Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.26 / 40
Chapter 26

Nhà kính trên đồi sương

Ánh đèn pha xe máy của Thịnh chầm chậm xuyên qua màn đêm đen kịt sau hoàng hôn trên đèo Mimosa, rọi lên con dốc đất đỏ nhão nhoẹt dẫn sâu vào rặng thông già tĩnh mịch.

Chiếc xe máy số đời cũ gằn từng nhịp trầm đục, tiếng bô nổ lụp bụp nghẹn ngào giữa không gian ẩm ướt rợn ngợp khi bánh sau cắn vào lớp bùn trơn trượt sau trận mưa rào chiều muộn. Đất đỏ bazan của triền đèo khi ngậm đẫm nước mưa sẽ biến thành một thứ bùn dẻo quánh, trơn tuột như mỡ và bám chặt lấy từng rãnh gai lốp xe. Bánh sau thỉnh thoảng lại trượt chếch sang một bên bởi những viên đá dăm sắc nhọn và những búi rễ thông gồ ghề trồi ngược lên mặt đất như những chiếc xương sườn của lòng đồi, nhưng đôi cánh tay rắn rỏi của Thịnh giữ ghi-đông vẫn vững như bàn thạch. Anh ghì chặt tay lái bằng những thớ cơ căng cứng dưới lớp áo khoác, hạ thấp trọng tâm thân người, đôi chân mang ủng lính sẵn sàng rà sát mặt đất để giữ thăng bằng, nhấp nhả côn số vô cùng thuần thục và nhịp nhàng. Chiếc xe cứ thế lì lợm bò từng mét một vượt qua con dốc dựng đứng, len lỏi qua từng khúc quanh khuất gió của triền đèo, nơi sương mù bắt đầu từ những thung lũng sâu cuồn cuộn dâng lên như những tấm màn voan xám đục.

Phía trước cổ xe, trong chiếc giỏ bạt canvas quân đội dày cộp màu xanh ô liu mà Thịnh đã cẩn thận lót sẵn hai lớp khăn lông mềm mại, con mèo Mè ngồi gọn gàng bất động. Toàn thân nó thu lại thành một khối đen mun tròn lẳn, chỉ có đôi tai tam giác nhọn hoắt thỉnh thoảng khẽ giật giật về phía sau theo từng tiếng nổ gằn của bô xe hay tiếng cành khô gãy giòn dưới lốp cao su. Nhưng đôi mắt tròn xoe màu ngọc bích phẳng lặng của nó thì không hề chớp, chăm chú rọi thẳng vào màn sương đen kịt phía trước. Mè không hề tỏ ra sợ hãi hay bất an trước độ dốc hiểm trở và những cú xóc nảy chực hất tung mọi thứ; dường như chính nó cũng nhận ra mùi của con đường mòn này, một mùi hương chôn giấu dưới những tầng lá mục, rêu ẩm và nhựa thông ngái nồng mà nó từng quen thuộc từ rất nhiều năm về trước. Chiếc mũi đen nhỏ xíu của nó khẽ phập phồng, hít lấy từng luồng gió lạnh buốt lùa qua kẽ giỏ bạt.

Nhiên ngồi thu mình phía sau, hai bàn tay luồn sâu vào hai bên túi áo khoác da bò dày dặn của Thịnh. Hơi ấm âm ỉ tỏa ra từ lớp áo dạ lót bên trong và tấm lưng rộng vững chãi của anh chắn gần hết những luồng gió núi lạnh buốt đang thốc ngược từ thung lũng hun hút lên. Cô khẽ áp trán vào bờ vai anh, cảm nhận từng rung động cơ học quen thuộc của động cơ truyền qua khung sắt, và lắng nghe tiếng thở đều đặn, điềm tĩnh của người bạn đồng hành giữa không gian hoang vu ngút ngàn.

Suốt một ngày dài vừa qua, cô đã trùm chăn kín mít trên căn gác xép tối om của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm, run rẩy và co cụm trước những thanh âm rộn rã cùng luồng ánh sáng chói gắt của ban ngày chiếu qua những khe ván gỗ. Ký ức về vụ tai nạn thảm khốc của mẹ bốn năm trước trên con dốc sương mù vẫn là một vết thương hở toác, chưa bao giờ khép miệng, khiến cô không tài nào bước chân ra khỏi ngưỡng cửa dưới ánh mặt trời rực rỡ mà không rơi vào trạng thái nghẹt thở, lồng ngực co thắt và tứ chi tê liệt vì hoảng loạn. Ánh sáng ban ngày đối với cô là kẻ thù, là tấm gương rọi chiếu sự bất lực và tội lỗi. Nhưng Thịnh đã không ép cô. Anh không buông ra những lời khuyên sáo rỗng rằng cô phải dũng cảm đối mặt ngay lập tức, không cố kéo giật cô ra ngoài khoảng sáng khi thâm tâm cô chưa hề sẵn sàng. Anh chỉ lặng lẽ đổi toàn bộ kế hoạch lên đồi sang ban đêm, kiên nhẫn đợi cho đến khi vệt sáng hoàng hôn cuối cùng khuất hẳn sau rặng Langbiang hùng vĩ, cả thành phố cao nguyên chìm sâu vào bóng tối bao dung quen thuộc, mới nổ máy chở cô đi.

Chính sự thấu hiểu lặng lẽ và dịu dàng đến mức cẩn trọng ấy đã cho Nhiên một điểm tựa an toàn tuyệt đối. Giữa màn đêm bưng bít của đèo dốc sương giăng, nơi bóng tối che giấu đi những vực sâu thăm thẳm và xóa nhòa ranh giới của những sợ hãi hữu hình, cô không còn cảm thấy mình là một kẻ trốn chạy tật nguyền mang tâm hồn rách nát, mà chỉ là một người lữ hành đang lần theo những dấu vết bị vùi lấp của cuộc đời mình và của những người cô hằng yêu kính.

“Đoạn này dốc gắt và nhiều rãnh nước xói lở lắm,” Thịnh hơi nghiêng đầu, cất giọng trầm ấm lọt qua khe kính chắn gió của chiếc mũ bảo hiểm. “Nhiên bám chắc vào nhé. Còn khoảng hai trăm mét nữa qua khỏi trạm kiểm lâm cũ là tới triền thông đuôi phụng.”

“Em bám chắc rồi,” Nhiên đáp khẽ, hai bàn tay trong túi áo khẽ siết nhẹ vạt áo da của anh. “Anh đi từ từ thôi, không cần vội đâu.”

Chiếc xe gầm lên một tiếng ngắn, chồm qua một gờ đất gồ ghề đầy rễ thông lớn vắt ngang đường như những con trăn khổng lồ. Vệt đèn pha quét qua một tấm biển gỗ mục nát gãy gục bên vệ cỏ, trên mặt gỗ phủ đầy rêu xanh ẩm ướt chỉ còn lờ mờ hình bóng của trạm kiểm lâm bỏ hoang nhiều năm. Mái ngói fibro-xi măng của trạm đã sụp đổ một nửa, cây dại và những bụi dương xỉ khổng lồ mọc tràn ra tận mép đường mòn. Con đường từ đây hẹp lại chỉ vừa một thân xe, hai bên cỏ dại cao vút và những nhánh tầm xuân rừng trổ gai nhọn quẹt rin rít vào giỏ bạt và ống quần dày của hai người. Mùi lá thông tươi bị bánh xe nghiền nát bốc lên ngai ngái, the nồng, hòa quyện với mùi ẩm mốc của đất mùn tích tụ qua bao mùa mưa cao nguyên, tạo nên một thứ bầu không khí đặc quánh phong vị rừng già.

Sau khi chật vật vượt qua một khúc cua ngoặt hình chữ U dốc đứng, nơi đất đá bị nước xói thành một con mương nhỏ sâu hoắm, con dốc thoải dần rồi mở ra một khoảng đất bằng phẳng nằm khuất sau vạt thông cổ thụ cao vút. Cây cối ở đây rậm rạp và tĩnh lặng khác thường, dường như gió đèo đã bị những tầng tán thông rậm rạp chắn lại ở phía ngoài. Thịnh bóp nhẹ cả hai phanh, chống đôi chân dài mang ủng da vững chãi xuống nền đất lầy lội, rồi xoay chìa khóa tắt máy xe.

Tiếng nổ giòn giã của động cơ tắt ngấm. Không gian lập tức chìm vào một sự tĩnh mịch tuyệt đối, sâu thẳm và tịch liêu đến mức người ta có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng sương đêm ngưng tụ trên những ngọn thông cao vút rồi tí tách rơi xuống thảm lá mục ẩm ướt bên dưới. Gió rừng thoảng qua từng đợt nhẹ, mang theo cái lạnh buốt sắc như dao lam cứa vào da thịt của vùng cao độ hơn một nghìn mét. Không khí trong lành đến mức buốt nhói cả cuống họng khi hít sâu vào lồng ngực.

Cả hai dừng lại trước cổng sắt hoen rỉ của khu nhà kính bỏ hoang.

Dưới luồng sáng gom tụ trắng xóa từ chiếc đèn pin bảo vệ cỡ lớn mà Thịnh vừa bật lên, hiện ra một công trình kiến trúc thời thuộc địa lặng lẽ nép mình giữa triền đồi hoang phế. Đó là một khu nhà kính có vòm sắt cong đôi mang đậm phong cách Pháp cổ từ nửa đầu thế kỷ trước, từng thanh sắt uốn lượn hình cánh cung tinh xảo nay đã tróc hết lớp sơn trắng nguyên bản, để lộ phần kim loại hoen rỉ màu nâu sẫm, phủ kín những mảng rêu phong dày cộp và địa y xám bạc loang lổ. Hàng trăm ô kính xung quanh phần lớn đã nứt vỡ, rơi rụng hoặc vỡ vụn qua nhiều thập kỷ giông bão và sương muối rừng già, để lại những khung sắt trống hoác tựa như bộ khung xương lồng ngực của một sinh vật khổng lồ thời tiền sử ngủ quên giữa rừng sâu tăm tối.

Nhưng điều khiến Nhiên phải nín thở, đôi mắt mở to ngỡ ngàng chính là những nhánh mimosa dại. Chúng không chỉ mọc xung quanh, mà đã mọc tràn lan từ chân tường đá nứt nẻ, men theo những thanh giằng kim loại rỉ sét mà vươn lên, bao bọc và ken dày lấy gần như toàn bộ vòm kính bên ngoài. Giữa tiết trời buốt giá sau cơn mưa chiều muộn, những chùm hoa mimosa đầu mùa tròn xoe như những cục bông nhỏ màu vàng mơ đang bung nở chi chít, ướt đẫm sương đêm. Từng giọt nước li ti bám trên những sợi lông hoa vàng rực, phản chiếu ánh đèn pin lấp lánh như hàng vạn hạt kim cương nhỏ đính trên nền sắt gỉ thâm trầm. Hương thơm ngai ngái, thanh nhẹ và hơi chát đặc trưng của phấn hoa mimosa ướt sương quyện chặt vào không khí ẩm lạnh, tràn vào khoang mũi Nhiên, thân thuộc đến mức khiến lồng ngực cô thắt lại nhói buốt.

Chính là nơi này. Không thể nhầm lẫn vào đâu được. Bối cảnh vòm sắt cong đôi thanh thoát trong bức ảnh đen trắng đã ố vàng của mẹ Thu Hà, nơi bà Sương từng đặt chân tới ba mươi năm trước để tìm mua những mớ thảo mộc bản địa, và cũng là nơi con dấu sáp hình nhánh mimosa ba nhánh trên bức thư của thầy Bách được thai nghén bằng tất cả sự thầm lặng của một đời người.

“Cánh cổng này bị khóa xích từ lâu rồi, nhưng xích sắt đã mục đứt hết cả,” Thịnh cầm đèn pin soi vào ổ khóa cổng sắt rỉ ngoét, từng mắt xích to bằng ngón tay cái đã bị rỉ sét ăn mòn đứt gãy thành từng đoạn, anh đưa bàn tay bọc găng da đẩy nhẹ vào cánh cửa.

*Két... rẹt...*

Tiếng kim loại ma sát khô khốc, nặng nề vang lên giữa đêm thanh vắng, nghe rợn người như tiếng thở dài của một cánh cửa hầm mộ lâu năm vừa bị đánh thức. Cánh cổng sắt nặng trịch hé mở một khoảng vừa đủ một người lách qua. Một mảng dây leo mimosa rậm rạp bám bên trên vòm cổng rung lên bần bật, làm trút xuống một làn mưa bụi hoa vàng ướt lạnh lên vai áo khoác và mái tóc của hai người.

Chưa kịp để Thịnh bước vào thăm dò mặt đất, con mèo Mè đã nhanh thoăn thoắt bật nhẹ người phóng từ trong giỏ bạt xuống đất. Bốn bàn chân đệm thịt êm ru của nó tiếp đất không một tiếng động nhỏ. Mè vẫy vẫy chiếc đuôi đen tuyền, đôi tai dựng đứng cảnh giác hướng về phía bóng tối bên trong, rồi thoăn thoắt lách qua khe cổng sắt hé mở, bước thẳng vào bên trong khoảng sân gạch lát rêu trơn như thể nó đang trở về chính ngôi nhà của mình.

“Mè, cẩn thận miểng chai!” Nhiên buột miệng gọi khẽ, toan rảo bước nhanh theo bóng con mèo.

“Để anh đi trước soi đường cho,” Thịnh nhẹ nhàng nhưng dứt khoát giữ lấy khuỷu tay cô, bước lên chắn trước nửa bước. Anh cầm chiếc đèn pin rọi một vệt sáng trắng quét ngang mặt đất, tay kia nắm chặt cán chiếc xẻng bộ binh gấp gọn để phòng ngừa rắn rết hay những cành gỗ mục rớt xuống từ trần vòm. “Dưới đất toàn là mảnh kính vỡ từ mái vòm rơi xuống qua nhiều năm, em bước cẩn thận vào những chỗ có gạch phẳng phẳng anh rọi đèn này.”

Con mèo Mè dường như chẳng hề bận tâm hay cần đến luồng sáng nhân tạo ấy. Trong bóng tối đặc quánh của khu nhà kính, bóng dáng đen mượt của nó thoăn thoắt lướt đi một cách kỳ ảo, uyển chuyển. Nó khéo léo luồn lách qua những mảnh kính vỡ sắc nhọn vương vãi khắp sàn gạch, vòng qua những giàn gỗ mục gãy đôi nằm ngổn ngang đầy mạng nhện, dẫn đường thẳng tắp vào sâu bên trong gian nhà lớn.

Nhiên và Thịnh bước theo sau từng bước thận trọng. Không gian bên trong nhà kính ấm hơn ngoài đồi một chút nhờ những vòm kính còn sót lại ngăn bớt luồng gió lộng thốc từ thung lũng, nhưng bù lại là một mùi ẩm mốc nồng nặc của thời gian hoang phế tích tụ. Cỏ dại, dương xỉ núi và những bụi tầm ma cao ngang thắt lưng mọc len lỏi qua từng kẽ nứt toác của nền gạch nung đỏ. Từng bước chân dẫm lên thảm thực vật mục nát và lớp lá rụng dày cộp phát ra những tiếng lạo xạo khẽ khàng, cô quạnh.

Đi hết gian sảnh chính rộng lớn từng là nơi ươm các loại giống hoa và thảo mộc, Mè dừng lại trước một cánh cửa gỗ hẹp nằm ở góc sâu nhất và kín đáo nhất của nhà kính, nơi được xây bằng những khối đá chẻ vững chãi tựa thẳng vào vách đồi tự nhiên. Cánh cửa gỗ lim dày dặn khép hờ, bên trên có gắn một tấm biển đồng nhỏ hình chữ nhật đã xỉn màu ô-xít xanh rì do hơi ẩm, trên bề mặt kim loại dập nổi dòng chữ tiếng Pháp mờ nhạt: *Laboratoire Botanique*.

Mè dùng chiếc đầu tròn nhỏ đẩy nhẹ vào mép cửa gỗ. Cánh cửa kêu *cọt kẹt* một tiếng dài u uất, kẽo kẹt trượt trên bản lề rỉ sét rồi từ từ mở toang ra.

Ngay khoảnh khắc luồng không khí tù đọng từ căn phòng kín ùa ra ngoài, bước chân Nhiên bỗng khựng lại. Toàn bộ khứu giác vốn vô cùng nhạy bén của một người thợ làm bánh trong cô bỗng chốc run rẩy dữ dội.

Giữa mùi ẩm mốc của những bức tường đá đóng rêu và bụi bặm hàng chục năm không có bóng người, thoang thoảng bay ra một hương thơm kỳ lạ, phức hợp và đầy ám ảnh. Đó là mùi của thảo mộc sấy khô đã qua thời gian dài phong hóa—mùi thơm trầm ấm, cay nồng của xô thơm, vị hăng the nhẹ của cỏ xạ hương hoang dại, chút ngọt lắng đọng, êm dịu của hoa cúc khô—và đặc biệt nhất, mùi chua thanh sâu lắng, ngọt hậu của bột lúa mạch lên men khô đã hóa thạch theo năm tháng. Đó tuyệt đối không phải là mùi hôi thối hay tanh nồng của sự phân hủy rác rưởi, mà là tàn tích mùi hương của những mầm sống vi sinh từng được nuôi dưỡng, phơi sấy, sàng lọc và nâng niu vô cùng cẩn trọng.

“Mùi này...” Thịnh cũng khẽ hít một hơi sâu qua lồng ngực, ánh mắt lộ rõ vẻ kinh ngạc tột cùng nhìn Nhiên dưới quầng sáng đèn pin. “Dù đã bị bỏ hoang bao nhiêu năm giữa rừng thế này, căn phòng này vẫn giữ được mùi của một xưởng bánh mì cổ.”

“Không chỉ là một xưởng bánh mì bình thường,” giọng Nhiên run lên từng hồi, sống mũi cô cay sè, khóe mắt nóng bừng. “Đây là gian phòng thực nghiệm men giống của thầy... chính là nơi thầy bắt đầu tất cả.”

Dưới ánh đèn pin quét qua quét lại của Thịnh, gian bếp thí nghiệm hoang phế hiện ra trọn vẹn từng đường nét, chân thực và sống động đến mức khiến lồng ngực Nhiên thắt lại vì xúc động ngập tràn.

Căn phòng không quá lớn, trần nhà được ghép bằng những thanh gỗ thông cổ thụ nay đã sẫm lại thành màu gỗ mun đen bóng. Dọc theo bức tường đá chẻ phía tây là một dãy kệ gỗ nhiều tầng vững chãi, được đóng chết vào vách đá bằng những chiếc đinh tán bằng thép to bản. Trên những tầng kệ ấy phủ một lớp bụi xám dày cả đốt ngón tay, giăng đầy những sợi tơ nhện mỏng mảnh, nhưng từng vật dụng bên trên vẫn được sắp xếp ngay ngắn, ngăn nắp theo một trật tự kỷ luật và khoa học đến kinh ngạc.

Nhiên bước lại gần, từng bước chân cô vô thức nhẹ bẫng như sợ rằng một chấn động nhỏ cũng có thể đánh thức một giấc ngủ sâu đã kéo dài hàng thập kỷ. Cô đưa bàn tay run run khẽ lau đi lớp bụi dày bám trên thân một chiếc bình thủy tinh cổ hẹp ở ngăn kệ ngang tầm mắt. Dưới lớp bụi thời gian mờ đục, thân bình lộ ra những mẩu nhãn dán bằng giấy xi măng thô ráp đã ngả sang màu vàng ố, mép giấy quăn queo. Bên trên nhãn ghi những dòng chữ viết tay bằng mực Tàu đen nhánh, nét chữ thanh mảnh, sắc sảo nhưng vô cùng dứt khoát—nét chữ mà cô đã nhìn thấy hàng nghìn lần trên những mẩu giấy dán công thức ở tiệm bánh: *Men cúc dại - Đồi Mimosa - Thu hoạch tháng 11/1993*; *Men vỏ táo rừng & hương thảo - Mẻ số 4 - Lên men lạnh 7 độ C*; *Men hoa hồi phơi gió - Dự phòng số 2*.

Hàng chục chiếc lọ thủy tinh với đủ kích cỡ, đậy kín bằng những chiếc nút bần xốp đã ngả màu nâu đậm, chứa đầy những hạt men khô xốp tựa như cốm già. Chúng nằm lặng lẽ bên cạnh nhau, thẳng tắp như những người lính canh gác quá khứ, như những chứng nhân bất tử của một thời kỳ miệt mài nghiên cứu quên ăn quên ngủ. Thầy Bách đã từng ở đây, trong chính góc phòng nhỏ bé này. Ông đã từng dùng đôi bàn tay thô ráp, đầy những vết chai sần vì lửa lò để hái từng cánh hoa, ngắt từng ngọn thảo mộc non trên triền đồi Mimosa này, cẩn thận thử nghiệm hàng trăm phương pháp lên men khác nhau để thuần hóa những chủng vi sinh hoang dã kiêu kỳ của vùng cao nguyên lạnh giá.

Ở góc chiếc bàn đá granite dài đặt giữa phòng, luồng sáng đèn pin dừng lại trên một chiếc cân đồng hai đĩa cổ kính. Thân cân đúc bằng đồng thau nguyên khối đã xỉn màu thời gian, phủ một lớp ten đồng xanh biếc ở các khớp nối, nhưng hai đĩa cân vẫn treo cân bằng tuyệt đối. Một bên đĩa cân vẫn còn đặt một quả cân bằng chì năm mươi gam nhỏ xíu hình trụ tròn. Chiếc cân này giống hệt như chiếc cân đồng đang ngự trị trên quầy gỗ của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm trong hẻm Hoa Đăng—nơi cô từng ngày từng giờ, dưới ánh đèn vàng ấm áp, học cách cân đo từng gam bột mì, từng giọt nước suối nguồn mát lạnh theo lời chỉ dạy nghiêm cẩn của thầy.

Cạnh chiếc cân đồng là một bộ khuôn bánh mì bằng gang đen bóng, nặng trịch và lạnh lẽo. Nhiên cúi xuống, nâng một chiếc khuôn gang lên. Dưới đáy của từng chiếc khuôn gang, biểu tượng một cành mimosa ba nhánh cách điệu với những chùm hoa tròn xoe được người thợ rèn khắc chìm vô cùng tinh xảo và sâu hoắm. Vết khắc ấy, đường nét ấy, từ độ nghiêng của cuống lá đến khoảng cách giữa các nhánh con, hoàn toàn trùng khớp với hoa văn trên con dấu sáp niêm phong lá thư của Bách và dấu mộc đỏ thắm trong cuốn sổ học việc của Tạ Diệp Lam.

Nhiên đưa những ngón tay khẽ miết lên bề mặt kim loại lạnh ngắt của chiếc khuôn gang. Cảm giác sần sùi, ram ráp của gang đúc truyền qua da thịt, mang theo một làn sóng ký ức mãnh liệt tràn về làm mờ nhòa đôi mắt cô. Cô nhớ lại những buổi sáng sớm mùa đông bốn năm về trước, khi trời bên ngoài hẻm Hoa Đăng còn chưa tỏ mặt người, gió rít qua khe cửa gỗ, thầy Bách đã đứng bên bàn nhào bột. Lưng áo thầy đẫm mồ hôi dù trời lạnh thấu xương, nhưng ánh mắt thầy luôn ánh lên sự ấm áp, nhẫn nại vô bờ khi nhìn cô vụng về thực hiện từng động tác gập bột, vê tròn khối bột ủ. Thầy từng nói với cô bằng giọng trầm lắng: *“Khuôn gang giữ nhiệt tốt nhất, chịu đựng được ngọn lửa hung bạo nhất, nhưng chính sự kiên nhẫn và lòng trắc ẩn của người thợ mới là thứ giữ lại linh hồn cho ổ bánh.”*

Thầy đã để lại toàn bộ những kỷ vật thiêng liêng này ở đây, không mang theo bất cứ chiếc khuôn gang hay chiếc cân đồng nào khi dứt áo rời đi. Ông chỉ đem theo hũ men cái nguyên bản duy nhất và gánh nặng ngàn cân của một bí mật nghiệt ngã đã đè nát tâm can ông suốt nửa đời người.

*Meo...*

Một tiếng kêu nhỏ, êm ái, kéo dài và mang một âm sắc lạ lùng bỗng vang lên từ góc tối phía sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi mục kê sát ô cửa sổ vòm hướng ra thung lũng.

Nhiên và Thịnh cùng giật mình quay đầu lại.

Con mèo Mè đã nhảy phóc lên một chiếc ghế bành bằng gỗ mục gãy mất một bên tay vịn từ lúc nào không hay. Nó không hề lục lọi hay cào móng vào thớ gỗ như thói thường của loài mèo, mà chỉ lặng lẽ tiến lại gần lưng ghế, nơi có vắt hờ hững một chiếc khăn len dày màu xám tro. Con mèo khẽ dụi đầu, áp trọn gò má đen tuyền của nó vào từng nếp gấp sâu của chiếc khăn len cũ kỹ. Đôi mắt ngọc bích của nó lim dim khép lại, cổ họng phát ra những tiếng rù rù trầm bổng, rung lên từng nhịp liên hồi, tràn ngập sự gắn bó, nhung nhớ và chở che sâu xa tựa như đứa con tìm lại được hơi ấm của lòng mẹ.

Thịnh bước tới gần, chĩa ánh đèn pin xuống lưng ghế để Nhiên có thể nhìn rõ hơn.

Đó là một chiếc khăn len dệt tay sợi thô, màu xám tro trang nhã, kiểu dáng giản dị nhưng từng mũi đan rất đều đặn và tinh tế. Các mép khăn qua năm tháng dài đã sờn rách, tua rua buông thõng và vướng những sợi mạng nhện mỏng manh. Nhiên chầm chậm bước tới, quỳ một bên gối xuống nền đá lạnh buốt, đưa đôi bàn tay run rẩy nhẹ nhàng nâng một góc khăn len lên áp vào lòng bàn tay.

Khi những sợi len thô ráp chạm vào đầu ngón tay cô, một luồng hương thơm rất khẽ, rất mỏng manh, thoảng qua tựa như một sợi khói mong manh nhưng kỳ lạ thay vẫn chưa bị mùi ẩm mốc của thời gian xóa nhòa, bỗng chốc lan tỏa trong không gian tĩnh mịch.

Đó là mùi nước hoa cam thảo mộc. Mùi của tinh dầu hoa cam đắng neroli thanh tao, sâu thẳm, hòa quyện với vị ấm áp, dịu ngọt của vỏ cam sấy khô trên gác bếp và chút dư vị ngọt ngào, trầm tĩnh của rễ cam thảo rừng. Một mùi hương hoàn toàn khác biệt, không thuộc về người đàn ông phong trần, khắc khổ và thô ráp như thầy Bách, mà thuộc về một người phụ nữ kín đáo, thanh lịch, mang tâm hồn dịu dàng và giàu lòng trắc ẩn.

Bà Mai.

Nhiên nhắm nghiền đôi mắt lại, hít một hơi thật sâu làn hương sót lại trên thớ len mục ướt sương. Trong tâm trí cô, những mảnh ghép rời rạc từ lời kể nghẹn ngào của bà Sương bỗng chốc hiện lên sống động và rõ nét hơn bao giờ hết: một người phụ nữ có vóc dáng mảnh mai, đôi mắt mang nỗi buồn bâng khuâng hay nhìn về phía chân trời mù sương xa xăm, người từng ngồi lặng lẽ bên bậc cửa đá của nhà kính này, mỉm cười hiền hậu ngắm nhìn thầy Bách và mẹ Thu Hà cặm cụi phơi những mẻ men thảo mộc trên nong tre. Chiếc khăn len này chắc chắn là vật bất ly thân của bà Mai trong những đêm đông buốt giá trên đồi Mimosa, sưởi ấm cho bờ vai gầy guộc của bà trước khi căn bệnh thoái hóa trí nhớ quái ác tước đoạt dần từng mảng ký ức, từng mảnh ý thức tươi đẹp của cuộc đời bà.

Mè vẫn không ngừng dụi má vào lớp len xám tro, hai mắt nhắm nghiền, như thể nó đang tìm lại hơi ấm từ bàn tay dịu dàng từng vuốt ve bộ lông nó từ nhiều năm về trước. Con mèo nhận ra mùi của người phụ nữ ấy, một mùi hương không thể phai mờ trong ký ức loài vật, cũng như nó từng nhận ra mùi mồ hôi và khói lò của thầy Bách trên những phong thư niêm phong bằng sáp đỏ.

“Người phụ nữ tên Mai ấy...” Thịnh khẽ lên tiếng sau lưng cô, giọng anh trầm xuống đầy xót xa và trĩu nặng suy tư. “Bà ấy từng sống ở đây suốt những năm tháng thanh xuân cùng thầy của em, đúng không?”

“Vâng,” Nhiên thì thầm, bàn tay cô vẫn áp nhẹ lên chiếc khăn len như sợ rằng nếu buông ra, làn hương cuối cùng của người xưa sẽ tan biến vĩnh viễn vào màn đêm lạnh giá. “Bà Sương nói bà Mai đã bắt đầu quên từ hơn ba mươi năm trước... Thầy Bách và mẹ em đã chăm sóc bà ấy ở chính nơi này... trong căn phòng đá này... trước khi mọi thứ sụp đổ tan tành.”

Ánh đèn pin trên tay Thịnh vô tình quét lệch xuống khoảng không gian tăm tối dưới gầm chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi mục kê sát vách đá. Chiếc bàn bốn chân tiện tròn theo lối cổ, mặt bàn dày dặn đã cong vênh vì ngấm nước mưa nhỏ giọt từ mái kính vỡ bên trên. Ở ngăn kéo bên phải, mép gỗ bị kẹt cứng, hơi hé mở chừng hai đốt ngón tay do thớ gỗ bị trương nở vì hơi ẩm lâu ngày. Bên trong khe hẹp tối tăm ấy, lấp ló một góc bìa da màu nâu sẫm, phủ một lớp bụi mốc trắng xóa tựa như phấn rêu.

“Nhiên, nhìn kìa,” Thịnh hạ thấp đèn pin, chỉ vệt sáng thẳng vào gầm bàn. “Dưới ngăn kéo bàn làm việc có đồ.”

Nhiên giật mình mở bừng mắt. Cô vội buông chiếc khăn len xuống, xoay người ngồi thụp xuống trước ngăn bàn làm việc. Cô đưa hai tay nắm lấy chiếc núm đồng hoen rỉ của ngăn kéo kéo mạnh về phía mình. Nhưng thớ gỗ sồi ngậm nước lâu ngày đã trương phình, mút chặt lấy khung bàn như bị đóng đinh, chiếc núm đồng lung lay kêu răng rắc nhưng ngăn kéo không hề nhúc nhích lấy một milimét.

“Để anh giúp cho, cẩn thận kẻo rách tay,” Thịnh quỳ hẳn hai gối xuống bên cạnh cô. Anh rút chiếc xẻng bộ binh gấp gọn bên hông, mở lưỡi xẻng bằng thép tôi đen bóng rồi dùng mũi xẻng mỏng nhẹ nhàng lách sâu vào khe nứt giữa ngăn kéo và mép bàn. Anh hạ thấp cánh tay, dùng lực đòn bẩy bẩy nhẹ từng chút, từng chút một vô cùng kiên nhẫn để tránh làm vỡ vụn thớ gỗ mục nát bên ngoài.

*Rắc... két... rột...*

Khớp mộng gỗ bung ra sau một tiếng gãy giòn khẽ khàng nhưng dứt khoát. Ngăn kéo từ từ trượt ra ngoài theo từng nấc, làm rơi xuống sàn gạch một đám mạt gỗ mục, bụi bặm và những xác nhện khô khốc.

Bên trong ngăn kéo rộng thênh thang và ẩm ướt, không có giấy tờ linh tinh hay tiền bạc, chỉ đặt duy nhất một cuốn sổ khổ vuông dày cộp. Bìa sổ bọc bằng da bò thật màu nâu sẫm đã ngả sang màu cánh gián ố vàng và tróc vảy ở bốn góc. Trên bìa da không có bất kỳ dòng chữ tựa đề nào, chỉ có duy nhất một hình nhánh hoa mimosa ba nhánh với những chùm hoa tròn được dập chìm bằng nhiệt ở ngay chính giữa—dấu ấn biểu tượng độc nhất vô nhị của người thợ làm bánh Trần Bách.

Trái tim Nhiên đập thình thịch liên hồi trong lồng ngực, tiếng đập dội vào tai như tiếng trống thúc. Cô đưa hai bàn tay run rẩy, cẩn thận nâng cuốn sổ bìa da ra khỏi ngăn kéo gỗ mục. Cuốn sổ nặng trịch và lạnh ngắt như một phiến đá ngâm dưới đáy suối, thoang thoảng mùi da thuộc cũ kỹ hòa lẫn với mùi ẩm mốc đặc trưng của giấy lưu trữ lâu năm.

Thịnh chủ động nhích người ngồi sát lại bên cạnh cô, một tay đưa cao chiếc đèn pin, điều chỉnh chùm sáng tụ lại vừa vặn trên mặt phẳng cuốn sổ để Nhiên có thể đọc rõ từng con chữ mà không bị lóa mắt bởi ánh phản quang. Con mèo Mè từ trên chiếc ghế bành nhảy xuống êm ru, lặng lẽ bước lại gần, ngồi nép sát vào đùi Nhiên, đôi mắt xanh ngọc bích mở to chăm chú nhìn vào cuốn sổ bìa da như thể nó hiểu rõ tầm quan trọng của những gì sắp được hé lộ.

Nhiên khẽ đưa mu bàn tay áo gạt đi lớp bụi mốc bám trên bìa da, rồi hít một hơi sâu, lật mở trang giấy đầu tiên.

Mặt giấy bên trong được làm bằng loại giấy dó pha sợi rơm thô ráp, mép giấy đã ngả sang màu vàng cháy của thời gian và hơi ẩm cao nguyên. Từng sợi xơ thực vật hiện rõ trên nền giấy ngà. Ngay chính giữa trang đầu tiên, nét chữ viết bằng mực Tàu đen nhánh quen thuộc của thầy Bách hiện lên, nắn nót, vuông vức và nghiêm cẩn như chính tính cách kỷ luật sắt đá của ông:

*“Nhật ký thực nghiệm men cái & Thảo mộc bản địa Đà Lạt – Bắt đầu từ mùa đông năm 1989. Trần Bách.”*

Nhiên run rẩy lật giở từng trang tiếp theo. Những trang giấy đầu tiên ghi chép vô cùng tỉ mỉ, khoa học về các phương pháp phân lập các chủng men vi sinh hoang dã tự nhiên từ quả việt quất rừng Langbiang, vỏ táo chua Đơn Dương, phấn hoa mimosa ướt sương và rễ cỏ xạ hương mọc trên vách đá. Từng bảng biểu chi tiết ghi lại độ ẩm tương đối của thung lũng Mimosa theo từng mùa trong năm, nhiệt độ ủ men ban đêm dao động từ 8 đến 14 độ C, tỷ lệ pha trộn giữa nước suối nguồn ngầm và bột mì T-W-65 mộc nghiền bằng cối đá granite đều được ghi lại với độ chính xác tuyệt đối của một nhà khoa học ẩm thực chân chính. Ở đó, người ta thấy một Trần Bách tràn đầy đam mê, nhiệt huyết và lòng tôn kính tuyệt đối đối với sự sống vi sinh nhiệm màu của đất trời.

Nhưng càng lật về những trang sau, nét chữ của Bách bắt đầu có sự biến chuyển rõ rệt. Những dòng ghi chép kỹ thuật lạnh lùng, chuẩn xác dần nhường chỗ cho những dòng nhật ký dằn vặt, trĩu nặng âu lo, đầy những câu hỏi tuyệt vọng và dường như đẫm nước mắt của một kẻ bất lực trước số phận.

Đến một trang giấy có kẹp một nhánh hoa mimosa khô ép dẹp đã giòn vụn, màu hoa ngả sang nâu xỉn, nét mực đen run rẩy thấy rõ, ngòi bút cào mạnh xuống mặt giấy dó:

*“Ngày 14 tháng 4 năm 1994.* *Trí nhớ của Mai đang trôi tuột đi như cát mịn chảy qua kẽ tay mà tôi không tài nào nắm giữ nổi. Hôm nay, cô ấy đứng giữa vườn mimosa đang nở rộ rực rỡ trong nắng sớm, cầm chiếc kéo tỉa cành trên tay, rồi bỗng nhiên quay sang nhìn tôi bằng ánh mắt xa lạ hoàn toàn. Cô ấy hỏi tôi: ‘Anh là ai? Sao anh lại ở trong vườn nhà của mẹ tôi?’* *Câu hỏi ấy thốt ra nhẹ bẫng nhưng như một nhát dao cắm thẳng vào tim tôi, xoay tròn trong lồng ngực. Bác sĩ ở bệnh viện tỉnh sau khi xem phim chụp đã lắc đầu. Họ nói các tế bào thần kinh vùng hải mã của Mai đang thoái hóa với tốc độ không thể đảo ngược. Y học hiện đại hoàn toàn bất lực trước căn bệnh này. Họ bảo tôi hãy chuẩn bị tinh thần cho những điều tồi tệ nhất, cho cái ngày cô ấy quên cả cách gọi tên mình, quên cả cách nuốt thức ăn và quên cả cách thở.* *Không. Tôi không chấp nhận điều đó. Tôi không thể ngồi giương mắt nhìn người phụ nữ tôi yêu thương nhất tan biến dần ngay trước mắt mình như một bóng ma. Tôi là một người thợ làm bánh, tôi đã dành cả đời để nghiên cứu và tôi hiểu sức mạnh kỳ diệu của men cái hơn bất kỳ ai. Men không đơn thuần là nấm men và vi khuẩn; men có thể lưu giữ linh hồn của đất trời, lưu giữ ký ức của mùa màng, của thổ nhưỡng qua hàng thế kỷ mà không hề biến chất hay suy suyển. Nếu tôi có thể nuôi cấy một chủng men đặc biệt, mang theo những rung động ký ức sâu sắc nhất của Mai, đưa nó vào từng ổ bánh mì nóng hổi cô ấy ăn mỗi sáng, liệu hương vị nguyên bản và năng lượng ấy có thể kích hoạt, đánh thức những tế bào não bộ đang chết dần của cô ấy hay không?”*

Đầu ngón tay Nhiên run bần bật khi lật sang trang tiếp theo. Trước mắt cô hiện ra hàng loạt công thức thử nghiệm điên cuồng và kỳ dị: *Bánh sữa mềm ủ men hoa cam, Bánh tart mứt dâu rừng ký ức, Bánh lúa mạch thô ngâm thảo dược ngải đắng*. Bách đã dùng chính chủng men cái gia truyền hàng trăm năm của dòng họ mình, kết hợp với những loại thảo mộc gắn liền với thời thanh xuân tươi đẹp nhất của hai người trên đồi Mimosa, nhằm tạo ra những chiếc bánh có khả năng kích thích vùng ký ức bị tổn thương của người vợ.

Và rồi, lật tiếp sang những trang nhật ký năm 1998, Nhiên bắt gặp những dòng đúc kết lạnh lùng nhưng mang tính quy luật sống còn về bản chất và giới hạn nghiêm ngặt của men cái—những điều mà thầy chưa bao giờ nói hết với cô:

*“Điều thứ nhất: Men cái không phải là thần dược cải tử hoàn sinh. Nó chỉ là một tấm gương phản chiếu nội tâm sâu kín nhất. Bánh chỉ có thể mở ra cánh cửa dẫn về những ký ức ĐÃ TỒN TẠI và còn vẹn nguyên trong tiềm thức của người ăn, tuyệt đối không thể tạo ra những ký ức mới không có thật, không thể sửa chữa những sai lầm của quá khứ, và càng không thể tái tạo lại những mô não đã bị tổn thương thực thể hay chết đi về mặt sinh học.* *Điều thứ hai: Men ký ức đòi hỏi sự cộng hưởng của một ý chí tỉnh thức và một hệ thần kinh ổn định. Nếu người ăn đã mất đi nền tảng nhận thức sinh học cơ bản, chiếc bánh sẽ trở thành một chất kích thích méo mó, xung đột dữ dội và gây ra phản tác dụng khủng khiếp.* *Điều thứ ba: Người thợ làm bánh chỉ là người nhóm lửa và giữ lửa, tuyệt đối không bao giờ được phép dùng bánh để thao túng, áp đặt hay định đoạt cuộc đời của người khác. Sự can thiệp vào dòng chảy tự nhiên của tâm thức luôn phải trả bằng một cái giá đắt đỏ.”*

Nhiên nín thở đọc tiếp, tim cô thắt lại từng hồi đau đớn. Nét chữ ở những trang cuối cùng của cuốn sổ vào năm 2002 không còn giữ được vẻ nắn nót, cẩn trọng ban đầu nữa. Từng dòng chữ xiêu vẹo, nguệch ngoạc, nét mực hằn sâu làm xé rách cả mặt giấy dó thô ráp bởi lực đè nén quá mạnh và cơn cuồng nộ bất lực của người viết:

*“Ngày 3 tháng 10 năm 2002.* *Tôi đã sai. Tôi là một kẻ kiêu ngạo đến mù quáng, một tên tội đồ đáng bị nguyền rủa nhất thế gian này!* *Suốt ba năm qua, tôi đã tự lừa dối bản thân, lầm tưởng rằng mình có thể dùng kỹ nghệ làm bánh để chiến thắng được quy luật nghiệt ngã của tạo hóa và số phận. Mỗi lần Mai ăn mẩu bánh cam men cái do chính tay tôi nhào nặn, hương vị quen thuộc ấy quả thực đã tạo ra một phép màu ngắn ngủi: nó kích hoạt những xung thần kinh sót lại, kéo cô ấy trở lại với tôi trong chốc lát. Cô ấy mỉm cười rạng rỡ, gọi đúng tên tôi, nhớ lại ngày đầu tiên chúng tôi cùng nhau đạp xe qua triền đồi hoa mimosa lộng gió. Những khoảnh khắc tỉnh táo ngắn ngủi đó đã biến tôi thành một kẻ nghiện quyền lực, tiêm vào đầu tôi một ảo tưởng kiểm soát bệnh tật đầy bệnh hoạn và ngạo mạn.* *Nhưng cái giá phải trả quá đỗi tàn khốc.* *Ký ức do men cái cưỡng ép đánh thức không hề chữa lành sự lãng quên. Nó chỉ như một ngọn pháo sáng lóe lên rực rỡ giữa bầu trời đêm giông bão rồi vụt tắt ngấm trong tích tắc, để lại sau lưng một khoảng không gian đen tối, mù mịt và hoảng loạn gấp bội phần. Sau mỗi lần bừng tỉnh ngắn ngủi ngủi ấy, khi dư vị của chiếc bánh tan biến khỏi vòm họng, Mai lập tức rơi vào những cơn mê sảng, co giật và hoảng loạn dữ dội hơn trước. Não bộ kiệt quệ của cô ấy bị tàn phá nặng nề vì phải gồng gánh những xung đột điện sinh học vượt quá ngưỡng chịu đựng.* *Chiều nay, sau khi ăn xong miếng bánh cam, cô ấy không còn mỉm cười nữa. Mai nhìn tôi bằng ánh mắt kinh hoàng tột độ, như nhìn thấy một con quái vật. Cô ấy ôm chặt lấy đầu, gào khóc trong tuyệt vọng xé lòng vì không thể phân biệt nổi bản thân mình là ai giữa hai luồng ký ức thực và ảo đang giằng xé dữ dội trong tâm trí. Cô ấy đập đầu vào tường đá tự làm mình chảy máu chỉ để thoát khỏi cơn ác mộng của sự tỉnh thức cưỡng ép.* *Bánh ký ức không hề cứu được Mai. Nó chỉ mang lại cho TÔI một ảo tưởng cứu rỗi ích kỷ, trong khi đang âm thầm tra tấn thể xác và tinh thần của người phụ nữ tôi yêu thương nhất đời.* *Từ hôm nay, tôi ra lệnh cho chính mình phải dừng toàn bộ mọi thử nghiệm điên rồ này lại. Tôi sẽ vĩnh viễn khóa chặt cánh cửa căn phòng thực nghiệm này. Tôi sẽ không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ dùng men cái để cố đảo ngược quy luật sinh lão bệnh tử của đất trời nữa. Nếu số phận bắt Mai phải quên đi thế giới này, tôi sẽ ở bên cạnh nắm chặt lấy bàn tay cô ấy, cùng cô ấy bước vào cõi quên lãng bằng những chiếc bánh mì bình thường, mộc mạc nhất – những chiếc bánh chỉ thuần túy mang lại sự no lòng, hơi ấm và sự bình an tức thời cho thể xác, chứ không phải một thứ phép màu giả tạo và độc hại.”*

Trang nhật ký dừng lại đột ngột ở đó. Bên dưới dòng chữ cuối cùng là một mảng giấy dó lớn bị ố nhòe loang lổ, làm lem nhem những nét mực đen—dấu vết không thể xóa nhòa của những giọt nước mắt cay đắng, bất lực và thống khổ tột cùng đã khô cạn từ hơn hai mươi năm trước.

Nhiên ngồi chết lặng giữa gian phòng thí nghiệm hoang tàn, bốn bề chỉ còn tiếng gió rít qua những khe kính vỡ. Từng chữ, từng câu, từng vết mực cào rách mặt giấy trong cuốn nhật ký như những nhát búa tạ giáng thẳng vào tâm can cô, đập tan tành mọi hình dung lung linh, mọi suy đoán mơ hồ mang màu sắc thần thoại mà cô từng ôm ấp và tôn thờ suốt bao năm tháng học nghề.

Bấy lâu nay, trong thâm tâm thơ ngây và sùng kính của cô, thầy Bách luôn sừng sững như một tượng đài bất khả xâm phạm. Ông là bậc thầy vĩ đại nắm giữ bí thuật của hũ men cái trăm năm, người thợ làm bánh có khả năng tạo ra những chiếc bánh kỳ diệu tháo gỡ mọi nút thắt u uất trong lòng thực khách, một người dẫn đường uyên bác, trầm tĩnh và dường như toàn năng trước mọi nỗi đau trần thế. Cô từng đinh ninh rằng sự biến mất đột ngột của ông sau cái chết thảm khốc của mẹ cô bốn năm trước là một sự trừng phạt nghiệt ngã của số phận, hoặc là một cuộc đào thoát cao thượng, một sự ẩn mình đầy kiêu hãnh của một người mang trên vai sứ mệnh bí mật không thể giãi bày.

Nhưng sự thật trần trụi đang phơi bày trước mắt cô lúc này lại tàn nhẫn, đớn đau và xót xa đến nghẹn ngào.

Người thầy mà cô hằng tôn kính như một vị thánh sống, người đã trao cho cô chiếc thìa gỗ, hũ men cái gia truyền cùng tất cả những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp khắt khe đến mức hà khắc nhất, hóa ra cũng từng chỉ là một người đàn ông trần thế bằng xương bằng thịt, bất lực quằn quại trong đau khổ tột cùng. Ông đã từng kiêu ngạo đến mù quáng, từng phạm phải những sai lầm chí mạng, từng dùng tài năng xuất chúng và sự hiểu biết của mình để cố níu giữ những điều không thể níu giữ, để rồi phải nhận lấy sự trừng phạt đau đớn nhất bằng chính nỗi dằn vặt xé nát tâm can suốt phần đời còn lại.

Men cái của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là một phép màu vạn năng có thể xoay chuyển càn khôn. Nó không thể đảo ngược chứng suy giảm trí nhớ tàn nhẫn của bà Mai, không thể cứu sống người mẹ Thu Hà tội nghiệp của cô dưới vực sâu tăm tối của đèo Prenn trong đêm mưa bão năm ấy, và càng không thể xóa bỏ mặc cảm tội lỗi sâu nặng đang đục khoét tâm can bất kỳ ai nếu như bản thân họ không tự mình dũng cảm đối mặt, chấp nhận và buông bỏ.

Chiếc bánh mì, sau tất cả những huyền tích được thêu dệt, vẫn chỉ nên là một chiếc bánh mì: một sự kết hợp khiêm nhường giữa bột, nước, men và lửa, mang lại sự ấm áp và no lòng cho con người giữa một thế giới lạnh lẽo.

Thịnh lặng lẽ tiến lại gần, đặt bàn tay to bản, ấm áp và khô ráo của mình lên bờ vai đang run rẩy từng chập của Nhiên. Anh không buông ra một lời an ủi sáo rỗng hay thương hại nào, chỉ siết nhẹ bờ vai cô bằng một lực vừa đủ, truyền cho cô sự kiên định, vững chãi và ấm áp của thực tại. Con mèo Mè khẽ cọ đầu vào mu bàn tay Nhiên, chiếc lưỡi con màu hồng ram ráp liếm nhẹ lên vết sẹo bỏng mờ mờ trên cổ tay cô—vết sẹo từ mẻ bánh mì đầu tiên cô tự tay đưa vào lò dưới sự giám sát của thầy Bách—như muốn xoa dịu đi cơn chấn động tâm lý đang cuộn trào dữ dội trong từng mạch máu của cô gái trẻ.

Nhiên từ từ khép cuốn sổ bìa da cũ kỹ lại, ôm chặt nó vào lòng, áp sát vào lồng ngực đang đập thổn thức. Gió đêm ngoài triền đồi Mimosa lại thốc mạnh qua những khung vòm kính vỡ, làm lay động dữ dội những chùm hoa vàng rực rỡ đang ướt đẫm sương đêm, tạo nên những thanh âm rì rào, xao xác tựa như tiếng thở dài muôn thuở của rừng thông già qua bao năm tháng thăng trầm.

Người thầy vĩ đại của cô không phải một phù thủy toàn năng, mà chỉ là một kẻ bất lực trước sự tàn nhẫn của thời gian.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories