỉ biết giữ gìn thể diện bằng sự ngay thẳng, quang minh chính đại và đạo lý làm người, chứ chưa từng nghe nói phải cướp đoạt mồ hôi nước mắt, bóp nghẹt đường sống của em ruột để điểm tô cho cái danh hão của chi trưởng bao giờ!”

Một giọng nói trong trẻo, lanh lảnh nhưng đanh thép như tiếng chuông đồng bất thần vang lên từ phía bậc thềm đá từ đường, xé toang bầu không khí ngột ngạt và những lời bàn tán xôn xao.

Toàn thể đám đông trong gian tiền tế giật nảy mình, đồng loạt quay phắt ánh nhìn ra phía cửa lớn.

Dưới ánh nắng ban trưa chói lọi, Diệp Tiểu Mãn hiên ngang sải bước qua bậu cửa gỗ lim dày dặn bước vào gian chính. Nàng vận một chiếc áo chàm màu lam thô giản dị, vạt áo buộc gọn gàng nơi thắt lưng, mái tóc đen nhánh dày dặn được búi chặt sau gáy bằng một chiếc trâm tre mộc mạc. Khuôn mặt nàng thanh tú, đôi gò má ửng hồng vì đi vội dưới nắng gắt, nhưng nổi bật hơn cả là đôi mắt sáng ngời, sâu thẳm và bình thản lạ kỳ. Trong ánh mắt ấy không hề có lấy nửa phần sợ sệt, hoang mang hay rụt rè trước uy thế hống hách của gã quản sự nhà giàu hay áp lực đè nặng từ các bậc bề trên trong họ tộc.

Trên hai tay, nàng cẩn thận ôm một chiếc hộp gỗ trắc nhỏ nhắn màu nâu sẫm, bốn góc khảm xà cừ cũ kỹ đã mòn bóng theo năm tháng. Đi sát ngay sau lưng nàng là Tạ Cảnh. Chàng thư sinh khoác chiếc áo vải thô màu xanh mộc mạc, vóc dáng cao ráo, thẳng tắp như một cây tùng non trên vách đá. Trên tay chàng cẩn thận ôm một bọc vải xanh dày dặn đựng đầy thư tịch, sách vở và những thẻ tre buộc dây chỉ đỏ.

Diệp Tiểu Mãn hoàn toàn phớt lờ sắc mặt thoắt xanh thoắt đỏ, ngỡ ngàng tột độ của Diệp Đại Phúc. Nàng sải từng bước chân vững chãi tiến thẳng tới trước hương án nghi ngút khói trầm, khẽ cúi đầu hành lễ nghiêm cẩn trước Cụ Bảy và các bô lão, rồi dừng lại ngay trước chiếc bàn gỗ gõ nơi Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đang ngồi.

“Tiểu Mãn… con nhãi ranh này, mày đến đây làm cái gì?” Diệp Đại Phúc sầm mặt lại, gân trán giật giật, liền bước xổ tới toan dùng uy quyền bác cả để quát nạt, chặn họng nàng: “Chốn từ đường tôn nghiêm, đàn ông trong họ đang bàn việc lớn liên quan đến sinh mệnh dòng tộc, đàn bà con gái chưa gả chồng như mày biết cái gì mà dám xông vào đây nói năng xấc xược? Mau cút về nhà dệt vải!”

“Cháu đến đây để bảo vệ tài sản hợp pháp và chính đáng của gia đình cháu! Bảo vệ bản ‘Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư’ mà chính bác cả và Trưởng thôn đây đã từng ký tên, điểm chỉ làm chứng trước bàn thờ tổ tiên!”

Tiểu Mãn dõng dạc đáp trả, từng lời thốt ra rành rọt, âm vang khắp gian nhà. Ánh mắt nàng lạnh băng như sương tuyết quét thẳng qua khuôn mặt Diệp Đại Phúc, khiến ông ta bất giác chột dạ, nuốt khan một ngụm nước bọt rồi lùi lại nửa bước.

Không thèm bận tâm đến ông ta nữa, Tiểu Mãn quay phắt người sang phía Lương Quảng Tài. Gã quản sự lúc này đang nhíu chặt đôi lông mày sâu róm, cặp mắt ti hí trừng lên nhìn nàng đầy vẻ giễu cợt, khinh khỉnh. Tiểu Mãn không hề đôi co miệng lưỡi suông. Nàng đặt chiếc hộp gỗ trắc lên mặt bàn, nhẹ nhàng mở chiếc chốt đồng nhỏ sang một bên. Từ trong đáy hộp lót vải đỏ, nàng rút ra hai tờ giấy bản dày dặn. Mặt giấy phẳng phiu, viền mép ngay ngắn, được giữ gìn cẩn thận đến mức không hề có lấy một nếp quăn góc.

Nàng bình tĩnh trải từng tờ biên nhận đã có chữ ký nhận tiền và dấu điểm chỉ thu tiền lãi đợt một và đợt hai lên mặt bàn, ngay trước tầm mắt của Trưởng thôn Phạm Đức Thuận. Từng cử chỉ của nàng dứt khoát, ung dung, toát lên một sự tự tin sắt đá khiến đám đông tộc đinh bất giác im bặt.

“Lương quản sự vừa lớn tiếng tuyên bố trước hương linh tổ tiên họ Diệp và toàn thể dân làng rằng gia đình tôi chây lười, trễ hạn nợ nần, chưa nộp một đồng nào nên nay khống lên thành hai mươi lăm lượng bạc trắng. Vậy xin mời Trưởng thôn cùng Cụ Bảy và các cụ bô lão hãy mở rộng tầm mắt nhìn cho thật rõ hai tờ giấy trắng mực đen này!”

Tiểu Mãn giơ ngón tay thon thả nhưng rắn rỏi chỉ thẳng vào dòng chữ đầu tiên trên tờ giấy bên trái, cất giọng rành rọt đối chiếu chuẩn xác từng đồng tiền vụn cùng ngày nộp trước sự chứng kiến của toàn thể họ tộc:

“Kỳ hạn thứ nhất, ngày rằm tháng mười năm ngoái, nhà họ Diệp chúng tôi đã thanh toán đủ hai trăm bốn mươi đồng tiền kẽm cho tiền lãi đợt một. Tờ biên nhận này có chữ ký của chính Lương quản sự và dấu điểm chỉ chu sa hình hoa dâu ở góc phải, ngày tháng ghi rõ rành rành!”

Cả từ đường lặng ngắt như tờ, chỉ còn nghe tiếng gió thổi xào xạc qua rặng bồ đề ngoài sân. Nàng tiếp tục lật tờ thứ hai, tiếng giấy sột soạt vang lên đanh gọn:

“Kỳ hạn thứ hai, cuối tháng ba vừa qua, từ nguồn tiền tích lũy bán rau dưa và vải dệt, chúng tôi đã thanh toán tiếp một lượng năm tiền bạc vụn và tám mươi đồng kẽm, nộp thẳng tại phòng thu của trang viện họ Lương. Dưới chân giấy có triện mộc khắc dấu ba góc của khố phòng Lương phủ, cùng chữ ký nhận của phó quản sự Lương Nghĩa. Tổng cộng hai đợt lãi theo đúng giao ước ban đầu là hai lượng bạc và tiền kẽm vụn phụ trợ, chúng tôi chưa từng chậm trễ dù chỉ nửa khắc! Bạc vụn cân đúng cân của Thị Ty, đồng kẽm đếm đủ không thiếu một phân. Vậy xin hỏi Lương quản sự, cớ sao ngài lại dám trơ trẽn vu cho nhà chúng tôi tội bội ước, rồi tự tiện bịa đặt ra cái gọi là ‘hai mươi lăm lượng bạc’ để bức bách người lương thiện?”

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận vội vàng móc từ trong túi áo ra chiếc kính mắt gọng đồng đã ố màu, cẩn thận cài lên sống mũi. Ông ghé sát mặt vào hai tờ giấy bản, ngón tay run run lần theo từng nét mực tàu, từng đường nét của con dấu triện chu sa đỏ chói. Sau một hồi ngắm nghía cặn kẽ, ông khẽ gật đầu lia lịa, ngẩng mặt lên nhìn đám đông:

“Đúng là chữ ký và triện chu sa của Lương phủ! Ngày tháng đối chiếu khớp từng ly từng tí, tiền nộp đủ hai kỳ, không hề sai sót một văn!”

Một làn sóng xôn xao lập tức bùng nổ trong gian từ đường. Các tộc đinh bắt đầu quay sang nhìn Lương Quảng Tài bằng ánh mắt ngờ vực, tiếng xì xào chỉ trích, bất bình vang lên ngày một lớn:

“Hóa ra nhà chú Ba đã trả đủ lãi hai kỳ rồi!”

“Đã nộp đủ tiền mà dám đến đây bảo chưa trả đồng nào, lại còn đòi siết đất!”

“Trang viện lớn mà ăn nói lật lọng thế sao?”

Diệp Đại Phúc đứng bên cạnh toát mồ hôi hột đầy trán, hai mắt chớp lia lịa, liên tục nháy mắt ra hiệu cho Lương Quảng Tài tìm cách xoay chuyển tình thế.

Lương Quảng Tài bị vạch mặt ngay giữa bàn dân thiên hạ, khuôn mặt phị thịt co rúm lại, thoắt xanh thoắt đỏ rồi tím tái như gan lợn. Nhưng với bản tính xảo quyệt, lọc lõi của kẻ chuyên nghề siết nợ chốn hương thôn, gã lập tức gạt phăng sự bối rối sang một bên. Gã đập mạnh bàn tay hộ pháp xuống mặt bàn gõ “rầm” một tiếng thật lớn, khiến chiếc tách trà hoa lam nảy lên tanh tách, nước trà sánh ra lênh láng:

“Im mồm hết cho ta! Một đứa con gái ranh miệng còn hôi sữa thì biết cái quái gì về sổ sách trang viện! Tiền lãi các ngươi nộp chỉ là tiền lãi mặt tính theo số lượng cơ bản. Cái ta đòi hôm nay là ‘phí bảo quản văn tự’ và tiền khấu hao rủi ro kho bạc! Khế ước nợ gốc năm ngoái do chính Diệp Thành ký tên điểm chỉ, có ghi rõ điều khoản này. Các ngươi trả lãi mà không trả phí lưu khế, thì tiền phí ấy sinh lãi mẹ đẻ lãi con, cộng dồn vào nợ gốc, tính đến nay tròn hai mươi lăm lượng bạc! Bổn quản sự thu theo văn tự gốc, chứ có tự nghĩ ra đâu mà các người la làng!”

Nói rồi, Lương Quảng Tài thò tay giật phắt tờ trát nợ gốc viền mạ vàng mép đặt dưới chiếc chặn giấy bằng đồng, giơ cao bổng lên giữa không trung trước mặt mọi người như một chiếc lệnh bài hộ thân bất khả xâm phạm. Gã cười khẩy một tiếng đầy đắc thắng, cặp mắt ti hí nheo lại nhìn chằm chằm vào Tiểu Mãn như muốn dùng uy thế của tờ giấy có dấu triện để nghiền nát sự phản kháng ngoan cường của nàng.

Thế nhưng, nụ cười ngạo mạn của gã chưa kịp nở trọn trên khóe môi thì đã lập tức đông cứng lại.

Tạ Cảnh từ tốn bước lên phía trước. Chàng thư sinh khoác tấm áo vải thô màu xanh mộc mạc nhưng vóc dáng lại toát lên khí phách thanh tao, đĩnh đạc lạ thường. Đôi mắt chàng sáng rực, sâu lắng và điềm tĩnh, ẩn chứa sự thông tuệ của bậc nho sinh đọc thông kinh sử, am tường điển lệ triều đình. Không một chút vội vã hay nao núng, Tạ Cảnh nhẹ nhàng đặt bọc vải xanh xuống góc bàn, cởi bỏ dải lụa buộc rồi lấy ra hai cuộn giấy dó dày dặn: một bản sao văn tự nợ do chính tay chàng chép lại cẩn thận từng nét từ mùa đông năm ngoái khi Diệp gia vay tiền, và bản gốc khế ước nợ mà Diệp Thành đã cẩn thận cất giấu nơi đáy rương bấy lâu nay.

Tạ Cảnh mang bản sao văn tự nợ và bản gốc của Diệp Thành ra đối chiếu từng nét chữ, trải phẳng phiu song song với tờ trát nợ của Lương Quảng Tài ngay trước án tiền tế, dưới ánh sáng rực rỡ chiếu rọi từ giếng trời từ đường.

“Lương quản sự, ngài vừa nhắc đến văn tự gốc và phép tắc công đường, vậy thì hôm nay, dưới sự chứng kiến anh linh của tổ tiên họ Diệp, xin mời các vị bô lão và Trưởng thôn hãy cùng soi xét cho thật tường tận từng nét mực trên văn tự gốc này!”

Giọng nói của Tạ Cảnh trầm ấm, vang xa, từng lời từng chữ dõng dạc thốt ra khiến cả gian từ đường bỗng chốc im phăng phắc, không một ai dám thở mạnh:

“Kính thưa Cụ Bảy, thưa Trưởng thôn và các bậc tiền bối trong họ. Khế ước vay nợ ngày hai mươi ba tháng bảy năm ngoái giữa gia đình thúc Diệp Thành và trang viện họ Lương được lập thành ba bản: một bản Lương phủ giữ, một bản nhà họ Diệp giữ, và một bản lưu tại lý điếm thôn ta. Mời mọi người nhìn kỹ vào bản gốc của thúc Diệp Thành giữ và bản trát nợ mà Lương quản sự vừa mang tới!”

Tạ Cảnh đưa ngón tay trỏ chỉ thẳng vào góc dưới bên hữu của tờ văn tự nhà họ Lương:

“Toàn bộ nội dung khế ước vay mười lăm lượng bạc ban đầu được viết bằng mực tàu đen tuyền, nét bút lối chữ Khải chân phương, nét sổ thẳng tắp, mực ngấm sâu vào thớ giấy bản cổ truyền đã ngả màu vàng sáp ong. Dưới chân văn tự có điểm chỉ chu sa của thúc Diệp Thành và chữ ký làm chứng của Trưởng thôn Phạm Đức Thuận. Thế nhưng, xin mời Trưởng thôn nhìn vào dòng chữ nhỏ chèn thêm ở góc này: ‘Phí bảo quản văn tự mỗi kỳ ba phần trăm’!”

Ánh mắt Tạ Cảnh quét qua từng gương mặt đang chăm chú dõi theo, rồi chàng cất cao giọng, chỉ ra sự gian lận không thể chối cãi:

“Thứ nhất, dòng chữ này dùng mực khói thông loại rẻ tiền mới mài, sắc mực xám xanh và bóng lộn, hoàn toàn đối chọi với màu mực đen tuyền của phần văn bản chính! Nét chữ nghiêng lệch, chen chúc chật chội giữa khoảng trống của thân giấy và dấu triện, rõ ràng là được thêm vào sau khi khế ước đã hoàn tất!”

Chàng ngẩng cao đầu, ánh mắt sắc như lưỡi dao phóng thẳng về phía Lương Quảng Tài:

“Thứ hai, và là điều quan trọng nhất: Theo *Đại Lương Điển Lệ* chương Hộ Luật về Điển Ước Khế Khoán, phàm là khế ước vay mượn, mọi điều khoản bổ sung, sửa đổi hoặc thêm thắt phụ phí bắt buộc phải có dấu điểm chỉ của người vay đè lên vết mực, cùng dấu triện của người làm chứng giáp lai giữa dòng chữ chèn và thân văn tự! Vậy mà dòng chữ đòi ‘phí bảo quản văn tự’ này nằm trơ trọi bên lề, không hề có vân tay của thúc Diệp Thành, không hề có triện đồng của thôn Thanh Khê! Trong khi đó, bản gốc do thúc Diệp Thành giữ suốt một năm qua hoàn toàn trắng tinh ở vị trí này, không hề có lấy nửa nét mực xám!”

Tạ Cảnh xoay người, hướng về phía hương án và Cụ Bảy, cất lời đanh thép:

“Một dòng chữ viết lén bằng mực mới, không chữ ký, không dấu triện, trái với luật lệ triều đình, trái với khoán ước ban đầu, há có thể dùng làm căn cứ để ép người lương thiện phải gánh thêm mười lượng bạc vô lý và cướp đoạt hai mẫu ruộng hương hỏa hay sao? Đây không phải là đòi nợ theo khế ước, mà chính là hành vi ngụy tạo văn tự, lừa gạt hương lăng!”

Từng lời vạch trần khúc chiết, đanh thép của Tạ Cảnh tựa như sấm sét giữa trời quang, bóc trần trần trụi âm mưu bẩn thỉu giấu kín dưới lớp vỏ bọc khế ước.

Lương Quảng Tài đứng chết trân, mặt cắt không còn một hột máu. Chiếc tẩu đồng nạm bạc trượt khỏi bàn tay run rẩy của gã, rơi “choảng” một tiếng chói tai xuống nền gạch Bát Tràng, vỡ đôi làm hai mảnh. Gã lắp bắp, hai mắt dại đi, cuống cuồng giơ tay toan giật lại hai tờ văn tự trên bàn:

“Ngươi… ngươi là cái thớ gì? Một tên thư sinh nghèo kiết xác trọ học mà dám mở mồm luận bàn luật lệ với trang viện họ Lương ta? Trưởng thôn… Trưởng thôn Phạm, ngày đó chính ông là người cầm triện làm chứng, ông nói xem có khoản phí này hay không!”

Lương Quảng Tài trong cơn quẫn bách liền quay sang chộp lấy bờ vai Trưởng thôn Phạm Đức Thuận như vớ được chiếc phao cứu sinh cuối cùng. Cặp mắt ti hí của gã trừng lên, lộ rõ vẻ đe dọa trắng trợn lẫn chút van nài hèn hạ.

Cả gian từ đường lập tức nín thở, toàn bộ ánh mắt đều dồn dập đổ dồn về phía người đứng đầu thôn Thanh Khê.

Phạm Đức Thuận ngồi chết trân trên chiếc ghế tre, trán ông rịn ra từng giọt mồ hôi to bằng hạt ngô, chảy ròng ròng xuống hai bên thái dương. Lưng áo chàm của ông đã ướt đẫm một mảng lớn tự lúc nào. Đôi bàn tay gầy gò cầm mép tờ văn tự khẽ run lên bần bật.

Ký ức của cái ngày định mệnh mùa đông năm ngoái bỗng chốc ùa về rõ mồn một trong tâm trí ông. Khi ấy, Diệp Thành bị thân gỗ nghiến nát chân, nằm liệt trên chiếc chõng tre rách nát, máu me be bét thấm đẫm manh chiếu cói, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. Vợ con Diệp Thành khóc lóc thảm thiết, tiếng gào khóc xé lòng xé ruột vang khắp xóm. Giữa cảnh hỗn loạn tang thương ấy, Diệp Đại Phúc đon đả chạy sang, dẫn theo Lương Quảng Tài mang mười lăm lượng bạc sang cứu đói. Trong gian buồng tối tăm, nồng nặc mùi máu tanh và mùi thuốc nam ẩm mốc, Phạm Đức Thuận vì nôn nóng muốn cứu mạng người nên chỉ vội vàng đối chiếu số bạc, ký tên và dập triện mộc vào ba bản khế ước để kịp cho người nhà cầm bạc đi bốc thuốc, nào có tâm trí đâu mà soi xét từng khoảng trống nơi góc lề giấy!

Thế nhưng, lúc này đây, nhìn ánh mắt trong veo nhưng kiên định như bàn thạch của Diệp Tiểu Mãn, nhìn phong thái đĩnh đạc, quang minh chính đại của chàng tú tài nghèo Tạ Cảnh, rồi lại nhìn sang hàng chục cặp mắt nghiêm nghị, khắc khoải của các bô lão dòng họ Diệp và ánh mắt đục ngầu nhưng đầy phẫn nộ của Cụ Bảy đang trừng trừng nhìn mình, Phạm Đức Thuận hiểu rõ hơn ai hết: nếu hôm nay ông vì kiêng dè uy thế của trang viện họ Lương, vì sợ hãi mấy tên nha dịch trên huyện mà nói sai nửa lời, che giấu sự thật, thì danh dự cả đời thanh liêm làm trưởng thôn của ông sẽ tan thành tro bụi, hương ước ngàn đời của làng Thanh Khê này sẽ bị chà đạp không thương tiếc dưới gót giày cường hào ác bá.

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận bị đặt vào tình thế phải nhớ lại ngày làm chứng năm xưa. Ông hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng run rẩy. Chậm rãi và dứt khoát, ông tháo chiếc kính mắt bằng đồng xuống, đặt cẩn thận sang bên cạnh nghiên mực.

Trước sự im lặng căng như dây đàn của toàn thể từ đường, Phạm Đức Thuận đứng thẳng người dậy. Ông quay người hướng về phía bàn thờ tổ tiên họ Diệp nghi ngút khói hương, kính cẩn vái một vái dài, rồi quay phắt lại, nhìn thẳng vào khuôn mặt đang tái mét của Lương Quảng Tài và các bô lão, cất giọng già nua nhưng dõng dạc, đanh thép:

“Kính thưa Cụ Bảy, thưa toàn thể bô lão họ Diệp và bà con thôn Thanh Khê. Ngày hai mươi ba tháng bảy năm ngoái, chính lão già này là người đem triện mộc sang nhà chú Ba làm chứng cho việc vay mười lăm lượng bạc trắng. Hôm đó, trước mặt vợ chồng chú Ba và bác cả Diệp Đại Phúc đây, chúng ta chỉ bàn duy nhất một điều: vay mười lăm lượng bạc gốc, mỗi quý trả lãi hai lượng, thế chấp bằng hai mẫu ruộng Cồn Gió. Tuyệt nhiên… tuyệt nhiên lúc ký vay không hề có khoản phụ phí vô lý này!”

Phạm Đức Thuận giơ cao tờ khế ước của Lương phủ lên trước thanh thiên bạch nhật, giọng đanh lại:

“Lão xin lấy danh dự mấy chục năm làm trưởng thôn và hương ước của tổ tiên Thanh Khê ra thề: Lúc lão đặt triện mộc xuống giấy, góc dưới này hoàn toàn để trống! Dòng chữ mực xám đòi ‘phí bảo quản văn tự ba phần trăm’ này là do người của Lương gia tự ý chèn thêm vào sau đó, không hề thông qua miệng lão, càng không được sự đồng thuận của gia đình chú Ba! Đây là điều gian lận trái với hương ước, thôn Thanh Khê ta dẫu nghèo nhưng tuyệt đối không chấp nhận thứ khế ước giả mạo này!”

Lời tuyên bố đanh thép của Trưởng thôn như một quả tạ ngàn cân giáng thẳng xuống gian từ đường.

“Ối trời đất ôi! Gian lận thật rồi!”

“Định dùng giấy tờ giả để cướp đất của dân làng à?”

“Quá quắt đến thế là cùng! Trang viện họ Lương giàu có mà thất đức đến bực này!”

Tiếng phẫn nộ của đám tộc đinh và dân làng vang lên như ong vỡ tổ. Cụ Bảy họ Diệp run rẩy đập mạnh chiếc gậy trúc xuống đất, râu tóc dựng ngược:

“Quân bất lương! Dám mang trò lừa đảo vào tận nơi thờ tự tổ tông họ Diệp ta để ép người siết của! Lương quản sự, họ Diệp ta tuy nghèo nhưng còn có phép vua lệ làng, ngươi đừng hòng làm càn!”

Lương Quảng Tài ngồi thụp xuống ghế, mồ hôi vã ra như tắm, khuôn mặt xám ngoét không còn một giọt máu. Gã quản sự vốn hống hách ngang tàng bao nhiêu năm nay, giờ đây bỗng chốc trở thành kẻ gian lận đê tiện bị bóc trần trước mặt hàng trăm con người. Kế hoạch khống nợ lên hai mươi lăm lượng bạc để nuốt trọn hai mẫu ruộng Cồn Gió đã hoàn toàn tan tành thành mây khói.

Trong cơn nhục nhã và giận dữ tột cùng, Lương Quảng Tài nghiến răng ken két, cặp mắt đỏ ngầu trừng trừng liếc xéo sang Diệp Đại Phúc đang đứng cạnh như muốn nuốt tươi nuốt sống ông ta. Chính lão già khốn kiếp này đã ba lần bảy lượt chạy sang trang viện họ Lương mách nước, cam đoan rằng nhà Diệp Thành cùng đường bí lối, con gái chỉ biết buôn thúng bán mẹt ngoài chợ, chữ nghĩa không biết một hột, Trưởng thôn thì nhu nhược dễ ép. Nào ngờ hôm nay gã lại bị một con ranh mười bảy tuổi cùng một tên tú tài nghèo dồn vào chân tường, bẽ bàng không chốn dung thân!

“Diệp Đại Phúc!” Lương Quảng Tài nghiến răng rít qua kẽ môi, giọng căm hờn: “Ngươi khốn nạn lắm! Ngươi lừa ta!”

Diệp Đại Phúc lúc này hồn xiêu phách lạc, cả người run lẩy bẩy như cầy sấy. Thấy Lương Quảng Tài trở mặt, lại thấy Cụ Bảy và các bô lão trong tộc đang trừng mắt nhìn mình với ánh lửa giận dữ ngút trời, ông ta hoảng loạn xua tay rối rít:

“Lương quản sự… ngài… ngài đừng nói bậy! Tôi… tôi nào có biết gì đâu! Tôi chỉ vì muốn tốt cho chú Ba, muốn giữ thể diện cho dòng họ nên mới khuyên chú ấy giao đất cho chi trưởng thôi mà! Tôi không biết… tôi hoàn toàn không liên can đến dòng chữ mực xám ấy!”

Càng cố thanh minh, giọng Diệp Đại Phúc càng trở nên the thé, lắp bắp. Trong lúc cuống cuồng giơ hai tay lên trời thề thốt để tự minh oan trước tổ tông, vạt áo tráng đoạn rộng thùng thình của ông ta vung mạnh lên.

Bỗng nghe “soạt” một tiếng, một phong thư gấp nếp cẩn thận bằng giấy hoa tiên màu ngà từ trong ống tay áo bên phải của Diệp Đại Phúc trượt ra ngoài, rơi cắm thẳng xuống mép chiếu gõ trước mũi giày của Diệp Tiểu Mãn.

Tiểu Mãn nhanh như cắt cúi người nhặt phong thư lên.

Nhìn thấy mảnh giấy rơi ra, Diệp Đại Phúc lập tức biến sắc, kinh hoàng thét lên một tiếng thất thanh rồi lao bổ tới toan giật lại:

“Không được xem! Mau trả lại cho ta! Đó… đó là việc riêng của nhà ta!”

Nhưng Nhị Hòa đã nhanh chân hơn một bước, cậu thiếu niên mười bốn tuổi dũng cảm bước lên chắn ngang trước mặt chị gái, hai tay dang rộng, ánh mắt nảy lửa đẩy bật Diệp Đại Phúc lùi lại sau.

Tiểu Mãn ung dung mở bung tờ giấy ra dưới ánh sáng ban trưa. Vừa lướt qua những dòng chữ mực đen nhánh trên đó, khóe môi nàng khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh buốt thấu xương.

Đó không phải là thứ giấy tờ riêng tư nào cả, mà chính là một tờ giấy thỏa thuận mua lại ruộng Cồn Gió đã được viết sẵn từ trước giữa Diệp Đại Phúc và Lương Quảng Tài! Từng điều khoản hèn hạ về việc chi trưởng sẽ bỏ ra năm lượng bạc vụn để chuộc lại mảnh đất từ tay Lương phủ ngay sau khi Lương phủ cưỡng chế thành công hiện lên rõ mồn một từng chữ, như một cái tát trời giáng đập tan hoàn toàn bộ mặt đạo đức giả của người bác cả họ Diệp!

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories