Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.15 / 45
Chapter 15

Tấm vải thô ra chợ, tích vốn cho vụ tương

Những súc vải bông thô màu mộc thơm lừng mùi nắng sớm được Diệp Tiểu Mãn tỉ mỉ vuốt phẳng phiu từng nếp gấp, xếp ngay ngắn cạnh những chiếc túi vải nhỏ có quai xách chắc nịch đặt trên sập gỗ.

Sáng nay, trời thôn Thanh Khê quang đãng và thoáng đãng lạ thường. Những cơn gió sớm từ rặng núi Thanh Lĩnh trùng điệp phía xa tràn xuống thung lũng, xua tan màn sương mỏng manh còn giăng mắc trên những ngọn cỏ gà, cỏ bấc ven bờ khe nước, để lộ khoảng trời thu cao vời vợi, trong vắt như mắt mèo. Trong gian nhà đất ba gian vách trát rơm bùn quen thuộc, không khí bận rộn đã rộn ràng từ lúc tiếng gà gáy ran canh tư. Ngọn đèn dầu lạc leo lét nơi góc cột soi tỏ những bóng người đang cặm cụi chuyển động nhịp nhàng.

Diệp Thành nay đã có thể tự mình chống một bên gậy trúc chạm đất, từng bước tuy còn tập tễnh nhưng đã vững chãi hơn nhiều. Ông ngồi ở bậu cửa lớn đón lấy chút ánh ban mai le lói, đôi tay thô ráp chai sần thoăn thoắt vót nốt mấy nan tre cật dẻo quánh để phụ con gái chèn quanh miệng sọt, gia cố cho khung sọt thêm phần cứng cáp. Cách đó không xa, bên chiếc bàn gỗ mộc đã lên nước bóng mờ, Lâm Tú Nương ngồi ngay ngắn, đôi mắt dẫu còn vương chút mệt mỏi sau trận ốm dài ngày nhưng ánh lên niềm an ủi dịu nhẹ. Ngón tay thon gầy của bà thoăn thoắt đưa đường kim mũi chỉ cuối cùng, ghì chặt chiếc quai túi dệt thô vào thân vải.

“Mẹ nghỉ tay một lát đi, ngần này túi bọc là đã đủ cho chuyến chợ sáng nay rồi.” Tiểu Mãn đặt bó rơm nếp dẻo thơm xuống nền đất nện, bước tới mỉm cười đỡ lấy chiếc túi vải thô từ tay mẹ, cẩn thận cắt đứt sợi chỉ thừa.

Chiếc túi may từ chính thứ vải bông mộc mà Tú Nương vừa dệt xong tuần trước trên khung cửi gỗ sến. Từng thớ sợi bông dày dặn, đanh chắc, được chập ba đường chỉ viền nơi đáy túi để chịu được sức nặng của hũ sành khi di chuyển. Miệng túi có dây rút luồn bằng sợi gai xe chặt, hai bên hông đính quai xách bản rộng chừng hai ngón tay, vừa vặn để lòng bàn tay người lớn xỏ qua mà không bị hằn rát hay cấn ngón. Góc dưới của mỗi chiếc túi, Tiểu Mãn cẩn thận dùng chỉ chàm thêu một nhành hoa cải ba cánh đơn sơ mà thanh nhã, nét thêu tuy mộc mạc nhưng lại tôn lên vẻ chỉnh chu khác thường. Đặt một hũ sành da lươn láng bóng đựng đầy dưa cải non muối nén vào bên trong, chiếc túi ôm khít lấy thân hũ, chỉ để lộ phần nắp đậy buộc chặt bằng hai lớp lá chuối hơ lửa mềm và nút lạt giang sạch tinh.

“Con tính kỹ đến từng đường kim thế này, người đi đường xa hay khách buôn xuôi ngược ngang qua bến sông nhìn thấy ắt sẽ ưng cái bụng.” Lâm Tú Nương đưa tay khẽ xoa nhẹ lưng áo con gái, giọng nói đượm vẻ xót xa lẫn tự hào khôn xiết: “Nhưng gánh ngần này đồ nặng, từ đây ra bãi cầu đá cũng ngót hai dặm đường đất mấp mô…”

“Mẹ đừng lo, có đệ phụ một vai mà!” Nhị Hòa từ sau chái bếp bước ra, hai tay xách chiếc đòn gánh gỗ mít uốn cong lưng tôm bóng loáng. Thiếu niên mười bốn tuổi dạo này nhờ được ăn uống đầy đủ hơn, lại thêm công việc đồng áng rèn giũa nên vóc dáng đã phổng phao trông thấy, đôi vai vuông vức vững chãi: “Hôm qua đệ chêm lại then chốt sọt tre rồi, rơm nếp lót đáy dày hai ngón tay, dù có trượt chân trên dốc đá thì hũ sành bên trong cũng chẳng mẻ một góc men.”

Tam Nha và Tiểu Đậu lăng xăng chạy quanh hai bên chân anh chị, đứa xách nón mê, đứa cầm giẻ sạch phụ lau từng đáy hũ sành cho sáng bóng. Nhìn cả nhà đồng lòng, trong lồng ngực Diệp Thành trào dâng một cảm giác nhẹ nhõm vô bờ. Món nợ đè nặng bấy lâu, rồi những ấm ức, cay đắng nơi từ đường họ Diệp tưởng như đã dìm cả gia đình ông xuống bùn đen không ngóc đầu lên nổi, nay nhờ sự kiên cường, tháo vát và bàn tay khéo léo của đứa con gái đầu lòng mà từng nút thắt ngặt nghèo đang dần được tháo gỡ.

Tiểu Mãn cùng Nhị Hòa gánh hàng ra tới chợ bãi bồi ven cầu đá Thanh Khê khi vầng thái dương vừa ló rạng sau rặng tre đầu làng, rải những tia nắng màu hổ phách ấm áp xuống mặt nước khe trong vắt. Không khí chợ phiên ngày hai và ngày bảy bao giờ cũng ồn ã từ sớm tinh sương. Tiếng lợn con kêu éc éc trong rọ tre, tiếng gà qué đập cánh phành phạch, tiếng người mua kẻ bán kỳ kèo từng đồng bạc vụn quanh mớ rau con cá, lẫn trong mùi khói rơm ngai ngái của gánh bánh đúc nóng đầu chợ.

Khác hẳn với những phiên trước phải chịu lép vế dọn hàng ở góc mương lầy lội, nước tù đọng bẩn thỉu, hôm nay Tiểu Mãn đàng hoàng bước tới góc đất cao ráo, sạch sẽ ngay mố đầu cầu đá—nơi Trưởng thôn Phạm Đức Thuận từng đứng ra phân xử công bằng và cho phép nàng bày hàng cố định.

Nàng trải tấm phên nứa sạch bong đã phơi qua ba con nắng khô ráo, bên trên cẩn thận lót một lớp vải gai mộc. Mười hai hũ sành da lươn con con bọc trong túi vải có thêu cành hoa cải chàm được xếp ngay ngắn thành hai hàng thẳng tắp. Cạnh đó, bốn súc vải thô màu mộc dày dặn, trắng ngà tự nhiên của Lâm Tú Nương dệt được cuộn tròn khéo léo, chằng bằng những sợi dây cói thanh mảnh, khoe trọn thớ dệt đều tăm tắp và biên vải phẳng lỳ.

Chẳng cần đợi Tiểu Mãn cất tiếng rao hàng, mùi thơm dịu nhẹ, thanh chua của dưa cải quyện với mùi gừng già đập giập và chút ấm nồng của đường phèn lan tỏa ra từ chiếc hũ sành vừa mở hé nắp để khách kiểm tra chất lượng đã lập tức kéo sự chú ý của dòng người tấp nập qua lại.

“Ơ kìa, dưa muối nhà con bé Tiểu Mãn hôm nay lại đựng trong cái gì lạ mắt thế kia?” Một bà thím xách làn mây đi chợ sớm dừng bước, tò mò nhìn những chiếc túi vải con con có quai xách xinh xắn, sạch tinh tươm.

“Dạ thưa thím, đây là dưa cải non muối theo bí quyết gia truyền nhà con, dưa giòn thanh, ấm tỳ vị nhờ có gừng già và nước muối nén kỹ.” Tiểu Mãn đứng dậy đón khách, nụ cười tươi tắn nở trên môi, giọng nói trong trẻo, rành rọt từng lời: “Hôm nay con muối sẵn vào từng hũ sành con nửa cân này, bọc sẵn trong túi vải thô có quai xách bền chắc. Các thím, các bác mua về ăn trong nhà hay các bác tài buôn mang đi đường xa chỉ việc xách tay, không sợ sánh nước dưa ra ngoài, không sợ bẩn vạt áo hay va đập sứt vỡ. Dùng hết dưa, cái túi vải này đem giặt sạch phơi khô lại dùng đựng trầu cau, kim chỉ hay hạt giống đều rất tiện ạ!”

Một người đàn ông trung niên mang giày vải thô đã sờn mép, vai đeo bọc tay nải lớn bằng vải xanh đậm—trông dáng dấp như một lái buôn đường dài chuẩn bị đón thuyền ở bến sông—bước lại gần, cúi xuống ngắm nghía chiếc túi vải. Ông ta cầm chiếc quai xách nhấc thử một hũ dưa lên, ngón tay kéo nhẹ miệng túi xem đường chỉ may chập ba rồi tấm tắc gật đầu:

“Khá lắm! Mấy bận trước ta đi thuyền qua đây, muốn mua dưa muối đem theo ăn dọc đường để đổi bữa với cơm nắm mà ngặt nỗi người ta toàn múc vào bát sành hay bọc túm trong lá chuối, đi nửa dặm xóc nảy nước dưa đã rỉ lem luốc cả đãy sách, ướt cả bạc tiền. Cái hũ này của cháu vừa khít một người ăn hai ba bữa, lại có quai xách xỏ ngón tay chắc nịch thế này thì tiện quá chừng. Giá cả tính thế nào?”

“Dạ thưa bác, một hũ dưa đầy đặn kèm cả hũ sành men tốt là mười đồng kẽm. Bác lấy thêm chiếc túi vải thô dày dặn có quai này chỉ thêm hai đồng kẽm tiền công dệt may của mẹ cháu thôi ạ. Tính cả thảy chỉ mười hai đồng một phần tinh tươm thế này thôi bác.”

Người lái buôn không mảy may mặc cả, rút ngay từ túi lưng ra mười hai đồng tiền kẽm xâu bằng dây gai lách cách, đặt gọn gàng vào lòng bàn tay Tiểu Mãn:

“Được! Cho ta lấy hai hũ! Ta lấy luôn hai chiếc túi vải này, lên thuyền treo tòng teng bên mép ván gỗ vừa thoáng vừa tiện xách, chẳng lo đổ vỡ.”

Tiểu Mãn nhanh nhẹn nhận tiền, cẩn thận kiểm tra lại nút lạt giang buộc miệng hũ dưa thứ hai rồi xỏ quai túi trao tận tay khách: “Cháu cảm ơn bác! Chúc bác buôn may bán đắt, thuận buồm xuôi gió!”

Sự tiện lợi và sạch sẽ đến từng chi tiết nhỏ ấy lập tức châm ngòi cho một cơn sốt nho nhỏ nơi góc chợ cầu đá. Những người nội trợ trong thôn hay các gia đình khá giả ở xóm Đông đi chợ sớm vốn đã chuộng vị dưa chua giòn ngọt của nhà họ Diệp từ vụ trước, nay thấy bao bì tinh tươm, cầm trên tay vừa sạch sẽ lại thanh nhã, chẳng ai tiếc thêm hai đồng kẽm bạc vụn để sở hữu chiếc túi vải xinh xắn.

“Cho thím một hũ có túi nhé Tiểu Mãn!” “Ta lấy một hũ mang về cho ông giáo ở nhà ăn với cháo trắng trưa nay, khéo phải lòng cái túi thêu hoa cải này mất thôi!”

Tiếng gọi mua, tiếng trao đổi râm ran cả một góc chợ. Nhị Hòa đứng bên thoăn thoắt đỡ từng hũ sành trao cho khách, miệng dạ vâng lễ phép. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa canh giờ, mười hai hũ dưa cải bọc túi vải đã bán sạch veo không còn một hũ nào. Tiền kẽm kêu leng keng vui tai rơi vào chiếc ống tre buộc ngang lưng Tiểu Mãn, mỗi đồng tiền đều thấm đượm mồ hôi của những ngày chăm bón ngoài ruộng rau cồn bãi và từng đường kim mũi chỉ thâu đêm của hai mẹ con.

Ở phía đối diện, sau gốc cây đa cổ thụ rợp bóng, Ngô Quế Hoa ngồi ủ rũ bên rổ rau héo táp sương, đôi mắt ti hí trừng trừng nhìn sang sạp hàng của Tiểu Mãn. Đợt sương muối trước khiến vườn rau nhà mụ úng nát phân nửa, bán chẳng ai buồn ngó, lại thêm trận bị Trưởng thôn Phạm Đức Thuận quở trách nghiêm khắc trước mặt bàn dân thiên hạ và dọa phạt năm mươi đồng kẽm, cấm chợ ba tháng nếu còn dám đặt điều bôi nhọ xóm giềng, mụ Quế Hoa giờ đây chỉ dám nuốt cục tức vào trong họng. Nhìn khách khứa chen chúc bên sạp nhà họ Diệp, mụ vừa ghen tức cắn chặt môi đến rớm máu, vừa không nén nổi sự kinh ngạc lẫn e sợ trước cách buôn bán khôn khéo, bài bản đến lạ lùng của con bé mới mười bảy tuổi đầu.

Không chỉ có dưa muối đắt hàng, bốn súc vải thô của Lâm Tú Nương bày trên phên nứa cũng nhanh chóng trở thành tâm điểm chú ý của những người phụ nữ trong thôn.

Mùa gặt lúa chiêm sắp đến gần, nhà nông nào cũng cần may thêm đôi ba bộ áo ngắn lao động dày dặn, chịu được cọ xát gai góc của rơm rạ và ánh nắng gay gắt ngoài đồng bãi. Vải mua ngoài chợ trấn Liễu Kiều tuy nhuộm màu bắt mắt nhưng sợi thưa, hồ bột nhiều, giặt qua một hai nước là nhão nhoẹt, mặc đi gặt chỉ vài buổi là rách toạc vai áo. Còn vải thô của Lâm Tú Nương dệt từ sợi bông Thanh Lĩnh chắc nịch, sợi xe chặt bằng tay, lại được đập kỹ và dệt bằng khung cửi gỗ sến đã chỉnh then chốt cân đối, mặt vải phẳng lỳ, thớ sợi khít khao, cầm lên nặng trịch và đanh tay.

Bác Ba gái ở xóm Giữa bước tới, đưa bàn tay thô ráp xoa đi xoa lại trên mặt súc vải mộc, mắt sáng rực lên:

“Tiểu Mãn này, vải này mẹ cháu dệt đấy à? Chà, sợi bông chắc nịch thế này, dệt dày dặn thế này thì may áo đi gặt hay may bao đựng thóc giống có mà dùng ba mùa chẳng sờn rách!”

“Dạ đúng rồi bác Ba,” Tiểu Mãn mỉm cười xởi lởi, kéo một góc vải ra cho bác xem đường biên dệt thẳng tắp, không hề bị co rút hay xô lệch: “Mẹ cháu kén từng thoi sợi, se sợi bằng tay rồi dệt cẩn thận lắm ạ. Một súc này dài hai trượng tư, khổ hai thước hai, bác may được trọn vẹn hai chiếc áo cánh lao động cho bác trai với chú nhà mình, lại còn thừa vải vụn đủ làm hai đôi xà cạp bó ống chân chống gai góc nữa đấy bác.”

“Thế cháu tính bao nhiêu một súc?”

“Dạ, ngoài trấn người ta bán vải thưa pha sợi đay đã bốn mươi lăm đồng một trượng. Vải mộc nhà cháu dày sợi nguyên chất, cháu lấy bác đúng một trăm lẻ năm đồng một súc hai trượng tư thôi ạ. Bác mua về mặc thử, nếu đường dệt bị xô hay rút sợi, phiên sau cháu xin hoàn lại tiền đủ cho bác!”

Lời nói chắc nịch, thái độ đoan trang, thẳng thắn của Tiểu Mãn khiến bác Ba gái gật đầu lia lịa:

“Được! Bác lấy hẳn hai súc! Một súc may áo cho hai bố con thằng Cả, một súc để dành sang đông chần thêm ít bông làm chiếc áo chấn thủ cho mẹ chồng bác!”

Hai súc vải vừa bán xong, mấy người phụ nữ đứng xem bên cạnh sợ hết phần cũng vội vàng xúm lại mua nốt hai súc còn lại. Ai nấy đều tấm tắc khen tay nghề dệt cửi của Lâm Tú Nương vẫn nề nếp như xưa. Chỉ loáng một cái, cả bốn súc vải thô đã bán hết veo. Nhị Hòa đứng bên cạnh đỡ sọt rỗng, nhìn chiếc ống tre đựng tiền của chị gái nặng trĩu mà miệng cười toe toét không sao khép lại được.

Thu dọn phên nứa và sọt tre gọn gàng, Tiểu Mãn kéo Nhị Hòa nép vào một góc vắng dưới chân mố cầu đá kiểm đếm lại số tiền vừa thu được.

Mười hai hũ dưa muối kèm túi vải, mỗi phần mười hai đồng, thu về trọn vẹn một trăm bốn mươi bốn đồng kẽm. Bốn súc vải thô mộc, mỗi súc một trăm lẻ năm đồng, thu về bốn trăm hai mươi đồng kẽm. Cộng với số tiền dành dụm từ các mẻ dưa rau vụ trước và số bạc mà Lâm Tú Nương còn giữ trong ống nứa, Tiểu Mãn cẩn thận lấy ra một xâu tiền đồng sáng loáng và mấy mẩu bạc vụn đã được Tạ Cảnh giúp cân đong chuẩn xác bằng cân tiểu ly hôm trước.

Hôm nay là ngày cuối tháng ba âm lịch—chính là kỳ hạn đầu tiên mà nàng đã cam kết trước mặt Trưởng thôn và họ tộc để thanh toán nợ cho Chu Kim Quế.

Khoản nợ thuốc riêng ba lượng bạc mà mẹ nàng từng cắn răng vay để cứu mạng cha năm ngoái, theo khế ước phân kỳ hai đợt đã lập, hôm nay nàng phải trả dứt điểm một lượng năm tiền bạc trắng (tương đương một nghìn năm trăm đồng tiền kẽm).

“Nhị Hòa, đệ xách sọt tre về trước bảo mẹ nấu cơm trưa, chị sang nhà bác cả một lát.” Tiểu Mãn buộc chặt chiếc túi vải đựng tiền vào thắt lưng, dặn dò em trai.

“Chị để đệ đi cùng! Lỡ bà bác dâu lại giở quẻ ăn vạ hay nói lời cay nghiệt thì sao?” Nhị Hòa lo lắng nắm chặt lấy quai đòn gánh, chân mày cau lại.

Tiểu Mãn vỗ nhẹ lên vai em trai, ánh mắt điềm tĩnh và kiên định:

“Đệ yên tâm. Lần này chúng ta trả tiền sòng phẳng có giấy trắng mực đen, có khế ước đã được Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đóng dấu làm chứng. Bà ấy chẳng làm gì được chị đâu. Về nhà chăm sóc cha mẹ đi, chị giải quyết xong việc sẽ về ngay.”

Thấy chị gái dứt khoát, Nhị Hòa mới yên tâm gánh sọt rỗng quay về hướng đông thôn. Tiểu Mãn chỉnh lại nếp áo chàm ngay ngắn, sải bước đi về phía cổng ngõ nhà bác cả Diệp Đại Phúc ở xóm Giữa.

Cổng ngõ nhà bác cả lát gạch đỏ khang trang hơn hẳn những ngôi nhà đất trong thôn. Bức tường hoa bao quanh xây bằng gạch chỉ quét vôi trắng, bên trên lợp ngói âm dương rêu phong. Vừa bước chân vào khoảng sân gạch rộng rãi, Tiểu Mãn đã thấy Chu Kim Quế đang ngồi trên chiếc chõng tre nhặt đậu, miệng không ngớt càu nhàu sai bảo đứa con dâu đang lui cui trong bếp lò.

Nghe tiếng bước chân giẫm lên sân gạch lạo xạo, Chu Kim Quế ngẩng đầu lên. Nhìn thấy Tiểu Mãn, khóe môi mụ lập tức nhếch lên một nụ cười nửa mỉa mai nửa thăm dò:

“A, Tiểu Mãn đấy à? Cơn gió nào thổi cháu gái lớn của nhà họ Diệp sang tận đây thế này? Nghe đồn dạo này ngoài chợ cháu buôn bán ghê lắm, bán mấy mớ cải củ dưa muối mà làm như mở tiệm buôn lớn trên huyện không bằng. Hay là… hôm nay tới xin bác gái khất nợ thêm dăm ba bữa nữa hả? Ta nói trước cho mà biết nhé, khế ước đã điểm chỉ trước mặt Trưởng thôn rồi, hôm nay là ngày cuối tháng ba, thiếu một đồng kẽm thì đừng trách bác dâu này không nể nang tình máu mủ ruột rà!”

Tiểu Mãn không hề biến sắc trước những lời xoi mói đầy ác ý ấy. Nàng bước lại gần chõng tre, cúi đầu chào theo đúng phép tắc bề dưới, rồi ung dung rút từ trong bọc áo ra một tờ giấy bản gấp tư và một gói vải chàm vuông vức đặt lên mặt bàn tre:

“Thưa bác dâu, cháu sang đây không phải để xin khất nợ. Hôm nay đúng kỳ hạn cuối tháng ba theo bản khế ước nợ phân kỳ do huynh Tạ Cảnh soạn thảo và Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đã đóng triện làm chứng. Cháu mang sang trả đủ đợt đầu cho bác: đúng một lượng năm tiền bạc trắng, gồm một thỏi bạc nén tròn một lượng và năm trăm đồng tiền kẽm xâu chuỗi đủ mười tiền gạt bằng, xin bác kiểm nhận cho rõ ràng.”

Mắt Chu Kim Quế mở to hết cỡ, tia kinh ngạc hiện rõ mồn một trên gương mặt phù phiếm nhiều nếp nhăn. Mụ không thể ngờ rằng chỉ trong vòng chưa đầy hai tháng, một gia đình kiệt quệ với người cha gãy chân, người mẹ ốm yếu và đàn con nheo nhóc lại có thể xoay xở đủ một lượng năm tiền bạc mặt nhanh đến thế. Mụ vốn đinh ninh nhà Diệp Thành sẽ không trả nổi kỳ đầu, để mụ có cớ nhảy dựng lên đòi siết lấy cuốn sổ bí quyết gia truyền của Lâm Thu Bà hoặc ép gả Tiểu Mãn cho gã con trai ngờ nghệch nhà họ Tiền ngoài trấn để trừ nợ.

Chu Kim Quế vội vã với lấy thỏi bạc nén, đưa lên miệng cắn thử một miếng để kiểm tra độ cứng, mắt đảo qua đảo lại xem có pha chì hay đồng thau hay không. Thấy dấu răng ngập nhẹ trên nền bạc trắng tinh khiết, mụ lại lật đật đếm từng xâu tiền kẽm, tay thoăn thoắt so từng đồng tiền xem có đồng nào bị sứt mẻ hay gỉ sét không thể tiêu dùng.

Tiền kẽm sáng loáng, bạc nén chuẩn phẩm vị mười phần, không thể bắt bẻ lấy nửa lời. Chu Kim Quế nuốt nước bọt cái ực, trong lòng vừa tiếc hùi hụi vì vuột mất cơ hội ép đoạt công thức làm dưa tương, vừa không giấu nổi vẻ hậm hực:

“Được… được đấy! Xem ra con bé mày cũng có chút tài lanh xoay xở. Gom góp được ngần này tiền chắc cả nhà nhịn ăn nhịn mặc đến xanh xao vàng vọt rồi chứ gì?”

“Chuyện ăn mặc của gia đình cháu xin bác dâu không cần nhọc lòng lo nghĩ,” Tiểu Mãn bình thản mở tờ giấy bản trên bàn, rút lọ mực thông nhỏ và ngòi bút lông mang theo sẵn: “Tiền bạc đã kiểm đủ, xin phiền bác dâu ký tên hoặc điểm chỉ vào tờ biên nhận thanh toán kỳ một này. Cháu đã ghi rõ: ‘Ngày ba mươi tháng ba, Diệp Tiểu Mãn thay mẹ Lâm Tú Nương thanh toán đủ đợt đầu một lượng năm tiền bạc trắng cho Chu Kim Quế; phần dư nợ còn lại đúng một lượng năm tiền sẽ được thanh toán dứt điểm vào kỳ hai tức ngày rằm tháng tư âm lịch’. Có biên nhận rành rọt thì cháu mới an tâm ra về.”

Chu Kim Quế biến sắc, mặt xị xuống, lớn giọng:

“Gớm! Người một nhà với nhau mà mày làm như ta là phường giặc cướp không bằng! Tiền ta cầm rồi thì thôi, vẽ chuyện giấy má rườm rà làm cái gì!”

“Thưa bác dâu, buôn có bạn bán có phường, nợ nần nội tộc càng phải phân minh rõ ràng thì tình nghĩa ruột thịt mới bền lâu.” Tiểu Mãn đứng thẳng người, giọng nói dứt khoát không để lại một kẽ hở nào: “Nếu bác không chịu ký biên nhận, cháu xin phép mời Trưởng thôn Phạm Đức Thuận sang đây chứng kiến việc giao nhận bạc. Khế ước đã có triện của lý điếm, làm việc trái quy tắc thì Trưởng thôn biết được e là không hay cho thể diện của bác cả đâu ạ.”

Nghe nhắc tới Trưởng thôn Phạm Đức Thuận, Chu Kim Quế chột dạ. Mụ biết ông Thuận rất nghiêm khắc về việc khế ước hương thôn, nếu để kinh động tới ông, chuyện mụ từng ép nợ lúc Tú Nương ngã bệnh thập tử nhất sinh lại bị bới móc ra thì mặt mũi nhà bác cả chẳng biết giấu vào đâu.

Hậm hực nghiến răng ken két, Chu Kim Quế giật lấy hộp chu sa đỏ lòm, ấn mạnh ngón tay trỏ dính mực lên góc dưới tờ biên nhận rồi ấn một cái ‘bẹp’ lên mặt giấy bản.

“Đây! Điểm chỉ rồi đấy! Cầm lấy mà cút về!” Mụ ném tờ giấy lại cho Tiểu Mãn, giọng the thé bực bội: “Đừng có vội mừng sớm! Kỳ hai là rằm tháng tư, chỉ còn đúng nửa tháng nữa thôi! Lúc ấy mà không nộp đủ một lượng năm tiền còn lại thì đừng có trách ta lôi cả nhà mày ra từ đường đấy!”

Tiểu Mãn cẩn thận cầm tờ biên nhận lên, thổi nhẹ cho khô vết mực chu sa, gấp phẳng phiu từng nếp rồi cất vào túi áo trước ngực. Nàng nhìn thẳng vào mắt Chu Kim Quế, mỉm cười nhẹ nhõm:

“Xin bác dâu cứ yên tâm. Đúng rằm tháng tư, cháu nhất định sẽ mang đủ một lượng năm tiền bạc trắng sang đây trả nốt cho bác, không thiếu một ly một hào theo đúng văn tự đã lập.”

Nói đoạn, nàng cúi đầu chào rồi xoay người bước thoăn thoắt ra khỏi cổng ngõ nhà họ Diệp nhánh cả. Bước chân nàng nhẹ tênh như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đè nặng lên lồng ngực gia đình suốt hơn một năm qua. Món nợ riêng của mẹ nay đã trả được một nửa một cách đàng hoàng, minh bạch, không ai còn có thể dùng nó để uy hiếp hay làm nhục cha mẹ nàng được nữa.

Ra khỏi xóm Giữa, Tiểu Mãn không về nhà ngay mà rẽ theo con đường mòn rợp bóng liễu rủ dẫn xuống bến sông bãi Hạ.

Gió sông thổi vào mát rượi, mang theo mùi ngai ngái của phù sa và hơi nước mát lành xua tan đi cái ngột ngạt của buổi gặp gỡ ban nãy. Tại bến sông, mấy chiếc thuyền buôn đáy bằng chở hàng từ mạn duyên hải lên đang neo đậu san sát nhau bên bờ dốc cát. Những người phu khuân vác mình trần trùng trục đang hối hả chuyển từng bao hàng nặng trịch lên bờ bãi.

Tiểu Mãn đứng bên bờ cát bồi, cẩn thận móc chiếc thẻ tre nhỏ từ trong tay áo ra xem lại các con số nàng đã tính toán tỉ mỉ đêm qua. Số tiền bán vải thô và túi dưa sáng nay, sau khi trích ra phần trả nợ cho Chu Kim Quế, nàng vẫn còn tích lũy được hơn ba trăm đồng tiền kẽm. Với Tiểu Mãn, mỗi đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi nước mắt đều phải được tính toán chi li, đồng tiền phải sinh ra hạt thóc, củ khoai chứ tuyệt đối không được tiêu xài hoang phí.

Muốn làm mẻ tương lớn sắp tới theo đúng bí quyết của bà ngoại Lâm Thu Bà, hai thứ nguyên liệu quan trọng nhất không thể xuề xòa chính là muối và đậu nành. Tương muốn ngọt hậu, dậy mùi thơm ngậy và để được ba năm không hỏng mốc thì nước muối ngâm tương bắt buộc phải là loại muối hạt tinh khiết, hạt to đều, trắng trong như ngọc, không được lẫn bùn đất hay vị chát đắng của muối mỏ tạp nham. Thứ muối ấy chỉ có thể mua trực tiếp từ các thuyền buôn muối mạn biển cập bến sông lớn.

Tiểu Mãn tiến lại gần mạn một chiếc thuyền buôn muối lớn có treo lá cờ vải xanh thêu chữ “Hải”. Một người đàn ông đứng tuổi mặc áo ngắn vải thô, nước da ngăm đen vì nắng gió sông nước đang ngồi trên sạp thuyền kiểm tra sổ hàng.

“Bác ơi, cho cháu hỏi thăm giá muối hạt trên thuyền với ạ.” Tiểu Mãn lễ phép cất tiếng chào.

Người lái buôn muối ngẩng đầu nhìn cô thôn nữ ăn vận gọn gàng, đôi mắt sáng ngời lanh lợi liền buông cuốn sổ, xởi lởi đáp:

“Muối hạt trắng tinh loại một lấy tận ruộng muối ngoài biển đấy cháu gái. Bán lẻ hai đồng một cân, mua cả bao năm mươi cân thì tính chín mươi đồng.”

Tiểu Mãn bước lên mép ván gỗ cập bến, đưa tay bốc một vốc muối hạt trong chiếc bao gai đang mở miệng. Nàng xoa nhẹ những hạt muối to bằng đầu ngón tay út giữa hai lòng bàn tay, đưa lên mũi ngửi thử. Muối khô ráo, hạt trong suốt lóng lánh dưới nắng, không hề có mùi tanh nồng của bùn lầy tạp chất. Nếm thử một hạt nơi đầu lưỡi, nàng cảm nhận rõ vị mặn đậm đà nhưng thanh khiết, tan dần để lại vị ngọt hậu nhẹ nhàng nơi cuống họng. Đúng là loại muối hạt thượng hạng mà bà ngoại từng căn dặn ghi nhớ trong cuốn sổ tay làm tương.

“Cháu lấy hai bao một trăm cân, bác tính cho cháu một trăm bảy mươi đồng tiền kẽm được không ạ? Nếu muối tốt, phiên sau cháu sẽ ra mua thêm vài bao nữa về ủ tương.”

Người lái buôn ngắm nghía cô gái nhỏ biết nhìn hàng lại khéo ăn nói mặc cả, bật cười hào sảng:

“Được! Coi như mở hàng cho chuyến buôn lên mạn ngược, bán cho cháu một trăm bảy mươi đồng hai bao! Bác cho phu khuân vác vác lên tận bờ xe cộ cho cháu!”

Tiểu Mãn đếm đủ tiền kẽm giao cho chủ thuyền, nhờ gửi hai bao muối hạt tại điếm canh bến sông để lát nữa Nhị Hòa đẩy chiếc xe cải tiến ra chở về nhà.

Xong việc mua muối, nàng lại rẽ sang gian nhà kho của ông Hứa—nông hộ có ruộng bãi bồi ven sông chuyên trồng các loại đậu nành, đậu xanh nổi tiếng trong vùng. Ruộng gò Cồn Gió nhà họ Diệp tuy đã thu hoạch lứa đậu tương đầu tiên tròn mẩy vượt mong đợi, nhưng để khởi động một mẻ tương lớn quy mô hàng chục chum sành cho kịp vụ nắng hè thì nguồn đậu nành giống địa phương vẫn còn thiếu hụt chừng hai thạch (khoảng hai mươi đấu).

Tiểu Mãn tìm gặp ông Hứa, tỉ mỉ xem xét từng thúng đậu nành vàng óng vừa phơi khô nỏ. Đậu hạt tròn căng, vỏ mỏng, cắn thử thấy giòn tan và béo ngậy. Nàng đặt trước một trăm đồng tiền kẽm tiền cọc, hẹn ba ngày sau khi mượn xong nong nia phơi phóng sẽ cùng em trai sang cân đủ hai thạch đậu nành chở về.

Tính toán xong xuôi mọi khoản chi phí, trong túi Tiểu Mãn chỉ còn lại vỏn vẹn vài chục đồng kẽm dằn túi, nhưng ánh mắt nàng lại rạng ngời niềm tin. Toàn bộ tiền vốn liếng tích cóp được đã được nàng chuyển hóa thành muối hạt thượng hạng và nguồn đậu nành chuẩn mực—những viên gạch đầu tiên vững chắc nhất để xây dựng nên mẻ tương truyền thống của nhà họ Diệp.

Khi Tiểu Mãn quay về đến đầu ngõ nhà mình thì bóng nắng đã đứng bóng trưa. Vừa bước chân vào cổng tre, nàng đã nghe thấy tiếng cười nói giòn giã vang lên từ góc sân đất.

Trần A Lan đang xắn cao tay áo, cùng Tam Nha và Tiểu Đậu ngồi bên chiếc mẹt tre lớn nhặt sạch những hạt đậu lép và sỏi vụn từ mớ đậu vừa thu hoạch ở Cồn Gió. Thấy Tiểu Mãn bước vào, A Lan reo to, buông rổ đậu nhảy chân sáo lại gần:

“Tiểu Mãn! Cậu về rồi đấy à! Ban nãy tớ chạy ra chợ tìm cậu thì nghe người ta bảo cậu sang nhà bác cả trả nợ rồi. Thế nào? Bà bác dâu có làm khó dễ gì cậu không?”

Tiểu Mãn mỉm cười, đưa tay vỗ nhẹ lên túi áo trước ngực:

“Biên nhận điểm chỉ rành rọt đây rồi. Trả xong một nửa rồi, kỳ hạn hai vào rằm tháng tư tớ cũng đã tính toán đâu vào đấy, không có gì phải lo nữa.”

“Hay quá!” A Lan vỗ tay bôm bốp, gương mặt tròn xoe rạng rỡ niềm vui lây: “Tớ biết ngay mà, cậu đã ra tay thì chẳng ai làm khó được! À, tớ sang đây từ sớm, phụ mẹ cậu chà sạch mấy cái nia tre phơi đậu đây này.”

Hai cô gái dắt tay nhau lại ngồi bên bậu cửa râm mát. Lâm Tú Nương bưng ra một bát nước chè xanh om gừng ấm nóng cho con gái lớn uống đỡ khát. Nhìn A Lan xăng xái, nhiệt tình, Tiểu Mãn cảm thấy ấm áp vô cùng.

A Lan ghé sát tai Tiểu Mãn, hạ thấp giọng nhưng không giấu nổi vẻ hào hứng:

“Tiểu Mãn này, hôm nay tớ sang đây ngoài việc phụ nhặt đậu còn có chuyện này quan trọng lắm muốn bàn với cậu. Mấy hôm nay, chuyện nhà cậu làm dưa cải giòn ngon bán đắt như tôm tươi, rồi lại phục hồi khung dệt làm túi vải thô bán sạch veo ngoài chợ phiên lan khắp cả xóm Đông lẫn xóm Giữa rồi đấy!”

Tiểu Mãn khẽ nhấp một ngụm nước chè xanh, mỉm cười hỏi:

“Mọi người nói gì thế?”

“Nói gì nữa! Ai nấy đều khen mẹ con cậu tháo vát, chịu thương chịu khó. Mà này, sáng nay thím Năm với chị Dâu nhà bác Tư bến sông có gặp tớ, dò hỏi xem nhà cậu sắp tới làm mẻ tương lớn có cần người làm phụ không đấy!”

A Lan chớp chớp mắt, hào hứng kể tiếp:

“Mấy chị em trong xóm bảo dạo này đang cữ nông nhàn trước vụ gặt, ở nhà rỗi rãi chẳng kiếm ra đồng tiền bát gạo nào mua mắm muối. Họ thấy cậu làm ăn đàng hoàng, giữ chữ tín, tính tình lại sòng phẳng nên ngỏ ý muốn sang đổi công giúp nhà cậu làm mẻ tương lớn sắp tới! Người thì nhận vo đãi đậu, người nhận gánh nước khe, người nhận phơi mốc, hong nia… Họ bảo không dám đòi hỏi tiền công cao, chỉ xin đổi ngày công lao động, hoặc sau này mẻ tương ngấu thì cho họ đổi lấy dưa tương trừ vào công nhật để có đồ ăn trong nhà thôi! Cậu thấy thế nào?”

Nghe những lời của A Lan, Tiểu Mãn lặng người đi một thoáng. Đôi mắt nàng khẽ mở to, rồi từ từ nhìn ra khoảng sân đất rộng thênh thang trước mặt.

Nắng thu vàng rực như rót mật phủ đầy lên khoảng sân đất đã được Nhị Hòa quét dọn sạch bong kin kít. Góc sân, những chiếc nong tre, nia nứa lớn xếp chồng lên nhau chờ ngày ngả đỗ, ủ mốc. Xa hơn một chút, hàng chum sành da lươn cũ của bà ngoại để lại đứng lặng lẽ dưới bóng râm mát của rặng chuối tiêu.

Làm tương hạt truyền thống quy mô lớn không giống như muối vài hũ dưa cải nhỏ. Đó là cả một chuỗi công việc nặng nhọc và vô cùng tỉ mỉ: từ đãi sạch hàng thạch đậu nành, đồ chín hạt đậu bằng chõ lớn suốt mấy canh giờ, ủ mốc trên nia tre bằng lá chuối tươi, canh nhiệt độ ngày đêm, cho đến việc đun sôi hàng chục thùng nước giếng ngậm muối rang, rồi hàng ngày phải dùng gậy gỗ khuấy đảo tương đúng giữa trưa dưới cái nắng chang chang… Một mình nàng, với sự trợ giúp của mẹ đau yếu và mấy đứa em nhỏ, dẫu có vắt kiệt sức lực cũng khó lòng quán xuyến xuể mười mấy chum tương lớn cùng lúc.

Ý nghĩ về một nhóm đổi công gồm những người phụ nữ chăm chỉ, thật thà trong xóm bỗng lóe lên trong tâm trí Tiểu Mãn như một tia sáng rực rỡ. Có bàn tay của các chị em chung sức, công việc sẽ trôi chảy nhanh chóng, mà người nông dân nghèo trong thôn lại có thêm một cách để kiếm thêm chút sinh kế lúc nông nhàn.

Nhìn sân đất trống rải đầy nắng thu, Tiểu Mãn biết mình cần nhiều bàn tay cùng làm mới kịp mẻ tương này.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories