Cái giá của một buổi làm việc
Trên chiếc bàn gỗ ghép loang lổ những vệt dầu luyn đen đặc và vết khía của lưỡi cưa sắt ở góc trong cùng của xưởng, Bảo cùng cô Mai ngồi đối diện nhau dưới ánh sáng nhờ nhợ, giật giật từng nhịp của bóng đèn tuýp ba mươi sáu oát đã mòn hai đầu cực.
Mặt kính chiếc đồng hồ treo tường vỏ nhựa Tiệp Khắc cũ kỹ điểm quá tám giờ tối. Đêm ở rẻo đất ven biển Hải An buông xuống bao giờ cũng kèm theo thứ hơi nước dính dáp rười rượi, luồn qua từng khe ván liếp, mang theo mùi sình lầy từ các vuông tôm bốc lên nồng nồng. Dưới chân bờ tường vôi lở dở, từng vệt rêu xanh mướt cọ xát với tiếng dế rỉ rả không ngớt; hòa vào đó là tiếng quạt máy con cóc gỉ sét quay đảo chiều cọt kẹt, chốc chốc lại phả ra một luồng gió khô nóng mang mùi mạt sắt và dầu hôi ngâm ốc.
Trước mặt hai người, tờ giấy kẻ ô li khổ A3 mở rộng, phẳng phiu nhưng đã hằn sâu vô số nếp gập chéo góc. Đó là bản dự toán dòng tiền kỹ thuật mà Bảo đã kẻ bằng thước gỗ từ đầu tuần, chi chít những cột mục viết bằng mực bút bi xanh học trò, nhưng xen kẽ giữa các con số nắn nót ấy là hàng loạt vệt gạch ngang dứt khoát bằng mực đỏ của cô Mai—những nhát mực đè bẹp sự lạc quan lý thuyết để kéo thực tế trở về với cái đáy rỗng không của chiếc hộp bánh quy bằng thiếc dùng làm quỹ xưởng.
Khoản cam kết tài trợ hơn một triệu rưỡi cho phụ tùng cơ khí đợt hai đã chính thức tan thành mây khói sau khi ông Đạt cuốn gói rút lui. Dù hai ngày sau vụ om sòm ở chợ, trước sức ép gay gắt từ những lời chì chiết của bà con tiểu thương ngành hàng khô lẫn sự lạnh nhạt dứt khoát từ phía ban giám hiệu nhà trường, ông ta đã phải muối mặt tự tay leo lên ghế đẩu bóc sạch tấm áp phích khoa trương treo ngoài bảng tin dân phố và đăng tải một bài viết đính chính ngắn ngủn, chữa thẹn trên mạng xã hội, thì sự hụt hẫng về mặt ngân sách vẫn hiện hình như một bài toán cơ học tàn nhẫn: không có tiền mặt thì không thể đổi ra xích mới, săm mới, dầu mỡ hay dây cáp. Sắt thép không biết thương hại hoàn cảnh, và các tiệm buôn phụ tùng ngoài chợ thị xã lại càng không bao giờ phát không vật tư cho những kẻ chỉ mang theo tấm lòng hảo tâm suông.
Toàn bộ quỹ tiền mặt phục vụ việc sửa chữa hiện tại chỉ còn trơ trọi khoản trích ứng ban đầu từ ngân sách hỗ trợ học sinh nghèo của nhà trường. Sau khi cô Mai xuất ba trăm ngàn đồng để mua can dầu hôi mười lít ngâm rã rỉ sét các cụm ổ trục cùng một hộp mỡ bò chịu mặn chuyên dụng loại hai ký, số tiền ít ỏi còn lại phải gánh trọn vẹn chi phí mua sắm vật tư thay thế cho sáu chiếc xe đạp đợt một—những chiếc bắt buộc phải hoàn thiện dứt điểm để bàn giao cho các em học sinh có hoàn cảnh ngặt nghèo nhất ngay trong buổi lễ khai giảng sáng mùng năm tháng chín. Và điều ngặt nghèo hơn cả, như một nguyên tắc bất di bất dịch mà cô Mai đã đóng đinh ngay từ ngày đầu, là tuyệt đối không một ai được phép xâm phạm vào khoản tiền một triệu hai trăm ngàn đồng nằm trong phong bì niêm phong gửi trong két sắt của cô Hạnh—khoản quỹ dự phòng hao mòn học kỳ I dành riêng cho việc thay săm vá lốp và đứt xích dọc đường của các em sau ngày tựu trường.
Ngón tay trỏ của cô Mai, thô ráp với những vết chai sần tích tụ qua hơn ba mươi năm cầm kìm búa và những kẽ móng tay ám đen màu dầu luyn bám chặt vào biểu bì da không xà phòng nào tẩy sạch, gõ cộc cộc lên góc trên cùng của tờ giấy A3:
— Cắt hết. Gạch sạch cái khoản sơn xịt này đi, không chừa lại một cắc nào hết.
Bảo nhìn chằm chằm vào dòng mục nằm ở khoảng giữa trang giấy: *Sơn lót chống rỉ hai lon + sơn phủ màu bốn lon: 360.000 đồng*. Cậu siết chặt thân bút bi, đốt ngón tay trắng bệch, giọng nói không giấu nổi vẻ ngập ngừng, tiếc nuối:
— Bỏ hết nước sơn luôn hả cô? Toàn bộ sáu bộ khung xe đợt đầu này sau khi cạo hết lớp rỉ sét ăn sâu thì lớp sơn cũ tróc lở từng mảng to bằng bàn tay, lộ cả lõi thép xám ngoét. Cháu tính mua vài lon sơn xịt rẻ tiền ngoài chợ tạp hóa, màu xanh dương với màu đỏ mận, dặm lại mấy chỗ trầy trụa cho đều màu. Dù sao ngày khai trường mấy đứa nhỏ nhận xe trước toàn trường, xe mà loang lổ như da cọp thì tụi nó tủi thân lắm cô à...
— Đỡ tủi thân bằng một lớp sơn bóng bẩy đánh lừa con mắt rồi ba bữa nước mặn ngấm ngầm qua khe tróc làm mục nát ống sườn từ bên trong, hay đỡ tủi thân bằng một đôi phanh bóp ăn ngọt xớt khi tụi nó chở em nhỏ đổ dốc Cồn giữa trời mưa giông? — Cô Mai ngắt lời cậu. Giọng bà khô khốc, sắc lạnh như tiếng hai thanh thép nguội va vào nhau, nhưng đáy mắt không hề có vẻ gắt gỏng cay nghiệt. — Cậu tưởng học trò nghèo vùng bãi ngang này cần cái mã ngoài bóng bẩy như mấy đứa con nhà khá giả trên phố huyện à? Gió biển Hải An này táp muối mặn vào ban đêm, đường đất đỏ mùa mưa thì lầy lội, mùa nắng thì lẫn toàn mảnh vỏ sò vỏ điệp sắc lẹm. Ba cái thứ sơn xịt mười lăm ngàn một lon bán ngoài sạp tạp hóa chỉ là lớp phấn sáp rẻ tiền, quẹt móng tay một cái là xước tới tận xương thép, xịt lên chỉ tổ che mắt người lớn lúc đứng trên sân khấu chụp tấm hình bàn giao.
Bà nghiêng người, chỉ ngón tay thô ráp sang cột đối diện:
— Ba trăm sáu mươi ngàn đồng tiền sơn dặm đó, cậu dồn hết qua đây cho tôi: mua đủ sáu bộ má phanh cao su đúc loại dày có rãnh thoát bùn, sáu sợi dây cáp phanh ruột xoắn bằng thép không rỉ có vỏ bọc nhựa nylon chống lọt cát biển, với bốn cặp săm lốp Sao Vàng năm mươi tư mi-li-mét loại chịu tải nặng. Líp nào mòn vẹt răng thì lựa trong đống sáu cái xác xe rã vụn còn lại mà sàng xới, cái nào còn cạnh vuông thì giữ lại ngâm dầu dùng tiếp. Xích nào mắt đã rão quá cỡ cữ đo thì dồn tiền mua xích mới đóng hộp giấy dầu đàng hoàng. Thà để tụi nhỏ cỡi một cái xe có khung sườn loang lổ vết xước nguyên bản của thép tôi, trơ trọi dấu búa gõ nhưng đạp êm ru, không bị đứt xích giữa đồng không mông quạnh, bóp phanh không bị đứt cáp lao đầu xuống mương nước mặn. Đó mới là cái thứ giữ thể diện cho một đứa trẻ, chứ không phải mấy giọt sơn bóng mã ngoài.
Bảo hít vào một hơi thật sâu, lồng ngực thắt lại trước từng lời rành rẽ của người thợ già. Cậu cúi đầu, đặt ngòi bút bi đỏ đè lên mép thước, gạch một đường thẳng băng, dứt khoát qua mục sơn phủ chống rỉ. Vệt mực đỏ kéo dài như một nhát cắt rạch ròi giữa hư danh và thực dụng. Con số ba trăm sáu mươi ngàn đồng lập tức được Bảo tính nhẩm rồi cộng dồn thẳng sang cột danh mục an toàn động lực: *Dây cáp bọc nylon, má phanh đúc rãnh sâu, hai sợi xích mới và bốn cặp săm lốp Sao Vàng*.
Cán cân thu chi của đợt một trên trang giấy vừa khớp lại, không thừa một xu và không thiếu một đồng. Nhưng cái thở phào nhẹ nhõm của Bảo chưa kịp dứt thì trang sổ kỹ thuật bên cạnh lại đập vào mắt hai người như một khối đá tảng chắn ngang lối đi.
Bảo lật giở cuốn sổ bìa da ghi chép xưởng—nơi cậu tỉ mẩn lập hồ sơ theo dõi cho từng cụm chi tiết máy của sáu chiếc xe đợt đầu. Trong số đó có bốn chiếc xe đầm Thống Nhất sườn võng khung thép hàn vảy cá và hai chiếc xe cào cào khung sườn hình học kim cương, bao gồm cả chiếc xe mang mã số X02 của bé Linh. Toàn bộ phần khung sườn đã được cạo sạch đất cát bám trong các ống rỗng, ngâm rửa dầu hôi, cân chỉnh độ thẳng trục gióng đứng và gióng ngang bằng dây rọi; các chén cổ phuộc trước và trục giữa đã được vô mỡ bò mới tinh tươm.
Thế nhưng, điểm nghẽn nghiêm trọng nhất lúc này lại nằm ở mười hai cái bánh xe đang xếp chồng chất ngoài góc hè.
— Mười hai cái vành này đảo ghê gớm lắm cô, — Bảo lật giở trang đo đạc cơ khí, giọng chùng xuống đầy lo lắng. — Tám cái vành thép Thống Nhất bị cong vênh dạng ô-van nặng do người ta chở bao lúa, chở bao phân sụp ổ gà suốt mấy năm trời mà không chỉnh; bốn cái vành nhôm của xe cào cào thì nan hoa căm xe rỉ sét bám chết cứng vào chân ren ốc đồng, nhiều cây vừa đưa kìm kẹp vào nhích nhẹ một cái là gãy ngang cuống. Nếu muốn tháo căm gãy, thay nan hoa mới, xịt rỉ sét rồi đưa từng bánh lên giá cân vành để khử hết độ lắc ngang lẫn độ nhảy đứng... một cái bánh xe thợ lành nghề làm cẩn thận cũng phải ngốn từ bốn mươi lăm phút đến một tiếng đồng hồ. Mười hai cái bánh là mất đứt gần hai ngày công liên tục, không ngơi tay một phút nào.
Cô Mai không đáp lại ngay. Bà đặt hai bàn tay lên mặt bàn gỗ. Cổ tay phải của bà vẫn đang quấn chặt ba vòng băng thun co giãn màu da người, mép băng thun đã ngả màu xám vì bụi bặm và dầu mỡ. Những ngón tay gân guốc của bà khẽ co lại rồi duỗi ra, phát ra những tiếng khớp kêu lục cục khô khốc.
Mấy hôm nay gió mùa đông bắc bắt đầu rục rịch chuyển hướng sớm ngoài khơi xa, độ ẩm không khí thay đổi khiến khớp cổ tay của bà sưng tấy từng cơn. Đó là di chứng của những năm tháng thời trẻ cầm búa tạ quai sắt và kéo xích xe tải nặng. Mà ban ngày, cánh cửa tiệm này đâu thể đóng lại để hai cô cháu chuyên tâm làm xe học trò: bà Sương bán rau cần nắn lại cái trục càng trước chở năm mươi ký cải bắp; mấy anh thợ đi bạn ngoài bến cá đẩy xe lôi chở đá cây ghé qua cần vá ép săm khẩn cấp để kịp con nước đêm; rồi xe đạp của các thầy cô, của người dân qua đường đứt xích, hỏng líp... Tiệm không thể từ chối những đồng tiền công mười ngàn, hai mươi ngàn ấy. Đó là cơm áo gạo tiền hằng ngày, là nguồn sống duy nhất để duy trì căn nhà nhỏ và nuôi sống hai miệng ăn.
— Tôi không kham nổi phần rút căm cân vành cho mười hai cái bánh này đâu, — cô Mai nói thẳng thừng, thanh âm trầm đục. — Cổ tay tôi thế này, cầm cờ-lê móc siết căng chừng hai chục chân căm là khớp cứng đờ, buốt lên tận bả vai. Còn cậu, tay nghề cân vành mới chỉ dừng ở mức nhìn kim đo cữ so rồi đoán mò, vặn đầu này thì méo đầu kia. Cho cậu ngồi ôm giá cân cả ngày trời chưa chắc ra được một cái vành tròn trịa để má phanh cao su không cạ sột soạt vào hông lốp. Mà xe học trò đổ dốc, vành méo quẹt phanh là lộn cổ ngay. Càng cố làm ẩu thì rủi ro đổ lên đầu con người ta càng lớn.
Bảo bối rối, vội vã đề xuất:
— Hay là... mình tranh thủ làm ca đêm hả cô? Ban ngày phục vụ khách chợ kiếm tiền mua gạo, ban đêm cháu thức phụ cô. Cô chỉ cần ngồi chỉ chỗ nào lệch, cháu dùng cờ-lê siết từng chân căm theo lời cô...
— Dẹp ngay cái thói cậy sức trẻ thức đêm làm liều ấy đi! — Ánh mắt cô Mai quắc lên, nghiêm nghị và sắc sảo như mũi đột thép. — Ban đêm mắt mũi kèm nhem dưới cái bóng đèn tuýp nhấp nháy này, người mệt lả, đầu óc lơ mơ mà đòi chỉnh độ tròn của vành chính xác từng nửa mi-li-mét? Rồi ngày hôm sau khách quen đem xe thồ mưu sinh tới sửa thì đứng ngáp ngắn ngáp dài, hoa mắt siết lệch ốc côn làm kẹt bi của người ta như bữa xe bà Sương nữa à? Cậu nhớ cho kỹ: làm thợ cơ khí, biết sức mình tới đâu để tính toán phân bổ công việc ra ngoài, biết lúc nào phải bắt tay hợp tác với thợ khác, đó cũng là một phần của tay nghề. Ôm đồm làm ẩu không phải là dũng cảm, mà là vô trách nhiệm.
Nói đoạn, cô Mai dứt khoát đứng dậy. Bà cởi chiếc tạp dề bằng vải bạt dính đầy những vệt dầu loang đen kịt vắt lên chiếc đinh mười phân đóng chặt trên vách gỗ, với tay lấy chiếc áo khoác gió sờn vai đã bạc màu nắng:
— Đem theo cuốn sổ ghi quy cách, số đo mười hai cái vành xe. Đi theo tôi sang tiệm thằng Phúc.
Bảo giật thót mình, chiếc bút bi trên tay suýt nữa rơi xuống nền xi măng. Cậu đứng chôn chân tại chỗ, trố mắt nhìn người thợ già:
— Sang... sang tiệm chú Phúc hả cô?
Ký ức nhục nhã của buổi chiều hôm trước lập tức ùa về trong tâm trí Bảo như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt. Cậu nhớ rõ mồn một cái buổi chiều cậu lén cô Mai ôm tập tài liệu sang tiệm chú Phúc, định dùng cái mác "chương trình từ thiện vì học sinh nghèo của xã" để xin chú làm công quả giúp tiệm cân vài chiếc bánh xe. Cậu nhớ như in đôi mắt đỏ ngầu quắc lên sau cặp kính bảo hộ đầy bụi sắt của người thợ già, tiếng ném chiếc cờ-lê mười bốn chan chát xuống nền bê tông làm mẻ một góc gạch, và tràng chửi rủa xối xả đuổi cậu cút xéo: *“Tao cày mặt ra kiếm từng hạt gạo nuôi con, rảnh hơi đâu mà làm phước không công cho mấy đứa rửng mỡ làm phong trào! Muốn khoán việc thì bảo con Mai vác mặt sang đây sòng phẳng bằng tiền tươi thóc thật!”*
— Cô... chú Phúc ghét cay ghét đắng mấy chuyện từ thiện này. Bữa trước chú mắng cháu vuốt mặt không kịp, còn dọa ném mỏ lết vào người cháu nữa...
— Thằng Phúc nó mắng cậu là chí phải, — cô Mai vừa xỏ chân vào đôi dép tổ ong mòn vẹt đế vừa thủng thẳng đáp. — Cậu vác cái danh nghĩa việc thiện việc đức đi xin xỏ mồ hôi nước mắt của người ta, ép người thợ nghèo phải nhịn ăn, phải bỏ dở công việc kiếm cơm để làm đẹp lòng mấy ông cán bộ phong trào, nó không táng cái mỏ lết vào đầu cậu là nó còn nể mặt cái xóm này lắm rồi. Còn đêm nay, tôi dẫn cậu sang nói chuyện làm ăn đứng đắn. Thợ cơ khí nói chuyện với thợ cơ khí, quy cách kỹ thuật rõ ràng, tiền công gia công sòng phẳng không thiếu một cắc. Đi!
***
Tiệm sửa chữa xe máy, xe thồ và phục hồi cơ khí của chú Võ Hữu Phúc nằm cách tiệm cô Mai chừng ba trăm mét về hướng đông, án ngữ ngay khúc cua ngã ba dẫn thẳng ra mép nước của bến cá khu Một. Dù đã gần chín giờ đêm, tiệm của chú Phúc vẫn sáng rực dưới hai bóng đèn cao áp ánh vàng chói gắt treo trên xà sắt.
Không gian nơi đây nồng nặc mùi hôi khét của khói hàn xì que sắt, mùi nhớt thải xe máy đen ngòm rỉ ra từ những chiếc thùng phuy cắt đôi, hòa lẫn với mùi tanh nồng đặc trưng của mắm muối từ bến cá bốc lên. Khoảng sân rộng tráng xi măng lồi lõm ngổn ngang những khung sườn xe lôi ba bánh tự chế, lốp xe tải cũ chất thành đống cao ngất ngưởng và những xâu xích truyền động xe máy rỉ sét treo lủng lẳng trên vách tôn mục.
Chú Phúc đang ngồi chồm hổm trên một chiếc lốp xe cũ, đặt cạnh chiếc bệ cân vành tự chế bằng hai đoạn sắt chữ V dày cộp hàn chết xuống một khối bê tông đúc sẵn. Hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc của người đàn ông ngũ tuần thoăn thoắt cầm chiếc cờ-lê căm hình tròn nhỏ bằng nắp chai, gõ lách cách vào từng nan hoa của một chiếc vành xe lôi chở hải sản. Sau mỗi tiếng kim loại ngân vang giòn giã trầm bổng khác nhau, đôi tai nhà nghề của chú lại khẽ giật giật, rồi ngón tay chú lại thoăn thoắt nhích nửa vòng ren ốc đồng, chuẩn xác và lạnh lùng như một chiếc máy bấm giờ.
Nghe tiếng bước chân giẫm lạo xạo trên lớp sỏi vụn trước hiên, chú Phúc không ngẩng đầu lên ngay mà siết nốt một chân căm cuối cùng cho đủ tiếng kêu "boong" trong trẻo. Đoạn, chú nhổ toẹt một bãi nước chè đặc quánh sang bên mép rãnh thoát nước, gạt chiếc kính bảo hộ dính đầy mạt sắt lên trán, đưa cặp mắt ti hí nhìn chằm chằm vào cô Mai đang điềm tĩnh bước vào, theo sau là Bảo đang co ro ôm cuốn sổ kỹ thuật trước ngực.
Khóe môi chú Phúc nhếch lên một nụ cười nửa mỉa mai, nửa cảnh giác:
— Cơn gió độc nào thổi mà nửa đêm nửa hôm bà chủ Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn lại hạ cố dẫn xác sang cái xó dầu nhớt hạ đẳng của tôi thế này? Lại tính sai thằng học việc dẻo mỏ sang đây giảng đạo đức, bắt tôi cúng dường tay nghề để bà đi lãnh bằng khen người tốt việc tốt của xã nữa à?
Cô Mai chẳng thèm để tâm đến những lời châm chọc chua chát ấy. Bà thản nhiên bước qua đống đĩa líp xe máy cũ vứt bừa bãi, kéo một chiếc ghế nhựa tròn sứt một góc ngồi xuống đối diện bệ cân sắt, hai tay đặt ngay ngắn lên đầu gối, nét mặt bình thản như mặt nước giếng khơi:
— Thôi bớt cái giọng mỉa mai đàn bà đi ông Phúc. Chuyện thằng nhỏ dại dột ôm việc sang xin công quả hôm trước là do tôi sơ suất, chưa dạy cho nó hiểu luật đời của cánh thợ thuyền. Nay tôi đích thân sang đây để đặt hàng gia công cơ khí. Tôi có sáu bộ vành xe đạp, vị chi mười hai cái bánh. Tôi muốn khoán đứt phần rút căm, thay nan hoa gãy, khử đảo ngang và khử nhảy đứng cho ông. Làm được thì hai bên chốt giá sòng phẳng, ông nhận đồ làm lấy tiền; không làm được thì sáng mai tôi thuê xe thồ chở tuốt lên đại lý thằng Tín ngoài thị xã giao cho thợ trên đó. Tôi sang đây là vì nể tay nghề cân vành xe tải của ông xưa nay chuẩn nhất cái đất Hải An này, chứ không rảnh sang đây đôi co chuyện cũ.
Chú Phúc nheo mắt nhìn cô Mai thật sâu. Điếu thuốc lá Cẩm Lệ kẹp giữa hai ngón tay vàng khè khói thuốc của chú khẽ rung lên. Ánh mắt săm soi của chú lướt từ nét mặt bình thản của bà, trượt dài xuống lớp băng thun màu da đang quấn chặt quanh cổ tay phải, rồi dừng lại trên cuốn sổ bìa da mà Bảo đang ôm khư khư.
Chú Phúc bật cười khẩy một tiếng khô khốc, với lấy chiếc bật lửa ga cũ quẹt lửa châm thuốc, phà ra một luồng khói xám xịt làm cay xè mắt:
— Lạ đời thật đấy chứ! Mười mấy năm nay ở cái đất ngã ba này, người ta đồn thổi bà Mai tay nghề cơ khí số một, sửa xe đạp tỉ mẩn như thêu thùa, coi cái xưởng hàn sắt vụn của thằng Phúc này chỉ là phường làm ẩu, phá giá kiếm cơm thừa canh cặn. Giờ cổ tay sưng mộng lên, ôm đồm không nổi nữa mới nhớ tới cái xó này sao?
Bảo đứng nép sau lưng cô Mai, hai bàn tay siết chặt mép bìa sổ, tim đập thình thịch. Cậu từng nghe những lời xầm xì ác ý ngoài chợ cá: người ta bảo năm xưa chú Phúc từng căm ghét cô Mai thậm tệ vì cho rằng tiệm cô Mai mở ra sau nhưng lại giành hết mối sửa xe đạp của học sinh và đàn bà đi chợ, thậm chí còn có tin đồn cô Mai ngấm ngầm bớt tiền công để ép chú Phúc phải bỏ mảng xe đạp nhỏ lẻ mà dạt sang làm xe lôi, xe máy nặng nhọc.
Nhưng đối diện với lời khiêu khích hằn học ấy, cô Mai không hề chớp mắt. Giọng bà vang lên, rành rọt, đanh thép và sáng rõ giữa tiếng máy nổ rì rầm ngoài bến cá:
— Miệng lưỡi mấy bà buôn cá rảnh rỗi đặt điều ngoài chợ mà ông sống tới chừng này tuổi đầu vẫn còn ghim trong bụng để nuôi hận à? Năm năm trước, chiếc xe thồ chở ba tạ muối hột của lão Tám sụp ổ gà gãy vành, ông báo giá năm mươi ngàn tiền công rút căm đôi tán chì gia cố để chở tải nặng, lão tiếc tiền dắt qua tiệm tôi nài nỉ làm với giá ba mươi ngàn. Tôi bảo thẳng với lão: tôi chỉ thay cho lão bốn cây căm gãy rồi nắn lại vành thường, lấy đúng hai mươi ngàn cho nửa tiếng đồng hồ làm việc nhẹ, và tôi dặn rõ xe này từ nay chỉ được chở tối đa một tạ rưỡi rau dưa, ráng chở ba tạ muối nữa sụp vành chết ráng chịu. Lão Tám về bến bêu riếu bà Mai phá giá thằng Phúc. Ông làm căm đôi chịu tải ba tạ mà đi so đo với cái vành chở rau dưa ọp ẹp của tôi à?
Cô Mai ngẩng cao đầu, ánh mắt nhìn thẳng vào người thợ già đối diện:
— Thợ với nhau, tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau thì đơn giá nghiệm thu phải khác nhau! Tôi chưa bao giờ ăn bớt một xu tiền công mồ hôi của ai, và lại càng chưa bao giờ hạ giá để giật bát cơm của ông một ngày nào trong suốt hai mươi năm qua. Ông hiểu điều đó hơn ai hết, đừng giả bộ ấm ức nữa!
Sân xưởng bỗng chốc rơi vào một khoảng im lặng đến nghẹt thở. Chỉ còn tiếng tàn thuốc lá lách tách cháy đỏ rực trên đầu ngón tay chú Phúc. Người thợ già nhìn trừng trừng vào đôi mắt không hề né tránh của cô Mai suốt gần nửa phút đồng hồ. Cái vẻ gườm gườm, hung hãn ban đầu trên gương mặt đầy sẹo mạt sắt của chú dần dần chùng xuống, nhường chỗ cho sự trầm ngâm của một người trong nghề hiểu rõ từng chân tơ kẽ tóc của sắt thép. Chú Phúc biết bà nói thật. Chỉ có phường dân buôn dốt nát mới đánh đồng chiếc vành đan căm đôi tán chì chịu tải ba tạ với chiếc vành nắn sơ chở rau dưa.
Chú Phúc dí đầu mẩu thuốc lá xuống nền xi măng, nghiến nát tàn lửa dưới đế giày bảo hộ, rồi hất hàm cộc cằn về phía Bảo:
— Đưa cuốn sổ kỹ thuật đây cho tôi xem quy cách!
Bảo giật mình, vội vàng bước lên hai bước, mở đúng trang danh mục mười hai chiếc bánh xe đặt ngay ngắn lên bệ sắt chữ V.
Chú Phúc cầm cuốn sổ lên bằng những ngón tay đen nhẻm dầu mỡ. Ánh mắt sắc sảo của chú rà soát từng dòng chữ viết ngay ngắn:
— Bốn vành nhôm hai mươi sáu inch của xe cào cào, tám vành thép Thống Nhất sáu trăm năm mươi. Bốn cái căm rỉ chết chân ren phải cắt bỏ đan lại hoàn toàn, tám cái phải nắn méo ô-van... Hừm, thằng ranh con này đo độ đảo bằng mắt hay bằng cữ so mà ghi lệch tâm ba li với bốn li chi tiết thế này?
Bảo đứng nghiêm, lễ phép trả lời:
— Dạ thưa chú, cháu dùng cữ kẹp bằng thước cặp cơ khí cố định vào càng xe rồi quay chậm để đo khoảng cách hở mép vành; còn độ nhảy đứng thì cháu kê khối gỗ chuẩn dưới đáy lốp rồi dùng căn lá đo khe hở ạ.
Chú Phúc khẽ nhướn mày, khóe mắt lộ ra một tia ngạc nhiên hiếm hoi, nhưng giọng điệu vẫn cố giữ vẻ càu nhàu:
— Được cái tỉ mẩn chịu khó ghi chép, không đến nỗi rỗng tuếch như mấy thằng làm phong trào bữa trước. Giờ nói chuyện giá cả sòng phẳng: sáu bộ vành này, nếu là khách lẻ vãng lai ngoài đường dắt tới, mỗi cái vành nắn méo tôi lấy hai mươi lăm ngàn, vành cắt căm đan lại từ đầu tôi chém bốn mươi ngàn không bớt một cắc. Nhưng bà Mai đã đích thân vác mặt sang đây giao khoán thợ với thợ, tôi tính giá nội bộ: cào bằng mười lăm ngàn một chiếc cho tám cái vành chỉ nắn và khử đảo ngang; bốn chiếc vành phải cắt căm đan lại toàn bộ, tôi lấy hai mươi lăm ngàn một chiếc tiền công rút căm. Căm mới và chân ốc ren bà tự đem sang, tôi không chịu tiền vật tư. Tổng cộng mười hai cái bánh, sáu bộ vành: hai trăm hai mươi ngàn chẵn. Bớt một xu tôi không đụng tay vào, mà thêm một đồng tôi cũng tuyệt đối không thèm lấy của trường học. Tiền trao cháo múc, xong việc giao xe lấy tiền tươi!
Bảo đứng bên cạnh, các con số lập tức nhảy múa trong đầu cậu. Hai trăm hai mươi ngàn đồng cho trọn vẹn mười hai cái bánh xe được phục hồi bằng chính tay nghề rút căm số một của một thợ già chuyên làm xe lôi bến cảng! Con số đó vừa khít tưng bừng với khoản dự phòng nhân công phụ trợ mà cậu và cô Mai đã cân đối sau khi gạch bỏ khoản tiền sơn phủ thẩm mỹ lúc đầu giờ tối.
Cô Mai gật đầu dứt khoát, không một giây do dự:
— Được! Đúng hai trăm hai mươi ngàn đồng. Vật tư căm xe mới của bốn chiếc bánh đan lại, sáng mai thằng Bảo chở bánh sang sẽ giao đủ cho ông, lấy từ phụ tùng tháo dỡ còn tốt của sáu chiếc xác xe phế liệu. Tiêu chuẩn kỹ thuật của tôi giao cho ông: độ đảo ngang mép vành không được vượt quá một mi-li-mét, độ nhảy đứng không quá một mi-li-mét rưỡi. Má vành nhôm phải dùng bùi nhùi sắt đánh sạch rỉ sét để má phanh cao su bám đều, không bị giật cục khi bóp gấp. Đúng mười hai giờ trưa ngày mùng hai tháng chín, tôi sang nghiệm thu lấy hàng.
Chú Phúc cầm chiếc cờ-lê căm tròn nhỏ xíu trong tay gõ nhẹ một tiếng “cạch” đanh gọn lên bệ sắt:
— Bà khỏi cần dạy tôi cách cân vành! Cứ chở đồ sang đây, trưa mùng hai vác cữ so sang mà lắc thử. Nếu có cái vành nào đảo quá một li hay nhảy đứng quá một li rưỡi, tôi đền tiền công gấp đôi và tự vác xe sang tiệm bà tạ lỗi!
Cuộc thương lượng kỹ thuật kết thúc trong vỏn vẹn chưa đầy mười lăm phút đồng hồ. Không có một lời xưng tụng nhân đạo hoa mỹ, không có một câu xin xỏ nhân danh lòng thương hại người nghèo. Hai người thợ già từng mang mối hiềm khích suốt năm năm trời đã đối đãi với nhau bằng sự lạnh lùng của những con số dung sai cơ khí và một mức giá sòng phẳng đến từng đồng bạc lẻ.
Khi Bảo theo gót cô Mai bước ra khỏi cổng tiệm, gió biển từ mép nước bến cá thổi tạt vào mặt mát rượi. Bóng tối của những con ngõ ngoằn ngoèo ở thị trấn dường như không còn vẻ ngột ngạt, đè nén như mọi khi; sức nặng của những hiểu lầm năm cũ đã được tháo dỡ sạch sẽ chỉ bằng một cuộc đối thoại sòng phẳng giữa những con người sống bằng bàn tay và khối óc.
***
Sáng hôm sau, khi những tia nắng vàng nhạt đầu tiên của ngày mới vừa xuyên qua ngọn những cây phi lao dọc bờ đê, Bảo đạp chiếc xe đạp đầm cũ chở theo tập hồ sơ dự toán đã điều chỉnh cùng bản phương án bàn giao kỹ thuật chạy thẳng sang Trường THCS Hải An.
Không khí chuẩn bị cho ngày khai giảng năm học mới đã rộn ràng khắp không gian ngôi trường ven biển. Mùi vôi mới quét trên các bức tường lớp học hòa lẫn với mùi lá bàng khô bị quét dọn đốt cháy âm ỉ ở góc sân. Dọc theo hành lang ban công tầng hai của dãy nhà chữ U, các bác bảo vệ đang cặm cụi giăng những dải cờ dây tam giác bằng vải dù đủ màu sắc xanh đỏ tím vàng, phần phật bay trong gió sớm.
Tại văn phòng Đội nằm ở cuối dãy hành lang tầng trệt, cửa sổ mở toang đón gió mát từ vườn cây sau trường. Cô Hạnh đang ngồi bên bàn làm việc duyệt lại xấp hồ sơ học sinh nghèo vượt khó, bên cạnh cô là thầy Nghĩa—giáo viên dạy bộ môn Vật lý kiêm giáo viên chủ nhiệm của lớp 8A. Thầy Nghĩa trạc ngoài ba mươi tuổi, dáng người gầy guộc, mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh nhạt giản dị, đôi mắt sáng và cương trực sau cặp kính cận gọng đồi mồi.
Thấy Bảo ôm cặp bước vào cửa, cô Hạnh ngẩng lên mỉm cười đôn hậu, kéo chiếc ghế gỗ đối diện mời cậu:
— Bảo vào đây ngồi đi em. Cô với thầy Nghĩa đang đợi em sang để bàn bạc và chốt dứt điểm một quy trình vô cùng quan trọng cho việc vận hành đội xe mượn sau ngày khai giảng.
Bảo ngồi xuống mép ghế, khẽ cúi đầu chào hai thầy cô. Cậu hơi ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện của thầy Nghĩa trong một buổi làm việc mang tính chất điều phối nội bộ này:
— Dạ thưa cô Hạnh, cháu tưởng chương trình xe mượn này trước giờ do một mình cô trực tiếp phụ trách tiếp nhận và theo dõi học sinh thôi ạ?
Cô Hạnh điềm đạm với tay lấy tập bìa còng màu xanh đậm mang nhãn *Hồ sơ quản lý tài sản công vụ* đặt lên bàn, ngón tay khẽ miết lên mép giấy phẳng phiu:
— Một chương trình mượn xe phục vụ học sinh nghèo dựa trên tài sản công của nhà trường thì không bao giờ được phép phụ thuộc vào sự hiện diện của một cá nhân duy nhất, dù người đó có tâm huyết hay nhiệt tình đến đâu đi nữa, Bảo à. Sang đầu tháng mười tới, Sở Giáo dục có mở một đợt tập huấn chuyên môn nghiệp vụ Tổng phụ trách Đội đột xuất kéo dài tròn hai tuần ở tít trên tỉnh lỵ, cô bắt buộc phải đi công tác xa. Nếu chương trình này không có một người dự phòng nắm vững toàn bộ quy chuẩn, lỡ xe của các em bị thủng săm, đứt xích dọc đường, hoặc có trường hợp va quẹt cần đưa sang tiệm cô Mai để bảo dưỡng định kỳ vào sáng thứ Hai đầu tháng theo thỏa thuận, thì lúc đó ai sẽ là người ký giấy mở kho, ai đối chiếu mã số khung sắt, ai ghi nhận vào sổ theo dõi cho tiệm làm việc?
Thầy Nghĩa đẩy nhẹ gọng kính cận lên sống mũi, mỉm cười hòa nhã tiếp lời bằng chất giọng ấm áp:
— Thầy dạy môn Vật lý nên mấy nguyên lý truyền động cơ học, đòn bẩy với ma sát của xe đạp thầy nắm rất rõ. Cô Hạnh đã phổ biến cặn kẽ cho thầy toàn bộ quy chế hoạt động: xe giao cho học sinh là tài sản mượn vô thời hạn của nhà trường, thủ tục giao nhận phải tuyệt đối tế nhị và bảo mật để giữ gìn lòng tự trọng cho các em; đồng thời việc bảo dưỡng kỹ thuật phải tuân thủ nghiêm ngặt theo nhật ký của tiệm cô Mai. Thầy sẽ là người giữ bộ chìa khóa kho dự phòng thứ hai cùng một cuốn sổ theo dõi đồng bộ với cô Hạnh. Dù cô Hạnh có đi tập huấn hay bận việc đột xuất, học trò gặp sự cố dắt xe vào trường vẫn có thầy tiếp nhận ngay lập tức, ký giấy chuyển giao sang tiệm cô Mai trong vòng mười lăm phút, tuyệt đối không để một đứa trẻ nào phải lội bộ năm sáu cây số đến trường chỉ vì vướng mắc thủ tục hành chính.
Nghe những lời phân tích thấu đáo ấy, lồng ngực Bảo dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc trước tầm nhìn tổ chức của cô Hạnh và thầy Nghĩa. Dự án xe đạp này không phải là một đợt làm từ thiện nhất thời theo kiểu "phát quà xong rồi phủi tay bỏ mặc"; nó đang được những người làm giáo dục chân chính thiết kế thành một hệ thống vận hành bền bỉ, có cơ chế kế thừa, có mắt xích dự phòng vững chắc để loại trừ hoàn toàn mọi rủi ro gián đoạn việc học tập của những đứa trẻ nghèo như bé Linh.
Bảo mở chiếc cặp da, kính cẩn lấy ra tờ biên bản bàn giao kỹ thuật đợt một cùng bảng dự toán chi phí đã được cậu và cô Mai điều chỉnh đêm qua, trải phẳng phiu lên mặt bàn:
— Dạ thưa cô Hạnh, thưa thầy Nghĩa, cháu xin phép báo cáo tiến độ kỹ thuật của xưởng. Toàn bộ khâu nan giải nhất của sáu chiếc xe đợt đầu là phần phục hồi mười hai cái bánh xe cong vênh đã được giải quyết xong xuôi. Tiệm chúng cháu đã ký hợp đồng gia công khoán gọn với chú Phúc bên bến cá để xử lý toàn bộ mười hai chiếc vành với đơn giá sòng phẳng là hai trăm hai mươi ngàn đồng chẵn. Để có đủ tiền thanh toán khoản này mà không vượt quá ngân sách ứng trước của trường, tiệm cháu đã thống nhất cắt bỏ hoàn toàn một trăm phần trăm chi phí sơn phủ thẩm mỹ bên ngoài, dồn toàn bộ số tiền đó sang mua xích mới, má phanh cao su chịu lực loại tốt và săm lốp Sao Vàng. Tiền mặt của trường chi trả cho đợt một vừa khít đến từng ngàn đồng, và khoản tiền một triệu hai trăm ngàn đồng dự phòng hao mòn học kỳ I trong két sắt của cô vẫn được bảo toàn nguyên vẹn, không suy suyển một xu.
Cô Hạnh cầm tờ dự toán lên, cặp mắt chăm chú lướt qua từng con số rành mạch, từng dòng ghi chú kỹ thuật chi tiết. Ánh mắt cô sáng lên vẻ hài lòng sâu sắc. Cô gật đầu thật mạnh:
— Cách làm việc của hai cô cháu là vô cùng khoa học và có trách nhiệm! Bỏ đi lớp sơn hào nhoáng bên ngoài để giữ lấy sự an toàn và phẩm chất cốt lõi bên trong, đó mới chính là tinh thần giáo dục đích thực mà nhà trường chúng tôi hướng tới. Thầy Nghĩa xem qua rồi ký nháy vào góc dưới biên bản lưu trữ giúp cô, để chiều nay cô cho nhập vào hồ sơ tài sản công vụ của trường.
Thầy Nghĩa cầm chiếc bút bi mực xanh, cẩn thận ký một chữ ký sắc sảo vào góc dưới tờ giấy. Tiếng ngòi bút miết sột soạt trên mặt giấy phẳng phiu vang lên giòn giã trong gian phòng tĩnh lặng. Chữ ký ấy như một sự bảo chứng chắc chắn rằng: sự minh bạch, liêm chính và tính quy củ của những người thợ cơ khí đã biến một việc làm tự phát thành một quy trình công vụ đàng hoàng, được pháp lý và nhà trường công nhận trọn vẹn, không một ai có thể bẻ cong hay lợi dụng lòng tốt ấy cho mục đích cá nhân được nữa.
***
Đúng mười hai giờ trưa, Bảo đạp xe quay trở lại Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn.
Cái nắng gay gắt cuối tháng Tám đổ lửa xuống mặt đường nhựa của thị trấn ven biển, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt làm méo mó cảnh vật từ xa. Không khí trong tiệm hầm hập như một lò bánh mì nung dở. Dưới mái tôn thấp lè tè, cô Mai đang lúi húi dùng tay trái vịn chặt chiếc giỏ sắt méo mó của một chiếc xe đầm mini, tay phải dùng kìm kẹp giữ chặt con ốc han rỉ để siết lại chốt giỏ cho một bà cụ bán vé số dạo ghé qua nhờ sửa hộ.
Thấy Bảo dựng xe bước vào, mồ hôi ướt đẫm lưng áo, cô Mai không ngẩng lên, chỉ dùng cùi chỏ hất nhẹ về phía góc bàn bên trong:
— Cơm canh tôi úp sẵn trong lồng bàn trên bàn gỗ kia kìa. Rửa tay rồi vào ăn đi, tranh thủ chợp mắt nửa tiếng. Đầu giờ chiều hai cô cháu mình phải khiêng mười hai cái bánh xe với rổ căm phụ tùng sang giao cho tiệm thằng Phúc đấy.
Bảo khẽ dạ một tiếng, nhưng cậu không vội mở lồng bàn ăn cơm. Cậu kéo chiếc ghế đẩu gỗ, với tay mở chiếc máy tính xách tay cũ kỹ của mình đặt lên góc bàn đã được lau sạch vệt dầu. Màn hình máy tính bật sáng le lói, hiển thị tệp tài liệu bảng tính mang tên `DU_AN_XE_DAP_THCS_HAI_AN.xlsx`.
Bảo bắt đầu thao tác trên bàn phím, cập nhật lại toàn bộ bảng tính thu chi theo đúng thực tế đã diễn ra trong hai mươi bốn giờ qua: - Dòng mục *Sơn lót và sơn phủ màu thẩm mỹ*: cậu nhập con số 0 tròn trĩnh, kèm ghi chú rõ ràng: *Đã cắt bỏ hoàn toàn để chuyển đổi sang danh mục an toàn động lực*. - Dòng mục gia công ngoài mới: *Hợp đồng khoán cân vành 12 bánh xe (Xưởng chú Võ Hữu Phúc) — Đơn giá: 220.000 đồng (Bao gồm 4 bánh đan căm mới + 8 bánh nắn méo khử đảo ngang, nhảy đứng)*. - Cập nhật chi tiết cột vật tư an toàn thay mới: *6 bộ má phanh đúc rãnh thoát bùn, 6 cặp cáp bọc nylon chống mặn, 2 sợi xích hộp mới tinh, 4 cặp săm lốp Sao Vàng chịu tải*.
Sau khi rà soát toàn bộ các công thức tính toán tự động, ánh mắt Bảo dừng lại ở phần dưới cùng của bảng tính—cột mục mang tên: *Định mức ngày công kỹ thuật thợ chính*.
Theo đúng định mức lao động kỹ thuật chuyên ngành cơ khí phục hồi mà Bảo từng được học từ các tài liệu quản trị xưởng, toàn bộ các công đoạn kiểm định độ mỏi của khung kim loại, rã rời từng chi tiết, ngâm dầu tẩy rỉ sét, cạo sạch muội than trong các ống rỗng, vô mỡ bò chịu mặn cho sáu bộ chén cổ và trục giữa, cùng công đoạn lắp ráp, căn chỉnh đồng tốc cho sáu chiếc xe đợt một tương đương với ít nhất bốn mươi tám giờ làm việc tập trung cao độ của một thợ chính bậc cao. Quy đổi theo giá công thợ bình dân nhất tại thị trấn Hải An hiện nay, giá trị lao động đó tuyệt đối không thể dưới bảy trăm ngàn đồng.
Ngay từ ngày đầu tiên bắt tay vào dự án, cô Mai đã gạt phăng khoản này. Bà bảo toàn bộ công sức của bà và Bảo đều là phần đóng góp chuyên môn tự nguyện của tiệm dành cho học trò nghèo của thị trấn, tuyệt đối không được ghi đòi hỏi hay thu bất kỳ một đồng nào từ khoản ngân sách eo hẹp của nhà trường.
Trong những bản dự toán trước đây, vì non nớt và muốn cho bảng cân đối thu chi trông thật vừa vặn, không bị mang tiếng là thâm hụt ngân sách, Bảo đã từng ngây thơ gõ con số 0 tròn trĩnh vào ô tiền công của cô Mai.
Nhưng trưa nay, khi ngón tay cậu đặt lên phím số, cậu bỗng khựng lại.
Trước mắt Bảo hiện lên hình ảnh vết sưng đỏ ửng tấy lên trên khớp cổ tay phải của người phụ nữ bốn mươi chín tuổi dưới lớp băng thun sờn rách. Cậu nhớ lại mùi dầu hôi nồng nặc bốc lên từ làn da chai sần của bà suốt những đêm thức trắng cặm cụi gõ búa, nắn từng chiếc càng xe bị lệch. Cậu nhớ lại dáng vẻ cô Mai thản nhiên bước sang tiệm chú Phúc đêm qua để đòi lại sự sòng phẳng cho nghề nghiệp, và nhớ sâu sắc bài học đanh thép mà chú Phúc đã ném vào mặt cậu: *“Mồ hôi nước mắt của người thợ không phải là thứ đồ bỏ đi để thiên hạ đem ra ban phát miễn phí rồi coi như không có giá trị!”*
Nếu cậu xóa trắng con số đó, nếu cậu tiếp tục ghi vào đó một con số 0 vô nghĩa, thì cậu chẳng khác nào đang phủ nhận hoàn toàn giá trị mồ hôi và sự hao mòn thể xác của cô Mai. Làm việc thiện không có nghĩa là biến sức lao động của người thợ thành một thứ vô hình, rẻ rúng và không đáng được ghi nhận.
Bảo hít một hơi thật sâu, dứt khoát không xóa con số bảy trăm ngàn đồng.
Cậu tạo thêm một cột phụ nằm ngay bên cạnh, đặt tiêu đề bằng chữ in hoa đậm nét: *GIÁ TRỊ NGÀY CÔNG KỸ THUẬT THỰC TẾ: 700.000 ĐỒNG*.
Và ngay bên dưới dòng tổng cộng chi phí thanh toán, cậu lập một công thức trừ đối ứng minh bạch: *Khoản đóng góp chuyên môn tự nguyện giảm trừ của Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn: -700.000 ĐỒNG*.
Con số cuối cùng hiển thị ở ô tiền mặt nhà trường phải thanh toán vẫn là con số 0 đồng tròn trĩnh. Không một đồng ngân sách nào bị lạm chi. Nhưng trên mặt văn bản, trên những con số kế toán lạnh lùng, giá trị lao động của người thợ không hề biến mất. Nó nằm sừng sững ở đó, đường hoàng, ngay ngắn, như một lời nhắc nhở đanh thép cho bất kỳ ai cầm vào bản quyết toán này: sáu chiếc xe đạp an toàn sắp sửa lăn bánh đưa những đứa trẻ nghèo đến trường vào ngày khai giảng không phải tự nhiên rơi xuống từ lòng hảo tâm vô hình nào đó trên trời, mà nó được dựng nên từ chính mồ hôi, từ sự nhức nhối của những khớp xương thoái hóa và phẩm giá lao động không thể chối cãi của những người thợ cơ khí chân lấm tay bùn.
Tiếng bước chân lẹp xẹp của đôi dép tổ ong vang lên sau lưng. Cô Mai tiễn người khách bán vé số ra cửa, bước lại gần chiếc bàn gỗ, cúi đầu nhìn vào màn hình máy tính qua bờ vai áo bạc màu của Bảo.
Bà đứng lặng thinh hồi lâu. Ánh mắt từng trải của người đàn bà làm nghề búa kìm dừng lại rất lâu trên dòng chữ *GIÁ TRỊ NGÀY CÔNG KỸ THUẬT THỰC TẾ: 700.000 ĐỒNG*, rồi lướt sang dòng *Giảm trừ tự nguyện của tiệm*.
Không có một lời khen ngợi sáo rỗng hay xúc động thừa thãi nào buột ra khỏi miệng bà. Cô Mai chỉ khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ—một tiếng thở dài như trút bỏ được một gánh nặng vô hình bấy lâu nay. Bà vươn bàn tay thô ráp, gõ mạnh một cái vào bả vai săn chắc của cậu học việc:
— Ghi chép như vậy... mới là đứa biết tôn trọng cái nghề của mình. Thôi, mau ăn cơm đi, chiều còn nhiều việc phải làm lắm đấy.
Bảo mỉm cười, gấp chiếc máy tính lại. Lồng ngực cậu trào dâng một cảm giác vững chãi, thanh thản đến lạ lùng.
Bên ngoài hiên tiệm, cơn gió biển từ cửa sông bắt đầu thổi thốc vào đất liền, mang theo vị mặn mòi quen thuộc của muối và nắng gió bãi ngang. Và từ phía bên kia con phố ngập tràn ánh nắng chói chang, vẳng lại qua những rặng phi lao xào xạc, tiếng búa gõ vành sắt của chú Phúc bắt đầu vang lên từng nhịp đều đặn, giòn giã: *boong... boong... boong...*
Những âm thanh kim loại chắc nịch ấy ngân vang trong không gian trưa hè, báo hiệu rằng những mắt xích công việc thầm lặng đã bắt đầu ăn khớp hoàn hảo vào nhau.