Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.10 / 45
Chapter 10

Tiếng trống họp làng và cuộc tranh dòng nước

Ba hồi trống giục vang lên từ sân từ đường thôn Thanh Khê, xua tan làn sương mỏng đầu xuân trên các ngọn tre già.

Tiếng mặt da trâu căng tròn va đập với chiếc dùi gỗ lim tiện nhẵn vang rền từng nhịp “thùng, thùng, thùng”, dội qua những rặng tre gai bao bọc xóm trên xóm dưới, dập dờn theo làn gió bấc rớt lướt qua những mái tranh còn vương khói bếp, rồi đập thẳng vào vách đá sừng sững nơi chân núi Thanh Lĩnh trước khi dội ngược trở lại mặt nước Khe Thanh. Mùa đông khắc nghiệt dường như chỉ vừa mới chịu lui bước đôi phần. Dưới những chân rào dâm bụt và ven các bờ mương dẫn nước chạy ngoằn ngoèo quanh làng, lớp cỏ non đã lấm tấm nhú lên những chồi biếc mỡ màng, nhưng cái se lạnh ẩm ướt của những ngày đầu tháng giêng vẫn còn quẩn quanh nơi những bậc đá ẩm rêu, thấm qua từng lớp áo vải thô mỏng manh của người nông phu. Hôm nay là ngày mùng tám tháng giêng, ngày họp thường niên của Hội tưới tiêu Thanh Khê — cái ngày định đoạt mạch sống, vận mạng ấm no cho toàn bộ đồng trên bãi dưới của hơn sáu mươi hộ dân trong làng trước khi cả thôn chính thức bước vào vụ cấy mạ mùa xuân.

Từ sáng sớm tinh mơ, khi những vạt sương muối còn đọng trắng mờ trên tàu lá chuối ngự sau vườn, từng tốp đàn ông trụ cột của các gia đình đã lục tục kéo về trước khoảng sân rộng lát gạch thất của từ đường họ Diệp. Khói thuốc lào khét lẹt, ngai ngái quyện cùng mùi sương sớm bốc lên từ những chiếc điếu bát bằng đất nung cũ kỹ sứt mẻ góc miệng. Tiếng guốc mộc khua lẹp kẹp trên thềm gạch rêu, tiếng cất lời chào hỏi râm ran, tiếng cào cọ đáy nồi đồng sứt quai mang theo từ bếp nhà để châm chè xanh hòa vào nhau tạo nên một bầu không khí vừa khẩn trương, náo nhiệt, lại vừa nặng trĩu những âu lo cố hữu muôn đời của những kẻ bám mặt cho đất, bám lưng cho trời.

Mạch nước đầu xuân năm nay từ ngọn Thanh Lĩnh chảy về Khe Thanh có phần muộn màng và cạn kiệt khác thường. Suốt cả mùa đông vừa qua trời ít mưa tuyết, dòng khe chảy qua bờ kè đá xanh chỉ mấp mé lưng chừng vạch gạch chỉ mức, chưa đủ sức dâng tràn bờ để tự chảy vào các lòng máng đất dẫn về đồng như những vụ chiêm năm trước. Nhìn ngấn nước thấp lè tè lộ cả những tảng đá mồ côi bám rêu xám dưới lòng khe, lòng người ai nấy đều bồn chồn như có lửa đốt.

Trong gian tiền đường ba gian hai chái lợp ngói vảy cá phủ kín rêu phong cổ kính, một dãy bàn dài ghép bằng gỗ dổi lâu năm đã được kê ngay ngắn tự bao giờ. Ngồi ở chính giữa chiếc bàn dài là Trưởng thôn kiêm Hội trưởng Hội tưới tiêu Phạm Đức Thuận. Ông vận chiếc áo the nâu đã sờn mép chỉ cổ nhưng vẫn giữ được nếp gấp phẳng phiu, chòm râu hoa râm được tỉa tót gọn gàng rung rinh theo từng nhịp thở trầm tĩnh, đôi mắt tinh tường từng trải lướt nhìn khắp lượt các gia chủ đang tề tựu đông đúc bên dưới thềm. Hai bên tả hữu của ông là bốn vị bô lão râu tóc bạc phơ đại diện cho bốn dòng họ lớn đã cắm rễ khai hoang lập ấp từ thuở ban sơ: họ Diệp, họ Trần, họ Lý và họ Ngô. Trước mặt Trưởng thôn, cuốn sổ bộ tưới tiêu bằng giấy bản bồi dán trên bìa cót ép nằm ngay ngắn, mực tàu ghi chép điền thổ qua bao năm tháng đã phai sang màu nâu sẫm; bên cạnh sổ đặt chiếc ống tre ngả màu cánh gián đựng những thẻ bài chia phiên nước bằng cật nứa già vót nhọn, mỗi chiếc thẻ khắc sâu tên một dòng họ hoặc một khu vực canh tác trọng yếu trong vùng.

Lẫn trong đám đàn ông vạm vỡ, quần áo nâu sồng xắn ống thấp ống cao, đôi chân còn nhem nhuốc bùn non của buổi sớm ra đồng thăm đất, chiếc khăn chàm quấn gọn ngang trán của Diệp Tiểu Mãn xuất hiện nơi góc cửa bên tả khiến không ít người phải ngạc nhiên ngoái nhìn.

Diệp Thành do cú ngã gãy chân ở sườn đồi vụ trước vẫn chưa hoàn toàn phục hồi được gân cốt, dù khớp gối đã xẹp bớt sưng tấy sau mấy tháng ròng uống những thang thuốc bắc đắng ngắt mà con gái nhọc nhằn bốc về từ hiệu thuốc thị trấn, và người đã không còn phải nằm liệt giường bất động, nhưng bước đi vẫn phải nương tựa vào một chiếc gậy trúc già mấu đốt gồ ghề. Cảnh tượng khập khiễng ấy hoàn toàn không tiện để chen chúc, giằng co nơi chốn đình đám hội họp vốn chỉ dành cho những bàn tay thép và những cái đầu cứng cỏi nhất làng. Ông vốn định gắng gượng khoác áo chống gậy sang từ đường để liều mình giữ lấy cái chân nước sống còn cho hai mẫu ruộng gia bảo, nhưng Tiểu Mãn đã dứt khoát ngăn lại bằng một giọng điệu trầm tĩnh mà kiên quyết. Cô bảo cha hãy ở nhà đan cho xong mấy chiếc giỏ xúc cá bằng tre cật và chuốt lại cán cào gỗ mít để chuẩn bị cho mùa cấy; việc ở từ đường hôm nay, một mình cô cùng em trai Diệp Nhị Hòa gánh vác là quá đủ, tuyệt đối không để cha phải chịu thêm những lời gièm pha làm nhục nhân cách chốn đông người.

Nhị Hòa năm nay vừa tròn mười bốn tuổi, vóc người sau một mùa đông lao động đã bắt đầu cao vổng lên tựa ngọn tre đực, nước da sạm đi vì nắng gió đồng bãi nhưng đôi mắt lại sáng ngời, rắn rỏi và không giấu nổi vẻ bướng bỉnh, can trường. Cậu đứng sát cạnh chị gái, nửa bước không rời, trên lưng đeo một chiếc túi vải thô đã bạc màu mối chỉ, bên trong đựng mấy thanh thẻ tre mỏng vót phẳng phiu cùng một cuộn dây gai dùng để đo đạc đất đai bờ cõi. Sự có mặt lạ lùng của hai chị em nhà Diệp Thành lập tức thu hút muôn vàn tia mắt đổ dồn về phía góc cửa. Có những ánh nhìn xót xa, thương hại cho một gia cảnh bần hàn neo đơn; có những ánh mắt tò mò dò xét; và hiển nhiên không hề thiếu những tia nhìn xoi mói, khinh khi của những kẻ xưa nay vẫn giữ thói gia trưởng cổ hủ, xem chốn việc họ việc làng, chốn bàn việc công thổ thủy nông là nơi đàn bà con gái và lũ trẻ con vắt mũi chưa sạch không bao giờ có tư cách bước chân vào cất tiếng.

Dẫu xung quanh có bao nhiêu ánh mắt đang ghim vào da thịt mình, Tiểu Mãn vẫn thản nhiên đứng thẳng sống lưng như một cây tùng non mọc giữa khe đá. Đôi bàn tay khéo léo nhưng thô ráp, chai sạn vì những ngày tháng cặm cụi nhặt cỏ xới đất, phơi củ cải, muối dưa vụ đông của cô đan nhẹ vào nhau, đặt ngay ngắn trước bụng theo đúng quy củ lễ nghi của một kẻ hậu bối biết phép tắc khi bước vào từ đường tôn nghiêm.

Đúng lúc ấy, Diệp Đại Phúc bước vào từ lối cửa chính.

Bác cả của Tiểu Mãn hôm nay khoác trên mình chiếc áo bông chần mới toanh màu xanh cánh chả dệt bằng sợi bông dày, dáng đi bệ vệ, hai cánh tay béo núc chắp ngược sau lưng, cằm hơi hếch lên để lộ cái ngấn mỡ bóng nhờn của một người vừa ăn nên làm ra sau vụ bán lứa lợn béo cuối năm và đang nắm trong tay quyền sinh sát trên hàng chục mẫu ruộng màu mỡ nhất ở dải đất phù sa ven bờ khe. Vừa bước qua ngưỡng cửa gỗ lim bóng loáng cao ngang đầu gối, ánh mắt sắc như dao cau của Diệp Đại Phúc đã đảo quanh một lượt khắp gian tiền đường rồi dừng khựng lại ngay trên khuôn mặt thanh tú của Tiểu Mãn. Khóe môi dày của ông ta khẽ giật giật tạo thành một nụ cười mỉa mai đầy vẻ ghét bỏ, đoạn rảo bước đi thẳng tới góc bàn nơi các bô lão trong họ Diệp đang ngồi nhâm nhi chén nước chè xanh nghi ngút khói.

Diệp Đại Phúc ghé sát tai cụ lão niên râu tóc bạc phơ ngồi ở đầu chiếu, cố ý hạ giọng thì thầm nhưng lại điều chỉnh âm lượng vừa đủ để những người đứng quanh ba gian nhà đều nghe thấy rõ mồn một từng lời:

"Cụ Bảy xem, cái thói đời làng ta dạo này đúng là đảo điên hết cả rồi! Việc lớn của làng, việc hệ trọng của cả tông tộc, phân chia thủy lợi cho cả trăm mẫu ruộng nuôi sống bao nhiêu miệng ăn đầu xuân, thế mà thằng Ba lại dám trốn biệt ở nhà, sai một đứa con gái nứt mắt chưa gả chồng dắt díu theo thằng nhãi con vắt mũi chưa sạch sang đây đứng chường cái mặt ra giữa chốn thanh thiên bạch nhật. Chốn tôn nghiêm từ đường tổ tông, âm khí đàn bà con gái ám vào thì lấy đâu ra phúc trạch để lúa trổ đòng dày hạt, mưa thuận gió hòa? Thật đúng là vô phép vô thiên, không còn ra cái thể thống gì nữa cả!"

Vị bô lão được gọi là cụ Bảy khẽ hắng giọng một tiếng khô khốc, ngước đôi mắt đục mờ nhìn về phía Tiểu Mãn một cái rồi lại cúi xuống vuốt chòm râu cước, không đáp lời Diệp Đại Phúc nhưng đôi chân mày hoa râm hơi nhíu lại tỏ rõ vẻ không mấy hài lòng với sự hiện diện khác thường ấy. Lời xì xào của Diệp Đại Phúc như một mồi lửa ném vào bụi rơm khô ngày cạn, lập tức thổi bùng lên những lời bàn tán to nhỏ lan nhanh ra khắp nửa gian tiền đường. Vài gia chủ thuộc chi họ Diệp vốn ăn theo thế lực của Diệp Đại Phúc cũng bắt đầu liếc nhìn Tiểu Mãn với ánh mắt e dè, trách móc, buông ra những tiếng chép miệng thở dài đầy vẻ khó chịu.

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận thấy không khí bắt đầu chùng xuống và có dấu hiệu chia rẽ, liền cầm chiếc dùi gỗ nhỏ gõ mạnh ba tiếng lên mặt bàn dổi:

"Cốc! Cốc! Cốc!"

"Trật tự cả đi! Giờ lành đã điểm, Hội tưới tiêu Thanh Khê bắt đầu định việc gieo mạ vụ xuân. Xin mời các bậc bô lão và các vị gia chủ an tọa để việc chung được tiến hành cho kịp tuần sương."

Tiếng ồn ào lập tức lắng xuống. Mọi người tự giác tìm chỗ kéo ghế, ngồi chen chúc trên các dãy phản gỗ kê sát chân tường hoặc đứng nép mình dọc theo các hàng cột cái bằng gỗ lim đen bóng. Phạm Đức Thuận lật mở cuốn sổ bộ, ngón tay thô ráp lần theo từng dòng chữ ghi chép cẩn thận:

"Thưa toàn thể bà con dân làng. Năm nay trời làm rét muộn, băng tuyết trên đỉnh Thanh Lĩnh tan chậm hơn mọi bận. Lưu lượng nước Khe Thanh đầu nguồn đo được tại đập Bờ Đỏ sáng nay thấp hơn mùa xuân năm ngoái tới hai phần mười. Theo lệ làng từ đời tiền hiền để lại, nước ít thì công chia phải khắt khe, không thể có chuyện cào bằng bừa bãi. Nước vào ruộng phải tính rành mạch theo diện tích mẫu sào và số ngày công nạo vét khơi thông dòng chảy. Ai góp nhiều sức, nạo mương sâu sạch, hộ ấy mới được ưu tiên lấy nước trước để gieo mạ cho kịp tiết Thanh minh. Bây giờ, chúng ta bàn đến việc phân bổ các phiên nước từ con mương chính đổ vào các dải ruộng họ tộc và dân làng. Mời các vị đại diện các dải đồng lên tiếng trước công đồng."

Lời Trưởng thôn vừa dứt, chưa để ai kịp cất tiếng, Diệp Đại Phúc đã đứng phắt dậy như một chiếc lò xo bật nảy. Ông ta hắng giọng thật to, ưỡn ngực chỉnh trang lại nếp áo bông mới cáu cạnh, rồi chậm rãi bước ra khoảng trống trải chiếu hoa ở giữa gian tiền đường. Động tác của ông ta rất bài bản: trước tiên là vòng tay hướng lên hương án tổ tiên vái sâu một lạy, sau đó mới quay người sang phía Trưởng thôn và các vị bô lão, chắp tay cúi mình:

"Kính thưa Trưởng thôn, thưa các bậc cao niên tôn kính cùng toàn thể bà con anh em chòm xóm! Lời Trưởng thôn vừa phán bảo thật là chí lý chí tình, thấu suốt đến tận tâm can của những người làm ruộng chúng ta. Nước Khe Thanh năm nay khan hiếm đến cùng cực, từng giọt nước quý giá chẳng khác nào từng giọt dầu son. Chúng ta làm ruộng, trông trời trông đất trông mây, nếu việc phân chia dòng nước đầu nguồn không phân minh, rạch ròi thì chẳng những hỏng bét cả vụ chiêm xuân, mà còn dẫn tới cảnh tranh chấp bờ cõi, xô xát vỡ đầu mẻ trán, hàng xóm láng giềng mất hết hòa khí keo sơn. Vì thế, tôi mạo muội xin đại diện cho toàn thể bà con canh tác dải ruộng đồng bãi Hạ và các khoảnh ruộng phì nhiêu của chi họ Diệp ta, có đôi lời tâm huyết muốn giãi bày trước toàn thể dân làng."

Mọi ánh mắt trong từ đường đều bị cuốn hút theo từng cử chỉ của Diệp Đại Phúc. Ông ta liếc xéo một cái đầy cay độc về phía hai chị em Tiểu Mãn, khóe miệng nhếch lên một nụ cười nham hiểm, rồi giọng bỗng chốc đanh thép lại, gằn từng tiếng rành rọt:

"Bà con ở đây ai mà không rõ, con mương dẫn nước từ Khe Thanh chảy qua địa phận thôn ta dài tới hơn sáu dặm đường đất. Mương chạy men theo triền dốc đá, quanh co khúc khuỷu, hễ chảy tới ngã ba Cây Gạo thì tách làm hai nhánh lớn. Nhánh thứ nhất đổ thẳng một mạch xuống dải đất phù sa màu mỡ của bãi Hạ — nơi tập trung tư liệu sản xuất, ruộng đất cấy cày của hơn bốn mươi hộ dân trong làng. Ở đó đất đai bằng phẳng, bùn non màu mỡ, khả năng giữ nước tuyệt hảo, chỉ cần tháo nước một buổi sớm là ngập trắng chân mạ, hạt giống gieo xuống là nảy mầm mơn mởn. Nhưng khốn nỗi, cái nhánh thứ hai lại phải vòng vèo, leo ngược dốc lên tận đỉnh gò Cồn Gió!"

Diệp Đại Phúc vung mạnh cánh tay to béo chỉ thẳng ra hướng đông gò đồi, giọng điệu chuyển sang vẻ xót xa, thương cảm giả tạo đến nực cười:

"Ruộng Cồn Gió nằm chênh vênh ở thế đất dốc đứng, toàn là đất pha sỏi đá ong cằn cỗi, mạch nước ngầm thì sâu hoắm như đáy giếng. Cái xứ ấy, hễ nắng ba ngày là đất nẻ toác như mu rùa, mà mưa một trận rào là trôi tuột hết màu mỡ phù sa! Khổ nỗi, ở tận chót vót đỉnh Cồn Gió hoang vu ấy, lại chỉ có trơ trọi đúng hai mẫu ruộng cằn cỗi của nhà chú Ba tôi — Diệp Thành!"

Gian tiền đường bắt đầu có những tiếng xì xào đồng tình. Diệp Đại Phúc thấy thế càng được đà lấn tới, giọng nói mỗi lúc một vang dội, át cả tiếng gió rít qua khe cửa gỗ:

"Muốn đưa được một gáo nước Khe Thanh lên tới cái đỉnh Cồn Gió chơ vơ ấy, dân làng phải đắp một con đập đất ngăn ngang dòng chính ở ngã ba Cây Gạo để ép dòng nước dâng cao lên gấp đôi bình thường! Con mương dẫn lên đó vừa dài ngoằng, đất lại xốp nhiều cát, nước chảy qua ngấm mất một nửa vào lòng đất, bốc hơi theo gió mất một phần, đến lúc bò lên tới ruộng nhà chú ấy thì dòng chảy chỉ còn thoi thóp như vòi ấm rót nước trà! Năm ngoái nước nguồn dồi dào còn tàm tạm châm chước, chứ năm nay nước Khe Thanh cạn kiệt trơ đáy thế này, nếu cứ nhắm mắt theo lệ cũ mà mở nguyên một phiên nước trọn một ngày đêm cho hai mẫu ruộng Cồn Gió, thử hỏi hơn bốn mươi hộ dân bãi Hạ bên dưới lấy cái gì mà gieo mạ? Lấy cái gì để ngâm ủ mầm thóc? Chẳng lẽ chúng ta lại vì hai mẫu đất cằn cỗi của riêng một nhà mà đang tâm bóp chết khát mấy chục mẫu ruộng màu mỡ nuôi sống cả làng hay sao?"

Một tràng xôn xao lập tức bùng nổ dữ dội dưới sân từ đường.

Những người có ruộng ở bãi Hạ như bị kim châm trúng chỗ hiểm, ai nấy đều nhấp nhổm không yên. Diệp Đại Phúc thấy đòn hiểm của mình đã đánh trúng vào nỗi sợ hãi lớn nhất của đám đông, liền thừa thắng xông lên, mặt đỏ bừng bừng vì phấn khích tột độ:

"Bởi vậy cho nên, trước mặt Trưởng thôn và các cụ bô lão linh thiêng, tôi xin mạnh dạn đề xuất: Vụ xuân năm nay, Hội tưới tiêu Thanh Khê cần phải đình chỉ hoặc cắt giảm toàn bộ phiên lấy nước chính thức của khoảnh ruộng Cồn Gió! Hãy gom trọn vẹn từng giọt nước quý báu ấy lại, dồn toàn lực cho các khoảnh ruộng tốt ở bãi Hạ và các khu ruộng hương hỏa của các dòng tộc. Đất tốt gặp nước lành mới sinh sôi ra bông lúa trĩu hạt, nuôi sống dân làng, chứ đổ nước vào sỏi đá Cồn Gió thì có khác nào mang tiền của ném tõm xuống đáy vực thẳm không đáy! Còn như ruộng Cồn Gió... chú Ba tôi có thể đợi đến mùa hè khi mưa rào tầm tã đổ xuống mà cấy muộn, hoặc là tự gánh nước giếng khơi mà tưới cho mấy luống khoai, rẫy đỗ sống qua ngày, việc gì phải tham lam tranh giành nguồn nước sống còn của cả làng cho mang tiếng thất đức!"

Diệp Đại Phúc vừa dứt lời, gian tiền đường lập tức như một chảo dầu sôi sùng sục bị hắt nước lã.

"Bác Phúc nói chí lý quá! Ruộng Cồn Gió vừa xa vừa dốc, dẫn nước lên đó tốn công tốn của mà nước hao hụt đến mười phần mất bảy!" Một người đàn ông trung niên họ Ngô vội vã đứng bật dậy phụ họa, mặt mày tái mét vì lo sợ cho ba sào ruộng mạ của gia đình mình ở hạ lưu mương dẫn.

"Đúng đấy, năm nay nước cạn thế này, bãi Hạ chúng tôi còn đang lo ngay ngáy không đủ nước láng mặt ruộng để gieo hạt giống. Nếu cứ chia cho Cồn Gió trọn một phiên ngày, ruộng dưới này mà khô nẻ cháy mầm thì ai đứng ra đền thóc gạo cho con cái chúng tôi ăn?"

"Nhà chú Diệp Thành có hai mẫu đất cằn, lại đang nợ nần ngập đầu ngập cổ, cố đấm ăn xôi giữ lấy cái chân nước làm gì cho uổng phí giọt ngọc của trời! Thôi thì nhường quách cho các hộ bãi dưới đi, vừa được tiếng thơm thảo lại vừa đỡ nhọc thân tàn tật!"

Làn sóng dư luận chuyển hướng nhanh như chong chóng gặp gió bão. Ngay cả những gia chủ trước đó vốn giữ thái độ bàng quan, không muốn dính dáng vào xích mích nội bộ nhà họ Diệp, nay đứng trước mối đe dọa trực tiếp đến miếng cơm manh áo của chính gia đình mình, cũng lập tức nghiêng hẳn về phía Diệp Đại Phúc. Nỗi sợ hãi mất mùa, sự ám ảnh về một vụ chiêm xuân trắng tay đã đánh gục mọi lòng trắc ẩn, khơi dậy bản năng sinh tồn ích kỷ nhất của người nông dân. Tiếng gõ tẩu thuốc lách cách, tiếng xì xào bàn tán, những cánh tay vung lên chỉ trỏ tạo thành một bức tường áp lực vô hình nhưng nặng ngàn cân, đè nghến lên đôi vai gầy guộc của hai đứa trẻ đang đứng trơ trọi nơi góc cửa.

Diệp Nhị Hòa hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két, hai nắm đấm siết cứng đến trắng bệch các khớp ngón, lồng ngực cậu thiếu niên phập phồng dữ dội vì uất ức. Nhìn thấy người bác ruột đang tâm dùng những lời lẽ hiểm độc để dồn gia đình mình vào bước đường cùng, cậu bé không nhịn được nữa, toan bước xộc ra giữa nhà để cãi lại một phen sống mái.

Nhưng ngay trong khoảnh khắc ấy, một bàn tay mảnh khảnh, thon dài nhưng cứng cáp lạ thường đã khẽ đặt lên vai cậu.

Bàn tay của Diệp Tiểu Mãn mát rượi, vững chãi như một tảng đá ngầm cắm sâu dưới đáy dòng suối lũ, truyền sang người cậu em trai một sự điềm tĩnh và an tâm đến kỳ lạ. Nhị Hòa giật mình ngoái lại nhìn chị, bắt gặp ánh mắt Tiểu Mãn phẳng lặng như mặt gương hồ thu, không hề có lấy một gợn sóng sợ hãi hay nao núng. Cậu bé hiểu ý, khẽ cắn môi, nén cơn giận đang bốc hỏa trong lòng mà lùi lại nửa bước bên cạnh chị.

Tiểu Mãn nhìn thẳng vào Diệp Đại Phúc. Đôi mắt trong veo của cô nhìn thấu từng đường gân thớ thịt, thấu suốt đến tận đáy những mưu mô toan tính đang nấp sau cái vẻ mặt vì nghĩa lớn kia. Cô hiểu quá rõ người bác cả này! Việc cắt nước tưới của Cồn Gió đâu chỉ đơn thuần là lo cho bãi Hạ. Mục đích thâm độc nhất của ông ta chính là bóp chết vụ mùa của nhà cô! Nếu hai mẫu ruộng ấy không có nước vào cấy mạ mùa xuân, đất đai sẽ trơ trọi bỏ hoang, cỏ dại mọc lút đầu người. Và khi ấy, món nợ gốc mười lăm lượng bạc cùng lãi mẹ đẻ lãi con mà địa chủ họ Lương đang ráo riết đòi nợ sẽ biến thành chiếc thòng lọng siết cổ cả nhà. Cha cô, trong cảnh đường cùng không lối thoát, sẽ chẳng còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc cắn răng ký vào văn khế bán tháo hai mẫu đất hương hỏa màu mỡ ấy cho Diệp Đại Phúc với cái giá rẻ mạt tám lượng bạc — đúng như lời đe dọa, chèn ép mà ông ta từng trắng trợn buông ra trước thềm Tết Nguyên đán!

Chưa dừng lại ở đó, những ngày gần đây, nhìn thấy gian bếp nhà cô ngày nào cũng nghi ngút khói lò, thấy cô bán dưa cải muối và rau thơm non vụ đông kiếm được từng xâu tiền kẽm rủng rỉnh mang về, lại còn có tiền bốc những thang thuốc bắc quý cho cha hồi phục gân cốt, Diệp Đại Phúc đã nhiều lần đứng bên hàng rào ngó nghiêng dòm ngó, buông lời bóng gió đòi chia phần lợi tức họ hàng. Bóp nghẹt con đường cấy cày của gia đình cô hôm nay chính là nhát cuốc quyết định nhằm triệt hạ hoàn toàn khả năng tự lực cánh sinh của Diệp Thành, buộc cha con cô phải muôn đời chịu kiếp tôi đòi, cúi đầu làm nô bộc dưới trướng nhà bác cả!

Thấy đám đông bên dưới đã hoàn toàn bị cuốn theo những lời kích động của mình, Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đưa tay lên vuốt chòm râu hoa râm, nét mặt thoáng lộ vẻ đăm chiêu khó xử. Ông cầm chiếc dùi gỗ gõ mạnh xuống mặt bàn ba tiếng chát chúa để vãn hồi trật tự:

"Tất cả trật tự! Hãy để yên cho Hội đồng làm việc!"

Tiếng ồn ào tắt dần, nhưng hàng chục ánh mắt nóng rực vẫn đổ dồn về phía chiếc bàn dài, chờ đợi một phán quyết có lợi cho bãi Hạ. Phạm Đức Thuận đưa mắt nhìn qua các bô lão, rồi dừng lại ở góc cửa tả, nơi hai đứa trẻ nhà Diệp Thành đang đứng lặng thinh. Giọng ông trầm trầm, mang theo sức nặng của người giữ cán cân công lý của làng:

"Những lời Diệp Đại Phúc và bà con bãi Hạ vừa trình bày, xét về mặt địa thế hiểm trở và sự khan hiếm nguồn nước năm nay, quả thực không phải là không có cơ sở. Thế nhưng, lệ làng Thanh Khê từ thuở tiền nhân khai hoang mở cõi đến nay đã định rất rõ ràng: phàm là đất đai hương hỏa có tên trong sổ bộ địa bạ của thôn, hằng năm đóng đủ sưu thuế đinh điền cho quan phủ, nộp đủ ngày công đào mương đắp đập cho làng xóm, thì bất luận ở gò cao hay bãi thấp, đều có quyền bình đẳng được hưởng nguồn nước Khe Thanh để cấy cày sinh sống. Nhà Diệp Thành hôm nay vắng mặt chủ hộ, nhưng có con cái đến thay mặt. Trước hương án tổ tiên và toàn thể dân làng, Diệp gia chi Ba có lời nào muốn thưa gửi hay không?"

Một sự im lặng căng thẳng bao trùm khắp gian tiền đường. Tất cả mọi ánh mắt lại đồng loạt quét về phía Tiểu Mãn. Diệp Đại Phúc đứng khoanh tay trước ngực, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười đắc thắng tột cùng. Ông ta đang chờ đợi, chờ xem một đứa con gái mới mười bảy tuổi đầu sẽ run rẩy, khóc lóc van xin hay sợ hãi đến mức quỳ sụp xuống thềm xin các bô lão rủ lòng thương hại.

Thế nhưng, Diệp Tiểu Mãn không hề có lấy nửa phần khiếp nhược.

Cô khẽ hít một hơi thật sâu, đưa tay vuốt lại nếp áo chàm giản dị cho thật ngay ngắn, rồi khẽ nghiêng đầu ra hiệu cho Nhị Hòa. Dưới sự chứng kiến của toàn thể các bô lão và gia chủ trong làng, hai chị em cất bước, khoan thai bước qua bậc cửa lim cao nghễu nghện, tiến thẳng vào giữa gian tiền đường rực rỡ ánh nến.

Tiểu Mãn bước lên chiếu hoa, quỳ xuống sụp lạy ba lạy thật cung kính trước bàn thờ tiên tổ họ Diệp, rồi đứng dậy, quay người sang phía bàn hội đồng, cúi đầu vòng tay hành lễ đúng mực trước Trưởng thôn Phạm Đức Thuận và bốn vị bô lão:

"Kính thưa Trưởng thôn, thưa các bậc cao niên tôn kính cùng toàn thể các bác, các chú, các anh em trong thôn làng. Cháu là Diệp Tiểu Mãn, hôm nay xin phép thay mặt cho người cha đang dưỡng thương ở nhà là Diệp Thành, cùng em trai Diệp Nhị Hòa, kính cẩn đến trước hội đồng để thưa việc ruộng nương thủy lợi."

Tiếng nói của người thiếu nữ mười bảy tuổi cất lên trong trẻo, rõ ràng và đĩnh đạc lạ thường. Từng âm sắc nhả ra tròn vành rõ chữ, không hề vướng một chút run rẩy, không vấp váp nửa lời, vang vọng khắp ba gian nhà cổ kính tựa như tiếng nước suối nguồn róc rách chảy qua khe đá mùa xuân. Cái khí chất bình thản, chững chạc vượt xa lứa tuổi ấy khiến những kẻ vừa cất tiếng xì xào chế giễu ban nãy bỗng chốc phải ngậm miệng, bất giác nhìn cô bằng con mắt khác.

"Cháu vừa lắng nghe tường tận từng lời tâm huyết của bác cả Diệp Đại Phúc." Tiểu Mãn quay người, ánh mắt trong veo nhưng sắc sảo như ánh thép nhìn thẳng vào khuôn mặt đang vênh vang của Diệp Đại Phúc. "Bác cả lo lắng cho việc gieo mạ của hơn bốn mươi hộ dân bãi Hạ, lo sợ nguồn nước chung của làng bị hao tổn, lãng phí, đó là cái tâm của bậc làm anh trưởng trong họ, làm người có trách nhiệm với thôn xóm. Tấm lòng ấy của bác cả, phận làm con cháu như chúng cháu vô cùng kính trọng và ghi nhớ."

Diệp Đại Phúc ngẩn tò te ra một thoáng. Ông ta không ngờ đứa cháu gái xưa nay vốn quật cường, đanh đá này lại mở lời ca ngợi mình ngọt xớt trước mặt bàn dân thiên hạ như vậy. Cảm giác đắc ý vừa mới nhen nhóm trong lòng Diệp Đại Phúc thì Tiểu Mãn đã đột ngột đổi giọng, âm hưởng trở nên sang sảng, sắc lẹm:

"Thế nhưng, bác cả bảo rằng đưa nước lên gò Cồn Gió buộc phải ngăn dòng đập chính dâng cao, làm thất thoát nước ngấm vào đất cát và cướp mất nước của bãi Hạ, thì đó là vì bác mới chỉ nhìn việc đồng áng bằng con mắt cũ kỹ của hai mươi năm về trước mà thôi!"

"Mày... con ranh này, mày vừa nói cái gì đấy?" Diệp Đại Phúc biến sắc, mặt giật giật, trừng trừng mắt quát lớn. "Cách cũ gì chứ? Bao đời nay từ thời ông cha để lại, đào mương đắp phai dẫn nước lên gò cao đều phải làm như thế! Mày là cái giống đàn bà con gái nứt mắt ra, đã bao giờ cầm nổi chiếc xẻng sắt đào mương chưa mà dám đứng đây ăn ốc nói mò, lên mặt dạy khôn cả làng về thuật thủy lợi đồng áng?"

Trước cơn tam bành của bác cả, Tiểu Mãn không hề thèm chớp mắt lấy một lần. Cô tuyệt đối không đôi co cãi vã tay đôi để hạ thấp phẩm giá của mình chốn công đường. Cô chỉ bình thản quay sang người em trai:

"Nhị Hòa, mở phác thảo ra."

"Vâng, thưa chị!"

Diệp Nhị Hòa dõng dạc đáp lời. Cậu bé nhanh thoăn thoắt mở chiếc túi vải thô đeo bên hông, cẩn thận rút ra một tấm bìa cán bằng bột vỏ trấu ép mỏng bồi giấy bản dày dặn, phẳng phiu. Cậu cùng chị gái tiến sát lại gần bàn của Trưởng thôn, cung kính trải rộng tấm giấy lên mặt chiếc bàn phụ bằng gỗ dổi ngay trước tầm mắt của Phạm Đức Thuận và các vị bô lão.

Trên nền giấy bản trắng ngà, những đường vẽ bằng mực tàu đen nhánh hiện lên vô cùng tinh tế, rành mạch và chuẩn xác đến từng nét gạch. Từng khúc ngoặt của dòng Khe Thanh, ngã ba Cây Gạo, triền dốc đá dẫn lên Cồn Gió cho tới các ô ruộng bậc thang đều được mô phỏng chi tiết, kèm theo những ký hiệu ghi chú cữ đất, cữ nước rõ ràng bằng chữ Nôm chân phương.

Tiểu Mãn bước lên nửa bước, rút từ trong tay áo ra một chiếc que tre nhỏ chuốt nhẵn, chỉ chuẩn xác vào từng đường nét trên bản vẽ, cất giọng rành rọt thuyết minh:

"Kính thưa Trưởng thôn, thưa các cụ bô lão cùng toàn thể bà con. Ruộng Cồn Gió nằm ở thế đất gò cao, đó là sự thật mà ai cũng biết. Thế nhưng, con mương dẫn nước từ ngã ba Cây Gạo lên đỉnh Cồn Gió sở dĩ bị thất thoát, hao hụt nước nghiêm trọng như bao năm qua, hoàn toàn không phải do độ dốc của địa hình, mà bắt nguồn từ hai nguyên nhân kỹ thuật mà người làm mương trước đây chưa từng tính đến:

Thứ nhất: Lòng mương dẫn nước hiện tại bị đào quá rộng và quá nông, đáy mương lại toàn sỏi cuội đá hộc lởm chởm. Khi dòng nước chảy vào một lòng máng rộng toang hoác nhưng nông cạn, diện tích tiếp xúc với không khí quá lớn khiến nước bốc hơi nhanh chóng, đồng thời dòng chảy bị giảm tốc độ, ma sát với đáy sỏi đá làm triệt tiêu lực đẩy, khiến nước ngấm thẳng ngược xuống lòng đất cát sâu trước khi kịp trườn lên dốc.

Thứ hai: Hai bên bờ mương cũ đắp hoàn toàn bằng đất thịt pha cát xốp lở. Dòng nước chảy xiết đến đâu, thành bờ sạt lở, rò rỉ đến đó, nước tràn vào các hốc đá ven đường biến thành nước chết, không thể thu hồi!"

Tiểu Mãn dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn lướt qua những gương mặt của các bô lão đang chăm chú lắng nghe, rồi tiếp tục đưa que tre vạch theo một đường mực đỏ mới tinh chạy song song với lòng mương cũ:

"Mấy ngày giáp Tết vừa qua, cha cháu tuy chân đau không đi lại được xa, nhưng đã ngồi đầu hè chống gậy chỉ dẫn hai chị em cháu dùng dây gai đo đạc lại toàn bộ chiều dài sáu trăm trượng của con mương nhánh này. Hai chị em cháu cũng đã lội bộ khảo sát thực địa từng hốc đất, gờ đá trên triền dốc. Hôm nay, gia đình cháu xin mạnh dạn đề xuất một phương án thủy lợi hoàn toàn mới:

Chúng cháu sẽ không dùng con mương hở nông rộng cũ kỹ ấy nữa! Thay vào đó, nhà cháu sẽ tự bỏ công sức đào một đường rãnh nhánh hoàn toàn mới, hẹp hơn rất nhiều: miệng rãnh chỉ rộng đúng một gang tay rưỡi, đáy thu hẹp lại nửa gang, vét sâu tạo thành hình CHỮ V dựng đứng! Dưới đáy rãnh chữ V này, chúng cháu sẽ dùng đất sét trắng dẻo quánh đào từ chân vách núi Thanh Lĩnh mang về, trộn với vôi bột và dầm nện thật chặt thành một lớp tráng chống thấm dày nửa tấc. Hai bên vách rãnh, chúng cháu sẽ chèn những tấm phên nứa đan mắt cáo đã ngâm kỹ dưới bùn ao để chống mối mọt mục rữa, ngăn chặn tuyệt đối tình trạng sạt lở đất cát.

Một khi dòng nước Khe Thanh chảy vào một lòng rãnh hẹp, sâu và có vách trơn nhẵn như thế, tốc độ dòng chảy sẽ tăng vọt lên gấp đôi, thậm chí gấp ba lần bình thường! Nước lao đi vun vút men theo triền dốc mà không có cơ hội ngấm vào đất cát hay bốc hơi theo gió. Bằng cách đào rãnh chữ V lót đất sét này, lượng nước thất thoát trên đường dẫn lên Cồn Gió sẽ giảm bớt ít nhất là SÁU PHẦN MƯỜI so với lòng mương cũ!"

Lời thuyết minh khúc chiết, mạch lạc cùng những lập luận kỹ thuật vô cùng chuẩn xác của Tiểu Mãn khiến toàn bộ tiền đường bàng hoàng sững sờ.

Các cụ bô lão vốn là những người cả đời gắn bó với chiếc cày, chiếc bừa, từng nếm trải trăm nỗi đắng cay của việc dẫn nước đắp bờ, nay dán chặt mắt vào tấm phác thảo trên bàn. Từng ký hiệu, từng độ dốc, từng cách dầm đất sét chống thấm đều toát lên một sự tính toán khoa học, thực tế đến đáng kinh ngạc. Đây chính là những tinh hoa bí truyền về thuật giữ ẩm, đắp bờ giữ nước mà người bà ngoại thông thái Lâm Thu Bà từng truyền dạy cho Tiểu Mãn trong những năm tháng ấu thơ, được cô kết hợp nhuần nhuyễn với các phép tính toán hình học, tỷ lệ dung tích và cữ nước mà cô đã chăm chỉ học lỏm, lĩnh hội được từ thư sinh Tạ Cảnh qua những buổi học chữ âm thầm nơi gian chái nhà trọ họ Lưu.

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đưa những ngón tay gầy guộc lần theo từng đường nét vẽ bằng mực tàu trên mặt giấy bản, mắt ông ánh lên những tia sáng thán phục không hề giấu giếm. Ông khẽ gật đầu, trầm ngâm hồi lâu rồi mới ngẩng lên nhìn Tiểu Mãn:

"Lòng rãnh hẹp hình chữ V lót đất sét nện chặt... phên nứa áp vách chống sạt lở... Hay! Quả thực là một cách làm mương vô cùng độc đáo và sáng suốt! Dòng nước thu hẹp thì lực đẩy ắt phải mạnh, đáy trơn thì nước chảy xiết không ngấm đất, cách này hoàn toàn có thể khắc phục được nhược điểm thấm nước của đất cát Cồn Gió. Thế nhưng, con bé này, cháu có biết đào một con rãnh chữ V sâu và dài tới sáu trăm trượng xuyên qua triền dốc đá sỏi như thế lên tận đỉnh gò đòi hỏi bao nhiêu mồ hôi nước mắt không? Nhà cháu neo đơn, cha thì gãy chân chưa lành lặn, mẹ ốm yếu, trong nhà chỉ có hai đứa trẻ con, cháu lấy đâu ra người, lấy đâu ra sức mà kham nổi công việc nặng nhọc tựa dời non lấp bể ấy?"

Diệp Đại Phúc thấy Trưởng thôn có phần xiêu lòng, vội vàng xấn tới mép bàn, cười khẩy một tiếng the thé cắt ngang:

"Đúng thế đấy thưa Trưởng thôn! Vẽ hươu vẽ vượn, nói mồm trên giấy bản thì đứa con nít lên ba cũng nói được! Miệng lưỡi đàn bà con gái cứ hứa cho sướng mồm, đến khi bắt tay vào làm, cuốc phải đá hộc mẻ xẻng gãy bắp cày rồi bỏ dở giữa chừng thì ai chịu trách nhiệm? Đến lúc ấy mương tắc cống nghẽn, bùn non tràn ra lấp mất mương chính của làng, ai đền bù thiệt hại cho bãi Hạ? Chưa kể, dù cái mương chữ V ấy có chảy nhanh đến đâu chăng nữa thì giọt nước chảy lên Cồn Gió vẫn là giọt nước lấy từ dòng chính Khe Thanh! Ruộng bãi Hạ chúng tôi vẫn bị san sẻ mất nước giữa thanh thiên bạch nhật, chúng tôi dứt khoát không chịu thiệt thòi vô lý như thế!"

Trước những lời công kích thô bạo của Diệp Đại Phúc, nét mặt Tiểu Mãn vẫn không hề biến đổi. Cô đứng thẳng người, ngẩng cao đầu, ánh mắt kiên định quét một vòng qua đám đông dân làng đang nín thở theo dõi từng diễn biến nghẹt thở:

"Thưa Trưởng thôn, thưa toàn thể bà con cô bác làng ta! Nhà họ Diệp chi Ba chúng cháu nghèo khó, cha cháu chẳng may gặp nạn tàn tật, nhưng cái đạo lý làm người: 'Ăn cây nào rào cây nấy', có đổ mồ hôi thì mới mong có hạt thóc vào bồ, ngẩng đầu không thẹn với trời, cúi đầu không thẹn với đất, cha mẹ cháu dạy dỗ từ thuở lọt lòng, chúng cháu chưa bao giờ dám quên một khắc!

Để chứng minh rằng nhà cháu tuyệt đối không tranh giành, không cướp đoạt dù chỉ là một gáo nước tưới của bà con bãi Hạ gieo mạ mùa xuân, hôm nay, trước anh linh tiên tổ ngự trên hương án từ đường và trước mặt toàn thể dân làng, cháu xin đại diện cho gia đình cam kết hai điều danh dự:

Điều cam kết thứ nhất: Nhà họ Diệp chúng cháu xin tự nguyện rút khỏi danh sách chia nước ban ngày, chuyển toàn bộ phiên lấy nước của khoảnh ruộng Cồn Gió sang BAN ĐÊM!"

"Ồ...!"

Một tiếng xôn xao kinh ngạc đồng loạt bật thốt ra từ miệng của hàng chục con người đang có mặt trong gian tiền đường. Người này nhìn người kia, ai nấy đều không giấu nổi vẻ bàng hoàng đến sững sờ.

Phiên đêm!

Những kẻ làm ruộng cả đời dãi nắng dầm sương ở đất Thanh Khê này có ai mà không thấu hiểu nỗi kinh hoàng của hai chữ "phiên đêm"! Lấy nước vào ban ngày dẫu có tranh giành vất vả nhưng mắt thấy tai nghe, mương nào nứt, bờ nào vỡ đều có thể kịp thời đắp đất gia cố. Còn lấy nước vào ban đêm, giữa tiết trời đầu xuân sương muối buốt giá thấu tận xương tủy, bóng tối đen như mực phủ trùm khắp núi đồi gò bãi, gió rít từng cơn lạnh buốt da gà. Giữa đêm hôm thanh vắng, rắn rết, sâu bọ độc hại bò lổm ngổm ven bờ mương bờ khe rình rập; người đi lấy nước phải thắp đuốc thức trắng trọn vẹn canh năm, lội bì bõm dưới làn bùn lạnh ngắt để canh chừng từng bờ vạch, từng cửa cống. Chỉ cần một phút lơ là ngủ gục, bờ mương sạt lở làm nước tràn trôi sạch hạt giống, hoặc bản thân trượt chân ngã lộn cổ xuống vực đá sườn đồi là tan xương nát thịt!

Chưa hết, dẫn nước trong đêm tối đòi hỏi phải có sức vóc dẻo dai phi thường để vác đất đắp đập, dùng xẻng chặn dòng chảy xiết giữa bóng đêm mịt mùng. Xưa nay trong làng, mỗi bận bốc thăm phiên nước, ai chẳng cầu trời khấn phật cho mình bốc trúng phiên ngày; họa hoằn lắm những kẻ bốc phải phiên đêm đều than ngắn thở dài như gặp phải đại hạn. Vậy mà hôm nay, một đứa con gái mới mười bảy tuổi lại dám dõng dạc đứng ra, chủ động xin nhận lấy cái gánh nặng khổ ải mà đàn ông lực lưỡng trong làng ai nấy đều muốn né tránh!

Tiểu Mãn đưa mắt nhìn quanh, cất giọng rành mạch giải thích rõ lý lẽ của mình:

"Từ giờ Tý đến giờ Dần ban đêm, khi sương lạnh buông xuống mù mịt, gió trên đỉnh Thanh Lĩnh ngưng thổi, mặt trời khuất bóng, nước chảy trong mương tuyệt đối không bị ánh nắng thiêu đốt làm hao hụt bốc hơi. Nhưng điều quan trọng hơn cả: vào cái giờ ấy, toàn bộ các khoảnh ruộng ở bãi Hạ đều đã đóng cống cài then, người người yên giấc ngủ say trong chăn ấm, không có một ai lấy nước vào ruộng mạ! Nước nguồn Khe Thanh khi ấy cứ thế cuồn cuộn chảy tràn qua mặt đập Bờ Đỏ một cách uổng phí để rồi đổ tuột ra sông cái ngoài kia.

Nhà cháu xin nhận lấy nước vào phiên đêm, chính là gom nhặt lại cái lượng nước thừa thãi, bỏ đi ấy để dẫn lên Cồn Gió! Nước ấy không làm vơi bớt một giọt, không làm chậm trễ một khắc nào việc tưới tiêu ban ngày của bất kỳ ai trong làng! Như vậy, thử hỏi ruộng bãi Hạ của bác cả và bà con còn có thể bị thiệt thòi ở chỗ nào nữa hay không?"

Một sự im lặng ngỡ ngàng bao trùm. Nhiều lão nông chất phác đứng dưới sân bắt đầu khẽ gật gù tán đồng. Vài người ban nãy còn hùa theo Diệp Đại Phúc lên tiếng chỉ trích, nay đưa mắt nhìn nhau, nét mặt lộ rõ sự ngượng ngùng, xấu hổ trước sự độ lượng và biết điều đến kinh ngạc của cô cháu gái nhà Diệp Thành.

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đưa mắt nhìn Tiểu Mãn, giọng nói của ông đã mềm đi rất nhiều, ẩn chứa sự trìu mến và nể phục:

"Lấy nước phiên đêm... tận dụng dòng nước tràn lúc cả làng đã nghỉ ngơi... Tính toán như thế quả thực là vô cùng chu toàn và biết nghĩ cho đại cuộc. Vậy còn điều cam kết thứ hai của cháu là gì?"

Tiểu Mãn quay sang siết chặt bàn tay thô ráp của Diệp Nhị Hòa, đoạn cất giọng đanh thép tựa tiếng chuông đồng gióng giữa thềm từ đường:

"Điều cam kết thứ hai: Chiếu theo hương ước và quy định bao đời nay của Hội tưới tiêu Thanh Khê, mỗi một mẫu ruộng có tên trong sổ bộ địa bạ hằng năm phải đóng góp đủ hai ngày công lao động để nạo vét bùn đất lòng mương chính trước ngày mở nước gieo mạ. Nhà họ Diệp chúng cháu có hai mẫu ruộng cằn ở Cồn Gió, tính theo luật lệ chỉ phải nộp đúng bốn ngày công. Thế nhưng hôm nay, trước mặt Trưởng thôn, các bậc bô lão và bà con chòm xóm, nhà họ Diệp xin tự nguyện nộp thêm HAI NGÀY CÔNG NỮA — nâng tổng số công lao động đóng góp lên thành SÁU NGÀY CÔNG!

Và để thể hiện sự thành tâm gánh vác việc chung, chị em cháu xin tự nguyện đứng ra nhận phần việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất trong đợt nạo vét mương xuân này: Chúng cháu xin nhận trọn vẹn đoạn mương ngầm dài ba mươi trượng xuyên qua hốc đá Cây Gạo — cái khúc mương ngập đầy bùn rác hôi thối lắng sâu ngang bẹn người, đá hộc sắc nhọn lởm chởm mà năm nào các hộ dân trong làng cũng đùn đẩy, né tránh không ai muốn đụng tay vào! Chị em cháu cùng với người cha ở nhà chẻ cọc gia cố thành vách, xin cam đoan sẽ nạo vét sạch sẽ đến tận đáy đá, khơi thông dòng chảy hoàn toàn cho đoạn hốc hiểm trở ấy trước ngày rằm tháng giêng!"

"Xào xạc..."

Những tiếng thì thầm bàn tán bỗng chốc tắt ngấm như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Cả gian từ đường rộng lớn rơi vào một khoảng không tĩnh lặng như tờ, tĩnh lặng đến mức người ta có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng tàn thuốc lào rơi tí tách trên nền gạch thất và tiếng thở dốc đầy kinh ngạc của những người đàn ông đứng ở hàng đầu.

Sáu ngày công cho vỏn vẹn hai mẫu ruộng cằn sỏi đá!

Đã thế lại còn dám can đảm đứng ra ôm trọn lấy cái đoạn mương ngầm xuyên qua hốc đá Cây Gạo — cái "miệng cọp" khét tiếng của hệ thống thủy lợi Thanh Khê! Nơi ấy lòng mương chui tọt qua một vách đá nứt nẻ, bùn thối ngập sâu ngập bẹn, nước lạnh buốt như ngâm đá tảng, lại thêm những tảng đá hộc gai góc sắc nhọn sẵn sàng cứa rách toạc da chân da tay bất kỳ lúc nào. Năm nào cũng vậy, cứ mỗi bận chuẩn bị mở nước vụ xuân, Hội tưới tiêu lại phải đau đầu nhức óc, tranh cãi nảy lửa hàng buổi trời rồi cuối cùng đành phải dùng đến hạ sách bốc thăm chỉ định, kẻ nào xui xẻo bốc phải khúc Cây Gạo thì coi như cả nhà vừa làm vừa rủa xả suốt ba ngày liền!

Vậy mà hôm nay, hai đứa trẻ có mẹ đau ốm quanh năm, cha thì tàn tật nằm nhà, không những không hé răng xin xỏ dân làng giảm bớt ngày công hay ban phát chút ân huệ thương hại, mà ngược lại, còn hiên ngang ưỡn ngực đứng ra, xin gánh vác lấy cái phần việc dơ bẩn, khổ ải, độc hại nhất của cả làng để đổi lấy sự công bằng danh chính ngôn thuận cho mảnh đất của cha ông!

Đúng lúc ấy, Diệp Nhị Hòa tiến phắt lên một bước dài, đứng ngang hàng với chị gái. Cậu bé mười bốn tuổi ưỡn căng lồng ngực gầy nhưng săn chắc, cất giọng dõng dạc, hào sảng không chút rụt rè:

"Cháu là con trai của cha cháu! Cháu mười bốn tuổi đầu đã biết vác bồ cào, cầm cuốc sắt theo cha vỡ đất mở hoang! Đoạn mương ngầm hốc đá Cây Gạo, một mình cháu cùng chị gái cháu xin cam đoan sẽ nạo vét sạch bóng bùn non, dọn sạch đá tảng chỉ trong vòng ba ngày đêm! Nếu đến hạn chót mà mương chưa thông, nước chưa chảy xiết, gia đình cháu xin tự nguyện nộp phạt MƯỜI HỘC THÓC khô cho quỹ chung của thôn làng mà không dám kêu ca nửa lời!"

Mười hộc thóc!

Đó là cả một gia tài đối với một hộ nghèo như nhà Diệp Thành lúc này! Lời thề thốt đanh thép, rắn rỏi như đinh đóng cột sắt của hai đứa trẻ nhà họ Diệp tựa như một gáo nước lạnh hắt thẳng vào mặt những kẻ hẹp hòi, khiến các bậc cao niên ngồi trên dãy phản gỗ không khỏi xúc động đến bàng hoàng.

Cụ Bảy họ Diệp — vị bô lão già nhất làng, người mà cách đây chưa đầy nửa khắc đồng hồ còn bị Diệp Đại Phúc rót vào tai những lời cay độc chê bai chuyện đàn bà con gái — bỗng run rẩy đưa bàn tay già nua đập mạnh xuống mặt bàn gỗ dổi một tiếng:

"Chát!"

Cụ vuốt chòm râu cước dài chấm ngực, đôi mắt đục mờ ngấn lệ nhìn Tiểu Mãn và Nhị Hòa, rồi gật đầu lia lịa, cất giọng run run nhưng đầy xúc động:

"Khá lắm! Khá khen cho hai đứa trẻ nhà Diệp Thành! Đúng là con nhà nông gia Thanh Khê ta, nghèo cho sạch rách cho thơm, có chí khí sắt đá! Thằng Ba chân nó có gãy, người nó có tàn, nhưng cái nếp nhà, cái đức hạnh dạy con thì rạng rỡ muôn phần hơn khối kẻ lành lặn mà bụng dạ hẹp hòi! Chúng nó biết trọng chữ tín, biết lấy giọt mồ hôi, chén nước mắt của chính mình để đổi lấy bát cơm manh áo chứ không hề mở miệng ngửa tay van xin lòng thương hại bố thí của ai!"

Cụ Bảy quay ngoắt sang nhìn Trưởng thôn Phạm Đức Thuận, giọng dứt khoát:

"Thưa Trưởng thôn Thuận! Việc chia nước cấy cày của làng ta xưa nay cốt lõi nhất là ở chỗ công bằng, minh bạch và thành tâm lao động. Cháu Mãn nó đã tính toán đường đi nước bước chi li cặn kẽ đến thế, lại chịu phần thiệt thòi nhận lấy phiên đêm buốt giá, lại còn tự nguyện gánh vác thêm phần việc cực nhọc, dơ bẩn nhất thay cho cả làng xóm. Lão thấy cái phương án rãnh chữ V và phiên nước đêm này vẹn cả đôi đường, thấu tình đạt lý, trên thuận lòng tổ tiên, dưới đẹp lòng chòm xóm! Không có một lý lẽ gì trên đời này có thể bác bỏ được nguyện vọng chính đáng của nhà chúng nó!"

Lời cụ Bảy vừa dứt, một vị bô lão khác của họ Trần ngồi bên cạnh cũng lập tức vỗ đùi đánh đét một cái, sang sảng cất lời ủng hộ:

"Cụ Bảy nói quá chí lý! Cái hốc đá Cây Gạo ấy, vụ chiêm năm ngoái đến lượt nhà tôi với nhà thằng Ngô bốc phải, hai bố con tôi cặm cụi vét ròng rã hai ngày trời mà gai cào rách toạc cả bắp chân, sứt đầu mẻ trán, lại gãy toi mất hai cái xẻng sắt rèn của bác thợ rèn đầu làng! Năm nay có hai chị em nhà cháu Mãn đứng ra nhận vét giùm cho cả làng, lại còn cam đoan vét sâu dọn sạch đá hộc, thì dòng nước chính đổ về bãi Hạ chúng tôi lại càng thêm thông suốt, chảy mạnh gấp bội phần! Chuyện tốt như thế, kẻ nào phản đối thì kẻ đó đúng là không có lương tâm! Tôi thuận! Họ Trần chúng tôi thuận cho nhà Diệp Thành giữ chân nước Cồn Gió!"

"Tôi cũng thuận tình!" Một chủ hộ họ Lý đứng bật dậy giơ cao cánh tay.

"Phải đấy, cứ thế mà làm! Hai đứa nhỏ có chí khí như thế, dân làng ta phải nâng đỡ, ủng hộ chứ sao lại nỡ bóp nghẹt đường sống của chúng nó!"

"Thuận tình rồi! Chuẩn y phương án mương chữ V đi Trưởng thôn ơi!"

Dưới sân từ đường, từng cánh tay của các gia chủ bắt đầu giơ lên cao như một rừng cây. Người nông dân vốn dĩ mộc mạc, chất phác và luôn suy nghĩ vô cùng thực tế. Khi họ nhận thấy rõ ràng quyền lợi sát sườn của mình không hề bị xâm phạm mảy may, dòng nước ban ngày vào ruộng bãi Hạ không bị vơi đi một giọt, lại có người tự nguyện đứng ra đổ mồ hôi gánh vác thay mình cái phần việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất trong năm, thì chẳng còn một ai dại dột gì mà tiếp tục hùa theo sự ích kỷ, cay nghiệt vô lý của Diệp Đại Phúc nữa.

Cục diện đã hoàn toàn ngã ngũ.

Diệp Đại Phúc đứng trơ trọi giữa khoảng chiếu hoa, sắc mặt thoắt xanh thoắt xám, rồi chuyển sang đỏ tía như quả cà chua chín nẫu vì uất nghẹn. Hai hàm răng ông ta nghiến chặt vào nhau kèn kẹt, hai bàn tay giấu kín trong ống tay áo bông chần siết chặt lấy nhau đến mức các khớp xương kêu răng rắc. Kế hoạch thâm sâu, hiểm độc mà ông ta dày công toan tính bấy lâu nay nhằm cô lập gia đình Diệp Thành, ép người em trai tật nguyền vào bước đường cùng không lối thoát để thâu tóm hai mẫu đất gò Cồn Gió với giá rẻ bèo, coi như đã hoàn toàn sụp đổ tan tành thành mây khói ngay trước mắt bàn dân thiên hạ!

Nhục nhã và cay đắng hơn cả, kẻ đập tan mưu đồ ấy của ông ta không phải là một vị chức sắc hay một đấng mày râu lực lưỡng nào, mà lại chính là một đứa cháu gái miệng còn hôi sữa mà xưa nay ông ta vẫn luôn coi thường như rác rưởi ven đường!

Không cam tâm chịu cảnh thua trắng bụng một cách nhục nhã ê chề như thế, Diệp Đại Phúc gượng gạo nặn ra một nụ cười gằn méo mó, cố vớt vát lại chút thể diện đã rơi rụng rách nát:

"Kính thưa các cụ... thưa Trưởng thôn... Các cụ chớ có vội mừng sớm mà mắc mưu con ranh này. Nói mồm thì ai chẳng nói hay như hát hay múa! Nhưng cái phiên đêm sương muối lạnh buốt như kim châm, trời đất thì tối đen như mực, lỡ nửa đêm hai đứa nhãi con này ngủ gục rồi để vỡ bờ mương, nước lũ trên núi tràn xuống làm ngập úng, thối rữa hết mấy luống mạ sớm của bãi Hạ chúng tôi thì lúc ấy ai đứng ra đền thóc cho bà con?"

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đưa mắt nhìn thẳng vào Diệp Đại Phúc. Ánh mắt ông bỗng trở nên nghiêm nghị, lạnh lùng, mang theo uy quyền tối thượng của người nắm giữ kỷ cương phép nước của làng. Ông giơ cao bàn tay, ngắt lời Diệp Đại Phúc bằng một giọng nói dứt khoát không khoan nhượng:

"Đại Phúc! Ngươi thôi ngay cái thói bới bèo ra bọ ấy đi! Lệ làng phân xử là dựa trên sự công bằng, đạo lý và tinh thần trách nhiệm với việc chung. Cháu Mãn đã dám đem cả danh dự, nhân cách và mười hộc thóc mồ hôi nước mắt của gia đình ra thề thốt trước hương án tiên tổ, ngươi là bác ruột ruột thịt, máu chảy ruột mềm, thấy các cháu có chí vươn lên không chịu đầu hàng nghịch cảnh thì chẳng mở lòng động viên giúp đỡ lấy một lời, cớ sao cứ tìm đủ mọi cách để chèn ép, xoi mói, dồn ép con cháu nhà chú mình vào chỗ chết mãi như thế? Ngươi làm thế, không sợ mai này nhắm mắt xuôi tay xuống suối vàng không còn mặt mũi nào nhìn lại tổ tiên họ Diệp hay sao?"

Lời quở trách đanh thép của Trưởng thôn như một cái tát giáng thẳng vào mặt Diệp Đại Phúc, khiến ông ta tím tái mặt mày, lúng búng trong họng không thốt ra nổi một lời nào nữa, đành lủi thủi lùi lại phía sau hàng cột lim.

Phạm Đức Thuận dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn khắp lượt dân làng đang nín thở lắng nghe, rồi cất giọng sang sảng tuyên bố phán quyết cuối cùng của Hội đồng:

"Hội tưới tiêu thôn Thanh Khê hôm nay, trước sự chứng giám của các bậc bô lão và toàn thể dân làng, chuẩn y toàn bộ phương án đào mương nhánh chữ V của gia đình Diệp Thành! Cho phép nhà Diệp Thành được giữ nguyên quyền tưới tiêu cho hai mẫu ruộng tại gò Cồn Gió. Phiên lấy nước của nhà họ Diệp sẽ chính thức là PHIÊN ĐÊM, bắt đầu từ giờ Tý đến giờ Dần các ngày mùng mười và ngày hăm lăm hàng tháng.

Đổi lại, nhà họ Diệp phải có trách nhiệm hoàn thành trọn vẹn đủ sáu ngày công lao động nạo vét bùn đất cho làng, trong đó phải chịu trách nhiệm nạo vét sạch sẽ, khơi thông dòng chảy đoạn mương ngầm hốc đá Cây Gạo trước ngày rằm tháng giêng! Nếu làm sai cam kết, sẽ chiếu theo hương ước mà xử phạt!"

Nói đoạn, Phạm Đức Thuận vươn tay rút từ trong ống tre trên bàn ra một chiếc thẻ bài làm bằng cật nứa già đã ngả màu vàng bóng. Ông cầm chiếc bút lông, chấm đẫm vào nghiên mực tàu đen nhánh, nắn nót viết lên thân thẻ tám chữ lớn: 'Phiên đêm — Cồn Gió — Diệp gia chi Ba'. Sau đó, ông ấn mạnh con dấu triện bằng gỗ thị đỏ au của Hội tưới tiêu Thanh Khê lên mặt nứa, tạo thành một dấu ấn đỏ tươi, sắc nét.

Trưởng thôn đứng dậy, hai tay nâng chiếc thẻ nứa, trang trọng trao vào đôi bàn tay đang giơ lên đón nhận của Diệp Tiểu Mãn:

"Tiểu Mãn, cầm lấy thẻ nước của gia đình cháu! Cháu tuy là phận gái, nhưng tâm sáng lòng ngay, có chí khí hiên ngang, biết lo toan công việc chu toàn đàng hoàng, giữ trọn vẹn đạo hiếu với cha mẹ và nề nếp gia phong của tổ tiên. Trưởng thôn ta hôm nay đại diện cho dân làng, tin tưởng giao phó chiếc thẻ bài giữ nước này cho cháu. Hãy liệu mà cùng em trai đồng tâm hiệp lực, làm việc cho cẩn thận, chớ để phụ lòng tin cậy của các bậc bô lão và bà con chòm xóm!"

Tiểu Mãn cung kính cúi đầu, hai bàn tay đón lấy chiếc thẻ nứa còn thơm nồng mùi mực tàu mới và dấu triện đỏ chót.

Chiếc thẻ nứa già chỉ dài chưa đầy một gang tay, mỏng manh và nhẹ bẫng trên lòng bàn tay chai sạn của cô, nhưng trong cảm nhận của Tiểu Mãn lúc này, nó nặng tựa ngàn cân! Đó không đơn thuần chỉ là một mảnh tre cho phép lấy nước vào ruộng. Đó là quyền được sống, quyền được cày cấy, quyền được ngẩng cao đầu làm một con người tự do, tự tại giữa thôn làng! Đó chính là tấm khiên đồng, bức tường sắt vững chắc che chắn cho từng tấc đất hương hỏa màu mỡ của người cha tật nguyền trước lòng tham vô đáy và sự dòm ngó đê hèn của những kẻ lòng lang dạ thú!

"Cháu xin ghi lòng tạc dạ từng lời răn dạy của Trưởng thôn và các cụ bô lão!" Tiểu Mãn nghẹn ngào nhưng giọng nói vẫn vô cùng rắn rỏi. "Gia đình cháu nhất định sẽ dốc hết tâm sức, đào mương vét cống đúng kỳ hạn, giữ trọn vạch nước, tuyệt đối không làm lỡ dở việc chung của thôn làng!"

"Thùng! Thùng! Thùng!"

Tiếng trống từ đường lại một lần nữa vang lên giòn giã ba hồi chín tiếng, báo hiệu buổi họp bàn thủy lợi đầu xuân của thôn Thanh Khê đã kết thúc tốt đẹp.

Không khí trang nghiêm trong gian tiền đường lập tức vỡ òa thành những tiếng cười nói râm ran. Dân làng bắt đầu lục tục đứng dậy, kéo nhau ra về theo từng tốp nhỏ. Đi đến đâu, người ta cũng bàn tán xôn xao về phương án đào rãnh mương chữ V lót đất sét chống thấm vô cùng thông minh, và đặc biệt là sự tháo vát, đĩnh đạc, chí khí hơn người của con gái nhà Diệp Thành. Vài người nông dân lớn tuổi khi đi ngang qua chỗ hai chị em còn thân thiện đưa tay vỗ nhẹ lên vai Diệp Nhị Hòa, buông lời khen ngợi: "Thằng cu nhớn nhanh thật, cha mày phúc lớn mới có được hai đứa con biết đỡ đần như thế này!". Nhị Hòa hãnh diện ngẩng cao đầu, chiếc túi vải thô đeo trên vai như nhẹ bẫng đi, nụ cười rạng rỡ nở bừng trên khuôn mặt sạm màu nắng gió.

Ở góc tiền đường bên kia, Diệp Đại Phúc đứng trơ trọi như một pho tượng đá vỡ. Mắt ông ta tối sầm lại, mặt mày xám xịt như tro bếp nguội ngắt. Thấy mọi người xung quanh đều hướng về phía chị em Tiểu Mãn với ánh mắt nể phục, vị nể, ông ta hiểu rằng mình đã hoàn toàn thất thế, không thể làm gì để xoay chuyển sự đồng thuận tuyệt đối của cả làng. Càng ở lại chốn này lâu, những ánh mắt xì xào, những nụ cười mỉa mai của chòm xóm sẽ càng khoét sâu vào nỗi nhục nhã của ông ta. Diệp Đại Phúc hậm hực phất mạnh ống tay áo bông chần mới cáu, lầm lũi cúi đầu bước nhanh thoăn thoắt ra khỏi ngưỡng cửa từ đường.

Thế nhưng, sâu thẳm trong tâm can của kẻ tham lam bủn xỉn ấy, ngọn lửa đố kỵ và toan tính đê hèn không hề bị dập tắt. Ngược lại, nỗi nhục nhã vừa nếm trải càng biến thành một thứ nọc độc cháy bỏng, thiêu đốt tâm trí ông ta. Hình ảnh những xâu tiền kẽm rủng rỉnh mà Tiểu Mãn mang về từ chợ huyện, mùi thơm của những vại dưa cải muối chua giòn rụm vụ đông, rồi những thang thuốc bắc quý giá đắt đỏ mà Diệp Thành đang uống để hồi phục đôi chân... tất cả những thứ của cải ấy cứ lởn vởn nhảy múa trước mắt Diệp Đại Phúc. Trong đầu ông ta lại bắt đầu nhen nhóm lên những mưu toan mới: Nếu không bóp chết được vụ cấy mạ của nó, thì nhất định phải tìm cách nhảy vào xâu xé, đòi chia chác bằng được cái nghề muối dưa rau củ non béo bở mà con bé đang làm! Dù thế nào, ông ta cũng phải vơ vét cho bằng hết những đồng tiền kẽm ấy về túi mình!

Bên trong từ đường, Tiểu Mãn cẩn thận dùng chiếc khăn tay bọc kín chiếc thẻ nứa đỏ chót lại, nhét sâu vào tận đáy túi áo trong ngực, cài cúc cẩn thận. Cô hít sâu một hơi dài, tận hưởng luồng không khí thanh tân, mát lành của buổi sớm đầu xuân đang ngập tràn khắp sân đình. Ánh nắng xuân ấm áp đã bắt đầu xuyên qua những tán lá rậm rạp của cây đa cổ thụ, rọi những vệt sáng vàng óng như mật ong xuống những mái ngói rêu phong, làm tan biến đi những giọt sương muối buốt giá cuối cùng còn đọng lại trên ngọn tre già.

Hai chị em bước xuống từng bậc tam cấp bằng đá xanh nhẵn thín, chuẩn bị rảo bước rẽ vào con đường đất quen thuộc dẫn về căn nhà tranh vách đất ven khe, nơi người cha tật nguyền và người mẹ ốm yếu chắc hẳn đang ngồi bên bậu cửa, thắc thỏm ngóng đợi tin tức từng khắc từng giờ.

Thế nhưng, đôi chân của Tiểu Mãn vừa mới bước qua khỏi cánh cổng gỗ lim đồ sộ của từ đường râm mát bóng đa cổ thụ, một bóng người to béo, nồng nặc mùi thuốc lào khét lẹt và sự tức giận ngút trời đã đột ngột lao xộc ra từ sau gốc cây cổ thụ chắn ngang lối đi.

Ngay khi Tiểu Mãn vừa rời khỏi từ đường, Diệp Đại Phúc đã sải bước đuổi theo chặn đường cô lại.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories