Nhóm đổi công và chum tương đầu mùa
Nắng thu vàng rực rải đều trên những chiếc nong tre đã được lau rửa sạch sẽ phơi khô cong ở khoảng sân trước nhà họ Diệp.
Gió từ mạn bờ khe thổi thốc qua rặng chuối tiêu sau vườn, cuốn theo mùi thơm ngai ngái của rơm rạ khô cùng hương đất ấm sau những ngày hanh hao. Sân đất nện đã được Nhị Hòa dùng chổi rễ quét sạch bong từ lúc gà gáy sáng, không vương lấy một cọng rác hay chiếc lá rụng. Dọc theo chân tường đất chái bếp, sáu chiếc chum sành da lươn màu nâu thẫm—di vật quý giá từ thời bà ngoại Lâm Thu Bà để lại—đã được cọ rửa bằng nước giếng khơi nấu cùng lá bưởi, úp nghiêng trên các kệ tre kê đá tảng cho ráo kiệt từng giọt nước đọng. Mặt men sành bóng loáng màu da lươn già phản chiếu ánh trời trong leo lẻo, từng thớ gốm nung già đanh phát ra tiếng kêu cong cong giòn giã mỗi khi có làn gió thoảng qua gõ nhẹ vào miệng chum.
Tiểu Mãn đứng giữa sân, vạt áo chàm buộc gọn gàng ngang thắt lưng bằng dải vải thô, mái tóc đen nhánh vấn cao để lộ vầng trán thanh tú đẫm một lớp mồ hôi mịn. Nàng đưa mắt nhìn những chiếc nong lớn đan bằng cật tre già óng ánh dưới nắng vàng rực rỡ, trong lòng trào dâng một cảm giác vững chãi lạ kỳ. Món nợ thúc bách của Chu Kim Quế đã được thanh toán sòng phẳng một nửa, hai mẫu ruộng Cồn Gió thoát khỏi nguy cơ bị dòm ngó, và giờ đây, nguồn đậu nành tròn mẩy đầu mùa cùng hai bao muối biển hạt to tinh khiết đang nằm ngay ngắn trong chái nhà kho.
Những ngày gian khó cùng cực dường như vẫn còn in hằn trên từng vết nứt nẻ nơi gót chân, trên bờ vai gầy guộc của người mẹ hiền và tiếng ho khan từng cơn của cha mỗi khi trái gió trở trời. Nhưng ngay lúc này, đứng giữa khoảng sân ngập tràn nắng ấm, ngửi thấy mùi tre nứa mới hong khô quyện với mùi lá bưởi thanh khiết, nàng biết gia đình mình đã bước qua được khúc quanh tăm tối nhất.
Tất cả đã sẵn sàng cho một bước ngoặt lớn: mẻ tương truyền thống quy mô đầu tiên của nhà họ Diệp.
“Tiểu Mãn ơi! Chúng tớ đến rồi đây!”
Tiếng gọi lảnh lót quen thuộc của Trần A Lan vang lên từ ngoài ngõ trúc cắt ngang dòng suy nghĩ của nàng. Cánh cổng tre khép hờ kêu cót két mở rộng, A Lan tươi cười hớn hở bước vào, theo sau là bốn người phụ nữ trong xóm.
Đó đều là những gương mặt quen thuộc mà Tiểu Mãn và mẹ đã cân nhắc kỹ lưỡng từ chiều hôm trước: thím Năm ở xóm Cầu Đá, góa chồng từ sớm, một mình nuôi ba đứa con nhỏ bằng nghề làm cỏ thuê, nổi tiếng là người tay chân nhanh thoăn thoắt và thật thà như đếm; chị Dâu nhà bác Tư bến sông, cánh tay rắn rỏi săn chắc vì quanh năm gánh nước thuê và bốc dỡ hàng ở bến đò; cô Ba Thược ở xóm Miễu, người phụ nữ gầy gò nhưng khéo tay, từng có kinh nghiệm đồ xôi làm bánh thuê cho các đám giỗ lớn; và dì Bảy Đậu ở xóm Trong, tính tình trầm lặng, cẩn thận, hạt thóc hạt kê rơi xuống đất cũng phải nhặt sạch không bỏ phí.
Thấy cả nhóm bước vào sân, bốn người phụ nữ có phần e dè ngập ngừng, đưa mắt nhìn quanh khoảng sân sạch bong rồi ái ngại nhìn xuống đôi bàn chân bám bụi đất đường thôn. Thím Năm khẽ chùi vạt áo chàm đã sờn vai, ngập ngừng lên tiếng:
“Tiểu Mãn này… Con bé A Lan bảo cháu định làm mẻ tương lớn, cần người phụ việc nên chúng thím đánh bạo sang đây xem sao. Đang cữ nông nhàn, ruộng nương gặt xong cả rồi, ở nhà quanh quẩn không ra đồng nào mua mắm muối cho sắp nhỏ… Cháu xem có việc gì nặng nhọc cần chân tay thì cứ bảo bọn thím một tiếng.”
Chị Dâu bác Tư cũng đưa bàn tay thô ráp xoa xoa mép quai nón, mắt nhìn lướt qua mấy chiếc chum sành da lươn to kềnh càng rồi nhìn vào vóc người mảnh mai của Tiểu Mãn, giọng nói sang sảng thường ngày bỗng hạ thấp xuống đôi phần:
“Thím Năm nói phải đấy cháu ạ. Nghe con bé A Lan nói nhà cháu làm tận mấy thúng đậu nành, lại dùng toàn chum lớn của cụ bà để lại, bọn thím mừng thầm trong bụng. Giờ này ngoài đồng khô cỏ cháy, đàn ông trai tráng còn chật vật kiếm cọng rau con cá, đàn bà bọn thím chỉ mong có việc gì đổi được chút gạo chút khoai hay dăm ba đồng tiền kẽm là quý lắm rồi. Cháu đừng ngại bọn thím tay chân vụng về, bảo gì bọn thím làm nấy, tuyệt không nề hà việc bẩn việc nặng.”
Tiểu Mãn vội bước tới, nở nụ cười hiền hậu, đưa hai tay đón lấy chiếc nón mê rách mép trên tay thím Năm:
“Các thím, các chị sang được thế này là quý hóa cho nhà cháu lắm! Mẻ tương này lớn, một mình cháu với mẹ cháu không tài nào xoay xở xuể. Mau vào bóng râm thềm nhà ngồi uống bát nước chè xanh đã ạ.”
Từ trong gian bếp, Lâm Tú Nương bưng ra một chiếc khay gỗ mộc đặt năm bát sành nước chè xanh hãm với vài lát gừng già thơm nức. Khói nước bốc lên nghi ngút, mang theo vị chát ngọt dịu nhẹ xua tan cái hanh hao của buổi sớm mùa thu. Diệp Thành đang ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp bên bậu cửa, đôi chân đau duỗi thẳng tựa vào nẹp gỗ, tay cầm dao gọt lại mấy chiếc muôi gỗ lớn, cũng ngẩng đầu lên đon đả chào hỏi xóm giềng:
“Chào thím Năm, chào chị Dâu bác Tư, cả cô Ba với dì Bảy nữa. Khách quý đến nhà mà chân cẳng tôi dở chứng thế này, không đứng dậy nghênh đón tử tế được, mong các thím xá lỗi cho. Mấy mẹ con con bé Tiểu Mãn nó bàn tính chuyện làm ăn, tôi thân làm cha chỉ biết ngồi gọt mấy cái muôi gỗ phụ giúp. Mời các thím các chị uống ngụm nước ấm cho nhuận giọng.”
Sự đón tiếp chân thành, ấm áp của gia đình lập tức xua tan đi vẻ ngượng ngùng ban đầu của những người phụ nữ nghèo. Họ cởi bỏ đôi dép rơm mòn vẹt để gọn gàng nơi góc thềm, bước lên chiếc chiếu cói sạch sẽ được trải sẵn ở hiên nhà râm mát. Vị chè xanh nóng hổi ấm nồng nơi cuống họng khiến thím Năm thở phào một hơi nhẹ nhõm, ánh mắt nhìn quanh ngôi nhà đất vách vôi tuy đơn sơ nhưng ngăn nắp, tinh tươm đến từng góc nhỏ.
Khi mọi người đã an tọa trên chiếc chiếu cói trải ở hiên nhà râm mát, uống xong ngụm nước ấm ngọt giọng, Tiểu Mãn mới nhẹ nhàng mở chiếc tráp tre nhỏ đặt trên bàn. Nàng cẩn thận lấy ra một tấm bảng ghép bằng những thanh thẻ tre mỏng, nhẵn bóng, được xâu kết bằng dây đay vô cùng chắc chắn.
Trên mặt thẻ tre, những nét mực nho đen nhánh, vuông vức và thẳng tắp hiện ra rõ ràng thành từng cột phân minh. Đó là nét chữ chân phương, chuẩn xác mà Tạ Cảnh đã thức đêm giúp nàng kẻ vẽ và ghi chép theo đúng quy chuẩn kế toán khế ước hôm trước. Từng đường kẻ chỉn chu, từng nét chữ sắc sảo không chỉ thể hiện tài hoa của người cầm bút mà còn toát lên vẻ trang nghiêm, minh bạch hiếm thấy ở chốn thôn dã.
Tiểu Mãn đặt bảng thẻ tre lên giữa chiếu, giọng nàng trong trẻo nhưng đầy sức thuyết phục:
“Thưa các thím, các chị. Cháu gọi mọi người sang đây hôm nay là muốn bàn chuyện làm ăn lâu dài chứ không phải chỉ nhờ vả dăm ba buổi công nhật rồi xong. Xưa nay trong thôn ta, việc đổi công thường chỉ nói miệng, nhà này giúp cấy nửa ngày, nhà kia sang gặt trả một buổi, lắm khi việc nặng việc nhẹ không đều nhau, rồi sinh ra so đo, mất lòng tình làng nghĩa xóm. Nhà cháu không muốn làm như thế.”
Nghe Tiểu Mãn nói, chị Dâu bác Tư mở to mắt, tò mò nhìn tấm bảng tre:
“Tiểu Mãn, cái bảng chữ này là để làm gì thế cháu? Bọn thím quanh năm chỉ biết cầm cuốc cầm liềm, có biết mặt chữ vuông tròn thế nào đâu.”
Cô Ba Thược cũng rụt rè đưa ngón tay sần sùi sờ khẽ vào sợi dây đay kết nối các thẻ tre, tặc lưỡi:
“Chữ nghĩa của thầy đồ trên trấn nhìn cũng chỉ đến thế này là cùng. Trông ngay ngắn, trang trọng quá, làm bọn thím thấy chột dạ.”
Tiểu Mãn mỉm cười giải thích, ngón tay thon thả chỉ vào từng cột tre:
“Dạ, cháu biết mọi người không quen mặt chữ, nên cháu đã nhờ Tạ công tử ở nhà trọ họ Lưu chia rõ ràng ra năm cột. Cột đầu tiên là tên của từng người, mỗi người có một ký hiệu riêng gắn với thẻ tre nhỏ cháu phát cho mọi người giữ. Ký hiệu của thím Năm là hình chiếc liềm nhỏ, của chị Dâu là hình đôi đòn gánh, của cô Ba Thược là hình ngọn lửa, còn dì Bảy Đậu là hình hạt thóc. Cột thứ hai ghi rõ công việc được giao: ai đãi đậu, ai gánh nước, ai trông lửa chõ đồ, ai phơi mốc. Cột thứ ba là thời gian: nửa ngày tính một khấc, tròn một ngày từ sáng tới tối tính hai khấc khắc sâu vào thẻ tre.”
Nàng dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt từng người phụ nữ đang chăm chú lắng nghe:
“Quan trọng nhất là cột thứ tư và thứ năm: phương thức quy đổi sòng phẳng. Đã là đổi công tương trợ thì phải dựa trên sự tự nguyện và minh bạch. Ở đây cháu đưa ra hai cách để các thím, các chị lựa chọn. Cách thứ nhất: ai cần tiền mặt chi tiêu việc nhà, cháu xin trả công nhật đầy đủ theo giá chung lúc nông nhàn, mười hai đồng tiền kẽm cho một ngày công trọn vẹn, trả liền tay sau khi kết thúc đợt ủ mốc ba ngày. Cách thứ hai: ai muốn tích công để đổi lấy dưa muối giòn hoặc tương hạt sau khi mẻ tương này chín ngấu, cháu sẽ quy đổi tương đương theo giá gốc xuất xưởng, mỗi ngày công đổi được hai bát dưa cải bọc túi vải thô hoặc một hũ tương sành nhỏ đạt chuẩn phẩm chất do chính tay các thím cùng làm ra.”
Cả hiên nhà bỗng chốc lặng phắc. Thím Năm, chị Dâu bác Tư cùng cô Ba Thược đưa mắt nhìn nhau, trong đáy mắt ánh lên vẻ sững sờ xen lẫn xúc động.
Mười hai đồng một ngày công nhật giữa cữ nông nhàn không phải là số tiền quá lớn, nhưng đó là tiền tươi thóc thật, không bị khất nợ, không bị xén bớt như khi đi làm thuê cho các nhà giàu ngoài trấn. Bình thường, đi làm cỏ cho nhà địa chủ từ tinh mơ đến tối mịt, họ chỉ trả tám đến chín đồng kẽm, lại còn xoi mói từng gốc cỏ, bắt chẹt từng gáo nước uống. Còn nếu đổi lấy dưa tương, đối với những gia đình nghèo đông con thì một hũ tương ngấu thơm ngon hay bát dưa giòn ngọt để ăn dè sẻn qua mùa đông giáp hạt chính là thứ quý giá hơn cả bạc vụn. Mùa đông Thanh Khê buốt giá, chỉ cần có bát tương đậm đà chấm rau luộc hay kho mấy con cá mương bắt dưới khe là cả nhà đã qua được bữa cơm ấm bụng. Quan trọng hơn hết, tấm bảng thẻ tre kia minh bạch đến từng nét khắc, không ai bị thiệt thòi, không ai phải chịu cảnh làm ơn hay mắc nợ ai.
Thím Năm run run đưa bàn tay thô ráp sờ nhẹ lên mép thẻ tre nhẵn bóng, giọng nghẹn lại:
“Tiểu Mãn à… Cháu nghĩ chu toàn đến mức này thì bọn thím còn mong gì hơn nữa! Đi làm thuê cho nhà địa chủ, họ hứa hươu hứa vượn rồi đến bữa cơm cũng chỉ cho bát cháo loãng mót ngô mốc, xong việc lại trừ trước bớt sau. Cháu rành mạch thế này, bọn thím làm việc cũng thấy mát lòng mát dạ, có nhọc nhằn mấy cũng cam lòng!”
“Phải đấy!” A Lan ngồi bên cạnh vỗ mạnh lên đùi, cười giòn tan: “Tớ đã bảo mà! Tiểu Mãn nhà mình làm việc gì cũng phân minh, đâu ra đấy. Các thím cứ yên tâm dốc sức, chúng ta làm việc cho chính miệng ăn của mình chứ chẳng đi đâu mà thiệt!”
Chị Dâu bác Tư gật đầu lia lịa:
“Được! Thím nhận gánh nước khe và bưng bê chõ nặng. Cứ ghi cho thím đổi lấy tương hạt nhé Tiểu Mãn, sắp tới nhà thím có đứa cháu họ ngoài bến đò sang ăn cưới, có hũ tương ngon đãi khách thì mặt mũi nở nang lắm!”
Dì Bảy Đậu nãy giờ im lặng, lúc này cũng khẽ lên tiếng, đôi mắt đượm vẻ mừng rỡ:
“Thím xin chọn cách lấy tiền kẽm. Đứa út nhà thím dạo này thiếu cái áo ấm mặc mùa đông, có mười hai đồng một ngày, thím làm ba ngày là gom đủ tiền mua xấp vải thô với nắm bông vụn may cho nó manh áo mới. Cảm ơn cháu, Tiểu Mãn.”
Tiểu Mãn nhìn sự đồng lòng rạng ngời trên từng gương mặt khắc khổ, lòng nàng ấm áp lạ thường. Nàng cầm con dao nhỏ, dưới sự chứng kiến của cả nhóm, cẩn thận khắc từng ký hiệu riêng biệt lên các thẻ tre con rồi trao tận tay cho bốn người phụ nữ.
Thỏa thuận đổi công đầu tiên của thôn Thanh Khê đã được xác lập như thế—không bằng những lời hứa hẹn bâng quơ, mà bằng sự tôn trọng và khế ước minh bạch được khắc ghi trên từng thớ tre già.
***
“Nào, các thím, các chị, chúng ta bắt tay vào việc thôi! Nhưng trước khi chạm vào hạt đậu, cháu xin phép được đặt ra một quy tắc bắt buộc của gia đình từ đời bà ngoại để lại.”
Tiểu Mãn đứng dậy, dẫn mọi người ra gian chái bếp. Trên chiếc bếp lò đất nung dã chiến đắp bằng đất sét và tro trấu, một nồi đồng lớn đang sôi sùng sục, bốc lên mùi thơm chát nồng, the the vô cùng dễ chịu của lá ổi tươi vừa hái từ trên gò Cồn Gió. Hơi nước phả ra mùi tinh dầu ổi thơm ngát, lấn át cả mùi khói củi và ẩm mốc quanh chân tường bếp.
Cô Ba Thược hít hà mùi hương lạ, ngạc nhiên hỏi:
“Nồi nước lá ổi này để làm gì thế cháu? Nấu nước uống giải nhiệt à?”
Tiểu Mãn lắc đầu, múc một gáo nước nóng pha vào chậu gỗ lớn ven giếng, đợi cho nước nguội bớt thành độ ấm vừa tay rồi nói rõ từng lời:
“Thưa các thím, bà ngoại cháu khi xưa từng dạy: Tương hạt là thức ăn đón khí trời đất để lên men, mầm mốc là thứ mỏng manh và linh thiêng nhất. Nếu bàn tay người làm dính dầu mỡ, dính nước bẩn hay tạp khí, mốc sẽ lập tức ngả sang màu xám đen, bốc mùi thối rữa và hỏng sạch cả nong đậu. Vì thế, quy tắc nghiêm ngặt đầu tiên: Tất cả chúng ta, trước khi chạm vào rổ đậu nành hay chạm vào nong nia, đều phải rửa tay thật sạch bằng nước đun lá ổi này. Chất chát của lá ổi sẽ tẩy sạch dầu nhờn, diệt khuẩn bẩn trên da thịt và giữ cho hạt đậu luôn tinh khiết.”
Nhìn vẻ mặt nghiêm cẩn và giọng điệu chắc nịch của Tiểu Mãn, không ai dám xem nhẹ. Thím Năm và dì Bảy Đậu là những người đầu tiên xắn cao tay áo, cẩn thận nhúng hai bàn tay vào chậu nước lá ổi ấm, kỳ cọ tỉ mỉ từng kẽ móng tay theo chỉ dẫn của nàng. Bàn tay sau khi rửa xong bốc lên mùi lá ổi thanh khiết, khô ráo và sạch sẽ lạ thường. Chị Dâu bác Tư và cô Ba Thược cũng lần lượt rửa tay cẩn thận, cảm nhận làn da thô ráp như được tẩy sạch mọi bụi bặm của chuỗi ngày lam lũ.
Sau khâu vệ sinh tay, Tiểu Mãn lại lấy ra những tấm khăn vải mộc màu trắng ngà do chính tay mẹ Lâm Tú Nương dệt trên khung cửi gỗ sến hôm trước. Từng tấm khăn đều đã được giặt bằng nước sôi lá sả và phơi khô cong dưới nắng gắt, thơm tho mùi nắng và hương đồng gió nội.
“Khăn này dùng để đậy kín đậu sau khi tãi nong, tuyệt đối không ai được dùng vạt áo hay giẻ lau linh tinh phủ lên mốc,” Tiểu Mãn căn dặn thêm, ánh mắt cẩn trọng quan sát từng góc khăn.
Công việc lập tức được triển khai nhịp nhàng như một cỗ máy ăn khớp.
Chị Dâu bác Tư khỏe mạnh gánh đôi thùng gỗ sồi thoăn thoắt ra giếng sâu múc từng gánh nước trong vắt đổ đầy các chum chứa. Bốn thúng đậu nành vàng mẩy—thành quả mồ hôi nước mắt của cả nhà trên ruộng Cồn Gió hòa cùng hai thạch đậu mua cọc từ ông Hứa—được đem ra đổ vào những chiếc mẹt tre lớn. Từng hạt đậu tròn vo, vỏ bóng láng, to đều tăm tắp như những hạt bắp non vừa bóc.
Tiểu Mãn, A Lan cùng thím Năm và dì Bảy ngồi xúm quanh nia, thoăn thoắt nhặt bỏ những hạt sâu mọt, hạt lép hay mày rác còn sót lại. Đôi tay họ thoăn thoắt lướt trên mặt nia tre, hạt nào méo mó, sứt sẹo hay có chấm đen li ti đều bị gạt sang một chiếc rổ con để dành nấu cháo cho lợn. Từng hạt đậu nành qua bàn tay chọn lọc đều căng tròn, mẩy bóng như những hạt ngọc vàng của đất trời.
Sau khi nhặt sạch, đậu được trút vào chậu gỗ lớn để đãi. Tiếng nước giếng khua rào rào hòa cùng tiếng cười nói rôm rả. Hạt đậu nặng chìm xuống đáy, mày đậu mỏng manh nổi lên trên bề mặt liền bị gạt bỏ sạch sẽ qua ba lần nước đãi trong suốt, đến khi đáy chậu nhìn rõ từng hạt đậu óng ả mới thôi. Từng dòng nước trong vắt tràn qua mép chậu, mang theo mọi bụi bặm trôi tuột xuống rãnh thoát nước sau vườn chuối.
Ở góc sân, chiếc chõ đồ lớn bằng gỗ mít do Diệp Thành tự tay chêm lại vành khít khao đã được đặt vững chãi trên miệng nồi gang khổng lồ ngập nước. Gỗ mít già chịu nhiệt tốt, lại không tiết ra mùi hăng nồng làm át đi hương thơm tự nhiên của hạt đậu. Nhị Hòa xắn tay áo, hì hục ôm từng thanh củi sồi khô nỏ nhét vào cửa lò, dùng ống nứa thổi bùng lên ngọn lửa đỏ rực. Ánh lửa bập bùng soi rọi khuôn mặt lấm lem tro than của cậu bé mười bốn tuổi nhưng đôi mắt sáng ngời vẻ tự hào.
Đậu sau khi để ráo nước được trút đều vào chõ đồ. Đáy chõ lót một lớp lá chuối tươi đã được hơ qua lửa cho mềm và khử trùng. Nắp chõ bằng cói đan kín mít được đậy chặt, xung quanh miệng chõ chèn thêm một vòng khăn ướt để giữ trọn hơi nóng không bị thất thoát ra ngoài.
Chẳng mấy chốc, nồi nước bên dưới sôi ùng ục. Làn khói trắng mang theo hương thơm béo ngậy, ngọt ngào của hạt đậu nành chín tới bắt đầu cuộn tròn bốc lên nghi ngút giữa khoảng sân thu. Mùi thơm mộc mạc, đậm đà lan tỏa khắp không gian, quyện vào làn gió thoảng bay xa tận bờ rào râm bụt, khiến mấy đứa trẻ nhỏ như Tam Nha và Diệp Tiểu Đậu đang quét lá quanh bờ rào cũng phải nuốt nước miếng, đôi mắt sáng rực nhìn về phía bếp lửa.
“Chị ơi, thơm quá! Mùi này thơm hơn cả chõ xôi nếp ngoài chợ phiên ấy chị nhỉ!” Tam Nha nhoẻn miệng cười, tay vẫn cầm chiếc chổi tre nhỏ quét vun mấy đống lá khô.
Tiểu Đậu thì chạy lon ton lại gần chân mẹ Tú Nương, hít hà một hơi thật sâu rồi reo lên:
“Mẹ ơi, trưa nay con có được ăn đậu đồ không mẹ?”
Lâm Tú Nương mỉm cười xoa đầu con trai út, ánh mắt dịu dàng nhìn sang con gái lớn đang túc trực bên bếp:
“Chờ chị Tiểu Mãn kiểm tra đã con. Mẻ đậu này quý lắm, để dành làm tương nuôi cả nhà mình đấy.”
Tiểu Mãn đứng canh bên miệng chõ, tay cầm chiếc đũa cả lớn bằng tre già. Nàng không dựa vào cảm tính mà bám sát từng lời dặn dò trong cuốn sổ tay của bà ngoại Lâm Thu Bà: Đồ đậu làm tương không được non lửa kẻo hạt đậu còn sượng cứng khiến mốc không ăn sâu, nhưng tuyệt đối không được đồ quá lửa nát nhừ như nấu cháo khiến hạt đậu bết dính vào nhau làm mốc bị nghẹt thở mà chua hỏng. Độ lửa phải đều đặn suốt hai canh giờ rưỡi.
Nàng chăm chú nhìn từng đợt khói bốc lên từ khe nắp cói. Khi khói chuyển từ màu trắng đục sang làn hơi mỏng trong suốt và mùi thơm ngậy đặc trưng đạt đến độ đậm đà nhất, Tiểu Mãn biết thời khắc đã đến.
Khi mặt trời lên đến đỉnh đầu, hơi nước bốc lên thơm ngát một góc trời, Tiểu Mãn mở hé nắp chõ, dùng đũa gắp thử vài hạt đậu đặt vào lòng bàn tay đã rửa sạch bằng nước lá ổi. Nàng đưa lên miệng cắn nhẹ, rồi dùng hai đầu ngón tay bấm thử.
Hạt đậu mềm dẻo như sáp ong, ruột đậu bên trong đã chuyển sang màu hổ phách trong suốt, bùi béo tan ngay trên đầu lưỡi nhưng vỏ ngoài vẫn giữ nguyên vẹn hình dáng hạt đậu căng tròn, không hề nứt vỡ toe toét.
“Được rồi! Đậu đã chín tới độ ngậm sáp!” Tiểu Mãn reo lên đầy phấn khởi.
Cả nhóm lập tức chuyển động nhịp nhàng. Chị Dâu bác Tư và thím Năm dùng giẻ lót hai quai chõ, cẩn thận nhấc chiếc chõ bốc khói nghi ngút xuống khỏi nồi gang. Những chiếc nong tre lớn đã được lót một lớp lá chuối khô sạch sẽ bày sẵn trên các kệ gỗ kê cao cách mặt đất hai thước để tránh hơi ẩm bốc lên từ lòng đất.
Tiểu Mãn dùng muôi gỗ mộc thoăn thoắt múc từng muôi đậu nóng hổi tãi đều ra mặt nong. Từng hạt đậu vàng rực rơi xuống, lăn tăn rải đều thành một lớp mỏng dính chỉ dày chừng một ngón tay nằm ngang. Cô Ba Thược và dì Bảy Đậu dùng quạt nan phe phẩy nhè nhẹ để hơi nước bốc đi thật nhanh, giúp bề mặt hạt đậu se lại mà bên trong vẫn giữ nguyên độ ẩm ngậm men.
Hơi nóng từ những nong đậu phả lên hầm hập, mang theo vị ngọt thanh thuần của thổ nhưỡng Cồn Gió. Mọi người làm việc không ngơi tay, mồ hôi ướt đẫm lưng áo nhưng nụ cười luôn nở trên môi.
Khi nhiệt độ của hạt đậu trên nong hạ xuống mức ấm vừa vặn—áp mu bàn tay vào thấy ấm dịu như da thịt trẻ sơ sinh—Tiểu Mãn mới cẩn thận rải đều mầm men mốc hoa cau giống cổ truyền mà bà ngoại từng giữ lại từ năm trước. Động tác của nàng thuần thục, nhẹ nhàng như gieo hạt ngọc xuống đất lành. Từng hạt mầm nhỏ li ti màu vàng hoa cau tản đều trong không khí, bám nhẹ lên lớp vỏ đậu còn hơi ẩm.
Cuối cùng, từng tấm khăn vải mộc trắng tinh thơm mùi nắng được nhẹ nhàng phủ trùm kín mít lên miệng nong tre, chèn các góc bằng những thanh tre nhỏ để gió thu không thổi lật góc khăn.
Mẻ đậu ủ mốc đã nằm ngay ngắn dưới bóng râm thoáng gió của hiên nhà, chuẩn bị bước vào giai đoạn kỳ diệu nhất của sự chuyển hóa hương vị.
***
Đúng lúc mọi người đang thở phào nhẹ nhõm, lau mồ hôi trên trán và chuẩn bị ngồi xuống bậu cửa nghỉ ngơi thì ngoài ngõ bỗng vang lên tiếng bước chân nện mạnh bạo trên con đường đá cuội.
“Hừ! Rộn ràng gớm nhỉ! Mới kiếm được dăm ba đồng tiền kẽm ngoài chợ phiên mà đã bày đặt xênh xang, rước người dưng nước lã về mở hội trong sân rồi đấy à?”
Giọng nói the thé, đầy vẻ châm chọc quen thuộc vang lên khiến bầu không khí vui vẻ nơi khoảng sân bỗng chốc chùng xuống.
Diệp Đại Phúc chống hai tay sau lưng, chiếc áo chàm màu mỡ gà phanh ngực để lộ ngực gầy, bụng hơi ưỡn ra phía trước, xăm xăm bước qua cổng tre. Đôi mắt ti hí của ông ta đảo quanh một lượt từ những chiếc chum sành da lươn bóng loáng, đống củi sồi cháy dở trong lò, mùi thơm ngậy của đậu chín, rồi dừng lại trừng trừng trên tấm bảng thẻ tre treo lủng lẳng bên cột hiên nhà. Mỗi bước chân của ông ta nện xuống đất nện như muốn giẫm nát sự thanh bình vừa mới nhóm lên trong căn nhà này.
Thấy Diệp Đại Phúc bước vào với dáng vẻ hầm hố, thím Năm và chị Dâu bác Tư hơi co người lại, cúi đầu lảng tránh ánh nhìn gay gắt của người đứng đầu nhánh bác cả trong họ. Ở cái thôn Thanh Khê này, tiếng nói của chi trưởng nhà họ Diệp xưa nay vẫn có sức nặng đè nén những nông hộ nghèo thấp cổ bé họng. Ai nấy đều biết tính khí hẹp hòi, cậy thế tộc trưởng chi trên của Diệp Đại Phúc, chỉ cần làm phật ý ông ta là có thể bị gây khó dễ trong các dịp chia nước tưới hay đóng góp lễ lạt trong họ.
Diệp Thành ngồi bên ngưỡng cửa, đôi mày rậm khẽ nhíu lại, bàn tay đang cầm dao gọt gỗ siết chặt thêm một chút, nhưng ông nén nhịn không lên tiếng, đưa mắt nhìn về phía con gái lớn. Ông hiểu, đây là cửa ải mà con gái ông phải đối mặt trên con đường tự mình gầy dựng cơ nghiệp.
Tiểu Mãn bình thản đón lấy chiếc khăn vải mộc từ tay A Lan, cẩn thận phủ nốt lên góc nong tre cuối cùng rồi mới xoay người lại. Nàng đứng thẳng tắp giữa sân, nét mặt điềm đạm nhưng ánh mắt sáng ngời không hề né tránh, khẽ cúi đầu giữ đúng lễ tiết bậc con cháu:
“Bác cả sang chơi ạ. Chẳng hay bác có việc gì dạy bảo gia đình cháu?”
Diệp Đại Phúc bước tới gần chiếc nong tre phủ khăn trắng, toan thò tay lật mép khăn lên dòm ngó, nhưng Tiểu Mãn đã nhanh chân bước lên nửa bước, khéo léo dùng thân mình che chắn ngang tầm tay ông ta. Nàng đứng sừng sững, hai tay buông tự nhiên nhưng phong thái kiên quyết như một bức tường thành bảo vệ thành quả lao động của cả nhóm.
Bị chặn lại, Diệp Đại Phúc hừ mũi một tiếng rõ to, chỉ tay vào mặt Tiểu Mãn, giọng gắt gỏng ra chiều răn dạy:
“Tiểu Mãn! Mày tưởng mày khôn ngoan lắm đấy phỏng? Tao nghe người ta đồn ngoài bến đò là mày kiếm được mối mua đậu, mua muối biển về làm tương, tao còn không tin. Giờ tận mắt chứng kiến mới thấy mày đúng là con ranh dại dột, không biết nghĩ sâu nghĩ xa gì cả!”
Ông ta quét mắt nhìn thím Năm, chị Dâu bác Tư rồi bĩu môi khinh khỉnh:
“Tiền thóc trong nhà kiếm được chẳng dễ dàng gì, lại đem đi bao bọc, rải tiền công nhật cho người ngoài xóm! Người ngoài thì chỉ rình cắn chắt, bòn rút của mày từng đồng kẽm, làm sao mà hết lòng hết dạ vì cái nhà này được? Trong khi họ hàng ruột thịt máu mủ chi trên chi dưới nhà bác cả đây thì mày làm ngơ! Thằng anh họ Văn Long của mày khỏe mạnh như vâm, mấy đứa em dâu của mày ở nhà rảnh rỗi cả ngày, sao mày không gọi sang mà làm giúp? Người trong nhà gánh vác cho nhau, có bát cơm manh áo thì đùm bọc lấy nhau, tiền của chảy vào túi người nhà họ Diệp chứ chảy đi đâu mà sợ mất? Mày đem bạc tiền phát cho người dưng thế này là làm bại hoại nề nếp gia phong, bôi tro trát trấu vào mặt tổ tiên họ Diệp nghe chưa!”
Những lời mỉa mai cay độc của Diệp Đại Phúc như gáo nước lạnh tạt vào khoảng sân đang ấm cúng. Thím Năm mặt đỏ bừng vì tủi thân, nắm chặt chiếc nón mê rách mép, ngập ngừng toan bước lùi lại phía góc rào để tránh rắc rối. Bàn tay thô ráp của người phụ nữ góa phụ run rẩy, ánh mắt cụp xuống nhìn đất, cảm giác tủi nhục của kẻ đi làm thuê nghèo khó lại trào dâng. Chị Dâu bác Tư cũng thở dài ngao ngán, khẽ liếc nhìn Tiểu Mãn đầy lo lắng. Họ sợ rằng trước uy thế của bác cả họ tộc, Tiểu Mãn sẽ phải nhún nhường mà hủy bỏ giao kèo đổi công vừa mới lập ra, đẩy họ trở lại cảnh thất nghiệp trong những ngày đông sắp tới.
Thế nhưng, Diệp Tiểu Mãn không hề run sợ hay lúng túng. Nàng hít sâu một hơi lồng ngực, lưng vẫn thẳng như cây trúc ven khe suối. Giọng nói của nàng cất lên rõ ràng, mạch lạc, từng câu từng chữ vang vọng khắp khoảng sân đất nện:
“Thưa bác cả. Lời bác dạy về tình nghĩa họ hàng ruột thịt đùm bọc lẫn nhau, cháu là phận con cháu xin ghi nhớ trong lòng. Nhưng hôm nay ở đây không phải là việc giỗ chạp tế tự, mà là việc sản xuất sinh kế nuôi sống gia đình cháu!”
Nàng tiến lại gần chiếc cột hiên, đưa tay nâng tấm bảng thẻ tre lên cao cho Diệp Đại Phúc nhìn thấy rõ:
“Bác bảo cháu đem tiền thóc đi bao bọc người dưng? Xin bác nhìn cho kỹ bảng thẻ tre này! Từng giọt mồ hôi của các thím, các chị ở đây đổ xuống đều được cháu ghi nhận phân minh từng giờ, từng buổi. Ai gánh một gánh nước, ai đãi một thúng đậu, ai quạt một chõ lửa đều có công sức rành rọt. Người làm công thì nhận tiền đồng hoặc nhận sản phẩm xứng đáng với sức lao động của họ bỏ ra, không ai xin xỏ nhà cháu một xu, và nhà cháu cũng không quỵt của ai một cắc! Đó là sự sòng phẳng, công bằng giữa người lao động với nhau, cớ sao bác lại bảo là đem tiền đi bao bọc hay bị người ta bòn rút?”
Gương mặt vuông vức của Diệp Đại Phúc giật giật, sắc mặt chuyển từ đỏ sang tím tái khi bị đứa cháu gái chặn họng bằng lý lẽ đanh thép. Ông ta lắp bắp:
“Mày… Mày dám cãi lời tao à? Tao bảo gọi con cháu nhà bác cả sang là vì muốn tốt cho cái nhà mày!”
“Cháu xin hỏi bác,” Tiểu Mãn không để cho ông ta kịp lấn lướt, tiếp tục dõng dạc: “Làm tương truyền thống của bà ngoại cháu truyền lại đòi hỏi quy chuẩn vệ sinh ngặt nghèo đến từng móng tay. Tay phải rửa bằng nước lá ổi tiệt trùng, nong nia phải cọ bằng lá bưởi phơi khô nỏ, giờ giấc đồ đậu, đảo tương phải canh chuẩn xác từng khắc không được sai lệch. Các thím, các chị ở đây sẵn sàng tuân theo từng chỉ dẫn của cháu, sẵn sàng chịu sự kiểm tra ngặt nghèo để mẻ tương không bị hư hỏng. Liệu anh Văn Long sang đây có chịu xắn tay rửa nước lá ổi, có chịu nghe sự phân công điều hành của một đứa em gái như cháu hay không? Hay là anh ấy lại ỷ thế con trai chi trưởng, làm việc thì chểnh mảng, đến bữa đòi ăn no, rồi cuối vụ lại đòi chia đôi lợi nhuận như cái cách bác từng đòi góp công miệng ngoài bờ khe hôm nọ?”
Từng lời, từng chữ của Tiểu Mãn rơi xuống như những nhát búa nện thẳng vào tim đen của Diệp Đại Phúc. Nhắc đến chuyện “góp công miệng” ngoài bờ khe dạo trước—khi ông ta định dùng danh nghĩa người nhà để chiếm đoạt ruộng ngô Cồn Gió mà không tốn một giọt mồ hôi—mặt Diệp Đại Phúc nóng bừng như phải bỏng.
“Mày… con ranh này xấc xược!” Diệp Đại Phúc giận run người, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Tiểu Mãn, giọng lạc đi vì phẫn nộ: “Mày dám lôi chuyện cũ ra bêu riếu bác mày à? Bố mẹ mày đâu, sao để một đứa con gái chưa nứt mắt ra đứng đây dạy đời người lớn thế này?”
Đúng lúc đó, một âm thanh trầm đục vang lên cắt ngang tiếng quát tháo. Tiếng gậy gỗ nện mạnh xuống nền đất khiến Diệp Đại Phúc giật mình khựng lại.
Cốp!
Diệp Thành chống cây gậy gỗ mít, nén cơn đau nơi khớp gối, chậm rãi nhưng vững chãi đứng thẳng dậy bên bậu cửa. Đôi vai ông tuy hơi còng vì bệnh tật nhưng lúc này ưỡn cao, ánh mắt người cha hiền từ thường ngày giờ đây ánh lên tia nhìn kiên định, lạnh lùng nhìn thẳng vào người anh trai ruột thịt:
“Bác cả! Đủ rồi đấy!”
Diệp Thành cất giọng trầm trầm, từng lời nặng tựa nghìn cân:
“Trước bàn thờ tổ tiên trong ngày tế xuân họ Diệp, trước mặt cụ Bảy và Trưởng thôn Phạm Đức Thuận, tôi đã chính thức tuyên bố trao toàn quyền điều hành ruộng đất Cồn Gió và toàn bộ việc làm ăn sinh kế của chi Ba cho con bé Tiểu Mãn. Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư ba bản giấy trắng mực đen có triện đỏ của lý điếm vẫn còn nằm trang trọng trong từ đường kia kìa! Con bé làm ăn đàng hoàng, giữ chữ tín, sòng phẳng với xóm giềng để kiếm từng đồng bạc trả nợ thuốc cho mẹ nó và chuẩn bị trả nợ địa chủ họ Lương, không hề làm điều gì trái với gia phong lệ làng. Bác là bác cả trong nhà, nếu không giúp đỡ được các cháu manh áo chén cơm lúc hoạn nạn thì cũng xin bác để yên cho chúng nó yên ổn làm ăn!”
Lời nói đanh thép của Diệp Thành như một đạo bùa phong ấn mọi sự ngang ngược của người anh trai.
Nghe Diệp Thành nhắc đến bản Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư cùng uy danh của Trưởng thôn và cụ Bảy họ Diệp, khí thế hung hăng của Diệp Đại Phúc bỗng chốc xẹp lép như bong bóng xì hơi. Ông ta hiểu rất rõ, bản khế ước đó đã tước đi quyền can thiệp của chi trưởng vào kinh tế của chi Ba. Nếu chuyện này làm rùm beng lên, người mất mặt trước dân làng và họ tộc chỉ có thể là bản thân mình—kẻ luôn tìm cách nhòm ngó, hớt tay trên mồ hôi nước mắt của gia đình người em trai tật nguyền. Cụ Bảy xưa nay nghiêm khắc, ghét nhất thói đục khoét người trong họ, nếu cụ biết chuyện Diệp Đại Phúc sang đây quấy quả, chức vị hương thân chi trưởng của ông ta chưa chắc đã giữ nổi.
Diệp Đại Phúc nghiến răng kèn kẹt, trừng mắt lườm Tiểu Mãn một cái sắc lẹm rồi hậm hực vung mạnh tay áo:
“Được! Tốt lắm! Bố con chúng mày cánh cứng rồi, coi thường chi trưởng này rồi! Để rồi tao xem mấy cái nong đậu mốc meo với mấy mụ đàn bà rách rưới này làm nên trò trống gì! Đến lúc tương chua tương thối đổ đi, nợ nần ngập đầu thì đừng có bò sang ngưỡng cửa nhà tao mà van lạy!”
Dứt lời, ông ta hậm hực quay ngoắt người, giậm chân thình thình bước nhanh ra khỏi cổng tre, bóng dáng khuất dần sau rặng dâm bụt đầu ngõ. Tiếng cổng tre đập mạnh vào cọc rào kêu lên một tiếng “chát” khô khốc, báo hiệu sự phẫn uất tột cùng của kẻ thất cơ lỡ vận.
Khoảng sân đất nện trở lại vẻ yên ắng tĩnh lặng. Nắng thu vàng rực vẫn rải đều trên những nong đậu thơm ngát.
Tiểu Mãn quay sang nhìn bốn người phụ nữ trong xóm, ánh mắt nàng chan chứa sự ấm áp và trân trọng:
“Các thím, các chị đừng bận tâm những lời bác cả cháu vừa nói. Việc của nhà họ Diệp chúng cháu, cháu đã nói là giữ lời. Thẻ tre đã khắc, công nhật đã định, cứ theo đúng quy ước mà làm. Mọi người cứ yên tâm dốc lòng phụ cháu mẻ tương này, cháu tuyệt đối không để ai phải chịu thiệt thòi nửa phần!”
Thím Năm xúc động lau vội giọt nước mắt nơi khóe mi, còn chị Dâu bác Tư thì vỗ mạnh vào bắp tay rắn rỏi của mình, dõng dạc nói to:
“Tiểu Mãn! Cháu đã vì bọn thím mà đứng mũi chịu sào, ăn nói ngay thẳng trước mặt bác cả như thế, bọn thím thề không để cháu thất vọng! Đừng nói là rửa tay nước lá ổi hay gánh nước mỏi vai, dù có phải thức trắng đêm canh nia mốc này, bọn thím cũng dốc trọn sức lực làm cho bằng được mẻ tương ngon nhất vùng Thanh Khê này mới thôi!”
“Đúng thế! Bọn thím dốc lòng làm với cháu!” Dì Bảy Đậu và cô Ba Thược cũng đồng thanh hưởng ứng, ánh mắt ai nấy đều rạng ngời niềm tin tưởng tuyệt đối. Nỗi âu lo, mặc cảm thân phận bị xua tan hoàn toàn, nhường chỗ cho lòng tự trọng và quyết tâm lao động hừng hực.
Khí thế lao động trong sân bỗng chốc bùng lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Không còn chút e dè, ngại ngùng nào nữa, các chị em phụ nữ xắn cao tay áo, người thì thoăn thoắt quét dọn lại khoảng sân, người thì kiểm tra lại độ kín của từng tấm khăn mộc phủ trên nong đậu, người thì phụ Nhị Hòa dọn sạch tro than trong lò gang. Tình thân ái, sự gắn kết keo sơn của những người lao động chân chính đã gắn chặt họ lại bên những nong tương đầu mùa.
Sau khi mẻ đậu ủ mốc đã yên vị, Tiểu Mãn cùng A Lan bắt tay vào công đoạn chuẩn bị nước ngâm tương cho ba ngày tới.
Hai bao muối hạt biển tinh khiết mua từ thuyền buôn bến sông được mở ra, từng hạt muối trắng trong, khô ráo lấp lánh dưới nắng. Đây là loại muối mỏ cựu phơi trên cát sạch, hạt to đanh, không lẫn bùn đen tạp chất. Tiểu Mãn chỉ dẫn Nhị Hòa bắc chiếc chảo gang lớn lên bếp, rang từng mẻ muối hạt cho nổ lách tách, bốc hết hơi ẩm chát và dậy lên vị mặn ngọt thuần túy theo đúng bí quyết của bà ngoại Lâm Thu Bà.
Mùi muối rang mằn mặn hòa cùng hơi khói ấm lan tỏa khắp gian chái bếp. Muối rang xong được đổ vào các chum sành da lươn, hòa cùng nước giếng khơi trong vắt đã đun sôi để nguội theo tỷ lệ vàng nghiêm ngặt được ghi nhớ trong đầu. Từng chiếc que tre gọt nhẵn dùng để khuấy muối được các chị em cọ rửa cẩn thận bằng nước lá ổi, chờ đợi ngày mốc lên hoa cau vàng óng để trút vào chum ngấu men.
Tiểu Mãn đứng bên hàng chum sành, ngắm nhìn làn nước muối trong veo phản chiếu bóng mây trời mùa thu. Nàng đưa tay lau nhẹ giọt mồ hôi trên má, trong lòng tràn ngập một cảm giác thanh thản, tự tin. Tấm bảng thẻ tre treo bên cột hiên khẽ đung đưa trong gió thu nhè nhẹ, như một minh chứng sống động cho con đường làm ăn đàng hoàng, tự chủ mà nàng đang từng bước vững vàng gầy dựng.
Thế nhưng, khi ánh mắt nàng vô tình hướng về phía đỉnh núi Thanh Lĩnh xa xăm ở phía tây thôn, nụ cười trên môi Tiểu Mãn bỗng thoáng ngưng lại.
Nơi chân trời xa thẳm, những dải mây đen kịt, nặng trĩu hơi nước chẳng biết từ lúc nào đã bắt đầu vần vũ cuồn cuộn kéo tới, che khuất dần ánh nắng vàng rực rỡ của buổi xế chiều. Gió thu bỗng chốc đổi chiều, mang theo hơi lạnh nồm ẩm ngai ngái thổi lốc qua ngọn rặng chuối tiêu.
Vừa đưa mốc vào chum ngâm nước muối thì bầu trời Thanh Khê bỗng đổ sập một cơn mưa rào trái mùa.