Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.36 / 40
Chapter 36

Mùi bánh cam của ký ức

Lớp bột mì mịn rớt xuống thềm gạch đỏ vỡ vụn trong khoảnh khắc Bách buông rơi chiếc thìa gỗ, đôi mắt kèm nhèm ngân ngấn nước nhìn trân trối vào người học trò cũ sau ba năm xa cách.

Chiếc thìa tiện bằng gỗ dẻ gai rơi sượt qua ống quần bảo hộ đã bạc màu, đập khẽ vào gờ thềm gạch nung rồi nằm trơ trên những hạt bột trắng xốp vừa văng ra tung tóe. Một vệt bụi phấn mỏng manh bay là là sát mặt đất, cuốn theo hơi gió luẩn quẩn nơi mép hiên, rồi chầm chậm tan biến vào không khí giá buốt của buổi sớm vùng cao. Nhưng người đàn ông đứng tựa nơi ngạch cửa dường như không hề hay biết đến sự rơi vỡ ấy. Toàn bộ thân hình gầy guộc của ông cứng đờ lại giữa khoảng không gian vừa được ánh bình minh rọi sáng, hai cánh tay buông thõng bên sườn run lên từng chặp, những ngón tay gầy guộc khẳng khiu co giật nhè nhẹ như đang cố bấu víu vào một điểm tựa vô hình trong tâm tưởng.

Gió từ mặt hồ Tuyền Lam thổi thốc qua rặng thông già, mang theo hơi nước buốt lạnh và tiếng xào xạc của vòm lá rậm rạp. Hơi lạnh ngấm qua từng lớp rêu ẩm bám trên vách gỗ thông, phả vào da thịt cái tê buốt đặc trưng của những thung lũng khép kín, nơi ánh mặt trời chỉ rọi tới khi sương mù đã trút cạn giọt nước cuối cùng xuống lòng đất đỏ bazan. Nhưng giữa khoảng sân nhỏ của căn nhà gỗ nép mình dưới doi đất biệt lập, dường như mọi chuyển động của thời gian đã ngưng bặt. Không còn tiếng thông reo đại ngàn, không còn tiếng mái chèo khua nước từ một con thuyền câu xa tít tắp nơi vịnh nhỏ, cũng chẳng còn tiếng củi thông cháy âm ỉ vọng ra từ chái bếp sau nhà. Từng hạt bụi phấn trắng xóa bay lơ lửng trong luồng sáng ban mai rực rỡ, chiếu rọi bờ vai gầy guộc run rẩy của người thợ già, rọi lên vết sẹo bỏng hình chữ V trên mu bàn tay phải – dấu ấn của những năm tháng gắn chặt đời mình bên ngọn lửa lò nướng.

Bách nuốt khan một ngụm khí lạnh buốt, đôi môi nứt nẻ giật giật từng cơn. Mi mắt ông rung rinh, những nếp nhăn xếp tầng nơi đuôi mắt chùng xuống, rưng rưng ứa ra hai giọt lệ đục ngầu của tuổi già và nỗi thống khổ tích tụ qua năm tháng. Ông muốn cất lời, muốn gọi tên người con gái đang đứng ngay trước mặt mình bằng tất cả sự vồ vập của một người cha tìm lại được đứa con thất lạc, nhưng cuống họng khô khốc chỉ phát ra những âm thanh rạn vỡ, nghẹn ứ:

“Nhiên... con... thật sự là con...”

Nhiên đứng chôn chân bên bờ rào dâm bụt, ngực phập phồng sau lớp áo khoác dạ. Gió hồ tạt vào vạt áo làm bay những sợi len sờn, nhưng cô dường như chẳng hề cảm nhận được cái lạnh đang len lỏi qua từng thớ vải. Hai bàn tay cô bấu chặt lấy quai đeo của chiếc ba lô thô nhám. Ba lô chứa chiếc hũ sứ men cái gia truyền của mẹ Thu Hà vẫn được cô ghì chặt trước ngực, như một chỗ dựa duy nhất giữ cho đôi chân không khuỵu xuống giữa thảm cỏ đẫm sương. Khối gốm tròn trịa, mát lạnh bên trong lớp vải bọc tỏa ra một cảm giác đầm tay quen thuộc, như mang theo linh hồn của căn bếp cũ, như mang theo hơi thở của những mẻ bánh gối thơm nức mùi bơ Đơn Dương thuở nào. Nước mắt trào ra khóe mi, làm nhòe đi mái tóc bạc trắng như tuyết sương của thầy, làm nhòe cả chiếc tạp dề bao bố sờn rách mép mà ông vẫn quen đeo từ những ngày còn ở hẻm Hoa Đăng. Chiếc tạp dề ấy đã ngả sang màu vàng đất, nơi vạt trước vẫn còn vương những vết ố của mạch nha và bột khét – những dấu tích không bao giờ phai mờ của một đời thợ bánh lầm lũi bên lò than đỏ rực.

Bên cạnh cô, Thịnh khẽ dịch bước chân, đôi giày leo núi dẫm lên lớp lá thông khô phát ra một tiếng lạo xạo khẽ khàng. Bàn tay ấm áp của anh vẫn đặt nhẹ nơi bả vai cô như một điểm tựa vững chãi, nhắc nhở cô rằng đây không phải là một giấc mơ ảo ảnh của những đêm dài mê sảng, không phải là ảo giác sinh ra từ những cơn mộng du chập chờn sau những ca nướng bánh thâu đêm suốt sáng. Hơi ấm từ lòng bàn tay Thịnh truyền qua lớp dạ dày, giữ cho lồng ngực đang run rẩy của Nhiên không vỡ òa thành một cơn nấc bấn loạn. Anh đứng đó, trầm mặc và điềm tĩnh, đôi mắt đen sâu thẳm dõi nhìn người thợ già với tất cả sự thấu hiểu xót xa của một người từng nếm trải nỗi đau tan nát của sự phân ly.

Bách run rẩy bước từng bước khó nhọc qua thềm gạch, đôi ủng cao su màu rêu sờn lấm tấm bùn đỏ. Những ngón chân bên trong lớp ủng dường như không còn nghe theo sự điều khiển của ý chí, khiến mỗi bước đi của ông chao đảo như một thân cây mục trước cơn dông lốc. Người đàn ông từng một thời nghiêm cẩn và kiêu hãnh của giới làm bánh nay còng lưng xuống vì gánh nặng năm tháng, run rẩy đưa cánh tay gầy guộc ra, muốn chạm vào vai Nhiên nhưng lại rụt lại giữa chừng vì sợ hãi, như thể ông tự thấy bàn tay mình không còn đủ tư cách để che chở cho cô gái nhỏ. Ông nhìn vào đôi mắt đỏ hoe của cô, rồi lại nhìn xuống chiếc ba lô đang ghì chặt trước ngực học trò, nơi ông lờ mờ nhận ra hình dáng quen thuộc của hũ men cái năm nào.

“Vào đi... hai đứa... vào trong nhà đi con. Gió hồ sáng sớm độc lắm,” giọng ông Bách lạc đi, vỡ vụn như mảnh gốm nứt. Ông cố gượng một nụ cười mếu máo, những nếp nhăn nơi khóe miệng run rẩy dữ dội. “Vào đây với thầy... với cô Mai...”

Thịnh khẽ gật đầu chào người thợ già với ánh mắt đầy vẻ cung kính và thấu hiểu, rồi nhẹ nhàng đỡ lấy khuỷu tay Nhiên, cùng cô bước qua bậc thềm gỗ thông. Từng thớ gỗ thông xẻ dày cộp dưới chân hơi lún nhẹ, kêu lên tiếng cót két khô khốc của loài gỗ rừng đã ngậm no sương gió qua bao mùa mưa nắng.

Mè chạy thoăn thoắt phía trước, chiếc đuôi đen tuyền vẫy cao kiêu hãnh. Bốn bàn chân đệm thịt êm ái của con vật lướt nhẹ qua bậu cửa không phát ra một tiếng động nhỏ. Vừa bước qua cánh cửa gỗ mở rộng, con mèo đen liền phi thân bằng một cú nhảy nhẹ tênh, đáp gọn gàng lên tấm chăn dạ phủ trên đùi bà Mai. Nó không ngần ngại rúc đầu vào lòng bàn tay gầy gò của người phụ nữ ngồi trên xe lăn, phát ra những tiếng “gừ... gừ...” trầm ấm, nũng nịu đòi vuốt ve như thể bốn năm xa cách chỉ là một giấc ngủ trưa ngắn ngủi bên thềm nắng.

Gian phòng khách nhỏ ngập tràn ánh nắng sớm xuyên qua khung cửa sổ hướng thẳng ra mặt nước biếc. Không gian ấm sực, đượm nồng mùi gỗ thông khô cháy trong lò sưởi âm tường, hòa quyện với mùi vỏ cam sành nướng giòn và hương thảo mộc ngọt ngào, thoang thoảng chút hăng nhẹ của nhựa thông và rễ cam thảo sao vàng. Đó là một mùi hương lạ lùng, vừa thanh khiết vừa mang vị thuốc, vừa gợi nhớ đến những gian bếp cổ xưa của xứ sở sương mù vừa ẩn chứa sự nhẫn nại vô bờ của một người đang ngày đêm tìm kiếm sự bình yên cho tâm trí người bạn đời. Trên chiếc bàn gỗ mộc thô ráp đặt ở giữa phòng, một chiếc ấm đất nung đang reo những tiếng tí tách khe khẽ, khói trắng lượn lờ vấn vít lấy những dầm gỗ trần nhà đã ngả màu nâu bóng vì bồ hóng và thời gian.

Bà Mai ngồi đó, giữa chiếc xe lăn bằng gỗ thông mộc mạc do chính tay Bách đẽo gọt. Những đường bào ráp còn thô ráp nơi tay vịn, chiếc gác chân ghép từ những mảnh gỗ thừa nhẵn thín vết ma sát của bàn chân người bệnh, tất cả đều nói lên sự cần mẫn tỉ mẩn của một người thợ mộc bất đắc dĩ. Tóc bà hoa râm, từng sợi bạc xen lẫn sợi đen được búi gọn gàng phía sau gáy bằng một chiếc kẹp tre mộc, bên thái dương vẫn cài một nhành hoa xuyến chi dại còn đọng giọt sương mai long lanh. Chiếc khăn len sợi thô màu xám tro viền cam sẫm mà Nhiên từng thấy trong bức ảnh của Gia Huy đang quàng kín đôi vai gầy của bà, che đi sự gầy guộc teo tóp của một cơ thể đang dần tàn tạ.

Nghe tiếng động lạ, bà Mai chậm rãi nghiêng đầu sang một bên. Đôi mắt bà đục mờ, mang cái nhìn bàng bạc, lơ đãng của người đang chìm sâu trong màn sương mù dày đặc của chứng suy giảm trí nhớ thoái hóa. Ánh mắt ấy lướt qua những dầm gỗ, lướt qua làn khói ấm bốc lên từ ấm trà đất, rồi dừng lại trên lưng Mè đang cuộn tròn trên đùi mình. Bà mỉm cười ngây ngô, một nụ cười vô ưu vô lo như của một đứa trẻ chưa từng nếm mùi trần thế, rồi những ngón tay gầy guộc khẽ luồn vào lớp lông đen mượt của nó vuốt ve theo bản năng.

Rồi bà ngẩng lên.

Ánh mắt bàng bạc ấy chạm vào gương mặt đẫm lệ của Nhiên.

Căn phòng bỗng chìm vào một sự im lặng kỳ lạ, chỉ còn tiếng củi thông lách tách nổ trong lò sưởi, tiếng tàn tro rụng xuống đáy lò bằng gang và tiếng thở dốc đầy nghẹn ngào của Nhiên.

Nhiên run rẩy buông chiếc ba lô xuống ghế băng, đôi vai chùng xuống dưới gánh nặng vô hình của bốn năm dằn vặt. Cô chầm chậm quỳ một chân xuống bên cạnh chiếc xe lăn, hai đầu gối chạm vào sàn gỗ thông nhám ráp. Khoảng cách gần đến mức cô có thể nhìn rõ những nếp nhăn nông sâu nơi khóe mắt người phụ nữ đã từng cùng mẹ mình gầy dựng những mẻ bánh đầu tiên bên đồi thông. Gương mặt bà Mai gầy guộc đi nhiều, làn da đồi mồi xanh xao lộ rõ những mạch máu nhỏ li ti dưới thái dương. Từ người bà Mai tỏa ra một mùi hương vừa xa xăm vừa thân thuộc đến quặn thắt – mùi tinh dầu vỏ cam dịu nhẹ, mùi lá cam thảo và mùi của một người cả đời sống trong sự chở che của gian bếp gia đình. Đó là mùi hương của những chiều mưa Đà Lạt thuở Nhiên còn thơ dại, khi cô ngồi nép bên bậu cửa nhìn mẹ Hà và cô Mai cùng nhau nặn từng chiếc bánh sừng bò, tiếng cười nói giòn tan át cả tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn.

“Cô... cô Mai...” Nhiên nghẹn ngào gọi, tiếng gọi chìm nghỉm trong hơi thở run rẩy, từng âm tiết nghẽn lại nơi vòm họng.

Bà Mai chớp mắt chậm rãi, đầu hơi nghiêng về phía trước, ánh nhìn chăm chú nhưng hoang hoải như một đứa trẻ đang cố nhận diện một món đồ chơi cũ bị vùi sâu dưới đáy rương kỉ niệm. Bàn tay khô ráp, nổi rõ những đường gân xanh ngoằn ngoèo của bà từ từ rời khỏi bộ lông mềm mượt của Mè, ngập ngừng đưa ra giữa không trung. Lòng bàn tay ấy run rẩy, chới với như đang quờ quạng tìm kiếm một điểm bấu víu giữa khoảng không vô định. Nhiên không do dự một giây nào, vội vã đưa cả hai bàn tay mình đón lấy bàn tay gầy gò của bà, ấp chặt vào lòng bàn tay mình.

Khoảnh khắc làn da hai người chạm vào nhau, Nhiên khẽ rùng mình một cái.

Bàn tay của Nhiên vẫn còn vương vấn mùi bột mì ủ chua, mùi men sống T-W-65 mộc mạc và hương bơ lạt Đơn Dương – thứ mùi hương đã ngấm sâu vào từng lỗ chân lông, từng thớ thịt của cô suốt bốn năm ròng rã bên quầy bánh ca đêm. Đó không phải là mùi nước hoa nhân tạo, cũng chẳng phải mùi thơm ngọt ngào của những chất phụ gia công nghiệp, mà là mùi vị chân chất, sống động của những tế bào men đang sinh sôi, của men cái được truyền đời qua bao mùa mưa nắng, của hơi ấm nhào nặn bằng tất cả mồ hôi và nước mắt.

Bà Mai khẽ giật mình. Đôi mắt đục mờ bỗng nhiên co thắt lại. Những ngón tay già nua, khô cằn của bà siết lấy mu bàn tay Nhiên bằng một sức lực bất ngờ, rồi bà đưa bàn tay ấy lại gần mũi mình, hít một hơi thật sâu. Lồng ngực lép kẹp của bà phập phồng sau lớp áo len thô. Một luồng xúc cảm vô hình tựa như dòng điện chạy qua cơ thể gầy yếu của bà, làm rung lên từng sợi gân, từng thớ cơ đã ngỡ như hóa đá. Lớp sương mù bảng lảng, u tối trong đáy mắt người phụ nữ bỗng chốc rẽ lối, để lộ một tia sáng minh mẫn, trong veo và ấm áp lạ kỳ bất chợt bừng nở.

Ký ức, bằng một cách kỳ diệu nào đó vượt qua mọi tổn thương của các nơ-ron thần kinh thoái hóa, đã bừng thức dưới sự dẫn dắt của mùi hương men bánh thân thuộc.

Bà Mai mỉm cười. Nụ cười không còn nét ngây dại vô hồn của một người đã quên hết thế gian, mà rạng rỡ, bao dung như một người mẹ đón đứa con đi xa trở về sau muôn trùng bão táp. Bà khẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay còn lấm lem bụi bột của cô gái trẻ, cất giọng thì thào, trầm ấm và tròn vành rõ chữ:

“Mùi men của con bé... Nhiên bột nhỏ... Con đã về rồi đấy ư?”

Hai tiếng “Nhiên bột nhỏ” vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch như một nhát búa đập tan tành bức tường băng giá đã giam cầm tâm hồn Lạc Nhiên suốt bốn năm qua.

Đó là cái tên mà chỉ có mẹ Thu Hà và cô Mai thường gọi cô mỗi buổi chiều tà tại căn nhà dưới chân đèo, khi cô gái mười sáu tuổi phụng phịu vì nhào bột không đúng thớ, làm bột dính đầy lên chóp mũi và hai bên má. Mỗi lần như thế, cô Mai lại bật cười khúc khích, lấy góc tạp dề lau đi vệt bột trên trán cô rồi dúi vào tay cô một mẩu bánh mì nướng giòn rụm vừa ra lò. Cái tên ấy đại diện cho những ngày tháng êm đềm nhất, trong trẻo nhất của cuộc đời cô, trước khi ngọn lửa tai ương thiêu rụi tất cả, biến cô thành một cái bóng vật vờ sống trong bóng tối của hẻm Hoa Đăng.

“Vâng... là con đây cô... Con là Nhiên đây cô Mai ơi...” Nhiên gục đầu xuống đầu gối bà Mai, òa khóc nức nở như một đứa trẻ lạc loài vừa tìm thấy mái nhà xưa.

Nước mắt nóng hổi thấm đẫm lớp chăn dạ trên đùi bà, thấm qua từng sợi len thô, truyền hơi ấm của nỗi thống khổ vào da thịt người phụ nữ già. Toàn thân Nhiên rung lên bần bật. Bốn năm trời kìm nén, bốn năm trời tự trừng phạt bản thân bằng sự cô độc, bốn năm trời không dám cất lên một tiếng khóc tròn vẹn vì sợ đánh thức những bóng ma quá khứ, giờ đây vỡ òa ra thành những dòng thác buốt nhói. Cô ôm lấy đôi chân gầy guộc của cô Mai, áp gò má đẫm lệ vào lớp dạ xám, mặc cho những tiếng nấc xé toang lồng ngực.

Bà Mai khẽ luồn những ngón tay gầy guộc vào mái tóc Nhiên, vuốt ve từng lọn tóc rối bằng sự ân cần thuần khiết nhất. Những ngón tay run rẩy chạm vào gáy cô, nhẹ nhàng vỗ về như thuở cô còn là một đứa trẻ sợ bóng tối. Nhưng tia sáng minh mẫn của tâm trí thoái hóa thường chỉ lóe lên trong chốc lát ngắn ngủi, như ánh chớp xé toang bầu trời đêm rồi nhanh chóng bị màn đêm nuốt chửng. Nhận thức được thời gian tỉnh táo của mình không còn nhiều, nhận thức được màn sương mù u tối đang chực chờ ùa về phong tỏa tâm trí, bà Mai vội vã nghiêng người sang một bên. Bàn tay run rẩy của bà rời khỏi mái tóc Nhiên, lần tìm chiếc ngăn kéo nhỏ bằng gỗ thông được gắn khéo léo bên hông xe lăn.

Những ngón tay yếu ớt của bà cào cào vào núm kéo bằng gỗ, hơi thở dồn dập đầy vẻ lo lắng, hoảng hốt:

“Bách... không cho... nhưng Mai cất... Mai giữ cho con bé...” Bà lẩm bẩm trong miệng, từng từ đứt quãng nhưng chứa chan một sự khẩn thiết tuyệt vọng, như sợ rằng nếu chậm một giây thôi, con sóng lãng quên sẽ xóa sạch mọi dấu vết của thực tại.

Bách đứng sững bên cạnh bàn trà, gương mặt tái nhợt khi nhìn thấy hành động của vợ. Chiếc ấm đất nung trên bàn khẽ va vào mặt đĩa lách cách dưới bàn tay đang run rẩy của ông:

“Mai... mình... mình làm gì vậy...”

Bà Mai không nhìn chồng. Bằng sự bướng bỉnh đáng kinh ngạc của một người đang chạy đua với chính sự tàn lụi của trí não, bà kéo mạnh ngăn gỗ ra. Bàn tay khô khẳng thọc sâu vào góc trong cùng, rút ra một chiếc phong bì màu xi măng đã ố vàng theo năm tháng. Mép phong bì đã sờn rách, nếp gấp nhăn nhúm vì từng bị mở ra mở vào không biết bao nhiêu lần, những đường viền giấy tưa ra như xơ mướp. Trên mặt phong bì không đề tên người nhận, nhưng góc trên bên phải có dấu mộc chìm hình ba nhánh hoa mimosa – con dấu quen thuộc của phòng thực nghiệm đồi Mimosa thuở nào, nơi mẹ Hà, thầy Bách và cô Mai từng cùng nhau nghiên cứu những chủng men hoang dã của vùng đất Tây Nguyên.

Bà Mai nhét mạnh chiếc phong bì vào lòng bàn tay Nhiên, siết chặt lấy những ngón tay cô bằng tất cả chút sức tàn còn lại:

“Đọc đi con... Đừng trách nó... Bách nó khổ lắm... Đọc đi rồi tha thứ cho nó...”

Nhiên ngơ ngác ngẩng lên, hai mắt đỏ hoe nhìn chiếc phong bì cũ kỹ trên tay. Cô cảm nhận được độ nhám của chất giấy xi măng thô mộc, cảm nhận được hơi ấm mồ hôi tay của bà Mai còn vương lại trên bề mặt phong bì. Với những ngón tay run rẩy đến mức suýt làm rơi phong bì xuống sàn, cô cẩn thận mở mép giấy đã mục nát, rút tờ giấy pơ-lu mỏng tang bên trong ra.

Đó là một bản sao chép tay bằng giấy than, những nét chữ mực xanh quen thuộc của thầy Bách hiện lên rõ mồn một. Nét chữ nghiêng nghiêng, cứng cỏi nhưng gãy góc ở những đoạn ngoặc – nét chữ của một người cả đời quen cầm dao rạch bột và xẻng lò hơn là cầm bút. Và ngay khoảnh khắc nhìn thấy bố cục của tờ giấy, lồng ngực Nhiên thắt lại đến nghẹt thở.

Đây chính là bản sao nguyên vẹn của bức thư mà thầy Bách đã để lại trong chiếc hộp thiếc trên gác xép tiệm bánh bốn năm trước.

Ký ức của buổi sáng định mệnh bốn năm về trước dội về như một cơn lốc xoáy. Ngày hôm đó, khi Nhiên tỉnh dậy trên căn gác xép lạnh lẽo của tiệm bánh dưới chân đèo, thầy Bách đã biến mất cùng với cô Mai. Thứ duy nhất ông để lại là một chiếc hộp thiếc đựng ít tiền lẻ, công thức cốt lõi của men T-W-65 và một bức thư từ biệt vội vã. Nhưng ở bức thư trên gác xép năm ấy, góc dưới bên phải đã bị xé mất một mẩu lớn nham nhở, cắt ngang câu viết: *“...nhưng lúc này, Mai cần thầy ở bên hơn bao giờ hết, và thầy không thể...”*.

Suốt bốn năm qua, vết rách ấy là một hố sâu ngăn cách không đáy, một dấu chấm lửng tàn nhẫn khiến Nhiên luôn đay nghiến bản thân trong từng giấc ngủ chập chờn. Cô đã luôn tin rằng vết rách ấy giấu đi lời kết tội của thầy. Cô đinh ninh rằng vì lỗi lầm của cô, vì sự ích kỷ đòi ăn bánh hoa cúc của cô trong đêm mưa bão khiến mẹ Hà phải lái xe ra ngoài tìm nguyên liệu rồi gặp nạn, mà thầy đã căm hận cô, đã bỏ rơi cô và trừng phạt cô bằng sự im lặng vĩnh viễn.

Giờ đây, trên tờ giấy than ố vàng này, đoạn cuối bị xé mất ấy hiện ra trọn vẹn dưới ánh ban mai của Tuyền Lam, từng câu từng chữ như những giọt máu rỉ ra từ vết thương chưa từng khép miệng:

*“...và thầy không thể để con nhìn thấy Mai lụi tàn từng ngày. Bệnh của Mai đã bước sang giai đoạn không thể đảo ngược, từng ký ức, từng thói quen, từng cái tên thân thuộc nhất đang dần biến mất khỏi tâm trí cô ấy. Thầy đã thử mọi cách, đã dùng cả men thảo mộc để cưỡng cầu phép màu nhưng chỉ mang lại cho cô ấy thêm đau đớn và hoảng loạn.*

*Thầy hiểu rõ tính con, Nhiên à. Nếu biết Mai như thế này, nếu biết gánh nặng bệnh tật của Mai và nỗi ân hận vì tai nạn của mẹ Hà, con sẽ không ngần ngại vứt bỏ tương lai, vứt bỏ tuổi trẻ của mình để lao vào chăm sóc hai kẻ tàn tạ này. Con sẽ biến cuộc đời mình thành nơi chuộc tội cho một món nợ không phải do con gây ra. Thầy không thể để con làm điều đó. Thầy đã nợ mẹ con một mạng sống, thầy không thể cướp nốt phần đời còn lại của con. Con bé ngốc nghếch của thầy, hãy ở lại thành phố, hãy thắp lửa lò nướng bằng chính đôi tay con, và xin con... hãy quên người thầy thất bại này đi.”*

Từng con chữ nhòe đi dưới dòng nước mắt giàn giụa của Nhiên. Tờ giấy mỏng run bần bật giữa những ngón tay cô, phát ra tiếng sột soạt khô khốc.

Thì ra là như thế.

Vết rách tàn nhẫn trên lá thư năm ấy không phải là sự chối bỏ, không phải là một bản án ruồng rẫy hay sự căm phẫn dành cho đứa học trò dại dột. Nó là một sự cắt bỏ tàn nhẫn mà Bách đã tự tay thực hiện, tự tay xé đi lý do thật sự để biến mình thành kẻ phản bội đáng ghét trong mắt cô học trò, chỉ nhằm mục đích duy nhất: đẩy cô ra xa khỏi vũng lầy bi kịch của gia đình ông, tước đi quyền được hy sinh của cô để ép cô phải sống cuộc đời của chính mình.

Người thợ già ấy đã chọn mang theo toàn bộ gánh nặng của bệnh tật, của sự tha hóa tâm trí của vợ, và cả nỗi ân hận tột cùng về cái chết của người đồng nghiệp cũ, lầm lũi trốn vào chốn rừng thiêng nước độc này, chấp nhận bị nguyền rủa, chấp nhận mang danh kẻ bội bạc, miễn là đứa trẻ của Thu Hà được bình yên làm nghề dưới ánh mặt trời.

“Thầy...” Nhiên ngẩng đầu lên, tiếng gọi nghẹn đắng nơi cuống họng.

Bách đứng đó, tựa lưng vào mép chiếc bàn gỗ thông. Hai vai ông sụp xuống, đầu gục thấp, hai bàn tay thô ráp ôm chặt lấy khuôn mặt già nua đang co rúm lại. Tiếng khóc của một người đàn ông cả đời kiềm chế, cả đời quen nuốt nước mắt vào trong trước hơi nóng hầm hập của lò bánh, cuối cùng cũng vỡ òa ra. Tiếng khóc nghẹn ngào, nấc lên từng chặng, đứt quãng và đau đớn đến xé lòng giữa gian phòng ấm mùi cam nướng:

“Thầy sai rồi... Nhiên ơi, thầy sai thật rồi...”

Bách quỳ sụp xuống sàn gỗ, đầu gối đập mạnh xuống những thanh gỗ thông phát ra một tiếng trầm đục. Ông quỳ đối diện với Nhiên, đôi mắt đỏ ngầu đẫm nước nhìn cô với nỗi đau đớn và hối hận tột cùng:

“Năm đó, khi mẹ Hà mất... khi Mai bắt đầu lên những cơn mê sảng, không nhận ra ai, đập đầu vào tường gào khóc... thầy tưởng mình gánh hết mọi tội lỗi là xong. Thầy tưởng nếu thầy cắt đứt liên lạc, mang Mai trốn vào chốn rừng sâu này, để lại tiệm bánh và hũ men cho con, thì con sẽ thanh thản. Thầy tưởng con sẽ hận thầy một thời gian, rồi con sẽ lớn lên, sẽ làm nghề, sẽ sống một cuộc đời rực rỡ dưới ánh mặt trời...”

Bách vươn bàn tay run rẩy, những ngón tay chai sần khẽ chạm vào vết bỏng sém còn đỏ ửng trên mu bàn tay phải của Nhiên – dấu tích của những đêm kiệt quệ vì sốc phản phệ bên lò nướng, khi cô cố chấp ép men sống lên men trong tuyệt vọng:

“Ai ngờ đâu... thầy lại biến con thành thế này. Thầy nghe bà Phượng kể lại... nghe cái Lam nói về những đêm con thức trắng... Thầy tưởng mình tự ôm lấy bi kịch là cao thượng, là giải thoát cho con... Ai ngờ đâu, thầy lại đẩy con vào nỗi mặc cảm bị ruồng bỏ, biến con thành kẻ tự giam mình trong bóng tối, tự hành hạ bản thân suốt bốn năm trời!”

Bách gục trán xuống sàn gỗ, hai tay cào cào vào những thớ gỗ thô ráp như muốn bấu víu vào đất mẹ để chuộc lỗi. Những giọt nước mắt già nua rơi lã chã xuống mặt sàn bụi bặm.

Thịnh đứng lặng bên khung cửa sổ, ánh mắt anh trĩu nặng nhìn hai người thợ bánh đang quỳ trước mặt nhau giữa căn phòng ngập tràn nắng sớm. Làn gió từ hồ thổi qua khe cửa khẽ lay động mái tóc anh. Anh hiểu nỗi đau ấy. Anh nhìn thấy hình bóng của chính mình trong sự hy sinh mù quáng của Bách. Năm xưa, anh cũng từng nhân danh sự lo lắng, nhân danh tình thương mà xé nát bức ảnh của Gia Huy, xua đuổi em trai đi xa chỉ vì muốn em có một cuộc sống ổn định, an toàn theo ý mình, để rồi cả hai anh em đều phải chịu đựng những năm tháng đằng đẵng của sự xa cách, dằn vặt và hiểu lầm.

Người ta thường nhân danh tình yêu thương để tự cho mình quyền quyết định thay số phận của người khác. Người ta tự khoác lên mình chiếc áo choàng của sự hy sinh vĩ đại, tự biến mình thành kẻ gánh chịu mọi đau thương trong thầm lặng, mà không hề biết rằng sự cắt đứt đột ngột ấy chính là nhát dao sắc bén nhất cứa vào tâm can người ở lại, để lại những vết sẹo rỉ máu của sự hoài nghi và cảm giác tội lỗi khôn nguôi.

Nhiên lắc đầu, những giọt nước mắt lăn dài trên cằm rơi xuống vạt áo:

“Không phải một mình thầy sai đâu...” Giọng cô nghẹn ngào, từng lời thốt ra như rút cạn tâm can, phơi bày toàn bộ góc khuất tăm tối nhất mà cô đã giấu kín suốt bốn năm qua. “Con cũng sai. Con đã hèn nhát trốn chạy suốt bốn năm qua. Đêm mẹ đi, mẹ bảo mẹ đi lấy bánh hoa cúc cho con... Con đã bám víu vào câu nói đó để tự trừng phạt mình. Con biến tiệm bánh thành một nhà tù, biến căn bếp đêm thành nơi xưng tội. Con chỉ dám mở cửa từ mười hai giờ đêm đến ba giờ sáng, vì con sợ ánh sáng ban ngày. Con sợ nhìn thấy những người bình thường đang sống, đang cười nói ngoài kia. Con nghĩ rằng một kẻ đã gián tiếp gây ra cái chết của mẹ, một kẻ bị thầy bỏ rơi như con... không xứng đáng được nhìn thấy mặt trời.”

Cô vươn tay tới, nắm lấy bàn tay gầy gò, run rẩy của Bách, nâng lên và áp chặt vào má mình. Cô cảm nhận hơi ấm thô ráp, mùi bột mì, mùi tàn tro và vị mặn chát của nước mắt trên những vết chai sạn quen thuộc – bàn tay của người đã dạy cô cách cân từng gram bột, cách lắng nghe tiếng men thở trong thùng ủ, cách canh ngọn lửa lò sao cho vỏ bánh có màu vàng óng như mật ong rừng:

“Cả hai thầy trò mình... đều đã dùng sự hy sinh sai lầm để trốn tránh nỗi đau thực tại. Thầy trốn vào khu rừng này, còn con trốn vào bóng đêm hẻm Hoa Đăng. Thầy tưởng thầy bảo vệ con, con tưởng con đang chuộc tội cho mẹ... Nhưng thực ra, chúng ta chỉ đang làm tổn thương những người yêu thương mình nhất.”

Bách run rẩy ngước nhìn học trò. Nhìn vào đôi mắt sáng ngời dù đẫm lệ của Nhiên, ông siết chặt lấy bàn tay cô. Đôi vai gầy guộc của người thầy già rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào.

Bốn năm trời của những bức thư không người nhận được viết trong đêm lạnh rồi đốt thành tro, bốn năm của những đêm thức trắng nhìn đốm than tàn ngoài cửa sổ mà lòng đau như cắt, bốn năm của nỗi cô độc cùng cực nơi rừng sâu bỗng chốc tan biến thành bọt nước trong khoảnh khắc hai bàn tay gắn kết lại với nhau. Sự tha thứ không cần những lời hoa mỹ; nó hiện diện trong chính sự thấu hiểu tận cùng về những tổn thương mà cả hai đã vô tình gây ra cho nhau dưới danh nghĩa của tình thương.

Bà Mai trên xe lăn vẫn mỉm cười thanh thản. Tia sáng minh mẫn ngắn ngủi trong đáy mắt bà đã dần dịu đi, nhường chỗ cho sự mơ màng quen thuộc của căn bệnh thoái hóa. Cơn bão cảm xúc vừa quét qua căn phòng dường như không làm xáo trộn cõi thế giới phẳng lặng, ngây ngô mà bà đang trú ngụ. Nhưng nụ cười trên môi bà vẫn vẹn nguyên nét bình an, không còn vương chút âu lo, sợ hãi nào.

Bà với tay lấy một mẩu bánh cam nhỏ trên chiếc đĩa gốm mộc đặt ở bàn phụ bên hông xe – mẩu bánh mà Bách vừa nướng cho bà lúc sáng sớm, khi những vệt nắng đầu tiên còn chưa chạm tới mặt hồ.

Bà đưa mẩu bánh lên miệng, nhai thật chậm rãi. Vị ngọt dịu của mật mía, vị thơm nồng ấm áp của vỏ cam sành nướng quyện với chút the nhẹ của rễ cam thảo lan tỏa trong khoang miệng bà, xoa dịu những cơn đau âm ỉ nơi các khớp thần kinh. Mè nằm trọn trong lòng bà, chiếc đầu tròn vo tì lên mép đùi, đôi mắt màu hổ phách lim dim phát ra những tiếng rù rù êm ái, nhịp nhàng như một khúc đồng dao ru ngủ. Ăn hết mẩu bánh nhỏ, bà Mai khẽ thở dài một tiếng khoan khoái, đầu từ từ ngả sang một bên tựa vào lớp đệm êm của xe lăn. Đôi mắt bà khép lại, chìm vào một giấc ngủ sâu và an bình giữa ánh nắng sớm chan hòa khắp căn phòng gỗ.

Bách nhìn vợ, ánh mắt ngập tràn sự yêu thương, xót xa nhưng không còn vẻ bế tắc, tuyệt vọng của ngày trước. Nhìn thấy hơi thở đều đặn, thanh thản của bà, lòng ông chùng xuống một nhịp dịu nhẹ. Ông đưa mu bàn tay áo đũi quệt khô những giọt nước mắt trên khóe mi, rồi hít một hơi thật sâu để lấy lại sự bình tĩnh.

Người thợ già đứng dậy, đôi chân đã vững chãi hơn trên nền gỗ. Ông cẩn thận bước tới bàn trà, nhấc chiếc ấm đất nung đã sôi tăm tắp xuống khỏi bếp lò nhỏ, rót ra bốn chiếc chén gốm nhỏ làn nước trà thảo mộc vàng óng. Làn khói bốc lên nghi ngút, thơm ngát mùi hoa cúc dại phơi khô và lá thơm hái từ triền đồi, hòa quyện với chút ngọt hậu của cam thảo.

Bách bước lại gần, đặt chiếc chén nóng ấm vào tay Nhiên và Thịnh. Hơi nóng từ men gốm truyền qua da thịt, mang lại một cảm giác an ổn lạ kỳ. Bách khẽ nhìn ra phía khung cửa sổ lớn. Mặt hồ Tuyền Lam bên ngoài đang ánh lên muôn ngàn vệt sáng lấp lánh như dát bạc dưới ánh mặt trời đã lên cao quá ngọn thông già, xua tan đi lớp sương mù cuối cùng vương trên mặt nước.

Ánh mắt người thợ già kín đáo liếc về phía chiếc hộp gỗ mun đặt trang trọng trên chiếc kệ gỗ sát vách tường. Ở đó, bên dưới bức ký họa hoa mimosa đã phai màu theo năm tháng, là nơi ông cất giữ cuốn sổ tay ghi chép công thức men của gia đình và mảnh giấy di cảo cuối cùng của bà Lạc Thu Hà – những chứng tích của một quá khứ cần được giải mã trọn vẹn để người sống có thể thanh thản bước tiếp.

Thịnh bước lại gần chiếc xe lăn của bà Mai, nhẹ nhàng kéo lại mép chăn dạ đắp cẩn thận lên đôi chân gầy của bà để tránh gió hồ lùa vào. Anh quay sang nhìn Nhiên, ánh mắt điềm tĩnh, ấm áp khẽ ra hiệu:

“Nhiên, em cứ ra ngoài bờ hồ nói chuyện với thầy đi. Ở đây có anh và Mè trông cô Mai rồi, đừng lo.”

Nhiên nhìn Thịnh, lòng dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc không lời nào tả xiết. Người đàn ông này, từ những đêm dài đứng gác nơi chốt trực tòa nhà An Sương đối diện tiệm bánh, lặng lẽ dõi theo từng ánh đèn vàng le lói qua khung cửa sổ ca ba, cho đến chuyến đi băng rừng vượt đèo đầy trắc trở hôm nay, luôn là bức tường thành vững chắc che chở cho cô. Anh chưa từng gặng hỏi, chưa từng phán xét, chỉ lặng lẽ đứng ở một khoảng cách vừa đủ để giang tay ra mỗi khi cô chới với ngã quỵ. Chính sự hiện diện trầm tĩnh của anh đã cho phép cô được yếu lòng, cho phép cô can đảm bóc tách từng lớp vảy vết thương sâu kín nhất mà đối diện với sự thật.

Cô khẽ gật đầu, giọng đã bình tâm trở lại:

“Cảm ơn anh.”

Bách nhìn sang Thịnh với ánh mắt cảm kích sâu sắc của một người cha nhìn thấy người bạn đồng hành đáng tin cậy của con gái mình. Trong đôi mắt thâm trầm của Thịnh, ông nhận ra sự chở che kiên định của một người đàn ông từng trải qua giông bão, đủ vững vàng để làm điểm tựa cho đứa học trò nhỏ dại của mình. Ông quay sang Nhiên, giọng trầm xuống, mang theo một sự kiên định đã được tôi luyện qua những năm tháng trầm luân nơi góc rừng quạnh quẽ:

“Ra ngoài bờ hồ với thầy một lát đi con. Uống ngụm trà nóng rồi đi... Có những chuyện về đêm tai nạn bốn năm trước, về những lời cuối cùng mẹ Thu Hà gửi gắm lại cho con... thầy phải nói hết cho con nghe hôm nay.”

Nhiên nắm chặt chiếc chén gốm ấm nóng trong lòng bàn tay, cảm nhận hơi ấm thảo mộc lan tỏa qua các khớp xương, xua tan đi cái lạnh buốt của sương rừng còn vương trên da thịt. Cô nhìn sâu vào đôi mắt trũng sâu nhưng đã sáng rõ, không còn vương bóng tối trốn chạy của thầy Bách, khẽ đáp:

“Vâng, thưa thầy.”

Bách bước ra thềm nhà trước, tiếng bước chân chầm chậm dẫm qua những thanh gỗ thông xẻ dày. Khi bóng dáng gầy guộc của người thầy già vừa chạm vào ánh nắng rực rỡ ngoài hiên, một tiếng thở dài tự đáy lòng ông khẽ thoát ra, vừa đau đớn vừa như một lời sám hối muộn mằn đè nặng tâm can:

'Thầy tưởng biến mất là để bảo vệ con, nào ngờ lại biến con thành kẻ tù đày trong chính gian bếp của mình'.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories