Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.33 / 40
Chapter 33

Lời cảnh tỉnh của người bạn cũ

Khói trà atisô nghi ngút bốc lên giữa chiếc bàn gỗ thông mộc kê ngoài khoảng sân lộ thiên, cuộn tròn thành từng dải lam mờ rồi tan biến vào làn sương sớm đang là đà giăng trên sườn thung lũng. Lời cảnh báo nghiêm nghị của bà Phượng tựa một phiến đá lớn thả thẳng xuống lòng nước phẳng lặng, khiến toàn bộ bầu không khí xung quanh bỗng chốc ngưng đọng, đông cứng lại như mặt hồ mùa đông đón đợt gió bấc đầu mùa.

Gió sớm thổi qua giàn hoa tử đằng vắt ngang bờ rào gỗ, làm rơi lả tả những cánh hoa tim tím đẫm nước xuống mặt bàn nứt nẻ những đường vân thời gian. Mùi hương ngai ngái của thảm lá kim mục ướt sương đêm quyện chặt với vị ngăm đắng, thanh thoát của thứ nước trà hầm từ hoa atisô tươi bốc lên nghi ngút từ chiếc tách gốm men lam quai xoắn ngược. Thế nhưng, suốt một khoảng thời gian dài dường như bất tận, cả Nhiên lẫn Thịnh đều không một ai đưa tay nâng tách. Câu nói sau cùng của người phụ nữ chủ quán cà phê Ban Mai vẫn còn treo lơ lửng giữa ba người, nặng trĩu và buốt nhói: *Nếu cháu tìm Bách chỉ để trút bỏ gánh nặng mặc cảm của riêng mình, ta khuyên cháu đừng đến làm xáo trộn căn nhà ấy.*

Nhiên ngồi bất động, ánh mắt dán chặt vào vệt nắng sớm mỏng manh vừa bò qua mép tà váy bằng vải lanh thô dệt mộc. Đôi vai cô khẽ rung lên từng chặp run rẩy không thể kiềm chế. Hai bàn tay đan siết vào nhau trên đùi, mười đầu ngón tay ghì chặt đến mức các đốt xương gồ lên, trắng bệch và tê dại. Suốt bốn năm ròng rã kể từ đêm giông bão định mệnh trên đèo Prenn, cô đã sống như một cái bóng câm lặng bên dưới căn gác xép tối tăm, ngột ngạt của con hẻm Hoa Đăng. Mỗi đêm, cô chỉ dám hé mở cánh cửa gỗ tiệm bánh Lúc Nửa Đêm đúng vào khoảnh khắc không giờ và then cài đóng chặt lúc ba giờ sáng, trút hết mọi hơi sức vào lò nướng hực lửa như một kẻ đào tẩu trốn chạy ánh sáng mặt trời, mang theo nỗi đay nghiến cào xé tâm can rằng chính sự nông nổi, yếu đuối của mình đã gián tiếp tước đoạt sinh mạng của người mẹ kính yêu, đồng thời đẩy người thầy nâng đỡ mình vào kiếp sống phiêu bạt không chốn dung thân.

Nhưng giờ đây, khi cánh cửa tìm lại tung tích của thầy chỉ còn cách cô một tầm với ngắn ngủi, lời cảnh tỉnh đanh thép của bà Phượng lại như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào tâm can đang chới với. Nó buộc cô phải tự lột trần mọi lớp vỏ bọc, bóc tách đến tận cùng cái động cơ mà bấy lâu nay cô vẫn ngỡ là chính đáng: Liệu cô tìm đến thầy Bách là để thực sự hiểu cho ông, hay chỉ đơn thuần là muốn tìm một sự xá tội hòng giải thoát cho cái tôi đang quằn quại trong mặc cảm của chính bản thân mình?

Bà Phượng ngồi đối diện, lặng lẽ quan sát từng chuyển động nhỏ nhất trên gương mặt tái nhợt của cô gái trẻ. Ánh mắt nghiêm khắc, dò xét ban đầu của người đàn bà từng trải dần chùng xuống, nhường chỗ cho một nét xót xa kín đáo được chôn chặt dưới những nếp chân chim hằn sâu nơi khóe mắt. Bà thở dài một hơi kín đáo, khẽ nghiêng người với tay lấy chiếc ấm gốm thô da lươn đặt trên bếp than hồng con con cạnh chân bàn, chầm chậm châm thêm nước sôi vào bình trà. Tiếng nước sôi réo tí tách hòa cùng tiếng róc rách ấm áp giữa khoảng sân lặng phắc như một nhịp cầu kéo Nhiên trở về với thực tại hữu hình.

"Cháu có biết vì sao bốn năm qua, Bách tuyệt đối không một lần xuất hiện trở lại ở trung tâm thị trấn không?" Bà Phượng cất giọng, âm điệu trầm buồn và đục khàn như tiếng chuông chùa xa xôi vọng qua đồi vắng trong buổi sớm mù sương. "Không phải anh ấy sợ người đời đàm tiếu hay dò xét về sự suy tàn của một nghệ nhân làm bánh lừng danh. Càng không phải anh ấy sợ nhìn thấy sự quở trách của vong linh Thu Hà nơi nấm mồ dưới chân đồi thông. Mà lý do tàn nhẫn hơn rất nhiều, Nhiên à... Bệnh tình của Mai không cho phép Bách được rời mắt dù chỉ nửa bước, dù chỉ trong một cái chớp mắt ngắn ngủi."

Bà Phượng ngừng lại, nâng chén trà lên ngang môi nhưng không uống, ánh mắt xa xăm nhìn qua rào giậu, hướng về rặng thông đuôi phụng xanh thẫm đang nhấp nhô mờ ảo ở phía chân đồi xa tít tắp.

"Mai phát bệnh từ nhiều năm trước, từ cái thời các cháu còn mải mê bên những âu bột mì và lò ủ men," bà Phượng nói tiếp, từng lời rơi xuống chậm rãi như đếm từng nhịp thời gian tàn nhẫn. "Nhưng từ sau cái đêm mưa bão định mệnh bốn năm trước, khi Thu Hà gặp nạn trên đèo Prenn lúc cố lặn lội trong mưa gió để tìm cho bằng được thứ dược liệu làm dịu cơn co giật cho cô ấy, căn bệnh suy giảm trí nhớ của Mai đã bước vào giai đoạn thoái hóa tàn khốc nhất. Nó không đơn thuần là việc quên đi một cái tên quen thuộc, quên một buổi hẹn chiều hay để quên chùm chìa khóa trên bậu cửa. Căn bệnh quái ác ấy gặm nhấm từng tế bào não bộ của một con người từng rất mực tao nhã, từng là cô giáo dạy văn dịu dàng với giọng ngâm thơ làm say đắm biết bao thế hệ học trò, biến cô ấy thành một đứa trẻ lạc loài, ngơ ngác ngay giữa chính ngôi nhà của mình."

Nhiên khẽ cắn chặt môi dưới, hai bàn tay siết chặt vạt áo lanh đến nhăn nhúm. Từng lời trần tình của bà Phượng giáng xuống tựa những nhát búa nện thẳng vào lồng ngực cô, làm bùng lên những ký ức mà cô ngỡ đã ngủ yên. Cô nhớ lại chiếc khăn len dệt thô màu xám tro viền cam sẫm mà mình vô tình tìm thấy trong góc tủ kính đóng bụi ở phòng thực nghiệm bỏ hoang trên đỉnh đồi Mimosa hai ngày trước. Chiếc khăn ấy vẫn còn vương vấn mùi nước hoa cam thảo mộc thanh sạch, sâu lắng và đầy hoài niệm. Người phụ nữ thanh lịch, đằm thắm trong ký ức của bà Sương năm xưa, người từng đứng bên mẹ cô dưới bóng hiên đầy nắng nhặt từng cánh hoa cúc khô ướp trà, giờ đây lại đang từng ngày, từng giờ tan biến vào màn sương mù mịt của sự lãng quên vô phương cứu vãn.

"Mai quên dần những thói quen sinh hoạt cơ bản nhất của một con người," giọng bà Phượng khẽ run lên, mang theo một nỗi chua chát khôn nguôi. "Cô ấy quên cách tự cài từng chiếc cúc áo gỗ, quên chiếc bàn chải đánh răng bằng tre để ở góc nào trên giá, quên mất rằng mình đã ăn lót dạ bữa sáng hay chưa. Và điều tệ hại nhất, đau đớn nhất... là cô ấy bắt đầu rơi vào những cơn hoảng loạn tột cùng mỗi khi nhìn thấy một gương mặt lạ bước qua bậu cửa, hoặc khi không gian sống xung quanh có bất kỳ một sự dịch chuyển hay xáo trộn nhỏ nào. Chỉ cần một chiếc ghế đổi chỗ, một tiếng động lạ từ cành cây gãy ngoài vườn, hay một người khách lạ ghé qua chào hỏi, Mai sẽ hét lên, co rúm người lại trong góc tối như một con thú nhỏ bị thương, run rẩy và khóc lóc suốt nhiều giờ liền."

Bà Phượng đặt chén trà xuống mặt bàn, bàn tay gầy gầy của bà khẽ run.

"Bách từng là một người thợ làm bánh kiêu hãnh đến nhường nào, điều đó có lẽ cháu là người hiểu rõ hơn ai hết," bà Phượng nghẹn ngào. "Anh ấy từng nắm giữ những công thức men cái độc nhất vô nhị của xứ này, từng được cả giới làm bánh phương Nam vị nể, tôn xưng như một bậc thầy của sự chuẩn xác và linh hồn ẩm thực. Nhưng để cứu lấy chút ánh sáng le lói cuối cùng đang lụi tàn trong tâm trí người vợ tào khang, Bách đã dứt khoát rũ bỏ tất cả những vinh quang ấy như rũ bỏ một lớp bụi bám trên áo ngoài. Anh ấy dẹp bỏ mọi ý định kinh doanh, dừng toàn bộ hoạt động làm bánh thương mại, đơn phương cắt đứt mọi liên lạc với các hiệp hội ẩm thực tỉnh nhà, thẳng thừng từ chối hàng chục lời mời hợp tác danh giá hay những khoản đầu tư khổng lồ nhằm phục dựng lại tiệm bánh nức tiếng năm xưa."

Bà Phượng đưa tay chỉ về hướng tây nam, nơi những rặng núi mờ sương nối nhau trùng điệp:

"Anh ấy chọn bờ tây nam của hồ Tuyền Lam, một doi đất hẻo lánh nằm sâu hun hút sau những cánh rừng thông già nguyên sinh ngút ngàn, nơi quanh năm suốt tháng chỉ có tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền mục và tiếng chim rừng gọi bầy lúc hoàng hôn buông xuống. Tại đó, Bách tự tay chặt từng súc gỗ, dựng lên một căn nhà nhỏ ba gian mái ngói rêu phong. Anh ấy tự tay thu hẹp toàn bộ vũ trụ bao la của đời mình lại, gói gọn nó trong bốn bức tường gỗ thông và mảnh vườn nhỏ ven mép nước, chỉ để dành trọn từng giờ, từng khắc, từng hơi thở của chuỗi ngày còn lại để ở bên cạnh che chở cho Mai, canh giữ cho cô ấy một khoảng trời bình yên tuyệt đối, không để một gợn sóng tạp âm nào từ thế giới ngoài kia làm vỡ vụn sự tĩnh lặng mong manh ấy."

Một cơn gió sớm lại luồn qua kẽ lá tử đằng, cuốn theo vị chát nhẹ của bã trà vừa lắng xuống đáy chiếc tách men lam. Nhiên ngẩng phắt đầu lên, trong đôi mắt ngấn nước ngập tràn những niềm trăn trở đớn đau, đôi môi mấp máy run rẩy:

"Thế còn... còn bánh nướng thì sao ạ? Thầy... thầy có còn nhóm lò làm bánh nữa không bác?"

Bà Phượng nhìn sâu vào mắt Nhiên, rồi khóe môi bà khẽ cong lên một nụ cười buốt giá, một nụ cười cay đắng đến thắt nghẽn tâm can:

"Có chứ. Bách vẫn nhóm lò mỗi ngày. Nhưng không phải để buôn bán kiếm từng đồng bạc lẻ, càng không phải để tìm kiếm sự ngưỡng mộ của kẻ qua đường hay tìm lại ánh hào quang dĩ vãng."

Bà Phượng chầm chậm đưa ngón tay trỏ chạm nhẹ vào bức ảnh chụp bờ hồ Tuyền Lam trên màn hình chiếc điện thoại cũ vẫn đang đặt ngửa giữa bàn. Màn hình phát ra thứ ánh sáng xanh leo lét, soi rõ một vùng nước phẳng lặng như gương soi bóng những ngọn thông gầy guộc.

"Mỗi sáng sớm, vào cái giờ mà sương mù trên mặt hồ Tuyền Lam còn dày đặc như một dải lụa trắng chưa chịu tan, khi vạn vật quanh hồ còn chìm trong giấc ngủ say nồng, Bách đều thức dậy, tự tay nhóm lửa trong chiếc lò đá chẻ ngoài chái bếp. Anh ấy nhào bột, ủ men và nướng đúng một ổ bánh cam duy nhất theo công thức cổ điển từ thuở hai người họ mới vừa quen nhau trên đồi Mimosa hơn ba mươi năm về trước. Vỏ cam sành mộc mài mịn đến từng vụn nhỏ, bơ lạt Đơn Dương thơm ngậy vị sữa thảo nguyên, và một chút nước cốt cam thảo mộc thanh tao do chính tay anh ấy chưng cất."

Bà Phượng hơi chồm người về phía trước, ánh mắt bà găm thẳng vào đáy mắt Nhiên, từng từ buông ra rành rẽ và nặng trịch:

"Cháu từng lặn lội lên đồi Mimosa, từng đọc qua cuốn nhật ký thực nghiệm mà Bách bỏ lại trong ngăn kéo bàn gỗ, hẳn cháu đã biết Bách từng nếm trải thất bại cay đắng và tàn nhẫn đến thế nào khi nuôi dưỡng thứ ảo tưởng điên rồ rằng những mẻ men cái kỳ diệu có thể đảo ngược quy luật tạo hóa, có thể chữa lành tổn thương não bộ và phục hồi trí nhớ cho vợ mình. Những chiếc bánh ký ức cưỡng ép năm xưa từng đẩy Mai vào những cơn mê sảng kinh hoàng, những cơn co giật toàn thân và những hành vi tự làm tổn thương chính mình trong vô thức. Bách đã phải trả giá bằng máu và nước mắt để nhận ra cái sai lầm ngạo mạn ấy từ hơn hai mươi năm trước rồi. Cho nên bây giờ, ổ bánh cam nướng thơm lừng mỗi sớm mai không phải là một phương thuốc nhiệm màu, không mang bất kỳ tham vọng nào nhằm khôi phục lại ký ức đã mất hay kéo Mai trở về với thực tại nghiệt ngã này nữa."

Bà Phượng khẽ thở hắt ra, ánh mắt dịu lại trong một niềm xót thương khôn tả:

"Ổ bánh ấy, đối với hai con người cô độc bên bờ hồ lúc này, chỉ đơn giản là một sợi dây neo đậu sau cùng giữa cõi đời bấp bênh. Khi Mai thức giấc trong trạng thái hoang mang tột độ, khi đôi mắt cô ấy dại đi vì không biết mình là ai và đang ở đâu, mùi vỏ cam sành nướng quyện trong hương bơ ấm áp từ chái bếp tỏa vào sẽ làm dịu đi những cơn co thắt của hệ thần kinh. Mùi hương quen thuộc ấy sẽ đem lại cho cô ấy một khoảnh khắc an tâm ngắn ngủi nhưng kỳ diệu. Giữa một thế giới đang mờ dần thành tro bụi, nơi ngay cả tên của chính bản thân mình cô ấy cũng không còn nhớ nổi, thì mùi bánh cam mách bảo với phần linh hồn còn sót lại trong tiềm thức của Mai rằng: người đàn ông tóc bạc phơ đang đứng bên cạnh nhẫn nại đút từng thìa súp cho cô ấy là một người tuyệt đối an toàn, rằng cô ấy đang được chở che trong một mái nhà bình yên. Chỉ một khoảnh khắc an lòng mong manh tựa giọt sương mai đọng trên đầu ngọn cỏ ấy thôi, đối với Bách trong chuỗi ngày tàn này, đã là một món quà vô giá của ơn trên rồi."

Lồng ngực Nhiên thắt lại, một luồng khí lạnh buốt như chạy dọc sống lưng khiến cổ họng cô nghẹn đắng, không thể thốt nên lời. Từng hình ảnh, từng ký ức về những đêm dài cô độc bên chiếc lò nướng ở tiệm bánh Lúc Nửa Đêm bỗng chốc ùa về dồn dập, quay cuồng trong tâm trí.

Cô nhớ lại từng mẻ bánh mà chính đôi bàn tay mình đã tạo ra trong những ca nướng từ không giờ đến ba giờ sáng suốt thời gian qua. Cô từng nướng ổ bánh mì lúa mạch hun khói đượm mùi rơm rạ cho người tài xế xe tải tên Lộc, giúp anh đối diện với nỗi đau mất mát người bạn đồng hành; cô làm chiếc bánh tart dâu tây chua ngọt cho cô sinh viên Minh An để cô gái trẻ dám can đảm gạt bỏ những kỳ vọng áp đặt của gia đình; cô làm bánh sữa mềm ấm áp cho anh kỹ sư Duy, bánh cuộn quế nồng nàn cho người nhạc sĩ già Vĩnh Khang tìm lại giai điệu thất lạc, và ổ bánh lúa mạch hồng khô cho ông giáo Tâm...

Mỗi một chiếc bánh cô dốc trọn tâm lực nhào nặn dưới ánh đèn vàng vọt nơi căn bếp hẻm Hoa Đăng đều mang một sứ mệnh duy nhất: khơi gợi, bóc tách và đánh thức những tầng ký ức ngủ sâu, buộc người thưởng thức phải quay đầu nhìn lại, đối diện với những góc khuất trong quá khứ của chính họ. Cô đã từng tự hào, thậm chí từng tin rằng sức mạnh của men bánh và ngọn lửa lò nướng có thể hàn gắn mọi vết thương lòng của nhân gian.

Thế nhưng, giờ đây, đứng trước sự thật trần trụi về căn bệnh thoái hóa vô phương cứu chữa của bà Mai, đứng trước quy luật tàn khốc của sinh lão bệnh tử mà y học hiện đại cũng phải cúi đầu bất lực, Nhiên mới bàng hoàng nhận ra sự hữu hạn và nhỏ bé của nghề làm bánh. Trước sự lụi tàn sinh học không thể vãn hồi, chiếc bánh nướng hoàn toàn bất lực trong việc khôi phục một tâm trí đã rạn vỡ. Và chính tại ranh giới mong manh giữa sự bất lực ấy với tình yêu thương vô bờ, sự cứu rỗi trong đôi bàn tay người thợ bánh Bách mới hiện lên trọn vẹn và xúc động hơn bao giờ hết. Sự vĩ đại của người thầy mà cô hằng kính ngưỡng giờ đây không còn nằm ở thứ quyền năng màu nhiệm lay động quá khứ, mà nằm ở sự chừng mực đầy lòng trắc ẩn: dùng một mùi hương thân thuộc chỉ để đổi lấy vài phút giây bình yên, không chút đòi hỏi, cho một người không còn khả năng ghi nhớ cuộc đời mình.

Không khí ngoài hiên quán bỗng chốc chùng chình trong một khoảng lặng nặng nề. Đúng lúc ấy, nét mặt bà Phượng đột ngột đanh lại. Đôi mày lá liễu đã điểm sợi bạc nhíu chặt vào nhau, người phụ nữ đã đi qua hơn nửa đời người thở hắt ra một hơi dài đầy u uất. Ánh mắt bà bỗng lóe lên ngọn lửa giận dữ âm ỉ, một nỗi uất nghẹn dường như đã bị đè nén suốt bao năm tháng trong lồng ngực:

"Nhưng ta vẫn giận Bách! Ta giận đến mức từng có những ngày thề với lòng mình rằng sẽ không bao giờ đặt chân đến căn nhà gỗ bên hồ ấy nữa, không thèm nhìn mặt người đàn ông cố chấp ấy nữa!"

Bà Phượng bất thần vỗ mạnh lòng bàn tay xuống mặt bàn gỗ thông. Cú vỗ dứt khoát khiến chiếc ấm gốm thô và hai chiếc tách men lam nảy lên một nhịp, nước trà atisô sánh ra ngoài mép bàn, rỏ từng giọt nâu sẫm xuống mặt đất ẩm.

"Bách là một kẻ tự phụ! Một kẻ kiêu ngạo đến mức mù quáng trong chính sự hy sinh cao cả của bản thân mình!" Giọng bà Phượng run lên bần bật vì xúc động, từng âm sắc sắc lẹm găm vào không gian. "Anh ấy nghĩ mình là ai giữa cuộc đời này chứ? Một đấng cứu thế tử vì đạo sao? Anh ấy tự cho rằng cứ một mình lẳng lặng gánh hết mọi tội lỗi, lẳng lặng nuốt hết đắng cay, rồi dắt díu vợ trốn biệt tăm vào rừng sâu ngút ngàn là có thể chu toàn tất cả, là có thể giữ cho mọi người xung quanh được bình yên sao? Anh ấy nghĩ rằng sự biến mất đột ngột không một lời từ biệt của mình sẽ là sự giải thoát thanh thản cho con bé Nhiên, để con bé không phải vướng bận vào món nợ ân oán truyền đời giữa hai gia đình, không phải chứng kiến cảnh tượng đau lòng, tàn tạ của người thầy mà nó coi như cha ruột? Đàn ông các người lúc nào cũng tự cho mình cái quyền cao thượng được quyết định thay số phận và cảm xúc của người khác!"

Bà Phượng quay ngoắt sang nhìn trừng trừng vào Nhiên, ánh mắt đong đầy nỗi xót xa lẫn thống thiết:

"Bách tưởng rằng sự ra đi trong im lặng của mình là một tấm khiên chở che êm ái. Nhưng rốt cuộc thì kết cục ra sao? Anh ấy có từng mở mắt ra để nhìn thấy rằng chính sự im lặng tàn nhẫn và hèn nhát ấy đã biến thành một mũi dao găm, đâm thủng tâm can con bé này, biến thành một vết thương mưng mủ, rỉ máu ròng rã suốt bốn năm trời không một ngày ngơi nghỉ hay không? Bốn năm qua, con bé Nhiên sống như một kẻ tội đồ mang trọng án, tự giam cầm tuổi xuân của mình trong bóng tối ẩm thấp của căn gác xép, tự trừng phạt bản thân sau hơi nóng ngột ngạt của chiếc lò nướng từ nửa đêm đến sáng tinh sương! Nó không dám bước chân ra ngoài ánh nắng ban ngày, không dám kết bạn, không dám mỉm cười, bởi vì trong tâm trí non nớt của nó luôn khắc sâu nỗi ám ảnh tội lỗi rằng chính sự ích kỷ, đòi hỏi học nghề của nó đã gián tiếp bức tử mẹ ruột và xé nát gia đình của thầy! Bách có biết điều đó không? Sự im lặng của anh ấy chẳng cứu rỗi được một linh hồn nào cả, nó chỉ nhân đôi nỗi đau đớn lên, biến sự hy sinh thành một bản án oan nghiệt đày ải đứa trẻ vô tội này mà thôi!"

Từng lời, từng chữ đanh thép của bà Phượng như lưỡi cưa sắc bén rạch toạc bức màn u tối đã bủa vây, giam hãm tâm thức của Nhiên suốt ngót bốn năm trời.

Một giọt nước mắt nóng hổi khẽ tràn qua khóe mi, lăn dài trên gò má tái nhợt của Nhiên. Rồi giọt thứ hai, giọt thứ ba, lã chã rơi xuống không ngừng. Cô không đưa tay lên lau, cũng không cúi đầu né tránh ánh nhìn của người lớn như mọi lần. Cô để mặc cho những giọt nước mắt ấm nóng ấy tự do rơi xuống mu bàn tay đang run rẩy đặt trên mặt bàn gỗ thông lấm tấm những cánh hoa tử đằng tím biếc.

"Cháu... cháu từng oán hận thầy nhiều lắm, bác Phượng ơi..." Nhiên cất lời, giọng cô nghẹn ngào, vỡ vụn ra thành từng mảnh nhỏ giữa không gian ban mai tĩnh lặng của khu vườn. "Suốt bốn năm qua, không biết bao nhiêu đêm đứng trơ trọi một mình trước ngọn lửa lò nướng rừng rực trong con hẻm sâu hút gió, cháu đã tự gặm nhấm nỗi cô độc và tự hỏi hàng ngàn lần: Tại sao thầy lại có thể nhẫn tâm đến thế? Tại sao thầy lại nỡ bỏ lại một phong thư niêm phong sáp đỏ lạnh lùng trên bàn bếp rồi biến mất không một dấu vết? Tại sao thầy lại vứt bỏ tiệm bánh, vứt bỏ toàn bộ những ước mơ mà hai thầy trò từng cùng nhau ấp ủ, vứt bỏ cháu lại bơ vơ giữa những câu hỏi xé lòng không bao giờ có lời đáp? Đã có những khoảnh khắc tăm tối đến cùng cực, cháu đã nghĩ rằng thầy căm hận cháu đến tận xương tủy... Cháu nghĩ thầy coi cháu chính là kẻ sát nhân, kẻ đã gián tiếp cướp đi sinh mạng của mẹ Thu Hà và đẩy cô Mai vào thảm cảnh bi đát này..."

Nhiên hít một hơi thật sâu, ngước mắt nhìn thẳng vào gương mặt khắc khổ của bà Phượng. Trong đôi mắt đen lánh còn đẫm lệ của cô gái trẻ, cái vẻ hoang mang, sợ hãi, co cụm như một con thú nhỏ bị dồn vào chân tường lúc mới bước chân qua cổng quán Ban Mai sáng nay đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó, một sự thấu suốt sâu sắc, tĩnh tại và vững chãi lạ kỳ đang dần định hình, tỏa sáng từ tận đáy sâu tâm hồn cô:

"Nhưng hôm nay, được ngồi ở đây, được nghe chính tai bác kể lại tất cả những gì thầy đã và đang phải trải qua... cháu mới thực sự hiểu ra mọi chuyện. Thầy Bách của cháu chưa từng là một vị thánh toàn năng đứng trên đỉnh cao của đạo đức, và thầy lại càng không bao giờ căm ghét cháu. Thầy chỉ là một con người bình thường, một người đàn ông bằng xương bằng thịt đang oằn mình, kiệt quệ gánh vác một nỗi đau quá lớn vượt quá sức chịu đựng của một kiếp người. Thầy quặn thắt trước sự ra đi đột ngột của mẹ cháu, thầy bất lực đến tột cùng trước sự lãng quên tàn nhẫn đang từng ngày cướp mất người bạn đời duy nhất, và trên hết, thầy cảm thấy xấu hổ, bất lực vì đã không thể bảo vệ được bất kỳ ai trong số những người mà thầy thương yêu nhất... Thầy chọn cách trốn chạy biệt tích không phải vì tàn nhẫn với cháu, mà vì thầy không còn đủ sức để đối diện với chính cái bóng dằn vặt của bản thân mình."

Nhiên từ từ ngửa mặt lên, đón lấy luồng gió sớm mát rượi thổi từ rặng thông bạt ngàn vào khoảng sân. Mùi hương ngai ngái của đất đỏ bazan sau sương, vị thanh khiết của hoa dại ven rào dường như đang len lỏi vào từng phế nang, gột rửa đi từng lớp tro tàn lạnh lẽo, u ám đã bám chặt vào tâm can cô suốt những năm tháng thanh xuân vùi mình trong bóng tối.

"Cháu không còn oán hận thầy nữa," Nhiên nói tiếp, giọng nói tuy nhỏ nhưng từng lời phát ra lại mộc mạc và kiên định như chiếc rễ thông già cắm sâu vào lòng đất mẹ. "Và cháu cũng sẽ không tiếp tục dùng bóng tối để trừng phạt bản thân mình thêm một ngày nào nữa. Mẹ cháu trước khi nhắm mắt đã để lại lời dặn rằng: Chiếc bánh làm ra là để nuôi dưỡng hiện tại, sưởi ấm những tâm hồn đang sống, chứ không phải để tự giam cầm bản thân trong nấm mồ của quá khứ. Cháu đã hiểu thấu lời mẹ rồi. Cháu biết mình không thể đảo ngược thời gian, không thể thay đổi vụ tai nạn trên đèo Prenn đêm giông bão bốn năm về trước, và cháu cũng không có phép màu nào để chữa lành căn bệnh cho cô Mai. Nhưng cháu tuyệt đối không thể tiếp tục đứng nhìn sự im lặng tàn nhẫn này chia cắt thầy trò cháu thêm nữa. Cháu phải đi tìm thầy."

Bà Phượng sững sờ. Đôi mắt người phụ nữ lớn tuổi mở lớn, nhìn chăm chú vào từng đường nét trên gương mặt người con gái đối diện. Trong một thoáng chốc ngỡ ngàng, bóng hình của Thu Hà năm xưa – người phụ nữ với đôi mắt kiên định, tâm hồn bao dung và một khí chất quật cường không bao giờ chịu khuất phục trước nghịch cảnh – như đang hiển hiện một cách trọn vẹn, sống động ngay trong từng cử chỉ, ánh mắt của Lạc Nhiên ngày hôm nay.

Không gian xung quanh chiếc bàn gỗ thông rơi vào một khoảng lặng sâu lắng, thiêng liêng. Tiếng chim rừng ríu rít chuyền cành trên giàn tử đằng như điểm xuyết cho sự chuyển mình của lòng người. Đúng lúc ấy, Thịnh, người nãy giờ vẫn ngồi im lặng bên cạnh Nhiên như một khối đá tảng vững chãi che chắn cho cô trước mọi giông gió, khẽ hắng giọng. Anh dịch người lại gần mép bàn, hai bờ vai rộng khẽ thẳng lên, hướng ánh nhìn điềm đạm nhưng sắc sảo về phía bà Phượng.

"Thưa bác Phượng," Thịnh cất lời, chất giọng trầm ấm, rành rọt mang theo vẻ kiên định, từng trải của một người đàn ông quen đối mặt với hiểm nguy và sự khắc nghiệt của màn đêm. "Cháu xin phép được nói vài lời với tư cách là một người đã đồng hành cùng Nhiên qua những đêm đen tăm tối nhất, và hơn hết, với tư cách của một kẻ từng phạm phải sai lầm mù quáng giống hệt như thầy Bách."

Bà Phượng khẽ chuyển ánh nhìn sang chàng trai trẻ. Dưới ánh nắng sớm rọi nghiêng, chiếc áo khoác gió sờn vai của Thịnh còn vương vài hạt bụi đường, đôi bàn tay anh thô ráp với những vết chai sần của sương gió lao động, nhưng ánh mắt nhìn cô thợ bánh bên cạnh lại đong đầy một sự thấu hiểu và bảo bọc chở che đến lạ lùng.

"Cháu hiểu rất rõ cái cảm giác của thầy Bách lúc quyết định dứt áo ra đi," Thịnh chậm rãi giãi bày, nơi khóe mắt anh thoáng gợn lên một nét u hoài khi nghĩ về đứa em trai Gia Huy của mình ở phương xa. "Bản thân cháu trong quá khứ cũng từng tự cho mình cái quyền cao thượng ấy. Cháu từng nghĩ rằng tự mình gánh chịu mọi hậu quả, tự mình ôm lấy nợ nần và đắng cay, rồi nhẫn tâm xua đuổi, cắt đứt liên lạc với người thân ruột thịt là cách tốt nhất để bảo vệ họ khỏi sự vấy bẩn của số phận mình. Cháu từng lạnh lùng xua đuổi em trai mình ra khỏi nhà, để rồi chính sự kiêu hãnh mù quáng ấy đã biến ba năm trời ròng rã thành một khoảng trống đau đớn, cào xé tâm can của cả hai anh em. Khi một người đàn ông mang trong mình quá nhiều mặc cảm tội lỗi, họ thường có xu hướng tự đào một cái hố sâu, xây lên những bức tường thành kiên cố bằng sự im lặng, rồi tự huyễn hoặc rằng làm như vậy là vì sự bình yên của người khác."

Thịnh dừng lại một nhịp, đưa bàn tay ấm áp, chai sạn của mình đặt nhẹ lên mặt bàn gỗ, chỉ cách những ngón tay của Nhiên trong gang tấc. Đó không phải là một sự chiếm hữu, mà là một sự hiện diện vững vàng, ngầm khẳng định rằng dù có bất cứ phong ba nào phía trước, anh vẫn sẽ luôn ở đây, cùng cô chia sẻ gánh nặng:

"Nhưng hôm nay, thưa bác, chuyến đi này của chúng cháu đến đây hoàn toàn không phải để tìm gặp thầy Bách mà đòi lại một món nợ ân tình cũ. Nhiên tìm thầy không phải để buông lời trách cứ về sự biến mất của ông, không phải để đòi một lời xin lỗi cho bốn năm tuổi xuân bị chôn vùi trong gác xép, và càng không phải để cầu xin thầy ban phát một lời tha thứ hòng vỗ về cái lương tâm đang bứt rứt của riêng cô ấy. Nhiên đến là để đứng trước mặt người thầy của mình với tư thế của một người thợ làm bánh độc lập, bình đẳng và đầy tự trọng."

Thịnh nhìn thẳng vào mắt bà Phượng, từng câu chữ đanh lại đầy sức thuyết phục:

"Nhiên muốn tự tay tháo dỡ những hiểu lầm đã giam hãm số phận của cả hai thế hệ suốt bao năm qua. Cô ấy muốn bước hẳn ra khỏi bóng tối ngột ngạt của ca đêm, và quan trọng hơn hết, cô ấy muốn tự tay lựa chọn tương lai cho tiệm bánh Lúc Nửa Đêm. Tương lai ấy phải được xây dựng trên sự thật, trên ánh sáng ban ngày và sự đón nhận thanh thản, chứ không thể tiếp tục tự huyễn hoặc mình trên những mảnh vỡ của sự trốn tránh. Cô ấy đã đủ dũng khí để bước chân ra đường lúc sáu giờ sáng hôm nay, vượt qua nỗi kinh hoàng đối diện với ánh mặt trời đã giam cầm mình suốt bốn năm ròng rã. Một người con gái kiên cường như vậy, thưa bác, hoàn toàn xứng đáng và có đủ tư cách để được biết con đường dẫn đến nơi người thầy của mình đang sống."

Bà Phượng ngồi bất động giữa luồng gió sớm. Từng lời nói mộc mạc, thẳng thắn nhưng sắc sảo như lưỡi dao găm của chàng trai bảo vệ ca đêm đã đánh trúng vào mắt xích quan trọng nhất, giải tỏa hoàn toàn mối hoài nghi sâu kín cuối cùng trong lòng bà. Bà đưa mắt nhìn lại Nhiên. Cô gái nhỏ nhắn ngồi đó, đôi bờ vai đã ngừng run rẩy, lưng thẳng tắp, đôi mắt ráo hoảnh ngời lên một ý chí sắt đá, kiên trinh. Đó không còn là hình bóng đứa trẻ hoảng loạn, yếu đuối co rúm người sau tấm rèm nhung đen ngày nào nữa, mà đã thực sự là một người thợ làm bánh trưởng thành, một người đã nếm trải đủ đắng cay của cuộc đời, đã thấu hiểu tận cùng cái giá của sự tha thứ và sẵn sàng gánh vác trách nhiệm trên chính đôi vai mình.

Một làn gió nhẹ lại lướt qua khu vườn, mang theo những tia nắng vàng ươm rực rỡ rải đều trên những tán lá trà xanh mướt mát. Màn sương lạnh lẽo đầu ngày dường như đã tan biến tự lúc nào, nhường chỗ cho một không gian trong trẻo, khoáng đạt và nhẹ nhõm đến diệu kỳ.

Bà Phượng thở dài một hơi thật êm, nhưng lần này, khóe môi bà đã nở ra một nụ cười rạng rỡ, ấm áp lạ thường. Đó là nụ cười trút bỏ được gánh nặng của một người gác cổng trung thành, sau bao năm tháng cô độc giữ gìn một bí mật đau đớn, cuối cùng cũng đã tìm được người thực sự xứng đáng để trao lại chiếc chìa khóa định mệnh.

"Được rồi," bà Phượng khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ trìu mến. "Hai cháu đã nói rất đúng. Ta già rồi, đôi khi sự cẩn trọng quá mức lại biến thành sự hẹp hòi, bảo thủ. Con bé Nhiên của chúng ta đã thực sự lớn khôn rồi. Thu Hà dưới suối vàng, nếu hôm nay nhìn thấy con gái mình kiên cường và bao dung như thế này, chắc chắn sẽ mỉm cười thanh thản mà ngậm cười nơi chín suối."

Nói dứt lời, bà Phượng dứt khoát đứng dậy. Tà áo dài nhung đen khẽ lay động theo từng bước chân chậm rãi nhưng dứt khoát của bà hướng vào bên trong gian nhà chính của quán cà phê Ban Mai. Nhiên và Thịnh đưa mắt nhìn nhau, một luồng cảm xúc hồi hộp xen lẫn xúc động trào dâng mãnh liệt nơi lồng ngực. Nhiên có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng nhịp tim mình đang đập rộn ràng trong lồng ngực.

Chỉ ít phút sau, tiếng bước chân quen thuộc lại vang lên trên sàn gỗ. Bà Phượng quay trở lại bàn trà ngoài hiên. Trên tay bà không phải là một cuốn sổ danh bạ mục nát, cũng chẳng phải là một tập tài liệu hành chính dày cộm hay chiếc điện thoại thông minh, mà là một mảnh giấy nướng bánh màu vàng ngà mỏng manh, phẳng phiu, cùng một cây bút chì gỗ chuốt nhọn ngòi đen nhánh.

Bà ngồi xuống chiếc ghế mây đối diện hai người, cẩn thận đặt mảnh giấy nướng bánh lên mặt bàn gỗ thông, dùng lòng bàn tay khô ráp miết thật phẳng từng góc cạnh, xua đi những nếp nhăn li ti trên mặt giấy thô ráp thoang thoảng mùi bột mì khô.

"Đường vào căn nhà gỗ của Bách không hề có tên trên bất kỳ tấm bản đồ du lịch nào của thành phố, và các cháu cũng đừng mong tìm thấy nó bằng sóng định vị điện thoại," bà Phượng vừa nói, vừa đặt đầu ngòi bút chì đen nhánh lên mặt giấy nướng bánh. Đôi bàn tay từng trải của người phụ nữ bắt đầu vạch ra những nét vẽ đầu tiên, dứt khoát, tỉ mỉ và chuẩn xác như khắc vào không gian từng khúc quanh, từng ngã rẽ hiểm trở.

"Từ bến thuyền du lịch trung tâm của hồ Tuyền Lam, các cháu chạy xe máy men theo con đường nhựa uốn lượn ven mép nước hướng về phía tây nam khoảng chừng sáu cây số. Con đường này buổi sáng rất vắng vẻ nhưng nhiều đoạn cua khuất tầm nhìn. Các cháu cứ đi thẳng cho đến khi gặp một chiếc đập tràn bằng đá chẻ cũ kỹ, phủ đầy rêu phong xanh ngắt bắc qua một nhánh hồ hẹp. Đến đó, con đường nhựa phẳng phiu sẽ hoàn toàn kết thúc. Từ chân đập tràn trở đi, sẽ chỉ còn lại duy nhất một con đường mòn lâm nghiệp xuyên thẳng vào vùng lõi của rừng thông nguyên sinh."

Ngòi bút chì gỗ của bà Phượng trượt đi thoăn thoắt trên nền giấy vàng ngà, lần lượt vẽ nên từng mốc nhận diện tự nhiên với một trí nhớ đáng kinh ngạc:

"Đoạn đường rừng này cực kỳ gian nan. Đất đỏ bazan sau những cơn mưa sương đêm qua sẽ rất trơn trượt, nhão nhoét, lại có vô số rễ thông cổ thụ trồi lên mặt đất gồ ghề như những bẫy ngầm chực chờ làm trượt bánh xe. Các cháu phải giữ thật chắc tay lái, chạy xe men sát theo triền đồi thoai thoải bên tay phải. Đi chừng hai cây số, các cháu sẽ phải vượt qua một cây cầu gỗ thông mục nát bắc ngang một con suối cạn đáy rải đầy đá cuội trơn tuột. Đi tiếp thêm khoảng ba cây số nữa xuyên qua cánh rừng rậm rạp, các cháu sẽ bắt gặp một vạt thông đuôi phụng cổ thụ có một cây lớn bị sét đánh cháy sém mất nửa thân mình, cành khô chĩa lên trời như một bàn tay xương xẩu."

Đầu bút chì của bà Phượng dừng lại tại một điểm giao cắt hình chữ Y trên mặt giấy, gõ nhẹ hai tiếng cộc cộc đầy cảnh báo:

"Tại ngã ba cây thông cháy sém này, tuyệt đối không được rẽ sang nhánh đường bên trái. Nhánh đó dốc đứng, hiểm trở và sẽ dẫn thẳng lên khu bảo tồn rừng cấm nghiêm ngặt của trạm kiểm lâm, nơi có cọc tiêu báo hiệu nguy hiểm. Các cháu bắt buộc phải bẻ lái rẽ sang nhánh bên phải, men theo một lối mòn hẹp dốc ngược dẫn sâu vào một hẻm núi đá quanh năm rợp bóng cây. Nơi đó địa hình lòng chảo tạo thành một luồng hút gió tự nhiên kỳ lạ, mỗi khi có gió từ hồ thổi thốc qua rặng thông, tiếng rít qua các khe đá nghe trầm bổng, thê lương hệt như tiếng người thổi sáo giữa rừng hoang."

Bà Phượng đưa nét chì lượn một đường cong mềm mại thoát ra khỏi hẻm núi đá, rồi chấm một dấu tròn đậm nét, dứt khoát ở phần mũi đất nhô hẳn ra giữa mặt hồ nước mênh mông:

"Chạy hết con đường mòn xuyên qua hẻm núi đá ấy, rừng thông rậm rạp sẽ đột ngột mở toang ra trước mắt một doi đất thoai thoải hình cánh cung, nhìn thẳng ra vịnh nước tĩnh lặng và sâu nhất của toàn bộ lòng hồ Tuyền Lam. Nơi đó, các cháu sẽ nhìn thấy một bến thuyền nhỏ bằng gỗ thông ghép hình chữ T vươn dài ra mặt nước biếc. Căn nhà gỗ ba gian lợp mái ngói đất nung rêu phong của Bách nằm nép mình khiêm nhường dưới bóng mát của ba cây thông cổ thụ ngàn năm tuổi. Nhìn lên mái nhà, các cháu sẽ thấy một ống khói bằng đá cuội thô nhám xám xịt, nơi luôn tỏa ra những làn khói lam chiều ấm áp phảng phất mùi củi thông và vỏ cam nướng mỗi sớm mai."

Thịnh ghé sát mặt lại gần bản vẽ, đôi mắt sắc sảo của người lính bảo vệ ban đêm chăm chú ghi nhận từng khúc quanh, từng ký hiệu và nhẩm tính địa hình một cách cẩn trọng. Vốn là người quá đỗi quen thuộc với việc tuần tra đêm hôm và có trực giác định hướng không gian tuyệt vời, anh nhanh chóng hình dung ra độ dốc, độ trơn trượt và mức độ hiểm trở của từng chặng đường mà ngòi bút chì vừa vạch ra.

"Đường mòn lâm nghiệp nhiều rễ thông nổi, lại dốc ngược và trơn trượt sau sương sớm," Thịnh lẩm nhẩm tính toán cẩn thận trong đầu rồi ngước lên nhìn Nhiên, giọng trầm tĩnh nhưng chắc nịch: "Nếu anh cầm lái chiếc xe máy số của mình, cài số thấp và giữ tốc độ thật an toàn, thì từ chân đập tràn bằng đá chẻ đi xuyên qua hẻm núi gió sáo để đến được doi đất ven hồ đó, chúng ta sẽ mất khoảng tròn một tiếng đồng hồ đường rừng."

Nhiên khẽ gật đầu, trong ánh mắt cô không hề gợn lên một chút e dè hay ngần ngại nào. Một tiếng đồng hồ vật lộn với đường rừng gập ghềnh rễ cây, đá trơn và dốc ngược thì có nghĩa lý gì so với bốn năm ròng rã mịt mù, tăm tối mà hai thầy trò cô đã phải cô độc vượt qua trong cõi lòng hoang hoải?

Bà Phượng từ tốn đặt cây bút chì gỗ xuống mặt bàn nứt nẻ. Bằng những ngón tay gầy guộc nhưng khéo léo, bà cẩn thận gấp mảnh giấy nướng bánh mỏng manh ấy lại làm tư một cách vuông vắn, ngay ngắn. Thế nhưng, bà chưa vội vàng trao nó cho Nhiên ngay. Bàn tay của người đàn bà luống tuổi vẫn đè chặt lên nếp gấp của tờ giấy, ánh mắt bà nhìn thẳng vào đôi mắt đen lánh của Nhiên bỗng trở nên vô cùng trang nghiêm, tha thiết, tựa hồ như muốn truyền tải một lời di huấn thiêng liêng sau cùng:

"Nhiên à, tấm bản đồ vẽ vội trên giấy nướng bánh này sẽ dẫn lối cho hai cháu tìm đến được bậc cửa của căn nhà gỗ ven hồ. Nhưng để thực sự bước chân qua cánh cửa ấy, để có thể mở lại mối dây liên kết ruột thịt của nghề làm bánh đã bị chặt đứt suốt bốn năm qua... cháu nhất định phải mang theo một thứ khác nữa."

Nhiên chớp nhẹ hàng mi đẫm sương, khẽ nghiêng đầu ngơ ngác nhìn bà:

"Thứ gì nữa ạ, thưa bác Phượng?"

Bà Phượng mỉm cười, một nụ cười hiền hậu, ấm áp chứa chan niềm tin cậy tuyệt đối:

"Hãy mang theo cho Bách một hũ bột men cái mà cháu đang ngày đêm chăm sóc, nuôi dưỡng ở tiệm bánh Lúc Nửa Đêm."

Lời dặn dò ngắn gọn của bà Phượng tựa một tia chớp rạch ngang qua màn đêm u tối trong tâm trí Nhiên, khiến cả cơ thể cô khẽ rùng mình rung động.

Hũ men cái gia truyền! Chiếc hũ sành màu da lươn thô mộc được bọc cẩn thận qua ba lớp vải lanh xám xịt và buộc chặt bằng ba vòng dây thừng gai thô nhám – di sản vô giá sau cùng mà thầy Bách đã âm thầm để lại bên cạnh chiếc lò nướng trước khi rũ áo ra đi biệt tích. Thứ men cái kỳ diệu mà đêm hôm qua, trong cơn cuồng nộ, đau đớn và tuyệt vọng đến tột cùng khi phát hiện ra bức thư tuyệt mệnh giấu kín của mẹ, cô đã từng mù quáng muốn trút bỏ toàn bộ vào thùng rác sau bếp để đoạn tuyệt với nghề, để chôn vùi vĩnh viễn mọi đau thương dĩ vãng... Nhưng chính chú mèo Mè trung thành đã lao mình cản lại, và chính bàn tay rắn rỏi, kịp thời của Thịnh đã liều mình giữ chặt lấy nó, không để mầm sống ấy bị hủy hoại trong phút giây nông nổi.

"Men cái đối với người thợ làm bánh chân chính chưa bao giờ đơn thuần chỉ là hỗn hợp của bột mì, nước suối và những vi sinh vật vô tri vô giác," bà Phượng chậm rãi cất giọng, âm điệu trầm lắng của bà hòa quyện nhịp nhàng vào tiếng thông reo rì rào ngoài hiên quán. "Nó là sự tiếp nối thiêng liêng của một dòng chảy sinh mệnh. Nó là hơi thở, là nhịp đập con tim, là kết tinh mồ hôi và nước mắt của những thế hệ thợ bánh đi trước truyền lại cho kẻ đi sau. Bách đã nâng niu, nuôi dưỡng mầm men ấy suốt nửa cuộc đời mình, rồi đem trọn vẹn niềm tin và hy vọng trao lại nó cho cháu. Và cháu, suốt bốn năm qua trong bóng tối của hẻm Hoa Đăng, đã dùng chính hơi ấm của mầm men ấy để thắp lửa lò nướng, nhào nặn ra những ổ bánh thơm lành nâng đỡ biết bao số phận lạc lối, tổn thương giữa những đêm dài lạnh lẽo của xứ sở sương mù này."

Bà Phượng khẽ thở dài, trong đáy mắt ánh lên một nỗi niềm cảm kích khôn nguôi:

"Cháu có biết không, suốt bốn năm qua sống ẩn dật bên bờ hồ Tuyền Lam cô quạnh, Bách chỉ dùng thứ bột mì khô đóng bao công nghiệp tầm thường mua từ tiệm tạp hóa Vạn Hảo ngoài thị trấn để nướng bánh cam mỗi sáng cho Mai. Bởi vì nhánh men cái nguyên bản, tinh túy và linh thiêng nhất của dòng họ ẩm thực này, anh ấy đã dốc cạn tâm can, trao trọn vẹn không giữ lại một chút gì cho cháu từ cái đêm định mệnh ấy rồi. Bách tự tước đoạt đi linh hồn làm bánh của chính mình để trao lại ngọn lửa thiêng ấy cho người học trò duy nhất. Vì vậy, Nhiên à, hãy chiết lấy một phần men cái đang sống khỏe mạnh ấy mang đến cho Bách. Bởi vì đó chính là nhịp cầu duy nhất, vững chãi nhất có thể nối liền hai thế hệ thợ bánh đã rạn vỡ. Đó sẽ là minh chứng hùng hồn và sống động nhất mách bảo với Bách rằng: Người học trò nhỏ của anh ấy chưa bao giờ gục ngã trước giông bão cuộc đời, con bé đã thực sự trưởng thành, đã đứng vững trên đôi chân của mình và giữ cho ngọn lửa nghề của dòng họ không bao giờ lụi tàn trong đêm tối."

Trái tim Nhiên rung lên từng hồi mãnh liệt, ngực cô phập phồng trong một cơn xúc động trào dâng nghẹn ngào. Từng tế bào trong cơ thể cô như bừng tỉnh, rạo rực một sức sống mới.

Phải rồi, là men cái!

Thứ bột men mà bấy lâu nay cô từng khiếp sợ, từng coi nó như một sợi xiềng xích vô hình trói buộc cuộc đời mình vào bản án mặc cảm tội lỗi của quá khứ, hóa ra lại chính là chiếc mỏ neo thiêng liêng của niềm tin, của sự trao truyền và lòng bao dung bất tận. Nó không phải là tro tàn của người đã khuất, mà là mầm sống đang không ngừng sinh sôi nảy nở để nuôi dưỡng hiện tại và hướng về tương lai.

Bà Phượng mỉm cười đầy mãn nguyện, từ từ nhấc bàn tay gầy guộc của mình lên, đẩy nhẹ mảnh giấy nướng bánh gấp tư về phía mép bàn đối diện.

Nhiên khẽ hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng sinh khí thanh khiết của đất trời Đà Lạt. Cô cung kính vươn cả hai bàn tay ra, đón lấy mảnh giấy nướng bánh từ tay người bạn tri kỷ lâu năm của thầy. Mảnh giấy mỏng manh, nhẹ bẫng tựa một chiếc lá khô mục phảng phất mùi bột mì cũ và hương khói thông ngai ngái, nhưng khi chạm vào da thịt ấm nóng của lòng bàn tay cô, nó lại truyền đến một sức nặng ngàn cân – sức nặng thiêng liêng của một lời hẹn ước định mệnh đã được số phận sắp đặt từ trước.

Nhiên từ từ khép chặt các ngón tay lại.

Mảnh giấy ghi lộ trình ven hồ nằm gọn ghẽ, ấm áp trong lòng bàn tay cô gái trẻ, mở ra cánh cửa dẫn vào chặng cuối cùng của một hành trình dài đằng đẵng đi tìm lời giải đáp cho những nỗi đau của một thời dĩ vãng.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories