Trao gửi niềm tin
Về lại con hẻm Hoa Đăng khi nắng trưa rải từng vạt vàng óng ả lên những mái ngói rêu phong, Nhiên ngỡ như mình đang bước vào một giấc chiêm bao xa lạ.
Gió thung lũng đưa hương nhựa thông nồng nàn từ những triền đồi phía xa thổi tràn qua con dốc quanh co, làm xao động những chùm lá mimosa xanh mướt rủ bóng ven tường đá bazan xám xịt. Ba năm ròng rã, thế giới của Nhiên chỉ thực sự cựa mình khi bóng đêm đặc quánh nuốt chửng lấy toàn bộ thành phố sương mù. Thế giới ấy bị đóng khung trong tiếng tích tắc khô khốc, buốt lạnh của chiếc đồng hồ quả lắc kiểu cổ điểm đúng mười hai tiếng trầm đục, và chỉ cựa quậy khi cánh cửa sắt nặng nề kẽo kẹt mở ra đón màn sương muối ẩm ướt lùa vào tận thềm đá.
Chưa một lần nào trong suốt những năm tháng dài dằng dặc ấy, cô dám tưởng tượng bản thân lại có thể thong thả sải bước dưới ánh dương rực rỡ thế này. Cô có thể hít căng lồng ngực mùi nắng ấm phảng phất vị đất khô, mùi rêu mục và vỏ cây thông già mà hai bờ vai không hề run rẩy, lồng ngực không bị bóp nghẹt bởi những bóng ma dĩ vãng rình rập sau từng góc phố.
Thịnh dắt chiếc xe máy cũ đi bên cạnh cô. Đôi ủng da mòn gót của anh gõ từng nhịp thong thả, vững chãi trên nền đá dăm. Tiếng bánh xe lăn chầm chậm, tiếng xích líp khô dầu thi thoảng phát ra một tiếng rít nhỏ đều đặn như một chiếc đồng hồ bấm giờ êm đềm giữa buổi trưa đứng gió. Cả hai dừng lại trước cánh cửa gỗ sơn màu xanh thẫm quen thuộc của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm.
Nhiên đưa tay chạm nhẹ vào túi áo khoác dạ. Mảnh giấy nướng bánh màu nâu nhạt, mép giấy xơ tước được gấp làm tư mà bà Đỗ Phượng trao lại lúc sáng ở quán Cà phê Ban Mai vẫn nằm yên đó, tỏa ra một làn hơi ấm âm ỉ áp sát vào mạn sườn cô.
Thịnh đẩy cánh cửa gỗ. Tiếng chốt đồng bật mở nghe thật êm. Không gian bên trong tiệm bánh vào ban trưa mang một vẻ tĩnh mịch kỳ lạ, vừa lạ lẫm lại vừa quen thuộc đến nao lòng. Những vệt nắng vàng xiên qua khung kính mờ bám bụi sương, rọi sáng hàng triệu hạt bụi li ti đang chầm chậm khiêu vũ trên mặt quầy bằng gỗ sồi đã lên nước bóng láng. Không có hơi nóng hừng hực bốc ra từ cánh cửa lò gang, không có tiếng lách tách của củi thông cháy đượm, cũng chẳng có tiếng thì thầm khe khẽ của những vị khách lạ mang theo những vết thương lòng giấu kín dưới vành mũ len.
Mèo Mè đang cuộn tròn sưởi nắng trên chiếc đệm cói đặt bên bậu cửa sổ ngập nắng. Nghe thấy tiếng bước chân người quen bước qua ngưỡng cửa, nó khẽ he hé đôi mắt màu xanh ngọc bích trong veo, lười biếng vẫy chóp đuôi đen nhánh một cái rồi lại vùi sâu chiếc mũi hồng ươn ướt vào giữa hai túm lông mu bàn chân êm ái.
Nhiên rút mảnh giấy nướng bánh ra khỏi túi áo, cẩn thận trải phẳng phiu lên mặt bàn gỗ mộc kê ở giữa gian tiệm. Dưới ánh sáng ban ngày rọi thẳng qua khung cửa sổ, những nét vẽ bằng mẩu chì than đậm nhạt của bà Đỗ Phượng hiện lên rành rọt từng chi tiết, như một tấm địa đồ dẫn lối vào cõi lãng quên.
Từng nét chì dứt khoát phân định rõ từng mốc địa hình: bắt đầu từ bến thuyền trung tâm hồ Tuyền Lam, men theo con đường rải nhựa gồ ghề chừng sáu cây số để dẫn đến bờ đập tràn bằng đá chẻ. Từ bờ đập ấy, một nét gạch đứt đoạn đâm thẳng vào con đường mòn hoang phế xuyên qua cánh rừng thông nguyên sinh, vượt qua chiếc cầu gỗ ghép tạm bắc ngang lòng con suối cạn trơ sỏi trắng. Đi tiếp chừng hai cây số xuyên qua rừng già sẽ gặp gốc thông cổ thụ bị sét đánh cháy sém một bên thân, từ đó phải rẽ ngoặt sang bên phải, men theo một hẻm núi đá lộng gió sáo hun hút để dẫn thẳng ra doi đất bến thuyền hình chữ T nhô ra lòng hồ biếc.
Thịnh kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông ngồi xuống đối diện với Nhiên. Ngón tay trỏ thô ráp, vương vệt sẹo mờ của người lính bảo vệ khẽ miết dọc theo cung đường rừng uốn lượn ngoằn ngoèo trên mặt giấy sáp:
“Đoạn từ đập tràn đá chẻ vào đến doi đất ven hồ này hoàn toàn không có đường cho ô tô đi đâu,” Thịnh trầm ngâm cất tiếng, đôi mắt anh nheo lại tính toán từng khúc cua hiểm trở dựa trên kinh nghiệm nhiều năm đi tuần tra đêm. “Đó là đường mòn của đội kiểm lâm cũ từ hàng chục năm trước, rễ thông lâu năm trồi lên mặt đất chằng chịt như sống trâu. Mùa này sương mù đọng lại trên thảm lá thông mục dày hàng tấc, lại có nhiều đoạn dốc đá dăm trơn như bôi mỡ. Anh ước chừng nếu chạy bằng chiếc xe máy số khỏe của anh, đi cẩn thận từng mét một thì cũng phải mất ít nhất một tiếng rồ ga mới xuyên qua nổi cái hẻm gió sáo kia. Đó là tính trong điều kiện trời ráo tạnh như trưa nay, chứ lỡ như vùng lòng hồ bất chợt đổ một cơn mưa rào đầu mùa, đất đỏ bazan nhão nhoét ra như bùn quánh thì chỉ có nước dắt bộ, ghìm phanh từng bước chân một.”
Nhiên chăm chú nhìn theo ngón tay anh. Ở điểm cuối cùng của vệt chì than ngoằn ngoèo ấy, bà Phượng đã nắn nót phác họa biểu tượng của một căn nhà gỗ ba gian mộc mạc, mái ngói dốc đứng và chiếc ống khói xây bằng đá chẻ nhô cao.
Nơi ấy, giữa bốn bề thông reo và tiếng sóng vỗ rì rào của mặt hồ Tuyền Lam giá lạnh, thầy Bách của cô đã lặng lẽ nướng từng mẻ bánh cam cho cô Mai suốt bốn năm qua. Thầy sống bên rìa của thế gian, giấu mình sau làn khói lam chiều, lặng lẽ chịu đựng sự ăn mòn dần dà của thời gian và ký ức đang phai nhạt từng ngày trong đầu người đàn bà mà thầy hết mực yêu thương.
“Nếu chúng ta đi ngay bây giờ, rồi cố gắng quay về trong ngày... liệu có kịp giờ để mở tiệm lúc nửa đêm không anh?” Nhiên ngập ngừng cất tiếng hỏi, dù sâu thẳm trong tiềm thức, cô đã thấu suốt câu trả lời từ lâu.
Thịnh ngước mắt lên, nhìn thẳng vào đáy mắt Nhiên. Ánh nhìn của anh điềm đạm, ấm áp nhưng kiên định như ngọn núi đá vững chãi sau lưng thung lũng:
“Nhiên này, em lặn lội tìm đến hồ Tuyền Lam không phải để làm một chuyến giao hàng lấy lệ, hay như một người khách vội vã ghé qua kiểm tra một cuốn sổ tay cũ rồi quay lưng bước đi. Bốn năm ròng rã trôi qua, thầy Bách đã tự giam cầm mình trong bóng tối của sự ăn năn, mặc cảm. Còn em, em cũng đã tự chôn vùi tuổi trẻ và tâm hồn mình sau cánh cửa tiệm bánh này, chỉ biết sống thu mình từ không giờ đến ba giờ sáng. Cuộc hội ngộ này giữa em và thầy cần có thời gian. Nó cần một khoảng lặng đủ dài, một sự lắng đọng trọn vẹn để em và thầy Bách có thể ngồi xuống bên bếp lửa, nhìn thẳng vào mắt nhau mà không phải bồn chồn liếc nhìn chiếc đồng hồ treo tường xem đã điểm mấy giờ, hay nơm nớp lo sợ ngoài kia có vị khách nào đang đứng đợi bánh dưới sương đêm.”
Anh dừng lại một nhịp, giọng nói hạ thấp xuống, chân thành và thấu hiểu:
“Hơn nữa, bệnh tình của cô Mai không thể nào chịu nổi những biến động đột ngột hay sự gấp gáp của người lạ. Ký ức của cô ấy mong manh như một sợi tơ nhện giăng trước gió. Nếu em xuất hiện đường đột như một cơn gió lốc rồi lại vội vã dắt xe rời đi, điều đó chỉ khiến tâm trí cô ấy thêm hoảng loạn và sợ hãi. Chúng ta cần ở lại đó. Ít nhất là qua một đêm trọn vẹn. Ở lại để cùng thở chung một bầu không khí, để lắng nghe tiếng thông reo bên hồ, để thấu hiểu hết những gánh nặng mà thầy đã âm thầm gánh vác, và để tự tay em trao lại hũ men thiêng liêng cho thầy như lời bác Phượng đã căn dặn.”
Nhiên cúi đầu nhìn xuống hai bàn tay mình đang đan chặt vào nhau trên mặt bàn gỗ.
Những vết chai sạn màu vàng ngà nơi đầu ngón trỏ và hõm lòng bàn tay phải – dấu tích không thể xóa nhòa của hàng ngàn giờ đồng hồ nhào bột, miết mép khuôn bánh bằng gang và đối diện trực tiếp với sức nóng hừng hực tỏa ra từ miệng lò nướng. Suốt bốn năm dài đằng đẵng, kể từ cái đêm định mệnh khi mẹ Thu Hà trút hơi thở cuối cùng trong bệnh viện và thầy Bách lặng lẽ mang theo sự cắn rứt bỏ đi biệt tích, chiếc đồng hồ quả lắc trong tiệm bánh Lúc Nửa Đêm chưa từng một lần ngừng gõ nhịp.
Cứ đúng mười hai tiếng chuông đêm ngân vang trầm đục xé tan màn sương mù, đốm than hồng trong lòng lò nướng lại bùng lên đỏ rực. Và Nhiên, như một người lính gác trung thành và cô độc của những linh hồn lạc lối giữa màn đêm phố núi, lại buộc chiếc tạp dề vải thô, đứng lặng sau quầy bánh. Cô đã từng đinh ninh tin rằng, nếu mình dừng lại dù chỉ một đêm duy nhất, nếu chiếc lò bánh nguội lạnh dù chỉ một vài giờ đồng hồ, thì sợi dây kết nối mỏng manh duy nhất giữ cô lại với cõi đời này sẽ đứt lìa. Cô sợ rằng mặc cảm tội lỗi về cái chết của mẹ và sự tan vỡ của quá khứ sẽ lập tức trồi lên, kéo ghì cô chìm nghỉm xuống vực sâu tăm tối không lối thoát.
Thế nhưng lúc này đây, nắng trưa ngoài kia đang tràn ngập khắp con hẻm nhỏ. Ánh sáng ấm áp rọi qua khung cửa, sưởi ấm từng thớ gỗ sồi già nua, hong khô mùi ẩm mốc của những đêm sương lạnh buốt. Từng nét chữ nghiêng nghiêng, dứt khoát của mẹ Thu Hà viết bằng mực tím ở mặt sau tấm ảnh chụp chung ngày xưa bỗng chốc ngân vang trong tâm khảm cô như một lời thức tỉnh: *“Bánh làm ra là để nuôi dưỡng hiện tại, hãy sống dưới ánh mặt trời.”*
Nhiên hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô căng tràn dưỡng khí thơm lừng hương thông và nắng ấm. Cô ngẩng đầu lên, ánh mắt trong veo nhìn thẳng vào Thịnh:
“Em sẽ treo biển tạm đóng cửa tiệm.”
Thịnh thoáng chớp mắt. Nét mặt từng trải, phong trần của người bảo vệ ca đêm giãn ra, để lộ một sự ngạc nhiên pha lẫn nỗi nhẹ nhõm vô bờ:
“Em chắc chắn chứ?”
“Em hoàn toàn chắc chắn,” Nhiên gật đầu dứt khoát, thanh âm của cô nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được một khối đá nặng ngàn cân đè nặng trên ngực suốt bấy lâu. “Không phải chỉ là một đêm vội vã, mà là hai đêm liên tiếp. Một đêm để chúng ta đến được tận nơi, ở lại trong căn nhà gỗ ven hồ cùng thầy Bách và cô Mai, cùng ăn một bữa cơm ấm cúng và hàn gắn lại những gì đã rạn nứt. Và một đêm nữa để khi trở về, em có đủ thời gian dọn dẹp, sắp xếp lại gian bếp, chuẩn bị tâm thế vững vàng nhất cho một khởi đầu hoàn toàn mới. Tiệm Lúc Nửa Đêm cần được nghỉ ngơi, và chính bản thân em cũng cần phải dũng cảm bước ra khỏi chiếc kén tối tăm mà mình đã tự giam hãm suốt bốn năm qua.”
Một nụ cười rạng rỡ, ấm áp bừng nở trên gương mặt cương nghị của Thịnh. Anh đưa bàn tay thô ráp của mình ra, khẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay Nhiên như một lời khích lệ đầy tin cậy:
“Được lắm. Vậy thì anh sẽ đi tìm một tấm bìa các-tông thật dày, dùng bút lông viết một tấm biển thông báo thật rõ ràng và trang trọng để treo ngay ngắn trước cửa kính. Còn bây giờ, để chuyến đi vào rừng được chu toàn và không xảy ra bất kỳ sơ suất nào, chúng ta có rất nhiều việc quan trọng phải chuẩn bị trước khi rời khỏi con hẻm Hoa Đăng này.”
***
Bước chân của Nhiên đưa cô rảo bước qua con dốc thoai thoải của hẻm Hoa Đăng, hướng thẳng về phía tiệm tạp hóa Vạn Hảo nằm sừng sững ở đầu ngõ.
Dưới ánh nắng chói chang của buổi ban trưa, cảnh vật xung quanh hiện lên rõ nét và sống động đến từng chi tiết vụn vặt – những điều mà suốt bao năm qua cô chỉ lờ mờ nhận diện dưới ánh sáng vàng vọt, tù mù của những ngọn đèn đường leo lét: mảng tường vôi loang lổ phủ đầy rêu phong xanh thẫm, những khóm hoa bóng nước màu tím nhạt mọc kiên cường len lỏi nơi kẽ đá bazan nứt nẻ, và tấm biển hiệu tiệm tạp hóa bằng tôn đã gỉ sét bốn góc đung đưa kẽo kẹt theo từng cơn gió núi.
Bên trong gian tiệm tạp hóa chất đầy hàng quán, mùi dầu gió xanh cay nồng quyện lẫn mùi xà phòng bánh sáp thơm, mùi ngai ngái của các bao tải đựng đậu xanh, lạc củ và mùi diêm quẹt tạo nên một bầu không khí thân thuộc, đặc quánh vị đời thường ấm áp.
Cô Hảo đang lúi húi ngồi trên một chiếc ghế đẩu gỗ thấp, cặm cụi dùng con dao bấm nhỏ gọt dở củ khoai lang mật vàng ươm thì tiếng chuông đồng gắn trên mép cửa gỗ khẽ rung lên những tiếng leng keng thanh thoát.
Theo thói quen buôn bán bao năm, cô Hảo không buồn ngẩng đầu lên, cất giọng the thé hỏi với ra:
“Ai đấy? Mua đường cát hay mua chai mắm ngon...”
Câu nói bỗng khựng lại ngay nơi đầu môi khi ánh mắt của người phụ nữ trung niên chạm phải dáng hình mảnh mai đang đứng ngay nơi ngưỡng cửa đón trọn vầng nắng trưa. Cô Hảo sững sờ buông thõng hai tay, con dao bấm suýt nữa thì rơi tuột khỏi những ngón tay dính đầy mủ khoai xuống rổ tre.
Kể từ đêm đối chất nghẹn ngào nước mắt vài hôm trước – khi toàn bộ bức màn bí mật về thân phận thực sự của bà Mai và chuyến đi định mệnh của bà Thu Hà bị phơi bày ra ánh sáng – cô Hảo luôn sống trong tâm trạng thắc thỏm, bất an cùng cực. Người đàn bà ấy sợ hãi rằng đứa cháu gái tội nghiệp sẽ vĩnh viễn oán hận mình, vĩnh viễn không bao giờ bước qua ngưỡng cửa này thêm một lần nào nữa.
Suốt ba năm qua, Nhiên chưa từng một lần xuất hiện ở tiệm tạp hóa vào ban ngày. Mỗi lần cô gái trẻ ghé qua mua vài món đồ lặt vặt đều là lúc sương đêm đã giăng kín lối, trời đã nhập nhoạng nửa đêm canh ba, với chiếc áo khoác len rộng thùng thình trùm kín đầu và một ánh mắt u uất, lẩn tránh tất cả những ánh nhìn của thế gian.
Thế nhưng giờ đây, Nhiên đang đứng sừng sững ngay trước mặt bà, giữa vầng sáng thanh sạch, rực rỡ nhất của đất trời buổi trưa. Gương mặt thanh tú của cô không còn nét lạnh lùng phòng vệ thường thấy, mái tóc đen mượt được buộc gọn gàng ra phía sau để lộ vầng trán cao sáng rỡ.
“Cô Hảo,” Nhiên khẽ cất lời, thanh âm của cô trong trẻo và dịu dàng như một làn nước suối mát lành.
Cô Hảo luống cuống đứng bật dậy khỏi chiếc ghế đẩu, hai bàn tay run rẩy chùi vội vã vào chiếc tạp dề hoa đã sờn rách mép. Giọng bà ngập ngừng, lắp bắp không giấu nổi sự run rẩy:
“Nhiên... Nhiên đấy à cháu? Trời đất ơi, ban trưa ban trật thế này... cháu sang có việc gì thế? Cần mua thêm bột mì, đường phèn hay là... thiếu thứ gì cho lò nướng?”
Nhiên lắc đầu, khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười hiền hậu. Cô bước thêm hai bước qua bậc cửa, tiến sâu vào bên trong gian tiệm nồng đượm mùi tạp hóa. Bàn tay thanh mảnh của cô rút từ trong túi áo khoác ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau sáng bóng, được xâu cẩn thận bằng một sợi dây len bện màu đỏ thắm. Cô trân trọng đặt chùm chìa khóa ấy lên trên mặt quầy kính bày thuốc lá và kẹo cao su đã mờ đục theo năm tháng.
“Cháu sang đây không phải để mua đồ đâu ạ,” Nhiên nhìn thẳng vào đôi mắt đang đong đầy sự âu lo và ngạc nhiên của người đàn bà phố núi, cất giọng rành rọt từng tiếng một. “Cháu muốn gửi cô chùm chìa khóa cổng ngoài của tiệm bánh. Chiều nay, cháu và anh Thịnh sẽ có một chuyến đi xa hai ngày. Cháu muốn nhờ cô trông coi an ninh căn nhà giúp cháu trong suốt thời gian cháu vắng mặt.”
Cô Hảo mở to hai mắt, chiếc cằm khẽ run bần bật. Bà nhìn chùm chìa khóa bằng đồng nằm im lìm trên mặt kính rồi lại ngước lên nhìn sững vào khuôn mặt bình thản của đứa cháu gái, dường như màng nhĩ của bà chưa kịp tiếp nhận nổi những âm thanh vừa phát ra:
“Cháu... cháu đi xa sao? Lại còn... tin tưởng gửi chìa khóa nhà cho cô giữ ư?”
“Vâng,” Nhiên mỉm cười nhẹ nhõm, ánh mắt cô lấp lánh niềm tin. “Cháu đi vào sâu trong hồ Tuyền Lam để gặp lại thầy Bách và cô Mai. Bác Phượng ở quán Cà phê Ban Mai sáng nay đã vẽ đường đi chi tiết cho chúng cháu rồi.”
Vừa nghe thấy hai cái tên Tuyền Lam và Đỗ Phượng thốt ra từ miệng Nhiên, hai bờ vai gầy guộc của cô Hảo khẽ run lên bần bật. Một cơn chấn động tâm lý mãnh liệt dâng ngập trong đáy mắt người đàn bà vốn nổi tiếng sắc sảo, hay săm soi và to tiếng nhất con hẻm Hoa Đăng này.
Bao nhiêu năm trời đằng đẵng, cô Hảo đã phải sống trong sự giằng xé, dằn vặt khôn nguôi của một kẻ mang gánh nặng giữ kín bí mật: bà vừa xót xa thương con bé mồ côi sớm tối thui thủi một mình bên đống than hồng đỏ rực lúc nửa đêm, lại vừa phải cắn răng mang theo lời thề thiêng liêng với người đàn ông tóc bạc đang trốn chạy thế gian nơi góc hồ hoang vắng.
Giờ đây, nghe chính miệng con bé Nhiên nhắc đến hai con người ấy bằng một giọng điệu hoàn toàn thanh thản, không vướng bận một chút oán hờn hay cay đắng, cô Hảo cảm thấy tảng đá tảng vô hình từng đè nặng lồng ngực mình suốt bốn năm qua bỗng chốc vỡ tan thành từng mảnh vụn, hóa thành mây khói trôi biến vào hư không.
“Cháu... cháu thật sự đi tìm anh Bách sao?” Khóe mắt kèm nhèm của cô Hảo bỗng chốc hoe đỏ, giọng bà nghẹn ngào như muốn khóc.
“Vâng. Đã đến lúc cháu phải tự mình đối diện với tất cả mọi sự thật bằng chính đôi mắt của mình,” Nhiên tiếp tục, những ngón tay cô khẽ đẩy chùm chìa khóa đồng về sát mép quầy của cô Hảo. “Tiệm bánh sẽ tạm đóng cửa trong hai đêm tới. Ngoài việc trông nom cổng ngõ giúp cháu, thì trưa ngày mai sẽ có một chuyến xe đò chuyển nguyên liệu định kỳ từ dưới chân đèo lên. Chuyến này gồm mười lăm ký bột mì T-W-65 mộc nghiền bằng cối đá tự nhiên và hai thùng bơ lạt của nông trại Đơn Dương. Cháu đã gửi tiền thanh toán trước toàn bộ qua bưu điện rồi. Cháu muốn nhờ cô ký nhận giúp cháu với nhà xe, rồi cất tạm toàn bộ số hàng ấy vào góc gian kho có mái che trước hiên tiệm bánh nhé cô?”
Cô Hảo vội vàng đưa hai bàn tay thô ráp, gân guốc đón lấy chùm chìa khóa đồng. Những ngón tay run rẩy của bà siết chặt lấy khối kim loại mát lạnh, nâng niu như thể đang đón nhận một báu vật thiêng liêng nhất trần gian. Từng giọt nước mắt nóng hổi chầm chậm lăn dài trên đôi gò má sạm đen vì nắng gió của người đàn bà luống tuổi.
Bà xúc động, bật khóc không chỉ vì bí mật đè nặng bấy lâu cuối cùng đã được cởi trói trong sự bao dung, mà sâu xa hơn thế, bà nhìn thấy đứa cháu gái bướng bỉnh, câm lặng năm nào cuối cùng đã thực sự chịu bước chân ra ngoài ánh sáng mặt trời rực rỡ. Con bé không còn co cụm trong nỗi sợ hãi tăm tối, không còn nhìn cuộc đời bằng ánh mắt đề phòng, hoài nghi nữa. Nó đã biết chủ động mở lòng mình ra, biết cất tiếng nhờ vả hàng xóm láng giềng xung quanh – một hành động vô cùng bình dị, ấm áp của tình người mà suốt bốn năm qua cô Hảo vẫn hằng mòn mỏi mong mỏi được chứng kiến.
“Được chứ cháu! Trời đất ơi, con bé này...” Cô Hảo vội vàng đưa mu bàn tay quệt ngang dòng nước mắt, giọng bà vỡ òa ra trong một niềm hào hứng và xúc động tột cùng. “Cháu cứ yên tâm tuyệt đối mà lên đường! Đi cho thanh thản cái đầu, đi để mang hết mọi gút thắt trong lòng cởi bỏ cho bằng sạch! Ở cái chốn này, cái con hẻm Hoa Đăng này, đã có cô Hảo này lo liệu hết! Cô thề với cháu, một con ruồi lạ cũng đừng hòng lọt qua nổi cái cổng sắt tiệm bánh của cháu đâu! Thằng nào, đứa nào mà lảng vảng tò mò hay phóng xe máy ầm ĩ phá đám giấc ngủ trưa, cô vác chổi quét đót ra cô đuổi thẳng cổ cho mà xem! Còn mấy bao bột mì nghiền cối đá với mấy thùng bơ lạt, xe đò vừa trờ tới đầu dốc là cô đích thân chạy ra nhận, kiểm tra tem niêm phong cẩn thận từng góc rồi xếp ngay ngắn, kê cao trên bệ gỗ ngoài hiên cho cháu!”
Bà bước vòng qua quầy kính, nắm chặt lấy bàn tay mảnh dẻ của Nhiên, siết chặt bằng tất cả sự nồng hậu, chất phác của tình chòm xóm tối lửa tắt đèn có nhau:
“Gặp lại anh Bách... cháu cho cô gửi lời thăm hỏi sức khỏe nhé. Cháu cứ nói thẳng với ổng là... con bé Nhiên nó đã thực sự trưởng thành rồi, nó kiên cường và bao dung hơn bất kỳ ai trong chúng ta từng tưởng tượng đấy!”
Nhiên cảm nhận hơi ấm nồng nàn truyền qua những vết chai sần từ bàn tay cô Hảo, trong lòng dâng lên một niềm cảm kích sâu xa. Hóa ra, khi bản thân mình dũng cảm buông bỏ sự phòng vệ mù quáng, thì thế giới xung quanh chưa bao giờ là một nơi lạnh lùng hay thù địch cả; con hẻm dốc đứng này vẫn luôn bao bọc, chở che cô bằng thứ tình thương thầm lặng, mộc mạc nhất của những con người bình dị.
“Cháu cảm ơn cô Hảo rất nhiều ạ,” Nhiên khẽ cúi đầu tạ từ, ánh mắt rạng ngời. “Cháu xin phép về tiệm để chuẩn bị đồ đạc đây cô.”
***
Đầu giờ chiều, bầu trời phía trên thung lũng Đà Lạt quang đãng một cách kỳ lạ. Những dải mây trắng xốp trôi lững lờ trên nền trời xanh ngắt, ánh nắng dát bạc lên những nhành thông đuôi phụng đang khẽ reo vang trong từng đợt gió nhẹ.
Một tiếng gõ cửa dè dặt, ngập ngừng vang lên nơi cánh cửa ngách phía sau của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm. Nhiên buông chiếc khăn lau bàn, bước nhanh ra mở chốt sắt. Người đang đứng bên ngoài thềm đá là Tạ Diệp Lam, nữ đầu bếp trẻ đầy tài năng của Nhóm Bếp Mới.
Hôm nay, Lam xuất hiện trong một bộ trang phục đời thường vô cùng giản dị: chiếc áo len cổ lọ màu be kết hợp cùng quần âu màu tối. Không còn bóng dáng của chiếc áo bếp trưởng màu trắng phẳng phiu, uy nghiêm, cũng không còn nét kiêu hãnh, sắc sảo đến lạnh lùng của một chuyên gia ẩm thực từng bước chân vào tiệm bánh này với ý định thẩm định, mổ xẻ và thách thức tay nghề của người khác. Đôi mắt màu hạt dẻ của Lam ánh lên sự e dè, pha lẫn một niềm kính trọng sâu sắc kể từ cái đêm cô nhận ra dấu ấn mimosa và thấu suốt cái giá của sự tĩnh lặng mà Nhiên đã một mình gìn giữ suốt bao năm qua.
“Chào Nhiên,” Lam lên tiếng trước, giọng cô hơi khựng lại như còn ngượng ngùng. “Nhận được tin nhắn ngắn của cậu, tôi lập tức bàn giao việc ở nhà hàng rồi chạy đến ngay. Có chuyện gì hệ trọng xảy ra sao?”
Nhiên khẽ mỉm cười, lùi sang một bên nhường lối:
“Chào Lam. Cậu vào trong đi. Tôi thực sự có một việc vô cùng quan trọng muốn gửi gắm và nhờ cậu giúp đỡ.”
Diệp Lam bước qua bậc cửa gỗ thông. Nhưng thay vì dừng lại ở không gian quầy bánh phía trước như những lần ghé thăm trước đây, Nhiên lại nhẹ nhàng đưa tay, hướng dẫn cô đi thẳng về phía góc sâu hun hút của gian bếp sau:
“Chúng ta vào bên trong này đi, Lam.”
Lam thoáng ngỡ ngàng, bước chân cô chững lại trong giây lát. Là một người thợ làm bánh chuyên nghiệp và gắn bó với nghề từ thuở thiếu thời, cô hiểu rõ hơn ai hết rằng gian bếp phía sau của bất kỳ một người thợ làm bánh chân chính nào cũng là một vùng bất khả xâm phạm. Đó là thánh địa cất giấu toàn bộ bí mật kỹ thuật, linh hồn của những công thức truyền đời và sự riêng tư tuyệt đối của người thợ. Việc Nhiên chủ động mở then cửa, mời cô bước chân vào không gian thiêng liêng ấy khiến tim Lam đập nhanh hơn một nhịp vì sự xúc động và kinh ngạc.
Bước vào bên trong gian bếp sau, một luồng không khí ấm sực mùi men bột nồng nàn lập tức ùa vào các giác quan. Không gian nơi đây thoang thoảng mùi quế chi, hoa hồi quyện cùng mùi gỗ thông già khô ráo.
Căn phòng làm việc của Nhiên được sắp xếp ngăn nắp, tinh tươm đến mức đáng kinh ngạc: chiếc bàn nhào bột lớn bằng đá granite màu xám tro được lau chùi láng bóng không một hạt bụi, hàng dao cán bánh bằng thép không gỉ sáng loáng treo thẳng tắp trên giá gỗ, và chiếc cân đồng hai đĩa cổ kính đặt ngay ngắn cạnh cuốn sổ tay ghi chép công thức bọc da bò màu nâu sẫm.
Và ở góc trong cùng của gian phòng, nơi được che chắn cẩn thận để tránh mọi luồng gió lùa từ các khe cửa sổ, là một chiếc tủ gỗ thông ba ngăn mộc mạc cao ngang tầm ngực. Trên bề mặt cánh cửa tủ, biểu tượng một cành hoa mimosa ba nhánh sum vầy được chạm khắc chìm vô cùng tinh xảo – hình ảnh hoa văn giống hệt với con dấu dập nổi trong cuốn sổ tay học nghề mà bảy năm về trước, thầy Trần Bách đã từng trân trọng trao tặng cho Diệp Lam trên đỉnh đồi lộng gió.
Nhiên dừng bước trước chiếc tủ gỗ, cô quay người lại, nhìn thẳng vào Diệp Lam bằng một ánh mắt trang nghiêm và thành kính:
“Chiều nay, tôi và Thịnh phải rời Đà Lạt hai ngày để đi vào sâu trong hồ Tuyền Lam gặp lại thầy Bách. Cô Hảo ở tiệm tạp hóa đầu ngõ sẽ giúp tôi trông coi an ninh nhà cửa và nhận nguyên liệu giao tới, nhưng có một việc tối quan trọng, một việc mà chỉ có một người thợ làm bánh chân chính mới có đủ sự thấu hiểu và kỹ năng để đảm đương.”
Nhiên nhẹ nhàng đặt tay lên núm gỗ, mở toang cánh cửa tủ thông.
Bên trong lòng tủ, chiếc nhiệt kế cơ học bằng đồng gắn cố định trên vách gỗ đang chỉ vạch số đúng 21 độ C. Đặt ngay ngắn ở tầng chính giữa là một chiếc hũ sành màu da lươn thô mộc, bên ngoài được bọc kín cẩn thận bằng ba lớp vải lanh dày dặn màu xám tro và thắt chặt quanh cổ hũ bằng ba vòng dây thừng gai thô nhám.
Ngay khi cánh cửa tủ vừa mở ra, một luồng hương thơm thanh khiết, ngào ngạt tựa như mùi men của rượu hoa quả chín mọng hòa lẫn với vị chua dịu nhẹ của sữa tươi lên men chậm lập tức thoang thoảng bay ra, tràn ngập khắp không gian tĩnh lặng.
Diệp Lam nín thở. Đôi mắt cô gái trẻ dán chặt vào chiếc hũ sành da lươn cổ kính, toàn thân cô khẽ run lên vì một niềm xúc động mãnh liệt. Cô nhận ra nó ngay lập tức mà không cần bất kỳ một lời giới thiệu nào. Đây chính là mầm men hoang dã huyền thoại của thầy Trần Bách – thứ men cái mà bảy năm trước trên triền đồi Mimosa, cô từng chỉ được thầy giảng giải thoáng qua bằng những bài học lý thuyết đầy kính cẩn, thứ men linh thiêng đã làm nên những mẻ bánh nướng đánh thức ký ức chấn động lòng người.
“Đây là hũ men cái mà bốn năm trước thầy đã trao lại cho mẹ Hà và tôi gìn giữ,” Nhiên chậm rãi cất giọng, từng lời từng chữ của cô vang lên trầm ấm, khắc sâu vào gian bếp tĩnh mịch. “Trong hai ngày tôi vắng mặt ở Đà Lạt, tôi muốn gửi gắm toàn bộ sự sống của nó cho cậu chăm sóc.”
Diệp Lam giật mình lùi lại nửa bước chân, hai bàn tay cô vô thức siết chặt lấy vạt chiếc áo len cổ lọ, giọng nói run rẩy vì không thể tin nổi vào tai mình:
“Nhiên... Cậu... Cậu thực sự tin tưởng tôi đến mức này sao? Tôi từng là một kẻ kiêu ngạo đến đáng ghét, từng viết bài bóc mẽ, nghi ngờ sự tồn tại của tiệm bánh của cậu trên khắp các diễn đàn ẩm thực, từng suýt chút nữa kéo truyền thông đến hủy hoại sự bình yên của nơi này... Tại sao lại có thể là tôi?”
“Bởi vì cậu là một người thợ làm bánh,” Nhiên bước lại gần hơn, nhìn sâu vào đôi mắt đang rung rinh ngấn lệ của Lam, ánh mắt cô không vướng một gợn hoài nghi hay tính toán. “Bởi vì cậu hiểu rõ giá trị thiêng liêng của sự sống ẩn tàng trong từng thớ men vi sinh. Cậu từng là học trò của thầy Bách, cậu biết rõ hơn bất kỳ ai rằng một khi men tự nhiên bị bỏ đói, bị nhiễm khuẩn hay bị sốc nhiệt độ, thì linh hồn của cả một dòng men sẽ vĩnh viễn chết đi mà không cách nào cứu vãn nổi. Lòng tự trọng nghề nghiệp của một người đầu bếp chân chính trong cậu lớn hơn bất kỳ sự đố kỵ tầm thường nào của đời sống thường nhật. Tôi tin rằng, một người học trò mang trong tim con dấu hoa mimosa như cậu sẽ không bao giờ cho phép một mầm men bị tổn thương hay hủy hoại.”
Từng lời nói chân tình, mộc mạc của Nhiên như chạm thẳng vào góc sâu kín và thiêng liêng nhất trong danh dự của người làm nghề ẩm thực nơi Diệp Lam. Đôi mắt của nữ bếp trưởng ầng ậc nước, cô cắn chặt môi dưới, rồi gật đầu một cách vô cùng dứt khoát:
“Cậu dạy tôi đi. Hãy chỉ cho tôi từng bước một, tôi xin thề sẽ làm chính xác từng ly từng tí.”
Nhiên bước lại sát bên cạnh chiếc tủ gỗ thông, bắt đầu hướng dẫn một cách cặn kẽ, tỉ mỉ từng chi tiết kỹ thuật:
“Trước hết là vấn đề nhiệt độ. Khí hậu mùa này ở thung lũng Đà Lạt về đêm hạ xuống rất nhanh và buốt, nhưng chiếc tủ gỗ thông ba ngăn này được thầy Bách thiết kế đặc biệt để giữ nhiệt bức xạ tự nhiên cực tốt. Mỗi ngày, cậu phải đích thân đến đây kiểm tra chiếc nhiệt kế đồng này đúng ba lần vào ba mốc giờ cố định: bảy giờ sáng, hai giờ chiều và mười giờ đêm. Nhiệt độ lý tưởng tuyệt đối bên trong khoang tủ phải luôn luôn duy trì ổn định từ 20 đến 22 độ C.”
Nhiên chỉ tay xuống ngăn đáy của chiếc tủ:
“Nếu vào ban đêm, sương muối xuống dày khiến nhiệt độ hạ xuống dưới mức 19 độ C, cậu tuyệt đối không được phép sử dụng máy sưởi điện hay bưng lò than vào đây để hơ nóng. Nhiệt độ cục bộ khô khốc sẽ làm biến tính và giết chết các chủng nấm men hoang dã ngay lập tức. Thay vào đó, cậu hãy dùng chiếc bình gốm nung này, rót vào đó đúng nửa lít nước ấm ở nhiệt độ 40 độ C, đặt cẩn thận vào góc ngăn dưới cùng của tủ rồi đóng chặt cánh cửa lại. Hơi ấm ẩm tự nhiên bốc lên từ bình gốm sẽ tự động điều hòa và cân bằng lại nhiệt lượng cho toàn bộ khoang tủ.”
Lam chăm chú lắng nghe từng lời, cô vội vã rút từ trong túi áo ra một cuốn sổ tay nhỏ bìa đen và một chiếc bút chì gỗ, thoăn thoắt ghi chép lại từng mốc thời gian, từng con số nhiệt độ một cách cẩn trọng nhất.
Nhiên tiếp tục chỉ tay vào chiếc hũ sành màu da lươn:
“Thứ hai là quy trình cho men ăn. Men cái này đã quen sống nhờ nguồn dinh dưỡng của loại bột mì T-W-65 mộc – đây là loại bột nguyên cám được nghiền bằng cối đá tự nhiên mà tôi cất giữ trong chiếc chum sành có nắp đậy kín ở góc bàn kia. Liều lượng tiêu chuẩn cho mỗi cữ ăn diễn ra vào đúng mười giờ sáng mỗi ngày là: một trăm gam men cái khỏe mạnh, hòa tan thật đều cùng một trăm gam nước suối thanh khiết lấy từ đầu nguồn ở nhiệt độ đúng 24 độ C, sau đó rây thật mịn một trăm gam bột T-W-65 mộc vào rồi khuấy đều tay.”
Nhiên với tay lấy một chiếc thìa dẹt bằng gỗ thông mộc mạc đặt trên khay gốm trắng:
“Cậu hãy tuyệt đối ghi nhớ điều cấm kỵ này: chỉ được phép dùng chiếc thìa gỗ thông này để khuấy bột và men theo một chiều duy nhất, từ mép ngoài lượn tròn vào tâm hũ, thao tác phải chậm rãi, nhẹ nhàng và nhịp nhàng. Tuyệt đối không bao giờ được dùng đũa sắt, muỗng inox hay bất kỳ vật dụng kim loại nào chạm vào lòng men. Các ion kim loại sẽ làm xáo trộn điện thế bề mặt và làm thoái hóa màng vi sinh hoang dã. Khi dùng thìa khuấy thấy bề mặt bột trở nên dẻo quánh, bắt đầu xuất hiện những bọt khí nhỏ li ti nổ lách tách như mắt cua và bốc lên mùi thơm ngọt mát của quả chín mọng thì dừng tay. Sau đó, dùng chiếc khăn vải lanh ẩm này lau sạch toàn bộ phần bột dính nơi miệng hũ, đậy nắp vải xám lại, thắt lỏng một vòng dây thừng gai để men thở rồi cất cẩn thận lại vào tầng giữa của tủ.”
Diệp Lam cúi người xuống ngang tầm chiếc hũ sành, ngắm nhìn tạo vật của sự sống vi sinh ấy với một ánh mắt thành kính như đang chiêm ngưỡng một sinh linh thuần khiết nhất của tự nhiên. Cô ngẩng đầu lên, nhìn Nhiên bằng tất cả danh dự và lòng kiêu hãnh của một người thợ thủ công:
“Tôi đã ghi nhớ toàn bộ. Tôi xin lấy danh dự của một người thợ làm bánh, lấy tất cả sự nghiệp và niềm đam mê mà tôi đang theo đuổi ra để cam kết với cậu: trong suốt hai ngày tới, tôi sẽ có mặt tại gian bếp này đúng từng phút một, tự tay kiểm tra nhiệt độ và chăm sóc mẻ men cái theo đúng tỷ lệ chuẩn xác nhất mà cậu vừa truyền dạy. Mọi bí mật bên trong gian bếp này, từng cuốn sổ công thức, từng chiếc khuôn nướng bằng gang của thầy Bách, sẽ vĩnh viễn được giữ kín tuyệt đối. Cậu hãy yên tâm lên đường tìm gặp thầy!”
Nhìn thấy sự cương trực, kiên định và niềm xúc động chân thành ánh lên trong đôi mắt của Lam, Nhiên khẽ mỉm cười. Nụ cười rạng rỡ, thanh thản như thắp sáng cả gian bếp nhỏ vốn bao năm chìm trong u tối:
“Cảm ơn cậu rất nhiều, Diệp Lam. Nhờ có sự giúp đỡ của cậu, tôi mới có thể hoàn toàn thanh thản bước chân ra khỏi cánh cửa này.”
***
Khoảng bốn giờ chiều, khi những vạt nắng cuối ngày bắt đầu chuyển dần từ sắc vàng tươi sang màu mật ong rừng óng ả trên những ngọn đồi phía tây nam, công việc chuẩn bị cho chuyến đi vào rừng sâu đã bước vào những khâu hoàn tất cuối cùng.
Trước cửa tiệm bánh, Thịnh đang lom khom cúi người bên chiếc xe máy số đã được rửa sạch sẽ bùn đất và kiểm tra dầu máy, xích líp cẩn thận. Anh dùng những sợi dây thừng bện bằng sợi dù chắc nịch chằng buộc một chiếc giỏ mây đan mắt cáo loại lớn vào ngay phía trước ghi-đông xe.
Bên trong lòng giỏ mây, Thịnh cẩn thận lót một tấm nệm mút dày bọc lớp nỉ hoa êm ái, xung quanh thành giỏ được anh viền thêm một lớp vải dạ xù dày dặn để chắn những ngọn gió rừng lạnh buốt khi chiếc xe phải vượt qua những con đèo lộng gió.
“Xong xuôi rồi đấy nhé, anh bạn nhỏ!” Thịnh vỗ nhẹ tay vào vành giỏ mây, mỉm cười nói với chú mèo đen tuyền đang đứng chễm chệ trên yên xe quan sát từng động tác của anh.
Mèo Mè nghiêng đầu sang một bên, đôi tai nhọn hoắt khẽ giật giật. Nó khẽ nhún mình, nhảy thoăn thoắt từ yên xe xuống, chui tọt vào bên trong lòng chiếc giỏ mây êm ái. Con mèo xoay tròn hai vòng quanh tấm đệm nỉ rồi ngoan ngoãn cuộn tròn mình nằm thử. Chiếc giỏ vừa vặn với thân hình mập mạp của nó một cách hoàn hảo, vừa đủ ấm áp để chắn gió núi tạt vào mặt, lại vừa đủ êm ái để che chở cho nó suốt chặng đường rừng gồ ghề sắp tới. Mè ngước đôi mắt xanh ngọc bích lên nhìn Thịnh, khẽ cất lên một tiếng “meo” trầm đục ra chiều vô cùng hài lòng.
Cùng lúc đó, bên trong gian bếp sau tĩnh lặng, Nhiên đang đứng lặng người trước chiếc tủ gỗ thông ba ngăn.
Cô với tay lấy từ trên giá gỗ xuống một chiếc hũ sứ nhỏ màu trắng ngà tráng men bóng loáng, có nắp đậy kín bằng gioăng cao su màu đen và được cài chặt bằng chiếc móc sắt mạ niken sáng loáng. Đây chính là chiếc hũ sứ kỷ vật mà mẹ Thu Hà ngày xưa từng dùng để đựng những mẻ men sấy khô thời gia đình còn quây quần bên nhau trong căn nhà kính trên triền đồi Mimosa.
Nhiên cẩn thận tháo ba vòng dây thừng gai của chiếc hũ sành da lươn, nhẹ nhàng mở lớp vải lanh xám tro ra. Mùi hương nồng nàn, thanh khiết của mầm sống trăm năm lập tức lan tỏa ngào ngạt khắp gian phòng. Cô dùng chiếc muỗng gỗ sạch sẽ, nhẹ nhàng múc lấy một phần men cái khỏe khoắn và sung mãn nhất – phần men đang sủi những bọt khí tăm tắp, dẻo quánh và óng ả tựa như một lớp kem sữa đặc – chuyển sang chiếc hũ sứ nhỏ màu trắng ngà.
Nhiên rắc thêm một muỗng bột mì T-W-65 mộc và nhỏ thêm vài giọt nước suối ấm vào hũ sứ để tiếp tục nuôi dưỡng mầm men trên suốt chặng đường đi dài dằng dặc. Cô cẩn thận gài chiếc móc sắt lại cho thật khít khao, rồi dùng một dải vải lanh buộc chặt quanh cổ hũ.
Món quà thiêng liêng nhất dành cho thầy Bách cuối cùng đã được chuẩn bị chu toàn.
Bà Đỗ Phượng đã nói hoàn toàn đúng: chiếc hũ sứ nhỏ bé này không đơn thuần chỉ chứa đựng những tế bào nấm men vi sinh lên men bột, mà nó mang theo toàn bộ linh hồn, sự tiếp nối và lòng biết ơn sâu sắc của người học trò nhỏ gửi lại cho người thầy đã khuất bóng giữa rừng sâu suốt bốn năm qua. Nó chính là minh chứng sống động nhất cho thấy ngọn lửa nghề làm bánh thiêng liêng mà thầy đã trao lại cho gia đình cô chưa từng bao giờ bị lụi tàn; nó vẫn sống mãnh liệt, vẫn không ngừng tỏa hương thơm và giờ đây đã sẵn sàng bước ra ngoài ánh sáng mặt trời để tái ngộ với cội nguồn sinh ra nó.
Nhiên cẩn thận bọc chiếc hũ sứ trắng ngà trong một chiếc khăn len đan sợi dày dặn, rồi đặt sâu vào ngăn chính giữa của chiếc ba lô hành lý du lịch bằng vải bạt, chèn xung quanh bằng những chiếc áo len ấm để tránh cho hũ sứ bị va đập khi xe chạy qua những đoạn đường dốc đá dăm.
Từ ngoài cửa ngách, Mèo Mè lững thững bước vào bếp. Nó đi thẳng một mạch đến bên chiếc ghế gỗ nơi đặt chiếc ba lô, vươn chiếc cổ dài ra, dụi đầu thật mạnh vào lớp vải bạt dày ngay vị trí cất giữ chiếc hũ sứ nhỏ. Cái mũi hồng ươn ướt của nó hít hà thật sâu mùi men bột quen thuộc, rồi trong cổ họng nó cất lên những tiếng rù rù trầm ấm đầy vẻ thỏa mãn. Dường như chú mèo già cũng nhận ra mùi hương của người chủ cũ, mùi hương của những ngày tháng êm đềm nơi nhà kính đồi Mimosa năm nào, mùi của một định mệnh đang vẫy gọi nó trở về.
Nhiên ngồi xổm xuống sàn gạch, đưa tay vuốt ve nhè nhẹ lên chỏm đầu tròn xoe, đen mượt của Mè:
“Đi đón thầy về thôi, Mè nhé.”
Chú mèo khẽ chớp đôi mắt ngọc bích, dụi đầu vào lòng bàn tay cô như một lời đồng thuận ngoan ngoãn.
***
Hoàng hôn thung lũng Đà Lạt buông xuống chầm chậm, nhuộm tím cả một vùng trời phía sau những rặng thông già. Những làn khói lam chiều từ những mái nhà dưới chân dốc bắt đầu bốc lên, hòa quyện vào làn sương mỏng manh đang lãng đãng là đà trên mặt đất.
Trước mặt tiền của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm, một tấm biển bằng bìa các-tông dày dặn, được viền bằng những thanh nẹp gỗ thông mộc mạc đã được treo ngay ngắn, trang trọng ngay phía sau lớp kính của cánh cửa chính. Trên nền bìa màu nâu sáng, nét chữ viết tay bằng mực dạ đen nắn nót, vuông vức của Thịnh hiện lên rành rọt dưới ánh ráng chiều:
*“Tiệm bánh Lúc Nửa Đêm tạm nghỉ trong hai đêm để đi xa.* *Hẹn gặp lại quý khách vào ngày mở cửa mới.”*
Nhiên đứng lặng trước thềm hiên đá, chiếc ba lô du lịch gọn gàng khoác ngay ngắn trên đôi vai mảnh dẻ. Thịnh đã ngồi sẵn trên chiếc xe máy cũ, anh đạp cần khởi động. Tiếng động cơ xe nổ giòn giã, trầm ấm và đều đặn vang lên trong không gian tĩnh mịch, xua tan đi cái lạnh đầu hôm đang bắt đầu len lỏi qua từng kẽ đá bazan của con hẻm nhỏ. Mèo Mè đã ngồi ngay ngắn, bệ vệ bên trong chiếc giỏ mây lót nỉ ấm áp gắn trước ghi-đông, đôi mắt ngọc bích sáng quắc chăm chú nhìn thẳng về phía con dốc dẫn ra lộ lớn.
Nhiên rút chiếc chìa khóa đồng cuối cùng ra khỏi túi áo, cắm vào ổ khóa trên cánh cửa chính. Đôi bàn tay cô chầm chậm xoay chốt khóa cánh cửa gỗ màu xanh thẫm của tiệm bánh. Một tiếng “cạch” khô giòn, dứt khoát vang lên thật trong trẻo giữa con hẻm vắng.
Bốn năm qua, mỗi một lần dùng tay khép cánh cửa tiệm này lại vào lúc ba giờ sáng là một lần trái tim Nhiên thắt nghẹn lại trong nỗi cô độc tột cùng và sự trốn chạy thực tại. Nhưng chiều hôm nay, khi những đầu ngón tay cô rời khỏi vòng sắt ổ khóa lạnh ngắt, trong lồng ngực cô chỉ còn lại một cảm giác bình yên, nhẹ nhõm và ấm áp đến lạ kỳ.
Bên kia con dốc, cô Hảo đang đứng trước cửa tiệm tạp hóa Vạn Hảo, nở nụ cười rạng rỡ và giơ bàn tay vẫy chào đầy khích lệ; bên trong gian bếp sau ấm sực, Diệp Lam đang tận tụy, thành kính canh giữ từng độ ấm cho hũ men cái hoang dã; và ngay bên cạnh cô lúc này, Thịnh đang mỉm cười ngoái lại chờ đợi, sẵn sàng đồng hành cùng cô bước vào chuyến hành trình lớn nhất, ý nghĩa nhất của cả cuộc đời.
Lần đầu tiên trong đời khóa cánh cửa tiệm mà cõi lòng không còn trĩu nặng âu lo hay sợ hãi, Nhiên biết rằng mình đã vĩnh viễn không còn phải đơn độc bước đi giữa nhân gian này nữa.