Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.12 / 40
Chapter 12

Bóng người ở tiệm tạp hóa

Ánh đèn neon xanh lét từ tiệm tạp hóa đầu hẻm Hoa Đăng hắt dài trên mặt đường nhựa ướt sương lúc hai giờ sáng, nơi cô Hảo đang cặm cụi kiểm đếm từng bao đường và hộp sữa đặc.

Gió từ phía thung lũng sâu thốc ngược lên con dốc quanh co, mang theo cái lạnh buốt nhói đặc thù của sương muối đầu đông và mùi ngai ngái muôn thuở của rêu xanh bám trên những vách đá chẻ. Cả con hẻm như chìm lỉm dưới một hồ sương đặc quánh, nặng nề không một tiếng động cơ, chỉ trừ hai đốm sáng lẻ loi cách nhau một quãng dốc: ngọn đèn vàng màu hổ phách mờ ảo hắt ra từ ô kính mờ đặc hơi nước của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm phía lưng chừng, và dải sáng trắng xanh chập chờn, run rẩy nơi ngã ba của tiệm tạp hóa Vạn Hảo. Chiếc quạt thông gió gắn trên bức tường gạch loang lổ của tiệm tạp hóa rít lên từng hồi ngắt quãng, khô khốc và rệu rã như lồng ngực một người già mắc chứng hen suyễn kinh niên đang rướn từng hơi thở tàn giữa đêm đông xứ đồi.

Nhiên khẽ cài lại then gỗ mun của cánh cửa tiệm bánh, khép kín không gian ấm sực mùi men chín và vỏ bánh nướng lách tách sau lưng. Dưới sàn gạch nung, chú mèo Mè vẫn cuộn tròn lười biếng trên chiếc ghế mây gần lò nướng, hai tai chỉ khẽ giật nhẹ khi nghe tiếng then cài kêu một tiếng *cách* nhỏ giọt vào màn đêm. Cô dợm bước đi trong thinh lặng, chiếc giỏ mây khoác bên khuỷu tay trái lót một lớp vải xô mềm đã ngả màu cháo lòng. Bên trong ấy là nửa giỏ quýt rừng mọng nước mà anh tài xế Lộc đã mang biếu cô lúc trước khi chuyến xe đò đêm vội vã đổ dốc.

Mỗi bước chân của Nhiên trên lớp đá dăm lạo xạo đều thận trọng, chậm rãi, nhưng dường như tất cả âm vang cỏn con ấy lập tức bị nuốt chửng bởi thứ sương đêm dày như khói tỏa. Gió lùa qua khe hở của chiếc khăn len quàng cổ, cọ sát vào làn da mỏng manh nơi gáy cô một vệt lạnh tê dại.

Mùi tinh dầu quýt rừng cay nồng, the buốt quấn quýt quanh từng thớ vải xô, thỉnh thoảng lại xộc thẳng vào cánh mũi Nhiên sau mỗi đợt gió rít. Mùi hương ấy không ngọt lịm như những trái cam sành hay quýt đường dưới đồng bằng, mà nó sắc lẹm, mang theo chút vị chát đắng của vỏ quả dại lớn lên trên triền đồi cao vút, vị hoang dại của sương sớm và vị ngai ngái nồng đậm của đất đỏ bazan sau những cơn mưa dầm dề dai dẳng. Thứ hương thơm thô mộc ấy khiến vết bỏng còn quấn băng gạc trắng muốt nơi lòng bàn tay phải của Nhiên nhói buốt lên từng chặp, từng mạch máu nhỏ li ti như co giật dưới lớp da non chưa thành hình. Nhưng cũng chính cái rát bỏng ấy lại làm tâm trí cô tỉnh táo đến rợn người.

Trong túi chiếc áo khoác dạ dày sẫm màu, những đầu ngón tay bên bàn tay trái lành lặn của cô vẫn không ngừng miết chặt lấy mẩu giấy báo lót giỏ quýt đã được gấp gọn làm tư. Mảnh giấy báo lem luốc vết bùn đỏ khô cong, nhưng ở góc trên vẫn còn nguyên vẹn một vết dấu mộc tròn đóng bằng mực đỏ đã phai sang màu cánh gián mang dòng chữ "CÀ PHÊ BAN MAI", và bên cạnh đó là nét chữ viết tay bằng mực xanh thanh thoát, cứng cỏi, những nét gạch ngang dứt khoát không lẫn vào đâu được của thầy Bách: *"Gửi anh Bách mẻ men sấy đồi Mimosa"*.

Bốn năm ròng rã, Nhiên đã sống như một cái bóng không hồn, tự giam hãm tuổi thanh xuân của mình sau cánh cửa gỗ khép kín của tiệm bánh đêm, chỉ mở ra trong quãng thời gian ngưng đọng từ không giờ đến ba giờ sáng. Bốn năm ròng, cô đinh ninh tin rằng thầy đã bỏ đi thật xa, rũ bỏ mảnh đất cao nguyên lạnh lẽo này sau khi biến cố kinh hoàng trên đèo Prenn cướp đi sinh mạng mẹ Thu Hà. Cô ngỡ thầy chạy trốn khỏi cô, chạy trốn khỏi mặc cảm tội lỗi sâu hoắm và để lại cô trơ trọi cùng chiếc hũ sành chứa mẻ men cái trăm năm đang thoi thóp từng ngày.

Thế nhưng, mẩu giấy báo lót dưới đáy giỏ quýt rừng của Lộc xuất hiện như một nhát búa tạ giáng thẳng vào bức tường kiên cố của sự chịu đựng mà cô đã dày công dựng lên bấy lâu. Thầy Bách chưa từng rời khỏi xứ này. Thầy vẫn ở đâu đó rất gần, hít thở cùng một bầu không khí bảng lảng khói thông, quanh quẩn bên những triền đồi mọc đầy mimosa hoang dại hay nép mình bên những nhánh hồ mịt mùng hơi nước. Và những người lớn sống quanh con hẻm nhỏ dốc đứng này—những người ngày ngày đi qua cửa tiệm nhìn cô nhóm lửa nướng bánh, những người từng đưa tay xoa đầu cô an ủi thuở mẹ cô mới nằm xuống—liệu họ có thật sự ngây thơ, vô can trước sự biến mất đầy u uẩn của ông?

Nhiên dừng chân trước mái hiên lợp tôn xi măng của tiệm tạp hóa Vạn Hảo. Bậc thềm đá rửa ẩm ướt lốm đốm những vệt lá thông rụng từ chiều hôm trước, nhớp nháp dưới đế giày vải của cô.

Bên trong gian tiệm bề bộn, cô Hảo đang đứng tựa một bên hông vào chiếc bàn cân đĩa bằng đồng đã xỉn màu vì thời gian và mồ hôi tay. Người đàn bà trạc ngũ tuần ấy có thân hình đẫy đà, phốp pháp, bọc trong chiếc áo len đan sợi to xù xì màu tím hoa cà, mái tóc uốn lọn ngắn bới vội ra sau gáy bằng một chiếc cặp càng cua bằng nhựa màu da cam sứt mất một răng. Đôi mắt sắc sảo, dạn dày sương gió của kẻ buôn bán nửa đời người viền quanh bởi những nếp nhăn nhọc nhằn, đang dán chặt vào từng dòng con số li ti trên tờ hóa đơn giao hàng ngả màu dính đầy vết mỡ bò.

Tiệm tạp hóa của cô Hảo như một cái kho chứa khổng lồ thu nhỏ của toàn bộ cư dân lao động nghèo nơi con hẻm này: những bao tải gạo tấm, gạo nàng thơm và đường cát trắng xếp chồng cao ngất ngưởng ở góc tường ẩm mốc; từng tầng kệ gỗ thông xỉn màu chất đầy mì gói, dầu ăn can lớn, những hộp sữa đặc có đường nhãn hiệu Ông Thọ phủ một lớp bụi mỏng; trên trần nhà thấp tè giăng đầy những dây dầu gội đầu, bàn chải đánh răng, lưỡi lam và bóng đèn dây tóc đung đưa theo từng luồng gió lọt qua khe cửa. Toàn bộ không gian ấy nồng nặc một thứ mùi hỗn tạp đặc quánh: mùi hăng của xà phòng bột, mùi tanh nồng của mắm tôm, mắm ruốc khô đáy ghè, mùi hành tỏi khô treo thành chùm bên cột gỗ và mùi ẩm mốc của những thùng các-tông ngấm nước mưa lâu ngày.

“Cô Hảo,” Nhiên khẽ cất tiếng gọi.

Âm thanh trong trẻo nhưng hơi khàn đi vì gió bấc của cô lọt qua khe rèm vải dù, vang lên giữa tiếng quạt thông gió rệu rã.

Cô Hảo giật nảy mình, cây bút bi Thiên Long kẹp giữa hai ngón tay mập mạp suýt chút nữa vuột rơi xuống đĩa cân đồng kêu *leng keng*. Người phụ nữ ngẩng phắt đầu dậy, đôi lông mày rậm xếch ngược lên trong một phản xạ phòng ngự tự nhiên rất đỗi quen thuộc của người buôn bán về khuya. Nhưng ngay khi ánh mắt kèm nhèm sau cặp kính lão trễ xuống mũi nhận ra gương mặt thanh tú, hơi xanh xao lấp ló sau chiếc cổ áo dạ dựng đứng của Nhiên, vẻ cảnh giác căng thẳng lập tức tan biến. Thay vào đó, khuôn mặt tròn trịa của bà giãn ra thành một nụ cười xởi lởi, rổn rảng, mang đậm chất bình dân quen thuộc của xóm dốc.

“Tổ cha mày chứ, làm cô giật thót cả tim, rụng cả mớ gan mớ ruột ra ngoài!” Cô Hảo vỗ bốp một cái rõ đau vào đùi mình, giọng the thé đặc trưng cất lên lanh lảnh, khuấy động cả gian tiệm ngột ngạt. “Trời đất quỷ thần ơi, hai giờ sáng hơn rồi không chịu ở yên trong tiệm mà nướng bánh nẹp bánh, lại lò dò mò sang đây làm cái giống gì giữa trời sương muối buốt thấu xương thế này hả con ranh? Tay đau thế kia đã đỡ nhức chưa? Mỡ trăn cô xúc cho một hũ bữa trước mang về bôi có thấy nó se cái miệng vết bỏng lại không?”

Vừa liến thoắng buôn chuyện, cô Hảo vừa lật đật lách người qua cái khe hẹp giữa quầy gỗ và bức tường chất đầy thùng mì tôm, bước nhanh ra phía trước. Bàn tay thô ráp của bà vươn ra nắm lấy cánh tay trái lành lặn của Nhiên, kéo tuột cô vào bên trong mái hiên, rồi tiện tay giật phắt tấm màn vải dù sọc xanh đỏ xuống để chắn bớt những luồng gió lạnh buốt đang từ ngoài đường thốc vào. Lòng bàn tay người phụ nữ buôn bán chai sần, nồng nặc mùi vỏ hành tây khô và bột giặt xà phòng, nhưng cái siết tay ấy lại truyền sang một hơi ấm thô ráp, kéo Nhiên thoát khỏi cảm giác tê cóng đang bám chặt trên hai bờ vai.

“Dạ, cháu bôi mỡ trăn của cô hai hôm nay rồi, da non bắt đầu kéo mài nên đỡ rát buốt nhiều lắm ạ,” Nhiên mỉm cười nhẹ, ánh mắt nhìn cô Hảo đầy vẻ ngoan ngoãn, nhu mì như hình ảnh một đứa cháu gái nhỏ quen thuộc bao năm qua. Cô khẽ nghiêng người, đặt chiếc giỏ mây lên trên mặt chiếc bao tải đựng đầy hạt đậu xanh đặt sát mép quầy gỗ. “Khách quen đêm nay có ghé tiệm biếu cháu một ít quýt rừng hái tận mạn Đơn Dương, quả nào quả nấy mọng nước mà thơm ngát cô ạ. Cháu ăn không hết, chia một nửa mang sang biếu cô ăn cho đỡ khô cổ họng những đêm phải thức khuya kiểm hàng dỡ chuyến thế này.”

Nhìn thấy những quả quýt rừng tròn lẳn, lớp vỏ căng mọng màu vàng ươm lấm tấm những đốm sần tự nhiên của thứ quả mọc hoang dại, trên cuống vẫn còn nguyên những chiếc lá xanh thẫm đẫm sương đêm mát lạnh, mắt cô Hảo sáng rực lên. Người phụ nữ cúi hẳn người xuống gần miệng giỏ, hít vào một hơi thật sâu rồi chép miệng tấm tắc, vẻ mặt đầy khoái chí:

“Gớm chết, quýt rừng vùng Đơn Dương thì nhất cái xứ cao nguyên này rồi chứ còn đâu bằng nữa! Mùi vỏ của nó thơm lựng, the nồng thế này bóc ra phơi khô hãm với trà mạn mộc uống thì ấm tì vị phải biết, trị ho khan mùa lạnh là số dách. Khách khứa tiệm mày dạo này chu đáo dữ dằn ha, toàn mang ba cái đồ ngon vật lạ tới cho. Đúng là cái con bé có tay thơm, thảo nào mấy ông tài xế xe tải đường dài với mấy chú bảo vệ kho dưới dốc cứ nhắc tên mày suốt.”

Cô Hảo với tay nhặt lấy một quả quýt mọng nhất trong giỏ lên ngắm nghía, những ngón tay mập mạp mân mê lớp vỏ ráp dưới ánh sáng ma quái của ngọn đèn neon chập chờn.

Nhiên đứng yên bất động, ánh mắt cô lặng lẽ và chăm chú quan sát từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất của người phụ nữ đối diện. Cô Hảo là người cố cựu bậc nhất ở cái hẻm Hoa Đăng này. Tiệm tạp hóa Vạn Hảo của bà đã mọc lên từ cái thời mẹ cô—bà Thu Hà—còn là một thiếu nữ độ tuổi đôi mươi gánh từng mẹt bánh tiêu đi bán rong khắp chợ Đà Lạt cũ. Mọi ngóc ngách, từng gia cảnh ngặt nghèo, từng mối ân oán hay những kẻ đến người đi ven triền dốc này qua bao nhiêu thập kỷ, cô Hảo đều tường tận từng chân tơ kẽ tóc. Nếu như trên cõi đời này có một người nào đó ở góc phố này biết rõ những mối quan hệ khuất tất, những bí mật chưa bao giờ được kể của thầy Bách thuở trước, thì người đó chắc chắn không thể là ai khác ngoài người đàn bà đang đứng trước mặt cô.

Nhiên làm bộ như lơ đễnh, đưa ngón tay khẽ chỉnh lại mép vải xô dưới đáy giỏ mây, giọng nói cô nhẹ bẫng cất lên, êm đềm như một gợn sóng lăn tăn:

“Anh tài xế bảo với cháu, số quýt này anh mua lại của một người phụ nữ chuyên đi hái quả dại quanh mấy triền đồi phía tây nam, mạn đường vòng gần mé hồ Tuyền Lam ấy cô. Nghe nói người ta hay tiện đường mang vào bán kèm cho một cái quán cà phê quen gần đấy. Hình như tên là… quán Cà phê Ban Mai thì phải cô nhỉ?”

Không gian chật chội bên trong tiệm tạp hóa bỗng nhiên đặc quánh lại trong tích tắc. Dường như toàn bộ hơi lạnh buốt giá ngoài khe rèm vừa ùa vào, lập tức đóng băng mọi chuyển động của người và vật.

Ngón tay đang vân vê quả quýt rừng của cô Hảo đột ngột sững lại giữa chừng. Nụ cười niềm nở, hồn hậu trên khuôn mặt tròn trĩnh của người đàn bà lập tức sượng sùng, co rúm lại rồi vụt tắt ngấm không còn lấy một dấu vết nhỏ nhoi. Cơ má bên trái của bà co giật nhẹ một nhịp rất khẽ, hai con ngươi đảo nhanh một vòng đầy vẻ toan tính bất an, trước khi vội vã cụp hẳn xuống sàn nhà, né tránh hoàn toàn ánh mắt trong veo nhưng sâu thẳm như làn nước mùa đông của Nhiên.

“Quán… Ban Mai nào? Mày lại nghe ai nói hươu nói vượn, đơm đặt tào lao ở đâu rồi,” cô Hảo buông tay thật vội, quả quýt rừng rơi trở lại giỏ mây phát ra một tiếng *bộp* khô khốc trên lớp vải xô mềm.

Người phụ nữ quay ngoắt lưng lại phía chiếc bàn cân, hai bàn tay thô ráp quẹt lia lịa, hối hả vào hai bên hông chiếc tạp dề bằng vải hoa đã phai bạc màu chỉ. Giọng nói rổn rảng xởi lởi lúc nãy bỗng nhiên biến mất, thay vào đó là một âm sắc the thé, the thét và gấp gáp một cách bất thường:

“Cái xứ Đà Lạt này có đến cả trăm cái quán cà phê cà pháo, mở ra dẹp vào như cơm bữa ấy chứ có gì lạ đâu. Cái quán Ban Mai… Ban Mai gì mày vừa nói ấy, nó dẹp tiệm, xóa sổ mất tích từ tám hoắc nào rồi! Từ… từ sau cái biến cố kinh hoàng năm xưa ấy chứ đâu nữa mà hỏi!”

“Biến cố năm xưa là biến cố gì hở cô?”

Nhiên tiến thêm một bước nhỏ về phía mép quầy gỗ. Giọng cô điềm tĩnh đến rợn ngợp, từng âm tiết nhả ra chậm rãi, gãy gọn, sắc lẹm như một vết rạch mảnh trên tấm màn im ắng nặng nề:

“Cháu nhớ hồi cháu còn bé tí, thầy Bách thỉnh thoảng vẫn sang tiệm mình mượn chiếc xe máy Chaly màu đỏ của cô để chạy sang mạn đồi Mimosa. Lần nào đi thầy cũng dặn cháu ở nhà trông lò, bảo là thầy sang quán Ban Mai gặp người bạn cũ cùng đàm đạo chuyện cấy men, ủ bột bánh mì. Quán ấy thật sự dẹp bỏ rồi sao cô?”

Cô Hảo xua hai tay lia lịa vào không khí, những ngón tay mập mạp run rẩy vẽ nên những vòng tròn hỗn loạn. Động tác bối rối quá mức khiến cùi chỏ của bà quẹt mạnh vào chồng hộp quẹt diêm Thống Nhất đặt ở mép bàn cân, làm mấy bao diêm vỏ gỗ mỏng manh rơi lả tả xuống sàn xi măng ẩm ướt kêu lách tách.

Người đàn bà buôn bán sắc sảo thường ngày thậm chí chẳng thèm đoái hoài cúi xuống nhặt đồ rơi, bà chỉ lắc đầu quầy quậy, nét mặt biến đổi liên tục từ vẻ chột dạ, tái nhợt sang sự gượng gạo, bực bội nhằm xua đuổi câu chuyện đi thật xa:

“Dẹp rồi! Tao đã bảo là dẹp sạch sành sanh từ đời thuở nào rồi cơ mà! Người ta bán đứt nhà cửa, dọn sạch đồ đạc đi xứ khác biệt tăm biệt tích hết trơn hết trọi. Mấy cái người quen bạn hữu cũ của thầy Bách mày ngày xưa cũng phiêu bạt mỗi người một phương trời ráo trọi, đứa thì dạt vô tuốt Sài Gòn làm ăn, đứa thì dạt xuống miệt biển Phan Thiết, Nha Trang, chẳng có một mống nào còn đủ can đảm mà ở lại cái xứ sương mù đồi dốc quạnh quẽ này nữa đâu! Quá khứ nó đã qua lâu rồi thì mày cứ để cho nó mồ yên mả đẹp đi con ạ. Mày cứ hơi đâu mà bới tro trét trấu, lôi ba cái chuyện mục mả cũ rích ấy ra làm gì cho nó nặng đầu nhức óc?”

Cô Hảo quay phắt người lại đối diện với Nhiên, trừng mắt nhìn cô gái trẻ. Bà cố nặn ra nét mặt nghiêm nghị, gay gắt thường ngày của một người bề trên có thâm niên trong xóm để áp chế Nhiên, nhưng hơi thở ngắn, dồn dập phập phồng nơi lồng ngực và đôi mắt cứ chớp giật liên hồi đã bán đứng sự hoang mang đang cuộn trào dữ dội trong thâm tâm bà:

“Mày đấy nhé Nhiên! Thân con gái một thân một mình côi cút, giữ được cái tiệm bánh đêm kiếm đồng ra đồng vào nuôi thân qua ngày đoạn tháng như thế này đã là phúc đức tổ tiên bảy đời để lại rồi. Cứ lo mà chăm chút cho mấy cái mẻ bánh mì gối, bánh nướng cho khách đi, lo ngủ nghê cho lại sức, giữ cho cái tay phỏng kia nó lành lặn da thịt lại đã! Nghe lời cô khuyên một câu chân tình, đừng có dại dột mà nghe ba cái tay tài xế đường dài ăn ốc nói mò rồi sinh tật tò mò tọc mạch những chuyện không đâu vào đâu. Chuyện người lớn ngày xưa nó rắm rối, sâu hiểm lắm, mày biết nhiều chỉ tổ rước vạ vào thân chứ có béo bở gì đâu mà ham!”

Sự hốt hoảng, chột dạ đến mất bình tĩnh của người hàng xóm lâu năm khiến ngọn lửa nghi vấn trong lòng Nhiên bùng lên dữ dội hơn bao giờ hết.

Cô Hảo vốn dĩ là người ăn to nói lớn, phổi bò, bộc trực khét tiếng ở cái hẻm dốc này. Bất kể chuyện lớn chuyện nhỏ, từ việc con dâu nhà ông giáo đầu ngõ cãi mẹ chồng, đến chuyện gã bảo vệ kho đá lạnh dưới dốc bị bắt vì tội đánh bạc, bà đều nắm rành rọt từng chi tiết, rồi đem ra mổ xẻ, thêm mắm dặm muối buôn dưa lê thâu đêm suốt sáng với khách mua hàng. Nhưng đêm nay, chỉ vừa nghe đến bốn chữ "Cà phê Ban Mai", người đàn bà dạn dày ấy lại phản ứng hoảng loạn hệt như một kẻ đi đêm vô tình giẫm chân phải một thanh sắt nung đỏ rực.

Bà không hề tò mò gặng hỏi xem người phụ nữ bán quýt rừng kia mặt mũi ra sao, cũng chẳng buồn tọc mạch xem anh tài xế kia là ai—những phản xạ vốn đã ăn sâu vào máu của một người buôn chuyện chuyên nghiệp như cô Hảo. Thay vào đó, bà vội vã phủ nhận sạch trơn, cuống cuồng dựng lên một bức tường chối bỏ đầy vụng về, nôn nóng cắt đứt sợi dây liên kết duy nhất vừa hé lộ, và tìm mọi cách dập tắt sự tò mò của Nhiên bằng những lời răn đe nặng trịch mùi sợ hãi.

Tại sao một quán cà phê cũ kỹ ven hồ, được cho là đã đóng cửa từ nhiều năm trước, lại có thể khiến một người bạo miệng như cô Hảo phải kinh hồn bạt vía đến mức ấy?

Tại sao bà phải cố sống cố chết khẳng định rằng toàn bộ những người quen cũ của thầy Bách đều đã "phiêu bạt khắp bốn phương trời", trong khi ngay lúc này đây, trong túi áo khoác của Nhiên, mẩu giấy báo lót đáy giỏ quýt vẫn còn tươi rói nét mực viết tay của chính thầy Bách, gửi cho một người nào đó ở đồi Mimosa?

Sự im lặng bao bọc lấy cuộc đời cô suốt bốn năm qua hóa ra chưa bao giờ là sự bình yên hay lãng quên thuần túy. Nó là một tấm màn nhung dày dặn, được dệt nên bởi sự che giấu có toan tính, một sự đồng thuận ngầm đến lạnh gáy của những người lớn xung quanh nhằm giam cầm cô vĩnh viễn trong bóng tối của mặc cảm tội lỗi và những hoài nghi mù mịt.

“Dạ, cháu cũng chỉ tiện miệng tò mò hỏi thăm thế thôi, cô làm gì mà tự nhiên căng thẳng gay gắt với cháu thế ạ,” Nhiên khẽ rủ hàng mi xuống, hạ thấp giọng nói một cách khéo léo, vờ như bản thân đã hoàn toàn chùn bước trước những lời cảnh cáo sắc lạnh của cô Hảo. Cô đưa bàn tay lành lặn chỉ vào giỏ quýt: “Cô có cái túi bóng hay cái rổ nhựa nào thừa không, trút quýt sang giùm cháu với, để cháu xin lại chiếc giỏ tre mang về tiệm dọn dẹp cho kịp giờ. Sắp đến ba giờ sáng rồi, lát nữa là đến giờ giao mấy ổ bánh mì lạt cho mối ăn sáng dưới phố.”

“À… ừ, ừ… để cô lấy cho cái túi xốp to loại dày mà đựng,” cô Hảo như vừa trút được cả tảng đá nặng ngàn cân đè nghẹn trên ngực, vội vã lảng tránh ánh mắt thăm thẳm của Nhiên. Bà hấp tấp quay ngoắt đi: “Mày… mày đứng đây đợi cô một tí tẹo thôi, cái bao xốp loại dày tao nhét tận tít trong cái góc kẹt dưới gầm quầy bên kia. Dạo này sương lạnh, chuột bọ dưới cống nó hay chạy vào cắn phá đồ bừa bãi quá nên tao phải cất kỹ trong thùng kín.”

Dứt lời, cô Hảo vội vàng cúi rạp người xuống, chui hẳn nửa thân trên béo tròn vào khoảng không gian tối om bên dưới gầm chiếc quầy tính tiền bằng gỗ dán ép. Tiếng loạt xoạt sột soạt của những bao nilon lớn cọ xát vào nhau, tiếng xê dịch những thùng các-tông lạch cạch vang lên liên hồi khi người phụ nữ cặm cụi bới tìm đồ đạc ở góc khuất sâu nhất phía trong.

Chính ngay trong khoảnh khắc cô Hảo cúi rạp người xuống gầm quầy, ánh mắt sắc bén của Nhiên vô tình quét ngang qua mặt chiếc bàn cân đồng.

Nằm ngay sát bên mép chiếc đĩa cân bám đầy bụi cám gạo và những vụn đậu xanh khô vỡ đôi, một cuốn sổ tay khổ dọc, bìa bọc da simili màu xanh đen đã sờn rách, nứt toác cả bốn góc đang nằm mở toang. Đó chính là cuốn sổ giao nhận hàng hóa định kỳ của tiệm tạp hóa Vạn Hảo—nơi cô Hảo vẫn dùng để ghi chép chi li, cẩn thận từng bao bột ngọt, két nước ngọt, từng can dầu hỏa nhập về từ các mối hàng lớn ở chợ trung tâm, hoặc những món đồ khô gửi đi cho các tiệm tạp hóa lẻ heo hút trên các sườn đồi.

Trang giấy kẻ ô ly học sinh đã ngả sang màu vàng ố vì thời gian mở rộng trần trụi dưới ánh sáng xanh lét của ngọn đèn neon. Trên đó chi chít những dòng chữ viết tay ngoằn ngoèo, nguệch ngoạc bằng bút bi xanh, bút bi đỏ đan xen lẫn lộn nhau.

Vốn dĩ Nhiên không bao giờ có thói quen tọc mạch vào chuyện làm ăn hay sổ sách buôn bán của người khác. Thế nhưng, một dòng chữ viết tắt nguệch ngoạc nằm ở sát cạnh dưới cùng của trang giấy bỗng nhiên đập thẳng vào mắt cô như một tia chớp xé toạc màn sương mù u tối:

*“Ngày 05 hàng tháng: Gửi 15kg bột T-W-65 mộc (nguyên cám cối đá) -> Ki-ốt số 4 trạm trung chuyển bến xe Liên tỉnh (người nhận: Đ.P - chuyển tiếp).”*

Hơi thở của Nhiên nghẹn lại nơi cổ họng. Lồng ngực cô thắt chặt, buốt nhói như có ai vừa bóp nghẹt lấy trái tim.

Bàn tay phải còn quấn băng gạc trắng muốt của cô run rẩy mất kiểm soát. Không kìm nén được sự kinh động đang cuộn trào trong từng huyết quản, Nhiên nhích người tới trước nửa bước chân, nén đau ghì nhẹ lòng bàn tay lên mép gỗ sắc của quầy hàng, cúi thấp đầu nhìn trừng trừng vào từng nét mực bi xanh hằn sâu trên mặt giấy ố vàng.

Dòng chữ ấy được viết rất nắn nót, cẩn thận hơn hẳn những dòng ghi chép xô bồ xung quanh. Đáng chú ý hơn cả, bên cạnh dòng địa chỉ giao hàng ấy là một chuỗi những dấu tích hình chữ "V" ngay ngắn bằng mực đỏ tươi—mỗi dấu tích tương ứng với một tháng trong năm, kéo dài đều đặn, không hề đứt quãng suốt từ đầu năm cho đến tận tháng gần nhất!

*T-W-65 mộc*.

Đó tuyệt đối không phải là thứ bột mì đa dụng thông thường nhãn hiệu Bông Hồng Xanh, Địa Cầu hay Hoa Ngọc Lan mà các bà nội trợ, các quán chè quán bánh rán quanh cái hẻm nghèo này vẫn mua từng cân về để quấy bột hay chiên bánh chuối.

Đó là mã hiệu quốc tế chuyên dụng và cực kỳ chuẩn xác của dòng bột mì nguyên cám cao cấp nghiền bằng cối đá granite tự nhiên theo phương pháp truyền thống của Pháp. Thứ bột mì ấy được nghiền ở tốc độ chậm để giữ cho nhiệt độ không làm chín phôi, bảo tồn trọn vẹn cả lớp cám thô xơ xác, lượng khoáng chất quý giá và toàn bộ mầm sống của hạt lúa mì mùa đông, hoàn toàn không trải qua bất kỳ công đoạn tẩy trắng bằng hóa chất hay phối trộn thêm các chất phụ gia tạo nở công nghiệp nào.

Một loại bột mì vô cùng đắt đỏ, khan hiếm, bảo quản cực kỳ khó khăn trong điều kiện ẩm ướt, mốc meo của khí hậu cao nguyên quanh năm sương phủ, và chỉ có thể đặt mua trực tiếp từ các xưởng xay xát thủ công chuyên biệt dưới đồng bằng chuyển tàu xe mang lên.

Và điều kinh hoàng nhất đối với Nhiên: trên cõi đời này, trong suốt hai mươi năm sống và lớn lên giữa mùi bột bánh, cô chỉ từng thấy duy nhất một người sử dụng thứ bột mì mang mã hiệu đặc thù ấy.

Người đó chính là thầy Bách.

Một đợt sóng ký ức mãnh liệt của những năm tháng ấu thơ bỗng chốc dội về, sống động và sắc nét đến từng chi tiết nhỏ nhặt. Nhiên như nhìn thấy lại gian bếp gạch ấm sực than hồng của bốn năm về trước, nhìn thấy đôi bàn tay to lớn, gân guốc và phủ đầy những vết sẹo bỏng nhỏ li ti của người thầy khi ông cẩn thận mở chiếc hũ sành màu da lươn đựng khối men cái trăm năm gia truyền. Khi đó, thầy đã đứng bên bàn gỗ, trầm giọng răn dạy cô từng lời gan ruột:

*“Nhiên này, con phải khắc cốt ghi tâm điều này: mẻ men cái của tiệm ta mang linh hồn của những hạt lúa mạch cổ và gió ngàn xứ lạnh tích tụ qua cả trăm năm. Nó là một thực thể sống, biết thở, biết đói và biết già nua. Nó tuyệt đối không thể tồn tại và giữ được độ chua thanh khiết, tao nhã nếu con cho nó ăn thứ bột mì công nghiệp trắng tinh đã bị tước đoạt toàn bộ mầm sống ngoài chợ. Chỉ có loại bột mì nguyên cám nghiền cối đá T-W-65 mộc—thứ bột còn giữ nguyên vẹn lớp cám thô sẫm màu và nguồn khoáng chất của đất mẹ—mới đủ sinh khí để nuôi dưỡng các chủng nấm men và vi khuẩn lactic hoang dã bên trong chiếc hũ này. Thiếu đi thứ bột ấy, men cái sẽ suy kiệt, thoái hóa dần rồi chết hẳn. Và một khi linh hồn của men cái mất đi, cánh cửa ký ức của bánh nướng truyền thống sẽ vĩnh viễn khép lại…”*

Bột T-W-65 mộc.

Một tiệm tạp hóa nhỏ bé, xập xệ, chuyên bán mắm muối, cá khô, dầu ăn lít và xà phòng vụn cho xóm phu khuân vác, tài xế nghèo ở hẻm Hoa Đăng thì đào đâu ra khách hàng chịu bỏ tiền mua thứ bột mì cối đá xa xỉ, khó tính ấy?

Tại sao cô Hảo—một người đàn bà cả đời chưa từng biết đến một kỹ thuật làm bánh nào ngoài việc quấy bột năng nấu chè đậu—lại phải cất công đặt mua thứ bột mì chuyên dụng đắt đỏ ấy đều đặn mười lăm cân vào ngày mùng năm mỗi tháng?

Và tại sao bà lại phải lẳng lặng đóng thùng cẩn thận, đem gửi ra tận ki-ốt số 4 ở trạm trung chuyển bến xe liên tỉnh dưới một cái tên nhận hàng đầy bí ẩn: "Đ.P - chuyển tiếp"?

"Đ.P" rốt cuộc là ai? Có phải là chữ viết tắt của Đỗ Phượng—người phụ nữ bí ẩn mà anh tài xế Lộc đã vô tình nhắc đến, người đứng tên quán Cà phê Ban Mai năm xưa?

Và trạm trung chuyển ở bến xe liên tỉnh… những bao bột mì thượng hạng dùng để nuôi sống men cái ấy, sau khi rời khỏi quầy số 4 ở bến xe, sẽ tiếp tục được những chuyến xe đò đường dài mang đi đâu? Về một căn nhà gỗ heo hút nào đó nằm sâu trong thung lũng ven hồ Tuyền Lam, hay về một khu nhà kính trồng hoa mimosa bạt ngàn nép mình sau những rặng thông già ngoại ô?

Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng khiến toàn thân Nhiên cứng đờ, các ngón tay bấu chặt vào mép gỗ đến mức đầu ngón chuyển sang màu trắng bệch.

Từng mảnh ghép tưởng chừng như rời rạc, ngẫu nhiên xuất hiện trong đêm nay bỗng chốc khớp nối lại với nhau một cách hoàn hảo đến mức tàn nhẫn: người phụ nữ đi hái quýt dại trên triền đồi, mẩu giấy báo lót đáy giỏ mang vết con dấu Ban Mai, mười lăm cân bột mì cối đá T-W-65 gửi đi định kỳ mỗi tháng, và thái độ chối quanh, chột dạ đến run rẩy của cô Hảo lúc nãy.

Thầy Bách vẫn còn sống. Thầy vẫn đang ở rất gần nơi này. Thầy vẫn đang ngày đêm nhóm lửa ủ bánh, vẫn đang nâng niu, gìn giữ và nuôi sống mẻ men cái hoang dã ấy ở một góc khuất nào đó ngoài rìa thành phố sương mù.

Và cô Hảo—người hàng xóm ngày ngày vẫn xởi lởi gọi cô sang cho từng muỗng mỡ trăn bôi phỏng, người vẫn luôn miệng dặn cô phải giữ gìn sức khỏe, buông bỏ quá khứ—lại chính là một mắt xích thầm lặng, một trạm trung chuyển bí mật tiếp tế nguyên liệu để che giấu tung tích của thầy suốt bốn năm ròng rã!

“Đây rồi, tổ cha nó chứ, cái bọc xốp vàng nằm kẹt tít sâu sau mấy thùng sữa làm tao bới muốn còng cả cái sống lưng!”

Tiếng thở phì phò nặng nhọc và giọng nói the thé của cô Hảo từ dưới gầm quầy vang lên như một tiếng sét đánh gãy dòng suy nghĩ đang cuộn trào của Nhiên, lôi giật cô trở về với thực tại nghiệt ngã.

Bằng một phản xạ nhanh nhạy và chuẩn xác đến đáng kinh ngạc được tôi luyện qua hàng ngàn đêm đứng bên bếp lửa lò nướng, Nhiên lập tức lùi lại nửa bước chân thật êm ái. Gương mặt cô trong chớp mắt thu lại mọi biểu cảm chấn động, trở về với vẻ phẳng lặng, vô tư lự như mặt hồ không một gợn sóng. Ánh mắt cô giả vờ như đang lơ đãng ngước nhìn lên những hộp trà atisô sấy khô đóng hộp giấy xếp ngay ngắn trên kệ gỗ phía trên đầu.

Cô Hảo lồm cồm bò dậy từ gầm quầy, một tay phủi bụi bặm và mạng nhện bám trên gối quần, tay kia cầm chiếc túi nilon màu vàng loại lớn. Vừa đứng thẳng dậy, ánh mắt sắc sảo của người đàn bà buôn bán theo thói quen đã lấm lét liếc nhanh lên mặt bàn cân đồng. Thấy cuốn sổ simili màu xanh đen vẫn nằm im lìm ở vị trí cũ, dường như chưa từng bị ai chạm vào, bờ vai đang căng cứng của bà mới khẽ chùng xuống, một tiếng thở phào nhẹ nhõm kín đáo thoát ra qua kẽ răng.

“Nào, đưa cái giỏ tre đây cô trút hết quýt sang cho nhanh nào,” cô Hảo đon đả nói, giọng điệu đã lấy lại được phần nào vẻ tự nhiên, sảng khoái vốn có. Bà vội vã thò hai tay vào giỏ mây của Nhiên, lùa từng quả quýt rừng tròn mọng sang chiếc túi xốp vàng kêu sột soạt. “Đấy, mang cái giỏ không này về mà đựng đồ làm bánh. Nhớ kỹ lời cô dặn lúc nãy đấy nhé gái, về đến tiệm là phải cài chặt then cửa lại, đắp chăn nằm sưởi cho ấm người. Gió sương ngoài trời tầm này độc địa lắm, trúng một luồng gió độc là ốm liệt giường liệt chiếu thì chẳng có ai thân thích mà lo cho đâu!”

“Dạ, cháu nhớ lời cô dặn rồi ạ. Cháu cảm ơn cô Hảo nhiều lắm,” Nhiên đón lấy chiếc giỏ tre rỗng nhẹ bẫng từ tay người phụ nữ, khẽ cúi đầu chào theo đúng lễ phép thường ngày. Ánh mắt cô bình thản lướt qua đôi mắt vẫn còn gợn chút âu lo chưa tan hết của cô Hảo, không để lộ ra dù chỉ một tia dao động nhỏ nhoi. “Cháu xin phép về tiệm để chuẩn bị nướng nốt mẻ bánh sáng cho kịp giờ giao mối đây cô.”

“Ừ, về đi, đi cẩn thận kẻo trơn trượt ngã dưới dốc đấy nhé!” Cô Hảo đứng dựa người vào khung cửa, vẫy vẫy bàn tay thô ráp nhìn theo.

Nhiên xoay người, bước từng bước khoan thai, chậm rãi ra khỏi mái hiên tôn của tiệm tạp hóa.

Chiếc giỏ mây trên khuỷu tay cô nhẹ bẫng, nhưng từng bước chân dẫm trên nền đá dăm lại nặng nề như thể đang đeo những tảng đá ngàn cân. Cô cắm cúi bước đi trên con dốc sỏi ướt át trơn trượt, nhịp chân gõ đều đặn trên mặt đường nhựa đen nhánh màu sương đêm. Cô không hề quay đầu lại, nhưng khắp tấm lưng áo dạ dày sẫm màu của cô như có hàng ngàn mũi kim châm chích buốt nhói—cô biết chắc chắn rằng, từ sau khung cửa hẹp sáng rực ánh đèn neon xanh lét kia, đôi mắt sắc sảo đầy cảnh giác của người đàn bà buôn bán vẫn đang dán chặt vào từng cử động của bóng lưng mình.

Nhiên bước đi đều đặn như một cái máy, vượt qua khoảng cách chừng ba mươi mét dốc đứng. Ngay khi bước qua khúc cua ngoằn ngoèo rợp bóng thông nơi ánh sáng xanh ma quái của ngọn đèn neon không còn với tới được nữa, Nhiên lập tức rẽ ngoắt sang bên lề đường, lách mình vào khoảng tối dày đặc dưới vách đá chẻ.

Ngay tại khúc cua đầu ngõ rẽ dẫn vào hẻm Hoa Đăng có một cây mimosa cổ thụ vươn những cành nhánh xù xì, rậm rạp xòa rợp xuống bờ tường rêu phong nứt nẻ của một ngôi biệt thự cổ thời Pháp đã bỏ hoang từ lâu. Thân cây to lớn, ướt sũng sương đêm tỏa ra một mùi hương ngai ngái nồng đậm, hòa lẫn với mùi ẩm mốc của tường vôi mục ruỗng.

Nhiên nép hẳn toàn bộ thân mình vào sau gốc cây cổ thụ to lớn ấy. Cô kéo vạt áo khoác dạ che kín chiếc giỏ tre trước ngực, nép sát vào lớp vỏ cây gồ ghề nham nhở, nín thở đưa mắt nhìn ngược lại ngã ba dốc qua những kẽ lá mimosa đẫm nước.

Từ góc khuất hoàn hảo này, tầm mắt của cô có thể bao trọn toàn bộ mặt tiền tiệm tạp hóa Vạn Hảo đang chìm trong quầng sáng xanh xao.

Và đúng như linh cảm sắc bén mách bảo, cô Hảo tuyệt nhiên không hề quay vào bên trong để tiếp tục kiểm đếm những bao đường hay hộp sữa dở dang như lời bà nói.

Ngay khoảnh khắc bóng dáng của Nhiên vừa khuất hẳn sau khúc quanh của con dốc, toàn bộ vẻ mặt xởi lởi, nụ cười bình dân trên khuôn mặt tròn trịa của người đàn bà lập tức tan biến sạch trơn. Thay vào đó là một vẻ mặt tái mét, căng thẳng tột độ và đong đầy sự hoảng hốt, âu lo tột cùng. Cô Hảo bước vội ra tận mép thềm xi măng, dáo dác ngó nghiêng sang hai bên con đường vắng ngắt, đôi mắt mở to đảo liên tục vào màn sương đêm mù mịt, dường như muốn đoan chắc một trăm phần trăm rằng ngoài trời thực sự không còn một bóng người nào lảng vảng qua lại.

Sau khi đã hoàn toàn yên trí rằng Nhiên đã đi xa, cô Hảo quay ngoắt người vào trong tiệm. Bà đưa hai tay giật mạnh tấm rèm vải dù dày cộp xuống, che kín hoàn toàn khung cửa ra vào, ngăn cách tiệm tạp hóa với thế giới bên ngoài.

Dưới ánh đèn neon xanh lét chập chờn xuyên qua lớp vải dù mỏng, bóng người đàn bà in đậm lên tấm màn, vội vã sải bước về phía chiếc bàn gỗ nhỏ đặt sát góc tường sâu nhất trong cùng—nơi đặt chiếc máy điện thoại bàn màu đen cũ kỹ có bàn phím số bấm tay đã bám đầy một lớp bụi bặm lâu năm.

Đôi bàn tay thô ráp của cô Hảo run rẩy giật lấy ống nghe áp chặt vào tai. Những ngón tay mập mạp của bà bấm lia lịa vào các phím số, chuẩn xác và nhanh thoăn thoắt theo một chuỗi ký tự quen thuộc đến mức bà không cần phải mở sổ hay nhìn vào danh bạ treo trên tường.

Người phụ nữ đứng nép sát vào góc kẹt tăm tối, cái lưng hơi còng xuống gập lại thành một khối co rúm đầy vẻ phòng thủ và sợ hãi. Một tay bà ôm ghì lấy ống nghe áp chặt vào má, tay kia bấu chặt lấy mép bàn gỗ ép đến mức những khớp xương trắng bệch.

Dù không thể nghe thấy bất kỳ âm thanh nào lọt qua lớp kính đóng kín và khoảng cách dày đặc của màn sương muối mùa đông, nhưng chỉ nhìn vào dáng đứng run rẩy, co quắp đầy âu lo, nhìn vào những cái gật đầu lia lịa và đôi môi mấp máy liên hồi với tốc độ gấp gáp đầy vẻ hoảng loạn của cô Hảo, Nhiên có thể cảm nhận rõ mồn một từng đợt chấn động tâm lý dữ dội đang được truyền đi qua sợi dây cáp điện thoại ngoằn ngoèo đen đúa ấy.

Cô Hảo đang gọi điện thoại cho ai giữa lúc hai giờ sáng lạnh buốt này?

Bà đang gọi cho "Đ.P" ở quán Cà phê Ban Mai ven hồ? Hay người phụ nữ ấy đang trực tiếp quay số nối máy đến một căn nhà gỗ heo hút bên triền đồi ngoại ô xa xôi, để run rẩy mật báo với người đàn ông đang ẩn dật suốt bốn năm qua rằng: *Con bé Nhiên… đứa con gái duy nhất của Thu Hà… đã bắt đầu đánh hơi thấy mùi của sự thật rồi*?

Một cơn gió thung lũng thốc mạnh qua tán cây mimosa cổ thụ, làm rung chuyển những cành lá trĩu nặng, trút xuống một trận mưa những giọt nước đọng lạnh buốt găm thẳng vào vai áo và mái tóc của Nhiên. Nhiên đứng chôn chân bất động giữa bóng tối đặc quánh của triền dốc, bàn tay phải quấn băng gạc vô thức áp chặt lên lồng ngực đang đập nghẹn ngào từng hồi đau nhói.

Một cảm giác đắng chát, xót xa và bẽ bàng tột cùng trào dâng từ tận đáy lòng, bóp nghẹt lấy cuống họng cô.

Bốn năm qua, cô đã từng sống trong đày ải, từng tự dằn vặt mình như một kẻ tội đồ duy nhất tự giam cầm bản thân trong bóng tối lạnh lẽo của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm để mong chuộc lại một phần lỗi lầm với người mẹ đã nằm sâu dưới ba tấc đất lạnh. Bốn năm qua, cô đã từng tin tưởng tuyệt đối vào sự bao bọc, chở che, từng xúc động trước những bát canh, từng muỗng mỡ trăn và những lời dặn dò ân cần của những người hàng xóm cố cựu nơi con hẻm Hoa Đăng này, xem đó là bến đỗ bình yên duy nhất che chở cho một tâm hồn vụn vỡ sau cơn bão dữ.

Thế nhưng, sự thật trần trụi đang hiển hiện ngay trước mắt cô đêm nay lại nghiệt ngã và tàn nhẫn hơn tất cả những gì cô có thể mường tượng ra trong những cơn ác mộng kinh hoàng nhất.

Những người hàng xóm luôn miệng bảo bọc, vỗ về cô, những người ngày ngày nhìn cô gầy mòn bên lò nướng đêm… hóa ra lại chính là những kẻ canh giữ cẩn mật nhất cho cánh cửa bí mật dẫn về quá khứ.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories