Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.11 / 40
Chapter 11

Mùi quýt từ phương xa

Tiếng chuông đồng treo trên khung cửa tiệm bánh Lúc Nửa Đêm ngân vang một tràng giòn giã lúc hơn một giờ sáng, xé toạc cái tĩnh mịch đặc quánh của con hẻm Hoa Đăng. Cánh cửa gỗ thông ghép thô bật mở sang hai bên, mang theo một luồng gió núi buốt lạnh căm căm và một tràng cười hào sảng, vang dội hiếm thấy giữa màn đêm sâu thẳm của phố núi.

Đà Lạt vào độ đầu đông chìm trong những tầng sương mù quánh đặc như sữa loãng. Thứ sương giăng phủ từ đỉnh những rặng thông cao vút tràn xuống từng ngõ ngách dốc đứng, thấm đẫm các bờ giậu hoa dã quỳ đã tàn lụi sau mùa hoa dại, đọng lại thành từng hạt nước lấp lánh như thủy tinh trên gờ biển gỗ cũ kỹ khắc ba chữ “Lúc Nửa Đêm”. Giữa cái tịch liêu muôn thuở của góc phố này—nơi mà âm thanh rõ rệt nhất chỉ là tiếng cành lá xào xạc cọ vào mái ngói rêu phong, hay tiếng máy nổ lè xè từ chiếc xe máy cà tàng của người giao sữa sớm từ đằng xa—sự xuất hiện đột ngột cùng chuỗi cười trầm vang ấy chẳng khác nào một đốm than hồng bừng cháy, xua bớt đi phần nào cái lạnh buốt xương của sương giá.

Lạc Nhiên đang đứng bên bàn gỗ thông dài kê giữa gian bếp mở, chăm chú dùng một chiếc khăn bông mềm lau khô những chiếc khuôn bánh tròn bằng thiếc vừa mới rửa xong. Bàn tay phải của cô vẫn còn quấn một lớp băng gạc trắng mỏng quanh lòng bàn tay và mép ngón cái. Đó là vết tích của cơn bỏng sém do chạm vào thành lò rực lửa từ hai đêm trước, khi mẻ bánh cuộn quế của cô đổ vỡ giữa chừng. Vị thuốc mỡ trăn thoang thoảng mùi cỏ ngọt mà cô Hảo tiệm tạp hóa đầu hẻm mang sang cho đã làm dịu đi cảm giác rát bỏng nhức nhối dưới lớp da non, nhưng mỗi cử động co duỗi mạnh của ngón tay vẫn kéo theo một cơn buốt âm ỉ, nhắc nhở cô về giới hạn mỏng manh của thể xác trước những dao động từ men bánh và cảm xúc con người.

Nghe tiếng chuông đồng reo lên bất ngờ, Nhiên giật mình ngẩng đầu lên. Con mèo Mè đang cuộn tròn thành một cục than đen nhánh trên tấm đệm cói dưới chân bàn gỗ cũng khẽ nhổm dậy. Đôi tai nhọn hoắt của nó dựng đứng lên đầy cảnh giác, cái mũi hồng hít hít vào không khí lạnh, và chiếc đuôi dài ngoe nguẩy gõ từng nhịp êm ru xuống sàn gỗ thông bóng loáng.

Đứng sừng sững ở ngưỡng cửa là một thân hình vạm vỡ, cao lớn, choán gần hết khung ánh sáng vàng ấm áp hắt ra từ ngọn đèn lồng bọc lụa treo trên vách. Người đàn ông mặc chiếc áo khoác gió dù màu rêu sẫm đã bạc màu qua năm tháng dãi dầu mưa nắng, trên hai bên cầu vai còn vương lại một lớp sương đêm ẩm ướt lấm tấm như rắc phấn thông.

Thế nhưng, khác hẳn với dáng vẻ tàn tạ, bệ rạc như một cái xác không hồn trong đêm mưa gió bão bùng suýt lao cả chiếc xe tải chở bắp cải năm tấn xuống vực sâu đèo Prenn dạo nọ, gương mặt ông lúc này sáng bừng lên một sinh khí lạ thường. Đôi gò má vuông vức đỏ au màu nắng gió khỏe khoắn, và ánh mắt đã rũ sạch hoàn toàn những vệt tơ máu đỏ vằn vện cùng sự hoảng loạn của chuỗi ngày mất ngủ kinh niên. Dưới vành chiếc mũ len trùm kín tai, những nếp nhăn nơi khóe mắt ông giãn ra, xếp lại thành những rãnh cười đôn hậu và thanh thản.

Đó là Hoàng Tấn Lộc.

Nhiên thoáng ngẩn người, hai mắt khẽ mở to, chiếc khăn bông lau khuôn bánh bất giác dừng lại trên tay.

Hình ảnh người tài xế đường dài gục đầu khóc nức nở như một đứa trẻ bên ổ bánh mì lúa mạch hun khói phết mứt quýt đắng vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí cô, chân thực và sống động đến mức cô dường như vẫn còn ngửi thấy mùi khói thông nồng nặc và cảm nhận được dư âm của cơn đau đầu buốt óc, cùng ảo ảnh cabin xe rung bần bật từng dội ngược vào cơ thể mình đêm ấy. Khi ấy, ông là một kẻ bên bờ vực thẳm, bị bóp nghẹt bởi cảm giác tội lỗi và sự kiệt quệ sau những đêm ròng rã bám riết vô lăng trên những khúc cua tử thần. Nhưng người đàn ông đang đứng trước mặt cô bây giờ lại toát ra một nguồn năng lượng hoàn toàn mới mẻ, tựa như một thân cây thông cổ thụ vừa trút bỏ được lớp vỏ mục ruỗng sau cơn giông bão để đón lấy dòng nhựa sống ấm áp, dồi dào từ đất mẹ.

“Chào cô chủ nhỏ! Đêm hôm rét mướt thế này mà tiệm bánh vẫn đỏ lửa ấm quá chừng!” Lộc cất tiếng chào, giọng nói trầm ấm đầy nội lực dội vào không gian tĩnh lặng, làm xua tan đi sự ẩm lạnh của gió núi vừa ùa vào theo gót chân ông.

Ông giậm mạnh đôi ủng da cao cổ xuống tấm thảm chùi chân đan bằng xơ dừa trước bậu cửa để giũ bớt lớp bùn đất đỏ bazan bám chặt dưới đế giày, rồi cẩn thận khép cánh cửa gỗ lại, cài then then chốt thật nhẹ nhàng như sợ làm kinh động đến sự tĩnh mịch ấm áp bên trong căn phòng.

Nhiên đặt chiếc khăn lau cùng chiếc khuôn thiếc xuống mặt bàn gỗ, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười hiếm hoi. Cô bước ra khỏi quầy bếp thấp, khẽ gật đầu chào người khách cũ:

“Chào anh Lộc. Mời anh vào. Trông anh… khỏe hơn dạo trước nhiều lắm.”

“Khỏe chứ cô, khỏe đến mức tôi tưởng mình vừa trút được mấy tạ đá tảng trên lưng xuống vậy!” Lộc cười lớn, sải những bước chân vững chãi tiến lại gần quầy phục vụ bằng đá mài.

Mèo Mè sau một thoáng ngửi ngửi dò xét làn hơi ẩm trên gấu quần ông, bỗng nhiên bước chậm rãi lại gần, cọ nhẹ bộ lông mun mượt mà vào ống quần vải bạt dày cộp của người tài xế. Cổ họng nó phát ra những tiếng gừ gừ êm ái, rù rì như nhận ra một người quen cũ đã tìm lại được bến đỗ bình yên. Lộc cúi xuống, bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần vì cầm lái lâu năm nhẹ nhàng xoa lấy đỉnh đầu con mèo mun:

“Mày cũng khỏe hả chú mày? Đêm đó nếu không có tiếng rít của mày chặn trước đầu xe tải, khéo giờ này nắm xương tàn của tao đã nằm lạnh ngắt dưới đáy vực sâu Datanla rồi.”

Nhiên nhìn cử chỉ âu yếm vụng về nhưng đầy chân thành của người đàn ông phong trần, trong lòng dâng lên một cảm giác ấm áp khó tả. Cái giá của sự phản phệ thể xác sau mỗi lần dùng men bánh lay chuyển tâm can người khác, những ngày vị giác tê dại chẳng nếm nổi vị muối hạt, và những cơn ác mộng chập chờn vắt kiệt sức lực… tất cả dường như đều trở nên xứng đáng khi cô tận mắt nhìn thấy sự sống đang bừng nở lại trên gương mặt của người đàn ông này. Chiếc bánh ấy không chỉ cứu một mạng người thoát khỏi bánh xe định mệnh, mà dường như đã kéo một linh hồn lạc lối trở về với cội nguồn yêu thương của nó.

Lộc thẳng người dậy, hai tay nâng một chiếc giỏ đan bằng tre cật đã lên nước nâu bóng đặt cẩn thận lên mặt quầy đá mài. Chiếc giỏ nặng trịch, phát ra một tiếng “cộp” trầm đục khi chạm vào mặt đá.

Bên trong giỏ chất đầy những quả quýt rừng nhỏ nhắn chỉ nhỉnh hơn quả trứng gà một chút, vỏ ngoài vàng ươm mọng nước, bề mặt lấm tấm những túi tinh dầu bóng bẩy và còn nguyên những cuống lá xanh ngắt, tươi rói như thể vừa mới được hái xuống từ trên cành chỉ vài tiếng đồng hồ trước. Hương thơm thanh khiết, ngai ngái xen lẫn vị cay the mát lạnh đặc trưng của tinh dầu vỏ quýt lập tức lan tỏa, quyện lấy mùi bơ mặn và quế cay còn vương vấn trong không gian tiệm bánh, tạo nên một nốt hương ấm sực lạ lùng.

“Cái này… là quà cho tiệm sao anh?” Nhiên khẽ chớp mắt ngạc nhiên, đầu ngón tay không bị thương bất giác chạm nhẹ vào một chiếc lá quýt còn vương lại giọt sương đêm lạnh ngắt.

“Chứ còn gì nữa cô!” Lộc vỗ mạnh vào thành giỏ tre, ánh mắt rạng ngời niềm tự hào mộc mạc của một người làm vườn. “Quýt vườn nhà tôi ở miệt Đơn Dương đấy. Mấy cây quýt rừng còi cọc trồng từ thời ông cụ thân sinh tôi để lại trên sườn đồi, bao năm nay chẳng chăm bón phân tro thuốc thang gì cả, cứ mặc cho sương gió tự nuôi, thế mà năm nay lại cho quả ngọt lịm, mọng nước vô cùng. Tôi bảo vợ hái chọn từng quả ngon nhất, lành lặn nhất, để dành riêng một giỏ thật đầy mang lên tạ ơn cô chủ và chú Thịnh.”

Lộc dừng lại một chút, kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ sồi ra ngồi xuống đối diện quầy bếp, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn. Ánh sáng vàng dịu từ ngọn đèn lồng soi rọi vào đôi mắt sâu hoắm của người tài xế từng trải, làm ánh lên niềm xúc động sâu xa:

“Hôm ấy, sau khi ăn xong cái bánh lúa mạch của cô, tôi như người vừa tỉnh khỏi một cơn mê muội dài đằng đẵng suốt ba năm trời. Về đến nhà ở Đơn Dương, nhìn thấy con bé Bống nằm co ro ôm con gấu bông sứt tai cũ rích ngủ thiếp đi đợi ba bên mâm cơm nguội ngắt, tôi đã ôm chặt lấy con bé mà khóc như một đứa trẻ. Suốt ngần ấy năm trời, tôi cứ ngỡ mình bôn ba ngoài đường ngày đêm, cắn răng chạy những chuyến xe đêm bạt mạng là vì tương lai của nó, là để kiếm tiền bù đắp cho nó. Nhưng hóa ra tôi lầm, tôi chỉ đang hèn nhát trốn chạy mặc cảm có lỗi với vợ con, trốn chạy lời hứa dang dở của chính mình.”

Lộc thở hắt ra một hơi dài, một hơi thở nhẹ nhõm không còn mang theo sự nghẹn ứ của gánh nặng ngàn cân:

“Tôi làm đúng như lời đã hứa với cô và chú Thịnh đêm đó. Sáng hôm sau, tôi lên gặp thẳng ông chủ công ty vận tải trên đường Phan Đình Phùng, xin rút hẳn khỏi danh sách tài xế chạy tuyến đêm đường dài vượt đèo. Tôi bàn giao lại chiếc xe tải năm tấn, chuyển hẳn sang nhận lái chiếc xe bán tải nhỏ chạy ca ngày, chỉ chuyên chở rau củ ngắn tuyến từ các nhà vườn quanh vùng Đơn Dương, Đức Trọng lên bỏ mối cho các sạp chợ đầu mối ở Đà Lạt thôi. Tiền kiếm được mỗi tháng có ít đi một chút, chi tiêu trong nhà phải thắt lưng buộc bụng hơn, nhưng cô biết không… giờ ngày nào tôi cũng được tự tay dắt con bé Bống đi bộ đến trường tiểu học, chiều lại canh đúng giờ tan học đứng đợi ở cổng đón nó về. Tối đến hai ba con quây quần bên mâm cơm nóng hổi, đêm đặt lưng xuống giường là ngủ một mạch tới sáng, không còn bị những cơn đau đầu xé óc hay ác mộng về những khúc cua vực thẳm dọa dẫm nữa. Tôi thấy mình như được sinh ra một lần nữa, được sống một cuộc đời thực sự của một con người.”

Nhiên lặng lẽ lắng nghe từng lời, từng chữ của ông. Bàn tay đang quấn băng gạc đặt trên mặt quầy khẽ run lên một nhịp vì xúc động sâu kín. Những ngón tay của cô vô thức siết nhẹ vào mép vạt tạp dề bằng vải thô dày dặn.

Đây chính là điều duy nhất mà thầy Bách từng truyền dạy cho cô trong những đêm trắng bên lò nướng: chiếc bánh ma thuật không bao giờ có thể thay đổi được thực tại nghiệt ngã, không mang lại tiền tài hay xóa nhòa đi những mất mát của quá khứ, nhưng nếu người thợ làm bánh dồn hết tâm can vào từng thớ bột, nó sẽ nhóm lên một đốm than hồng soi rọi vào tận cùng ngõ ngách sâu kín của tâm hồn người ăn, để họ tự tìm thấy dũng khí đưa ra lựa chọn đúng đắn cho số phận của chính mình.

Đúng lúc đó, cánh cửa tiệm bánh lại bật mở thêm một lần nữa. Chuông đồng kêu leng keng giòn tan trong gió lạnh.

“Ai mà nửa đêm nửa hôm cười to thế, tiếng vang tận sang bên bốt gác bên kia đường làm tôi giật cả mình!”

Thịnh bước vào, một tay cầm chiếc đèn pin tuần tra cỡ lớn bằng kim loại nặng trịch, tay kia vẫn còn kéo khóa chiếc áo khoác đồng phục bảo vệ màu xanh đậm của tòa nhà An Sương. Vừa bước qua cánh cửa, nhìn thấy bóng lưng vạm vỡ quen thuộc của Lộc đang ngồi bên quầy, mắt Thịnh sáng rỡ lên:

“Kìa, anh Lộc! Anh Lộc xe bắp cải vượt đèo hôm nọ phải không?”

“Chú Thịnh!” Lộc quay phắt lại, đứng bật dậy khỏi ghế, gương mặt giãn ra thành một nụ cười rạng rỡ hết cỡ. “Trời đất ơi, vừa mới nhắc chú với cô Nhiên xong thì chú đã có mặt rồi! Mau lại đây, mau lại đây ngồi với tôi!”

Thịnh nhanh nhẹn tháo đôi găng tay len dày cộp nhét vào túi áo khoác, bước nhanh về phía quầy bánh. Anh nhìn lướt qua sắc mặt hồng hào, khỏe khoắn của người tài xế già dặn, rồi lại nhìn xuống giỏ quýt rừng vàng ươm đặt trên mặt bàn, trên môi nở một nụ cười ấm áp, hoàn toàn trút bỏ vẻ mặt trầm mặc, nặng nề cùng sự phòng thủ kiên cố từng bao phủ lấy anh sau mẻ bánh cuộn quế thất bại của Nhiên vào đêm trước.

“Nhìn sắc diện thế này là biết cuộc sống xuôi chèo mát mái rồi nhé,” Thịnh vỗ mạnh vào bả vai Lộc, thân mật kéo một chiếc ghế ngồi xuống bên cạnh. “Thế nào rồi anh? Đội xe anh Ba Chấn bàn giao chuyến bắp cải đêm đó ngon lành cả chứ? Thằng Hùng tài phụ có làm anh phật ý điều gì không?”

“Ngon lành lắm chú ơi! Cảm ơn chú vạn lần!” Lộc siết chặt lấy bàn tay Thịnh, giọng đầy vẻ hàm ơn sâu sắc. “Đêm đó nhờ có chú gọi thằng Hùng đến lái xe thay và móc nối với đội xe của anh Ba Chấn, tôi mới không phạm phải sai lầm lớn nhất đời mình. Hôm sau tôi đi xe đò chuyến sớm nhất về nhà, kịp lúc con bé Bống vừa thức dậy, hai ba con cùng thổi nến sinh nhật muộn trên cái bánh bông lan nhỏ xíu mua ở chợ huyện. Nó cười tít cả mắt mà nước mắt tôi cứ chảy ròng ròng… Chú Thịnh à, cái ơn này của chú với cô Nhiên, cả đời này thằng Lộc tôi không bao giờ quên được.”

“Ơn nghĩa gì đâu anh, chuyện xe cộ trên đường gặp lúc nguy nan thì anh em đỡ đần nhau một tay là lẽ thường tình của dân chạy đường dài,” Thịnh cười xua tay, ánh mắt lấp lánh sự chân thành mộc mạc. “Quan trọng nhất là bản thân anh chịu dừng lại đúng lúc. Cánh tài xế chúng tôi sợ nhất là cái thói cố đấm ăn xôi, cứ nghĩ sức mình là sắt đá, đến khi xe trượt bánh một cái trên đèo là cả đời không còn cơ hội hối hận nữa.”

Nhiên lặng lẽ mỉm cười nhìn hai người đàn ông trò chuyện. Không khí ấm áp, chân tình giữa họ như một dòng nước ấm len lỏi vào gian phòng lạnh giá.

Cô quay vào góc bếp, nhấc chiếc ấm đồng đun nước trên bếp than hồng đang reo reo những tiếng sôi êm dịu. Nhiên mở chiếc hũ sành nhỏ, lấy một nhúm trà atisô sấy khô trộn lẫn vài lát gừng tươi thái mỏng và rễ cam thảo bỏ vào chiếc ấm gốm da chu non. Nước sôi rót vào ấm bốc lên làn khói thơm dịu, ấm sực mùi thảo mộc vùng cao, nhanh chóng xua tan đi cái lạnh lẽo vừa theo gót chân người ngoài tràn vào phòng.

Cô mang khay trà cùng ba chiếc tách gốm tráng men mộc ra đặt lên quầy, từ tốn rót ra từng tách nước trà màu hổ phách sóng sánh:

“Anh Lộc, Thịnh, hai người uống chút trà nóng cho ấm bụng đã. Ngoài trời đêm nay sương xuống dày lắm, nhiệt độ chắc chỉ còn tầm chín, mười độ thôi.”

“Cảm ơn cô Nhiên,” Thịnh đỡ lấy tách trà, hai lòng bàn tay áp chặt vào thành gốm nóng hổi để sưởi ấm những ngón tay đang cóng buốt vì sương đêm sau một lượt đi tuần quanh các tầng hầm tòa nhà. “Mùi trà của cô lúc nào cũng làm người ta thấy nhẹ nhõm cả người.”

Lộc nâng chén trà lên nhấp một ngụm lớn, nhắm mắt tận hưởng vị ngọt thanh đượm chút cay nồng của gừng tươi đang lan tỏa xuống cổ họng, rồi gật gù tấm tắc:

“Trà ngon quá cô chủ à. Ngồi trong tiệm bánh của cô, uống chén trà ấm thế này, tự nhiên thấy cái lạnh buốt ngoài kia chẳng còn đáng sợ chút nào nữa. Cứ như mọi giông bão của cuộc đời đều phải dừng lại bên ngoài cánh cửa gỗ kia vậy.”

Cả ba người cứ thế ngồi bên chiếc quầy đá mài nhỏ, tiếng trò chuyện rôm rả, ấm cúng làm sống động cả gian tiệm vốn thường chỉ bao trùm bởi sự tĩnh lặng của màn đêm. Lộc hào hứng kể về những thay đổi nhỏ bé nhưng kỳ diệu trong nếp sống gia đình mình suốt mấy ngày qua: chuyện vợ ông thôi không còn thở ngắn than dài hay cằn nhằn mỗi bận ông bước chân ra khỏi cửa, chuyện con bé Bống cứ líu lo khoe điểm mười môn tập đọc suốt dọc đường đi bộ từ trường về nhà, và chuyện ông đã bắt đầu ngủ được những giấc tròn trịa từ chín giờ tối đến năm giờ sáng hôm sau mà không cần đến một viên thuốc an thần nào kê theo đơn của trạm y tế.

Thịnh chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại gật đầu tán thưởng, nụ cười trên môi anh nhẹ nhõm và tự nhiên hơn bao giờ hết. Sự chuyển biến tích cực từ một người đàn ông từng suýt đánh mất tất cả vì sự cố chấp dường như cũng mang lại cho Thịnh một niềm an ủi vô hình, xoa dịu đi những vết thương lòng của chính anh.

Tuy nhiên, sâu thẳm trong đôi mắt người bảo vệ trẻ tuổi, Nhiên vẫn thoáng thấy một bóng mây mờ ảo lướt qua mỗi khi Lộc nhắc đến hai chữ “gia đình” và “mâm cơm nóng”. Cô biết Thịnh vẫn đang khóa chặt chiếc ngăn kéo chứa bức ảnh thời thơ ấu chụp cùng người em trai thất lạc ở vùng chè Bảo Lộc—nỗi đau âm ỉ mà anh chưa từng mở lòng cùng ai. Nhưng lúc này, sự hiện diện đầy sinh khí và tiếng cười rổn rảng của Lộc đang trở thành một khoảng đệm êm ái, kéo tất cả bọn họ ra khỏi những dằn vặt riêng tư của số phận.

“À, mà này cô Nhiên,” Lộc đặt chén trà đã cạn xuống đĩa lót, chỉ tay vào giỏ quýt rừng đặt giữa quầy. “Quýt này vỏ mỏng dính mà thơm lắm, cô lấy ra một ít ăn thử xem sao, còn lại để dành trong bếp mà làm bánh hay nấu mứt. Mứt vỏ quýt của cô làm hôm trước… thực sự là tuyệt đỉnh, ăn vào một miếng mà như thấy cả ngọn lửa ấm lan khắp buồng phổi.”

“Dạ, để em phụ anh dỡ quýt ra đĩa cho thoáng, để lâu trong giỏ bí hơi e là dập mất mấy quả mọng nước ở dưới đáy,” Nhiên mỉm cười nói.

Cô cúi xuống ngăn tủ bếp dưới quầy, kéo ra một chiếc mẹt tre đan nông lòng thường dùng để hong khô bánh quy hoặc ủ các loại thảo mộc sấy. Lộc cũng xắn tay áo gió lên, cùng Nhiên cẩn thận nhấc từng chùm quýt vàng ruộm ra ngoài.

Những quả quýt rừng căng mọng nằm lấp lánh dưới ánh đèn vàng nhạt, mùi tinh dầu the nồng từ lớp vỏ lấm tấm túi dầu cứ thế bung tỏa ngào ngạt khắp gian phòng nhỏ. Mỗi lần ngón tay chạm vào cuống lá xanh, hương thơm thanh khiết của núi rừng lại bốc lên ngây ngất.

Khi những lớp quýt vàng óng phía trên dần vơi đi, để lộ ra khoảng đáy sâu của chiếc giỏ tre cật, ngón tay của Nhiên chạm phải một lớp giấy lót mềm và hơi ram ráp.

Đó là những tờ giấy báo cũ được xé vuông vức, lót thành hai ba lớp dày dặn dưới đáy giỏ để hút ẩm từ cuống quả và ngăn cho những quả quýt mọng nước khỏi bị trầy xước bởi những dằm tre thô ráp. Nhiên nhẹ nhàng dùng đầu ngón tay gạt bớt vài chiếc lá quýt rụng sót lại, định bụng nhấc lớp giấy lót lên để lau sạch đáy giỏ cho Lộc.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc đầu ngón tay cô chạm vào mép một tờ báo cũ đã ngả sang màu ố vàng vì thời gian, ánh mắt cô bỗng khựng lại.

Dưới ánh đèn lồng vàng nhạt của tiệm bánh, hiện ra trên góc trên cùng của mẩu giấy báo là một vết mực đóng dấu hình tròn màu đỏ gạch.

Con dấu đã phai màu theo năm tháng, một phần nét mực bị nhòe đi do hơi ẩm của lớp lá quýt tươi thấm qua trong suốt chuyến đi xe, nhưng những đường nét cơ bản vẫn còn hiện lên tương đối rõ ràng trên nền giấy báo cũ kỹ. Vòng tròn ngoài cùng được viền bằng những họa tiết hoa văn cách điệu hình bông hoa cà phê năm cánh nở rộ, và chính giữa tâm vòng tròn là ba chữ in hoa bằng phông chữ cổ điển của những thập niên trước:

**CÀ PHÊ BAN MAI**

Bàn tay Nhiên bỗng nhiên cứng đờ lại giữa không trung.

Trái tim cô như hẫng đi một nhịp nghẹt thở. Một luồng điện lạnh ngắt chạy dọc từ các đầu ngón tay truyền thẳng lên sống lưng, làm tê dại cả vùng gáy.

Cái tên đó… ba chữ “Cà phê Ban Mai”…

Ký ức của bốn năm về trước, những ngày tháng cô còn là một thiếu nữ vụng về đứng cạnh bàn nhào bột của thầy Bách trong căn bếp cũ này, bỗng chốc ùa về như một cơn sóng ngầm cuộn trào dưới đáy biển sâu. Đã có biết bao nhiêu lần, trong những buổi sớm tinh mơ khi sương mù Đà Lạt còn phủ kín những hàng rào gỗ và lò nướng bánh mì vừa tàn lửa than, thầy Bách lại lặng lẽ khoác lên mình chiếc áo len cổ lọ màu xám tro quen thuộc, dắt chiếc xe đạp cọc cạch ra khỏi con hẻm Hoa Đăng, bỏ lại một câu nói buông lơi trong làn hơi thở mờ ảo: *“Thầy ghé Ban Mai một lát.”*

Khi ấy, cô chưa từng hỏi Ban Mai là nơi nào. Cô cứ ngỡ đó chỉ là một quán nước nhỏ quen thuộc của những người già ở góc phố nào đó, nơi thầy ghé uống một tách cà phê phin đậm đặc trước khi bắt đầu một ngày mới.

Và rồi cách đây vài đêm, khi người bố đơn thân Phan Quốc Duy bước chân vào tiệm bánh trong trạng thái rối bời vì đứa con gái nhỏ, anh cũng từng vô tình nhắc đến một câu chuyện truyền miệng giữa giới sành ăn: về một người thợ làm bánh cao tuổi nắm giữ bí quyết ủ loại men hoang dã kỳ diệu đang ẩn cư ở một vùng đồi vắng ven nhánh hồ lớn phía tây nam thành phố…

Hơi thở của Nhiên trở nên dồn dập khác thường. Lồng ngực cô thắt lại. Cô run rẩy nâng mẩu giấy báo lên ngang tầm mắt, cố gắng kiềm chế sự chấn động đang dâng lên trong huyết quản. Cô cố giữ cho giọng nói của mình không bị lạc đi, ngước nhìn người tài xế già đang ngồi đối diện:

“Anh Lộc… cái giỏ quýt này… anh hái ở vườn nhà hết sao?”

Lộc đang hớp thêm một ngụm trà nóng, nghe Nhiên hỏi với giọng điệu kỳ lạ thì hơi ngớ ra một chút. Ông chớp mắt, rồi gãi đầu cười xòa, thật thà giải thích:

“À, không giấu gì cô, quýt trong giỏ thì đúng là hơn một nửa hái từ mấy cây vườn nhà tôi ở Đơn Dương thật. Nhưng chiều nay lúc chạy chiếc xe bán tải gom rau củ ngang qua khu vực ven đồi ngoại ô gần mấy nhánh hồ lớn phía tây nam thành phố, men theo con đường đất đỏ rẽ vào hướng đồi dốc, tôi thấy có một người phụ nữ trung niên trạc tuổi cô Hảo đầu hẻm này, ngồi nép bên vệ đường bán mấy gánh hoa quả rừng. Thấy bà ấy ngồi co ro giữa gió lạnh, có mấy chùm quýt rừng quả nhỏ xíu nhưng vàng ươm, cuống lá còn tươi roi rói y chang quýt vườn nhà mình, tôi ghé vào mua ủng hộ hết sạch cho bà ấy kịp về nhà sớm tránh rét, rồi trút chung vào giỏ tre này luôn cho nó đầy đặn.”

Lộc chép miệng, nheo mắt nhớ lại chi tiết buổi chiều muộn:

“Người phụ nữ đó ăn mặc giản dị lắm, áo bà ba chần bông cũ kỹ, nói giọng Đà Lạt xưa nhẹ tênh như tiếng gió thoảng qua rặng thông ấy. Lúc tôi bảo không mang theo túi đựng, bà ấy mới lôi trong cái giỏ mây ra mấy tờ giấy báo cũ này bảo lót tạm dưới đáy giỏ cho đỡ dập quả khi xe chạy qua đường xóc. Bà ấy còn bảo mấy tờ báo này là bà tiện tay xin được ở cái quán cà phê cũ mà bà hay ghé phụ việc quét dọn, lặt vặt mỗi sáng sớm ở mé đồi gần đấy.”

Thịnh đang ngồi bên cạnh, thấy vẻ mặt Nhiên bỗng dưng biến sắc, hai bờ môi mím chặt và sắc mặt tái nhợt đi thì khẽ nhíu mày. Anh đặt tách trà gốm xuống bàn, nghiêng người về phía trước, ánh mắt sắc sảo của người bảo vệ ca đêm lập tức chuyển sang chế độ quan sát cẩn trọng:

“Có chuyện gì thế Nhiên? Mẩu giấy báo đó có vấn đề gì à?”

Nhiên không đáp lời Thịnh ngay. Cổ họng cô nghẹn đắng lại. Những đầu ngón tay quấn băng gạc trắng muốt của cô run lên bần bật khi cô chầm chậm, run rẩy lật mặt sau của mẩu giấy báo cũ ố vàng.

Tờ báo này dường như không phải là một trang tin tức hoàn chỉnh, mà là một góc cắt của tờ nhật báo địa phương từ nhiều năm về trước, nơi có những khoảng trắng rộng thênh thang ở lề trang giấy in.

Và ở ngay khoảng trắng phía dưới con dấu đỏ nhòe nhoẹt kia, đập vào mắt Nhiên là một dòng chữ viết tay bằng mực màu xanh lam đã hơi phai sắc nước theo thời gian.

Nét chữ nghiêng nghiêng sang bên phải, dứt khoát nhưng vô cùng mềm mại ở những nét móc tròn, một thói quen viết chữ dùng lực ngòi bút rất mạnh khiến mặt giấy báo mỏng hơi hằn lõm xuống ở từng nét chữ—thứ nét chữ mà suốt cả thời niên thiếu, Nhiên đã nhìn thấy hàng ngàn lần trên những cuốn sổ tay bìa da ghi chép công thức ủ men hoang dã, trên những mảnh giấy ghi nhớ dán bằng băng keo ở góc lò nướng bánh, và trên cả mép phong bì niêm phong bằng sáp đỏ đang nằm im lìm trong chiếc hộp thiếc rỉ sét trên gác xép của cô.

Dòng chữ viết tay ngắn ngủi, vỏn vẹn chỉ có mười chữ:

*“Gửi anh Bách mẻ men sấy đồi Mimosa.”*

Thời gian dường như hoàn toàn ngưng đọng lại trong tích tắc định mệnh ấy.

Tiếng gió rít qua khe cửa kính, tiếng than nổ lách tách trong bếp lò, tiếng chuông đồng khẽ lay ngoài hiên, và cả nhịp đập khô khốc của chiếc đồng hồ quả lắc trên vách tường… tất cả dường như hoàn toàn biến mất khỏi thính giác của Nhiên. Thế giới xung quanh cô thu hẹp lại chỉ bằng một mảnh giấy báo nhàu nhĩ ố vàng nằm lọt thỏm trong lòng bàn tay đang run rẩy.

*Anh Bách.* *Đồi Mimosa.* *Men sấy.*

Là thầy. Đúng là thầy rồi.

Không thể nào nhầm lẫn được. Nét chữ này, cây bút mực Parker màu xanh cửu long có ngòi mài dẹt bằng vàng mười mà thầy quý như báu vật sinh mệnh, và cả cái tên “anh Bách” mộc mạc ấy.

Suốt bốn năm qua, người đàn ông ấy dường như đã bốc hơi hoàn toàn khỏi thế giới này, không để lại bất kỳ một dấu vết nào ngoài hũ men cái đang thở đều đặn trong góc bếp tiệm bánh và một bức thư phong kín mà cô chưa bao giờ có đủ can đảm để xé rách lớp sáp đỏ niêm phong. Cô đã từng nghĩ thầy đã rời bỏ xứ sở sương mù này mãi mãi, có thể đã phiêu dạt về một góc trời xa xôi nào đó, hoặc đang tự giam mình trong một xó tối vô danh để trừng phạt bản thân vì cái chết của mẹ cô trên con đèo Prenn định mệnh.

Nhưng không. Thầy vẫn ở đây.

Thầy vẫn ở quanh quẩn đâu đó giữa những triền đồi bạt ngàn của Đà Lạt, ven những nhánh hồ phủ đầy sương lạnh buốt giá, nơi có một quán cà phê mang tên Ban Mai, nơi có người gửi cho thầy những mẻ men sấy được làm ra từ hoa lá cỏ cây trên đồi Mimosa.

“Nhiên?” Giọng Thịnh trầm hẳn xuống, ngập tràn vẻ lo lắng thực sự khi thấy cô đứng chôn chân bất động, lồng ngực phập phồng những nhịp thở dồn dập, đôi mắt dán chặt vào mẩu giấy báo như thể nhìn thấy một bóng ma từ cõi chết hiện về giữa đêm hôm khuya khoắt. Thịnh đưa tay định vỗ nhẹ vào vai cô để trấn an: “Nhiên, cô sao thế? Tờ báo có ghi gì nguy hiểm à?”

Tiếng gọi gấp gáp của Thịnh kéo giật Nhiên quay trở lại với thực tại ngổn ngang.

Cô giật mình co rụt người lại, vội vã siết chặt những ngón tay, gấp mẩu giấy báo cũ lại làm tư rồi giấu gọn nó vào trong lòng bàn tay đang quấn băng gạc của mình. Cô cố hít một hơi thật sâu, nuốt khan một ngụm khí lạnh để nén lại cơn run rẩy dữ dội đang chực bùng nổ trong lồng ngực. Ngẩng đầu lên, cô gượng nở một nụ cười nhạt nhòa, cố gắng làm cho giọng mình nghe thật bình thản:

“Dạ… không có gì đâu anh Thịnh. Chỉ là… một mẩu tin cũ từ thời xưa, em vô tình nhìn thấy một cái tên quen quen của người quen cũ thôi.”

Lộc nghe vậy cũng không mảy may nghi ngờ, ông nhìn đồng hồ đeo tay bằng dây dù màu đen, thấy kim ngắn đã nhích qua số hai từ lúc nào. Ông vội vàng uống cạn nốt chỗ nước trà ấm còn lại trong lòng tách gốm, rồi đứng dậy phủi phủi hai bên đùi quần bạt:

“Chà, mải nói chuyện vui vẻ với hai người mà quên khuấy mất giờ giấc. Hơn hai giờ sáng rồi cơ đấy. Tôi phải xin phép về nhà thôi kẻo con bé Bống sáng mai thức dậy không thấy ba chuẩn bị bữa sáng lại mếu máo xị mặt ra thì khổ thân nó.”

Lộc với tay lấy chiếc mũ len trên quầy đội lên đầu, nhìn Nhiên và Thịnh với ánh mắt chan chứa sự ấm áp và bình an:

“Tôi về nhé cô chủ nhỏ. Giỏ quýt đó cô cứ giữ lấy mà dùng, đừng có ngại ngần gì cả. Khi nào có dịp gom hàng rau củ ngang qua mạn đường này, tôi lại ghé vào tiệm thăm cô và chú Thịnh.”

“Anh về cẩn thận nhé, đường đêm giờ này sương muối xuống trơn trượt lắm đấy,” Thịnh đứng dậy bắt tay Lộc, cẩn thận tiễn người tài xế ra tận bậc cửa gỗ.

“Cảm ơn anh Lộc nhiều lắm… về giỏ quýt rừng, và về cả… câu chuyện của anh nữa,” Nhiên khẽ nói, giọng cô run nhẹ một cách kín đáo khi cúi đầu chào ông.

“Có gì đâu cô! Người phải nói lời cảm ơn suốt đời này là tôi mới đúng!” Lộc cười tươi, vẫy tay chào một lần nữa rồi mở cửa bước ra ngoài màn đêm mù sương.

Tiếng chuông đồng lại ngân lên một tràng leng keng trong trẻo. Cánh cửa gỗ khép lại sau lưng ông, cắt đứt hoàn toàn tiếng bước chân dẫm trên đá sỏi của Lộc xa dần xuống con dốc hẹp của hẻm Hoa Đăng.

Trong tiệm bánh, không gian bỗng chốc chìm vào một sự im lặng tuyệt đối đến nghẹt thở.

Thịnh quay người lại, không bước tiếp ra ngoài mà dựa lưng vào cánh cửa gỗ khép kín, khoanh hai tay trước ngực. Đôi mắt sâu, điềm tĩnh và sắc sảo của người bảo vệ ca đêm nhìn thẳng vào Nhiên—vào bàn tay phải của cô đang siết chặt mẩu giấy báo giấu sau tà tạp dề thô ráp.

Anh không hỏi dồn dập, cũng không gặng ép cô phải giải thích ngay lập tức những điều bất thường vừa xảy ra, bởi anh quá hiểu cái tính cách khép kín, luôn thu mình vào vỏ ốc và thói quen tự nuốt mọi nỗi đau vào lòng của cô gái làm bánh này.

“Nhiên này,” Thịnh lên tiếng, giọng anh trầm ấm và dịu dàng hơn hẳn ngày thường, mang theo sự quan tâm kín đáo của một người đã cùng cô trải qua những đêm dài lặng lẽ. “Nếu có chuyện gì cần người giúp… hay cần tìm kiếm ai đó quanh vùng này, cô cứ nói với tôi một tiếng. Tôi trực đêm ở khu này miết, cánh tài xế chạy xe hay dân buôn bán rau củ quanh các vùng đồi ngoại ô tôi đều biết mặt, quen việc cả.”

Nhiên khẽ cắn chặt môi dưới, ngón tay trong túi tạp dề càng miết chặt hơn vào góc giấy ram ráp đang nóng rực lên trong lòng bàn tay:

“Cảm ơn anh, Thịnh. Em… em biết rồi. Giờ cũng muộn rồi, anh về lại chốt trực đi kẻo tòa nhà có việc đột xuất.”

Thịnh nhìn cô thêm vài giây, ánh mắt phức tạp dường như muốn nói điều gì đó nhưng rồi lại thôi. Anh khẽ thở dài một tiếng dường như không thể nhận ra trong không gian tĩnh mịch. Anh biết bức tường ngăn cách giữa hai người, thứ rào cản vô hình được dựng lên từ những bí mật và tổn thương sâu nặng chưa thể gọi tên của cả hai, vẫn chưa thể một sớm một chiều mà sụp đổ. Anh gật đầu:

“Được rồi, cô thu dọn rồi nghỉ ngơi sớm đi. Nhớ đừng có ráng làm thêm mẻ bánh nào nữa đấy, bàn tay còn chưa lành da non đâu. Đêm nay lạnh lắm, coi chừng vết bỏng nhiễm lạnh lại nhức buốt.”

“Vâng, em biết rồi. Cảm ơn anh.”

Thịnh mở cửa bước ra ngoài, để lại một làn gió buốt lạnh thoáng qua rồi tan biến khi cánh cửa gỗ khép chặt lại.

Bây giờ, trong tiệm bánh Lúc Nửa Đêm chỉ còn lại một mình Nhiên và con mèo Mè.

Chiếc đồng hồ cổ treo trên tường buông từng nhịp tích tắc đều đặn, khô khốc. Mèo Mè chậm rãi bước lại gần, nhảy phóc lên mặt bàn gỗ thông, đôi mắt màu hổ phách trong veo nhìn thẳng vào bàn tay đang run rẩy của cô chủ.

Nhiên bước chầm chậm về phía bàn bếp phía sau. Đôi chân cô nặng trĩu như đeo chì, từng bước đi trên sàn gỗ phát ra những tiếng cọt kẹt khẽ khàng. Cô tựa hẳn người vào mép bàn gỗ thông nhẵn bóng đầy những vết cắt ngang dọc của dao nướng bánh—nơi thầy Bách từng đứng dạy cô từng kỹ thuật nhào bột đầu tiên cách đây nhiều năm.

Cô từ từ mở bàn tay phải ra.

Mẩu giấy báo nhàu nát nằm trơ trọi trên lớp băng gạc trắng muốt. Nhiên run rẩy dùng những đầu ngón tay không bị thương, nhẹ nhàng, cẩn trọng miết lên từng vệt mực màu xanh lam đã ố vàng theo năm tháng.

*“Gửi anh Bách mẻ men sấy đồi Mimosa.”*

Hơi ấm từ những dòng chữ viết tay thân thuộc như truyền qua da thịt, thiêu đốt tâm can cô.

Cùng lúc đó, từ chiếc mẹt tre đặt trên quầy, mùi tinh dầu vỏ quýt cay nồng từ những quả quýt rừng còn đẫm sương đêm bốc lên, xộc thẳng vào cánh mũi cô, đắng đót, thanh khiết và rực lửa.

Mùi hương cay nồng ấy dội ngược vào ký ức, đánh thức từng tầng lớp ký ức tưởng chừng đã ngủ quên dưới đáy tro tàn của sự trốn chạy suốt bốn năm qua: mùi khói thông nồng nặc của đêm tai nạn định mệnh trên đèo Prenn, mùi máu tanh nồng quyện với mưa phùn, ánh mắt bất lực của người mẹ trước lúc trút hơi thở cuối cùng, và bóng lưng gầy guộc của thầy Bách câm lặng bước đi trong cơn mưa rào, bỏ lại cô đơn độc giữa bóng đêm của tiệm bánh.

Thầy không hề rời bỏ mảnh đất này. Thầy vẫn ở đó, trên ngọn đồi Mimosa ấy.

Và quán cà phê Ban Mai… cánh cửa mở ra sự thật đang nằm ở một khung giờ mà suốt bốn năm qua, cô chưa từng một lần đủ dũng khí để bước ra đối diện: ánh sáng của ban ngày.

Mùi tinh dầu quýt cay nồng xộc vào mũi, đánh thức những ký ức tưởng chừng đã ngủ quên dưới đáy tro tàn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories