Thư Viện Của Những Giấc MơCh.11 / 38
Chapter 11

Chuyến Tàu Ngược Về Thành Phố

Tiếng còi tàu sương mù rúc lên từng hồi dài ẩm ướt tại sân ga học viện, báo hiệu chuyến tàu đưa Đội Giữ Mộng Tập Sự quay trở lại Cõi Thức theo lệnh điều động của Giáo sư Tạ Lam.

Hơi nước trắng xóa cuộn trào từ gầm toa xe bằng đồng đen, phả vào bờ đá hoa cương của sân ga Ngàn Trăng một màn ẩm lạnh buốt giá. Từng đợt sương dày đặc quấn lấy những trụ đá chạm trổ phù điêu các vì tinh tú, làm mờ đi những đường vân thạch anh phát quang vốn dẫn lối cho hành khách suốt hàng trăm năm qua. Dưới mái vòm cổ kính đan bằng những thanh thép uốn lượn như xương sống của một con cá voi khổng lồ, những ngọn đèn lồng bọc đồng vẫn còn hắt ra ánh sáng đỏ thẫm ma mị – tàn dư của đêm báo động cấp ba kinh hoàng vừa trôi qua từ Tháp Hội Đồng. Thứ ánh sáng ấy không mang lại hơi ấm; nó rọi xuống mặt đá ướt sũng những vệt bóng dài lê thê, biến mỗi cử động nhỏ nhặt thành một ảo ảnh chập chờn. Tiếng cánh quạt gió khổng lồ quay ngược chiều trên đỉnh tháp dường như vẫn còn văng vẳng trong tâm trí của bốn đứa trẻ, như một tiếng ken két nghiến vào xương tủy, một lời cảnh báo bằng cơ khí lạnh lùng nhắc nhở rằng trật tự mong manh ngăn cách giữa hai cõi đã bắt đầu rạn nứt từ sâu bên trong.

Tiểu Vũ khẽ rùng mình, kéo cao cổ chiếc áo khoác len sẫm màu. Bàn tay phải giấu sâu trong túi áo của cô vẫn còn vương lại hơi ấm mơ hồ từ giọt Mực Khởi Nguyên đêm qua, nơi đầu ngón trỏ từng bừng sáng để chắp nối lại một phần hồn cốt của người họa sĩ bên sông Vọng Nguyệt. Cảm giác ngón tay chạm vào trang giấy trắng buốt, lắng nghe tiếng thầm thì hồi sinh của câu chuyện tuổi thơ câu cá, rồi ánh mắt thảng thốt và kiên định của ba người bạn khi cùng đặt tay lên nhau lập lời thề sinh tử... tất cả vẫn còn nóng rẫy trong lồng ngực cô. Dưới lớp vải dệt thô dày dặn, da thịt cô như vẫn còn lưu giữ độ rung tế vi của thứ mực nguyên thủy – một nhịp đập sinh học độc lập, thì thầm những câu từ chưa kịp định hình, thôi thúc cô phải chú ý đến từng biến chuyển của thực tại xung quanh.

Bên cạnh cô, Hạc Vân đứng thẳng tắp như một thân trúc non giữa gió đông. Tấm áo choàng dài mang gia huy cánh hạc ngậm trăng của cậu rủ xuống phẳng phiu không một nếp nhăn thừa thãi, nhưng bờ mi hơi rũ xuống để lộ quầng thâm nhàn nhạt sau một đêm không chợp mắt. Hai bàn tay cậu chắp sau lưng, những đốt ngón tay thon dài thỉnh thoảng lại siết nhẹ vào nhau, một thói quen vô thức mỗi khi tâm trí cậu phải xử lý hàng loạt phép tính toán và suy đoán nguy nan.

Bin ôm khư khư chiếc túi đeo chéo bằng da cói trước bụng, đôi mắt tròn xoe đảo quanh liên tục để dò xét các kẽ đá sân ga, dường như vẫn đang căng tai đón bắt từng tiếng thở dài của những cuốn Sách Lang Thang lẩn khuất đâu đó dưới các gầm ghế chờ bằng gỗ mun. Cậu học viên mập mạp liên tục dịch chuyển trọng tâm từ chân này sang chân khác, chiếc mũi hơi hếch lên hít hà mùi khói than ẩm ướt, cố gắng tìm kiếm trong không gian một thứ mùi quen thuộc để bấu víu vào, nhưng đáp lại chỉ là vị tanh nồng của kim loại nguội và hơi nước lạnh ngắt.

Còn Linh Lan thì co ro nép sát vào Tiểu Vũ, chiếc mũ len kéo sụp xuống gần che khuất đôi tai nhỏ nhắn. Những ngón tay cô bé hơi run rẩy siết chặt cuốn sổ ký họa gáy bọc vải thô – vật bất ly thân lưu giữ tất cả những mảng màu cảm xúc mà cô bé thu thập được từ thế giới. Từng thớ vải trên áo Linh Lan như run lên theo từng đợt gió rít lùa qua khe vòm ga Ngàn Trăng, mang theo hơi thở của những giấc mộng vừa tan vỡ từ tầng trên của học viện rơi rụng xuống.

Tiếng gót giày da gõ dứt khoát trên mặt đá hoa cương ướt đẫm sương đêm cắt đứt dòng suy nghĩ của họ. Âm thanh ấy sắc bén, đều đặn, vang lên đanh gọn át cả tiếng rít xì xì nơi van xả của đầu máy xe lửa.

Giáo sư Tạ Lam bước ra từ màn hơi nước. Trông cô mệt mỏi hơn hẳn mọi ngày, chiếc áo choàng xám tro có vệt mực khô nơi mép tay áo, mái tóc vấn cao hơi xô lệch để lộ vài sợi tóc mai bết vào thái dương vì mồ hôi lạnh. Cặp mắt sâu thẳm sau tròng kính gọng kim loại ánh lên vẻ nghiêm nghị lạnh lùng muôn thuở, nhưng nơi khóe môi cô, một nếp nhăn trĩu nặng âu lo không tài nào giấu nổi. Dáng đi của cô vẫn nhanh nhẹn, nhưng mỗi bước chân như phải gánh thêm sức nặng của những bí mật đen tối vừa được phơi bày trong phòng nghị sự tối cao.

Cô dừng lại trước mặt bốn học viên của Đội số bảy, ánh mắt lướt qua từng người một, dừng lại một nhịp rất khẽ trên bàn tay phải của Tiểu Vũ trước khi chuyển sang gương mặt trầm mặc của Hạc Vân. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, Tiểu Vũ cảm thấy ánh nhìn của vị giáo sư như xuyên thấu qua lớp vải áo, chạm thẳng vào giọt mực khởi nguyên vẫn đang âm ỉ trong đầu ngón tay cô, nhưng Tạ Lam không nói gì về điều đó.

"Các trò đã có mặt đầy đủ," Tạ Lam cất giọng, âm sắc đều đặn và khô khốc nhưng vang rất rõ giữa tiếng xì hơi ầm ì của đầu máy xe lửa. "Hội đồng Mười Hai Đèn vừa kết thúc phiên họp khẩn cấp kéo dài suốt đêm. Đúng như những gì các trò có thể tự suy đoán từ ba tiếng chuông báo động rạng sáng nay: ranh giới giữa Miền Mộng và Cõi Thức đang xuất hiện những vết nứt nghiêm trọng chưa từng thấy kể từ sau biến cố Trăm Năm Trắng."

Cô mở chiếc cặp da thuộc nâu bóng bên sườn, rút ra một tập hồ sơ dày cộp được niêm phong bằng dải ruy băng xám tro và ấn triện sáp mang biểu tượng la bàn không gian của Lớp Bản Đồ Vô Hình. Tạ Lam trao tập hồ sơ vào tay Hạc Vân. Đôi bàn tay đeo găng da cừu của cậu khẽ hạ xuống một chút dưới sức nặng bất ngờ của tập tài liệu.

"Đây là hồ sơ nhiệm vụ thực địa đặc biệt dành riêng cho Đội Giữ Mộng Tập Sự số bảy," Tạ Lam nói, giọng cô hạ thấp xuống một tông, trở nên nặng trĩu. "Địa bàn khảo sát: toàn bộ các khu phố thợ thủ công ven sông Vọng Nguyệt. Mục tiêu: đo đạc, ghi nhận và đánh giá mức độ suy yếu của 'Giấc Mơ Chung' tại quần thể dân cư này."

Bin chớp mắt, ngập ngừng lên tiếng: "Thưa Giáo sư... Giấc Mơ Chung ạ? Ý cô là... không phải một người nằm mơ riêng lẻ, mà là toàn bộ khu phố ven sông sao ạ?"

"Chính xác," Tạ Lam khẽ gật đầu, ánh mắt nghiêm khắc quét qua cậu học viên tròn trịa, giọng cô mang theo sự rành mạch của một bài giảng lý thuyết được đặt vào hoàn cảnh sinh tử: "Một Giấc Mơ Chung không tự nhiên sinh ra từ hư vô. Nó được kết tinh từ hàng trăm, hàng ngàn tâm thức cùng chung sống trong một không gian địa lý, cùng chia sẻ chung một nhịp thở, một nỗi lo toan thường nhật hoặc một niềm hy vọng mãnh liệt. Các khu phố thợ thủ công ven sông Vọng Nguyệt – nơi tập trung những người thợ nhuộm, thợ dệt, thợ gốm và thợ làm bánh – từng là nơi có Giấc Mơ Chung rực rỡ và bền bỉ nhất của thành phố. Niềm say mê sáng tạo của họ từng tỏa ra nguồn Minh Quang ấm áp nuôi dưỡng các phân khu mộng giới xung quanh."

Cô ngừng lại một chút, hàng chân mày thanh tú nhíu chặt lại, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc bén như mũi dao mổ lướt qua màn sương sớm:

"Thế nhưng trong suốt ba ngày qua, các trạm quan trắc của học viện ghi nhận dòng chảy Minh Quang từ khu vực ven sông Vọng Nguyệt đang tụt giảm với tốc độ kinh hoàng. Mộng Thư của những cư dân nơi đó trong Tầng Thư Khố đang liên tục bị rút sạch chữ. Hiện tượng Trang Trắng đã bắt đầu phản phệ ngược trở lại Cõi Thức. Khi người dân mất đi giấc mơ, họ sẽ mất đi trí tưởng tượng, cảm xúc, niềm say mê lao động và cuối cùng là bản năng hy vọng. Họ biến thành những cái bóng vô hồn biết thở."

Tiểu Vũ siết chặt ngón tay trong túi áo. Da thịt cô râm ran. Hình ảnh người họa sĩ già bên ngõ Chuông Gió buông thõng cánh tay, nhìn bức toan trắng toát với đôi mắt xám xịt vô cảm bỗng hiện về rõ mồn một trong tâm trí cô, chân thực và đau đớn đến nghẹt thở. Giọt Mực Khởi Nguyên đêm qua chỉ cứu được một cuốn sách... nhưng ngoài kia, bên ngoài sân ga này, vượt qua Lằn Ranh sương mù, còn hàng trăm, hàng ngàn con người đang trượt dài vào hố sâu băng giá của sự lãng quên.

"Và ta phải nhắc nhở các trò điều quan trọng nhất," giọng Tạ Lam đanh lại, từng từ thốt ra mang theo sức nặng ngàn cân của luật lệ tối thượng được khắc trên bia đá của học viện. "Đây là nhiệm vụ thực địa tại Cõi Thức, không phải một buổi mô phỏng trong Mê Lộ Giấy hay một chuyến can thiệp có chuẩn bị vào Miền Mộng. Quy tắc tối thượng của Người Giữ Mộng: tuyệt đối tuân thủ giới hạn can thiệp! Các trò chỉ có nhiệm vụ quan sát, đo đạc chỉ số, thu thập bằng chứng thực địa và trở về báo cáo. Không được phép tự ý sử dụng pháp thuật mộng giới thô bạo lên người dân Cõi Thức. Không được cưỡng ép cấy ghép ý tưởng, không được can thiệp vào đời sống thực tại của họ khi chưa có sự đồng thuận hay Sợi Neo danh chính ngôn thuận. Bất kỳ sự vi phạm nào đối với ranh giới Cõi Thức đều sẽ bị Phái Niêm Phong xử lý như tội phản nghịch cấp độ cao nhất. Các trò đã rõ chưa?"

"Rõ thưa Giáo sư," cả bốn đứa trẻ đồng thanh đáp, âm thanh hòa vào tiếng rít của hơi nước đang giảm áp.

Hạc Vân cúi đầu thật sâu, nhận lấy tập hồ sơ bằng hai tay với sự cẩn trọng tuyệt đối. Trong mắt cậu, ngọn lửa của sự kiêu hãnh thường ngày đã được thay thế bằng một vẻ trầm mặc, thận trọng hiếm thấy. Cậu hiểu rõ hơn ai hết, mẹ cậu – bà Hạc Băng Tâm – cùng Phái Niêm Phong đang giương mắt theo dõi từng biến động nhỏ nhất của học viện, sẵn sàng chộp lấy bất kỳ kẽ hở nào để siết chặt gọng kìm kiểm soát. Bất kỳ một sơ suất nào của Đội số bảy lúc này đều có thể đẩy Tiểu Vũ vào cối xay nghiền nát của Pháp Trận Tẩy Mộng, và biến nỗ lực bảo vệ ký ức của họ thành mây khói.

"Lên tàu đi," Tạ Lam khẽ thở dài, bước lùi lại một bước nhường đường cho bốn học viên tiến về phía bậc thang bằng sắt của toa xe. Ánh mắt cô dõi theo họ, ánh lên một tia xót xa thoáng qua rất nhanh: "Cõi Thức đang lạnh dần đi đấy. Đừng để cái lạnh ấy làm đông cứng đôi mắt của các trò."

***

Đoàn tàu hơi nước rùng mình chuyển bánh. Tiếng bánh xe sắt nghiến trên đường ray phát ra những âm thanh rền rĩ, khô khốc, vang dội dưới vòm mái ga Ngàn Trăng rồi từ từ chìm vào khoảng không vô tận.

Tiểu Vũ ngồi bên cửa sổ toa tàu hạng ba, nơi lớp kính mờ đục phủ đầy những giọt nước đọng lạnh ngắt. Cô đưa ngón tay khẽ quẹt một vệt dài trên mặt kính, để lộ ra khoảng không gian bên ngoài đang trôi dần về phía sau. Cảnh quan siêu thực của Học viện Mộng Thư – những tháp sách nghiêng nghiêng chạm tới tầng mây tím ngắt, những cây cầu treo vắt ngang hư không nối các vòm giảng đường cổ kính, những hành lang xoắn ốc treo lơ lửng nơi các thực tập sinh đang vội vã sải bước – dần dần bị nuốt chửng bởi một màn sương mù màu lam xám dày đặc.

Đó là Lằn Ranh.

Bầu không khí trong toa tàu bỗng chốc trở nên đặc quánh lại, như thể không khí vừa bị nén qua một màng lọc vô hình. Một áp lực nặng nề đè lên màng nhĩ của cả nhóm, khiến hơi thở của họ trở nên ngắt quãng. Ánh sáng từ những ngọn đèn dầu treo trên trần toa xe chao đảo dữ dội, ngọn lửa chuyển từ màu vàng ấm sang màu xanh lơ ma quái.

Chiếc đồng hồ bỏ túi bằng đồng thau trong túi áo Tiểu Vũ bỗng rung lên một nhịp khẽ khàng. Mặt kính của nó áp sát vào mạn sườn cô, truyền qua lớp áo một luồng nhiệt âm ỉ. Kim giây nhảy giật một bước khô khốc, phát ra tiếng tích tắc quen thuộc vang vọng giữa khoảng không co giãn của hai cõi thực – mộng. Cô đưa tay giữ chặt mặt đồng hồ qua lớp vải áo. Chiếc đồng hồ chạy chậm bảy phút của bà Phan Diệp Chi vẫn đang kiên nhẫn gõ từng nhịp thời gian, như một ngọn hải đăng câm lặng neo giữ linh hồn cô giữa cơn chao đảo của không gian, nhắc nhở cô về một dòng chảy thực tại khác, nơi ký ức của người bà vẫn luôn hiện hữu che chở cho cô.

Bên cạnh cô, Hạc Vân đang lật giở từng trang hồ sơ dưới ánh đèn xanh lơ, ngón tay cậu lướt nhanh trên những biểu đồ phức tạp ghi nhận dòng chảy Minh Quang. Bin ngồi thu lu đối diện, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên đùi, ánh mắt dán chặt vào sàn gỗ của toa tàu như thể đang đếm từng đường vân gỗ để quên đi cảm giác buồn nôn do hiện tượng dịch chuyển không gian mang lại. Linh Lan thì nhắm nghiền mắt, tựa đầu vào vai Tiểu Vũ, lẩm bẩm những câu hát ru dân gian không rõ lời, tìm kiếm sự an ủi trong những giai điệu cổ xưa.

*Xoẹt...*

Một luồng gió ẩm ướt và mang theo mùi than đá nồng nặc lùa qua khe cửa sổ thông gió trên trần toa xe.

Cảm giác nặng nề trên màng nhĩ đột ngột biến mất, nhường chỗ cho một sự hẫng hụt quen thuộc của trọng lực trần thế. Màn sương lam xám tan biến như một tấm rèm bị xé toạc bởi bàn tay vô hình của thực tại. Ánh sáng vàng đục, nhuốm màu ảm đạm của một buổi chiều muộn tháng Mười hắt vào khoang tàu, làm lộ rõ những vệt rỉ sét trên tay vịn và lớp sơn tróc lở của các băng ghế gỗ.

Họ đã trở lại Cõi Thức. Họ đã trở về thành phố Vọng Nguyệt.

Thế nhưng, khoảnh khắc đoàn tàu từ từ giảm tốc độ, trườn mình trên cây cầu sắt rỉ sét bắc qua sông Vọng Nguyệt để tiến vào nội đô, Tiểu Vũ bất giác áp sát mặt vào tấm kính cửa sổ, hơi thở nghẹn lại nơi cuống họng. Trái tim cô thắt lại trước khung cảnh đang mở ra trước mắt.

Vọng Nguyệt của cô... thành phố của những mái ngói xanh cong vút như đuôi cá, của những dải lụa nhuộm màu phơi bay phấp phới bên bờ nước, của những ngọn đèn đường hình trăng khuyết ấm áp từng chào đón cô mỗi độ tan trường... nay dường như đã bị một bàn tay vô hình phủ lên một lớp tro tàn tang tóc.

Dọc theo bờ sông, những dãy nhà ngói xanh đặc trưng của khu phố cổ vẫn đứng đó, nhưng màu men ngọc bích tươi tắn từng làm say lòng biết bao thế hệ, từng lấp lánh dưới ánh nắng sớm hay dịu dàng trong ánh hoàng hôn, nay đã ngả sang một màu bùn đất xám xịt, loang lổ những vệt nấm mốc khô khốc. Những góc mái cong thanh thoát dường như cũng chùng xuống, mệt mỏi và rệu rã. Dòng nước sông Vọng Nguyệt vốn trong xanh phản chiếu ánh hoàng hôn, nơi từng in bóng những chiếc thuyền chở đầy hoa và vải vóc, nay lững lờ trôi như một dải chì lỏng, đục ngầu và nặng nề, không một gợn sóng tăm cá, không một ánh phản quang lấp lánh. Dòng sông như một mạch máu đã bị đông cứng, trơ trọi và vô hồn.

Đau lòng nhất là những bức tường bích họa khổng lồ dọc theo kè đá bến sông. Đó là niềm tự hào của cư dân Vọng Nguyệt suốt hàng chục năm qua – nơi các thế hệ nghệ sĩ và thợ thủ công tự do vẽ nên những câu chuyện thần thoại về mặt trăng, về những chuyến tàu chở đầy hoa cúc dại, những con phố ngập tràn ánh lồng đèn và những đàn cá bay lượn trên bầu trời sao. Mỗi mùa lễ hội, người ta lại đến đây, thêm vào một nét vẽ, một giọt màu, bồi đắp cho bức tranh chung của thành phố thêm phần sống động.

Nhưng giờ đây, những mảng màu rực rỡ như đỏ chu sa, lam cánh trả hay vàng hoa sen đã biến mất không dấu vết. Bức tường đá dài hàng trăm mét chỉ còn lại những vệt vôi loang lổ, những mảng xám xịt ảm đạm và những nét vẽ đứt gãy, trơ trọi như những vết sẹo chưa lành trên da thịt thành phố. Màu sắc không phải bị tróc ra do mưa nắng; chúng dường như đã bị rút cạn từ bên trong thớ đá, bị hút sạch sinh khí để lại một bề mặt chết chóc, trơ lỳ.

"Sao lại... thành ra thế này?" Linh Lan thì thầm, bàn tay cô bé siết chặt lấy cánh tay Tiểu Vũ đến mức các đốt ngón tay trắng bệch. Đôi mắt trong veo của cô bé ứa nước, phản chiếu bức tường đá xám ngoét bên ngoài. "Mới chỉ có mấy tuần thôi mà... Mùa hè năm ngoái, tớ còn cùng mẹ ra bờ sông này ngồi ngắm bức bích họa 'Đêm Trăng Mười Bốn' kia mà. Lúc ấy nó đẹp rực rỡ lắm... ánh trăng vẽ bằng bột vỏ trai phát sáng lấp lánh cả một khúc sông... sao bây giờ chỉ còn một vệt đen thùi lùi thế kia?"

"Hiện tượng Trang Trắng đã ngấm quá sâu vào Cõi Thức," Hạc Vân lên tiếng, giọng cậu trầm và lạnh như băng, nhưng ánh mắt dán chặt vào bức tường đổ nát ngoài cửa sổ lại chứa chan sự chấn động tột cùng. Đôi môi mỏng của cậu mím chặt thành một đường thẳng tắp. Cậu mở tập hồ sơ trên đùi, chỉ vào một biểu đồ có đường nét dốc đứng gãy khúc: "Khi Mộng Thư mất chữ, các biểu tượng gốc trong Miền Mộng bị phá hủy. Người dân không còn tạo ra được hình ảnh trong mơ nữa. Và một khi tâm thức của họ trống rỗng, những vật chất sáng tạo ở Cõi Thức – màu sắc của tranh vẽ, hoa văn trên vải dệt, nhịp điệu của âm nhạc – sẽ mất đi nguồn nuôi dưỡng tinh thần và tự động phân rã. Chúng ta đang chứng kiến sự mục ruỗng từ gốc rễ."

"Trông nó cứ như... một bức ảnh cũ bị phơi nắng quá lâu vậy," Bin lẩm bẩm, vẻ mặt hoạt bát thường ngày biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho một nỗi bất an ngột ngạt. Cậu áp trán vào cửa kính, hơi thở phả ra làm mờ một mảng sương. "Không khí ở đây... nặng quá. Tớ chẳng ngửi thấy mùi bánh ngọt hay mùi gỗ mới đâu cả. Chỉ toàn mùi ẩm mốc và bụi khô."

Đoàn tàu rúc lên một hồi còi dài đùng đục rồi dừng hẳn tại ga trung tâm thành phố Vọng Nguyệt. Âm thanh phanh rít chói tai cào vào không gian tĩnh mịch. Cả bốn người xách hành lý bước xuống sân ga quen thuộc nhưng xa lạ.

Không còn tiếng chào hàng rôm rả của những người bán trà rong với những ấm trà bốc khói nghi ngút, không còn tiếng cười đùa của lũ trẻ chạy đuổi theo những cánh diều giấy ven sân ga, cũng không còn những nhạc công đường phố so dây đàn nguyệt bên cột đồng hồ. Cả nhà ga chìm trong một sự tĩnh lặng đến rợn người, một thứ im lặng ngột ngạt như thể âm thanh vừa phát ra đã bị không khí nuốt chửng ngay tức khắc. Chỉ có tiếng bước chân lê thê, rời rạc của những hành khách mệt mỏi vội vã lướt qua nhau như những bóng ma, không ai buồn ngẩng đầu lên nhìn ai, không một lời trao đổi, không một ánh mắt giao nhau.

***

"Này các cậu, đi lối này!"

Ra khỏi nhà ga, Bin hít một hơi sâu như cố xua tan bầu không khí ngột ngạt đang đè nặng lồng ngực. Cậu gượng nở một nụ cười toe toét, dù khóe mắt vẫn còn vương nét hoang mang, rồi vẫy tay gọi cả nhóm: "Tiệm bánh 'Hương Lúa Mạch' của nhà tớ chỉ cách ga có ba con phố thôi! Ngay góc ngã tư phố Cối Xay Gió cũ ấy. Cha tớ thể nào cũng đang nướng mẻ bánh mì men hoa quế buổi chiều. Tớ cá là bác ấy vừa phát minh ra công thức bánh quy nhân mứt táo mới cho mùa thu này rồi! Để tớ dắt các cậu qua ăn thử lót dạ, bánh của cha tớ là số một trần đời, ăn một miếng là bao nhiêu mệt mỏi tan biến hết sạch!"

Nhìn thấy ánh mắt háo hức và nỗ lực vụng về của Bin nhằm làm cho không khí bớt u ám, Tiểu Vũ mỉm cười gật đầu, dù trong lòng cô dấy lên một nỗi bất an mơ hồ: "Được đấy, chúng ta ghé qua chào bác một lát đi. Dù sao phố Cối Xay Gió cũng nằm ngay cửa ngõ dẫn vào khu thợ thủ công ven sông. Chúng ta có thể bắt đầu khảo sát từ đó."

Cả nhóm rảo bước theo sau thân hình tròn trịa của Bin. Họ quẹo qua những con ngõ lát đá hẹp quen thuộc, nơi những phiến đá xanh từng nhẵn bóng dưới bước chân qua lại của người dân phố cổ. Nhưng càng đi sâu vào khu phố, sự hào hứng trên gương mặt Bin càng vơi dần đi, từng bước chân của cậu chậm lại, nặng nề hơn.

Những tán cây phong ven đường đã trút lá sớm hơn mọi năm, cành cây khô khốc chìa ra giữa bầu trời xám xịt như những bàn tay khẳng khiu cầu cứu trong vô vọng. Những chiếc lá rụng dưới đất không có màu vàng ruộm hay đỏ thắm của mùa thu, mà ngả sang một màu nâu xỉn mục nát. Những ngôi nhà hai tầng với cửa chớp gỗ từng được sơn phết rực rỡ sắc màu nay đều tróc sơn từng mảng lớn, im lìm khóa chặt. Những chậu hoa cúc bên bậu cửa sổ rũ rượi, héo khô vì thiếu bàn tay chăm sóc.

Khi quẹo vào góc phố Cối Xay Gió cũ, bước chân của Bin bỗng chững lại rồi dừng hẳn. Cậu đứng sững giữa ngã tư, chiếc túi da cói tuột khỏi vai, buông thõng bên hông.

Tiệm bánh "Hương Lúa Mạch" nằm ở góc đường, nơi từng có một biển hiệu bằng gỗ sồi hình chiếc bánh mì sừng bò nở nụ cười rạng rỡ chào đón mọi đứa trẻ trong khu phố. Nhưng lúc này, tấm biển hiệu ấy đã bị nghiêng lệch sang một bên, xích sắt rỉ sét kêu cọt kẹt buồn bã trong từng cơn gió lạnh. Một góc của biển hiệu đã bị nứt toác, nụ cười bằng gỗ gọt giũa tỉ mỉ ngày nào nay phủ đầy rêu phong u tối. Cửa kính tiệm bánh phủ một lớp bụi mỏng mờ đục, không có ánh đèn vàng ấm áp hắt ra như mọi khi, biến căn tiệm thành một cái hang tối tăm giữa góc phố hoang tàn.

Và tồi tệ nhất là: không hề có một chút mùi thơm nào.

Không có mùi bơ sữa béo ngậy thường xua tan cái lạnh đầu đông, không có mùi men bánh mì nồng nàn đang nở trong lò nướng, cũng chẳng có chút hương quế hay vani ngọt ngào nào thoảng qua cánh mũi – thứ mùi hương từng là chiếc la bàn định vị cho cả con phố Cối Xay Gió suốt bao năm qua. Không gian quanh tiệm bánh đặc quánh một mùi bột mì sống chua loét, quyện với mùi khói củi ẩm và tro than nguội lạnh.

"Cha ơi? Cha có nhà không?" Bin khẽ gọi, giọng cậu run rẩy đẩy cánh cửa gỗ khép hờ.

Tiếng chuông gió treo trên cửa – chiếc chuông làm bằng những ống đồng nhỏ từng phát ra những âm thanh rộn rã như tiếng cười trẻ thơ – nay chỉ phát ra một tiếng *leng keng* khô khốc, lạc lõng rồi tắt lịm trong sự ẩm ướt của gian phòng.

Tiểu Vũ, Hạc Vân và Linh Lan bước theo sau Bin vào trong tiệm.

Bên trong tiệm bánh lạnh ngắt, cái lạnh ngấm vào da thịt như thể bước vào một hầm mộ bằng đá. Những chiếc khay inox sáng loáng trên quầy hàng nay trống trơn, phủ một lớp bụi mờ, chỉ trơ trọi vài mẩu vụn bánh khô đét từ nhiều ngày trước nằm lăn lóc nơi góc khay. Những giỏ mây từng chất đầy bánh mì baguette giòn rụm nay trống rỗng, mạng nhện giăng mắc nơi quai xách. Ở gian bếp phía sau quầy thu ngân, chiếc lò nướng bằng gạch nung khổng lồ – trái tim đập nhịp nhàng của tiệm bánh suốt ba mươi năm qua – chỉ còn le lói vài đốm than đỏ tàn lụi dưới đáy lò, tỏa ra những luồng khói xám lững lờ bốc lên trần nhà rồi tan biến vào bóng tối.

Và bên cạnh chiếc bàn đá hoa cương lớn dùng để nhào bột, một người đàn ông trung niên với vóc dáng đẫy đà – mang nhiều nét giống hệt Bin, từ cái cằm tròn đến vầng trán rộng – đang đứng đó. Ông mặc chiếc tạp dề trắng đã ố vàng vì dầu mỡ cũ, hai tay vùi sâu trong đống bột mì trắng bợt đặt trên mặt bàn lạnh ngắt.

"Cha ơi!" Bin reo lên, một tia hy vọng mong manh lóe lên trong mắt cậu, cậu vội vã bước tới mép quầy ngăn cách gian ngoài và bếp. "Con về rồi đây này! Con dẫn cả bạn ở trường về thăm tiệm nữa... Con nhớ bánh của cha quá..."

Nụ cười trên môi cậu thiếu niên vụt tắt ngấm, đóng băng lại thành một nét mặt sững sờ đầy hoảng sợ.

Cha của Bin hoàn toàn không quay đầu lại. Ông không hề mỉm cười, không reo lên ngạc nhiên, thậm chí không chớp mắt lấy một lần trước tiếng gọi tha thiết của đứa con trai duy nhất vừa trở về từ học viện xa xôi.

Hai cánh tay trần nổi gân của người thợ làm bánh cứ đều đặn, nhịp nhàng nâng lên rồi ấn xuống mặt bàn đá. Đẩy tới, gập lại, ấn xuống. Đẩy tới, gập lại, ấn xuống.

Động tác của ông chuẩn xác, lạnh lùng và trơn tru đến rợn người, hệt như một cánh tay đòn của cỗ máy hơi nước bằng kim loại trong nhà xưởng cơ khí ngoài bến cảng. Không có một chút cảm xúc nào dồn vào thớ bột. Không có cái gõ nhẹ trìu mến vào cạnh bàn để thử độ đàn hồi, không có động tác nghiêng đầu hít hà mùi men ủ xem đã vừa độ hay chưa, cũng không có cái huýt sáo ngẫu hứng theo điệu dân ca mà Bin từng kể say sưa suốt những đêm thao thức ở ký túc xá. Khối bột dưới tay ông trắng bệch, nhão nhoét, trơ lì như một tảng đất sét vô tri.

Khuôn mặt của ông Trần xám ngoét như tro tàn, hai má trũng sâu hốc hác, và đôi mắt... đôi mắt ông mở trừng trừng nhìn vào góc bàn đá, nhưng bên trong đồng tử hoàn toàn trống rỗng. Không có tiêu cự, không có tia sáng của ý thức, chỉ là một màn sương mù xám đục, vô hồn và kiệt quệ. Đôi mắt ấy không nhìn thấy khối bột, không nhìn thấy căn tiệm, và cũng không hề nhìn thấy đứa con trai đang đứng cách mình chỉ vài bước chân.

Trên chiếc bàn gỗ cạnh lò nướng, thay vì những cuốn sổ tay vẽ nguệch ngoạc các công thức bánh sáng tạo với hoa hồng gai, hạt thông rừng hay mứt mơ ngâm rượu, chỉ có một xấp khuôn bánh mì gối chữ nhật bằng thiếc xám xịt xếp đều tăm tắp, nhạt nhẽo và trơ lì.

"Cha... cha bị làm sao thế này?" Bin lao vòng qua quầy thu ngân, đôi chân vấp phải chiếc ghế đẩu suýt ngã nhào. Cậu túm lấy vạt áo tạp dề của cha mình, giọng cậu lạc đi trong nước mắt, vỡ vụn ra từng mảnh. "Cha nhìn con đi! Con là Bin đây mà! Trần Gia Bình của cha đây mà! Mẹ đâu rồi cha? Sao cha lại làm việc như thế này? Bánh quế của cha đâu rồi? Bánh quy táo cho mùa thu của cha đâu rồi?"

Bị con trai lay mạnh, động tác nhào bột của người đàn ông khựng lại một nhịp. Khớp xương cổ của ông phát ra một tiếng rắc khô khốc khi chuyển động cứng nhắc, từ từ quay sang phía Bin. Đôi môi ông mấp máy, khô nẻ và nứt toác từng vệt máu xám xịt:

"Bột... phải nhào bột. Ba trăm ổ bánh mì trắng. Cần ba trăm ổ. Đúng giờ. Không được sai lệch. Không được... nghĩ ngợi..."

Giọng nói của ông đều đều, bằng phẳng, vô cảm như tiếng hai thanh kim loại cọ vào nhau dưới đáy giếng sâu, không hề chứa đựng một chút hơi ấm, một tia nhận biết hay tình mẫu tử thiêng liêng nào của một người cha. Từng từ ngữ phát ra rời rạc, như thể được lập trình sẵn trong một bộ nhớ cơ học đã rỉ sét.

Rồi như một cỗ máy vừa vượt qua sự cố nghẽn mạch tạm thời, ông lại chầm chậm quay mặt đi, không nhìn Bin thêm một giây nào nữa. Hai bàn tay thô ráp lại tiếp tục ấn xuống tảng bột vô hồn: Đẩy tới, gập lại, ấn xuống. Đẩy tới, gập lại, ấn xuống.

"Cha!" Bin gục trán vào cạnh bàn đá hoa cương lạnh buốt, hai vai run bần bật, nước mắt rơi lã chã xuống lớp bột mì vương vãi trên sàn nhà. Cậu đưa hai tay ôm chặt lấy cánh tay gân guốc của cha mình, dùng hết sức bình sinh để kéo lại, nhưng người đàn ông với sức mạnh cơ học mù quáng vẫn cứ máy móc cử động, kéo theo cả cánh tay và thân hình của con trai chuyển động theo từng nhịp đẩy – gập – ấn mà không hề hay biết.

Tiểu Vũ bước tới, đặt nhẹ bàn tay lên vai Bin, lòng cô quặn thắt lại như có ngàn mũi kim châm buốt giá. Cô nhìn sâu vào vầng trán của người thợ làm bánh. Ở đó, nơi từng tỏa ra vầng hào quang ấm áp của một người thợ thủ công lành nghề yêu đời, nơi từng là cái nôi sản sinh ra những giấc mơ ngọt ngào về hương lúa mạch và men bánh thơm lừng, nay chỉ còn là một khoảng không u tối, cạn kiệt. Hiện tượng mất chữ trong Mộng Thư đã rút cạn trí tưởng tượng của ông. Không còn giấc mơ về những chiếc bánh ngọt thơm lừng dưới ánh trăng, người thợ cả tài hoa đã bị giáng cấp thành một cỗ máy sinh học chỉ biết lặp lại những thao tác cơ học vô nghĩa để duy trì sự tồn tại đơn thuần của thể xác.

Hạc Vân bước đến mép bàn, gương mặt cậu đanh lại trong một nỗi đau đớn kìm nén. Cậu khẽ rút chiếc bút đo đạc bằng bạc của gia tộc Hạc ra khỏi túi áo, chạm nhẹ đầu bút khắc hoa văn tinh xảo vào mặt bàn đá cạnh đống bột. Một vệt sáng lập phương mờ nhạt lóe lên từ đầu bút rồi tắt lịm ngay lập tức, tan rã thành những hạt bụi lân tinh không màu.

Hạc Vân lắc đầu, khẽ nói với Tiểu Vũ và Linh Lan bằng một giọng trầm thấp, nghẹn ngào: "Màng Minh Quang bảo hộ tâm thức của bác ấy đã rách nát hoàn toàn. Vùng tạo biểu tượng trong tâm trí đã ngừng hoạt động. Bác ấy không còn khả năng mơ thấy bất cứ điều gì mới mẻ nữa. Cảm giác thèm sáng tạo đã chết rồi. Ý niệm về 'hương vị' đã bị xóa sạch khỏi tâm thức, chỉ còn lại khái niệm 'khối lượng' và 'thao tác'."

Linh Lan nghẹn ngào quỳ xuống bên cạnh Bin, cô bé vụng về rút chiếc khăn tay viền hoa thêu đưa cho bạn, những giọt nước mắt lăn dài trên má cô bé: "Bin... đừng khóc... chúng ta sẽ tìm ra cách mà... Chúng ta nhất định sẽ cứu được bác... Cha cậu chỉ đang ngủ quên thôi, giấc mơ của bác ấy chỉ bị lạc đường thôi mà..."

Bin ngẩng đầu lên, gương mặt đầm đìa nước mắt, bột mì trắng dính lem nhem trên má và khóe mắt đỏ ngầu. Cậu nhìn Tiểu Vũ rồi nhìn sang Hạc Vân. Nỗi sợ hãi, sự tự ti và tính khí trẻ con thường ngày đã hoàn toàn biến mất khỏi ánh mắt cậu, chỉ còn lại sự khẩn thiết tột cùng, nỗi đau đớn xé ruột của một đứa con nhìn thấy cha mình bị cướp mất linh hồn:

"Các cậu... cứu cha tớ với... Cha tớ yêu những chiếc bánh hơn cả sinh mạng mình... Bác ấy từng thức trắng đêm chỉ để canh cho mẻ bánh hoa cúc nở đúng lúc bình minh... Bác ấy không thể trở thành một cái xác không hồn như thế này được... Làm ơn đi... tớ xin các cậu..."

"Tớ hứa với cậu, Bin," Tiểu Vũ nói, giọng cô run lên nhưng ánh mắt rực sáng một sự kiên định không gì lay chuyển nổi. Bàn tay phải của cô siết chặt lại, giọt mực khởi nguyên dưới da như cựa mình đáp lại lời hứa ấy. Cô nhìn sang Hạc Vân. Người thiếu niên kiêu hãnh của gia tộc Hạc khẽ siết chặt nắm tay đến trắng bệch các khớp ngón, rồi gật đầu dứt khoát với cô:

"Chúng ta sẽ tìm ra kẻ đứng sau chuyện này. Chúng ta sẽ lấy lại những giấc mơ cho thành phố."

***

Rời tiệm bánh "Hương Lúa Mạch" với một lời hứa nặng tựa thái sơn, bầu không khí bao trùm lên Đội số bảy trở nên im ắng và căng thẳng tột độ. Không còn một lời nói đùa nào, không còn những bước chân ngập ngừng. Bin lầm lũi bước đi bên cạnh Tiểu Vũ, đôi mắt sưng đỏ nhưng ánh nhìn đã trở nên gằn xuống; mỗi bước chân của cậu cắm sâu xuống mặt đường lát đá như thể đang dồn nén toàn bộ uất ức, căm hờn và quyết tâm vào từng tấc đất quê hương.

Họ tiếp tục tiến sâu vào các con phố buôn bán sầm uất nhất của khu phường thợ ven sông: phố Dệt Lụa, phố Thợ Gốm, phố Kim Hoàn. Những nơi này từng là trái tim kinh tế và văn hóa rực rỡ nhất của Vọng Nguyệt, nơi tiếng búa đập trên đe đồng, tiếng thoi đưa lách cách trên khung cửi và tiếng bàn xoay gốm rì rầm hòa quyện thành bản giao hưởng bất tận của sự sống.

Thế nhưng, cảnh tượng phơi bày trước mắt họ còn thê lương hơn gấp bội so với những gì họ tưởng tượng trên chuyến tàu. Hơn một nửa số cửa tiệm dọc hai bên đường đều đóng cửa im ỉm. Những cánh cửa gỗ then cài then đóng, phủ một lớp bụi đường xám xịt. Những bậc thềm đá từng tấp nập người mua kẻ bán nay vương vãi lá khô mục nát và rác rưởi không ai quét dọn. Những khung cửa sổ trưng bày sản phẩm thủ công tinh xảo nay chỉ còn trơ lại những giá đỡ bằng gỗ trống không, mạng nhện giăng kín các góc tủ.

Và trên cánh cửa của hầu hết các tiệm đóng cửa ấy, đều dán một tờ thông cáo lớn bằng giấy dày màu trắng ngà.

Tiểu Vũ dừng chân trước một xưởng dệt lụa lớn có tấm biển đồng đề chữ "Vạn Hưng". Đây từng là xưởng dệt nổi tiếng nhất thành phố, nơi sản sinh ra những tấm lụa "Trăng Nước" huyền thoại có thể đổi màu theo ánh sáng mặt trời. Cô bước lên ba bậc thềm đá, chăm chú quan sát tờ thông cáo dán ngay chính giữa hai cánh cửa gỗ lim khép chặt bằng một ổ khóa sắt to bản đã rỉ sét.

Tờ thông cáo được viết bằng một loại mực màu xanh lục kỳ lạ – một sắc xanh nhờn nhợt, lạnh lẽo, vừa quen thuộc vừa khiến sống lưng cô lạnh toát. Thứ mực xanh này không hề phát ra ánh sáng tự nhiên như thứ mực mộng dồi dào sinh khí ở Thư khố học viện, nhưng nó lại có một độ bóng nhờn mờ ám dưới ánh chiều tà, như thể được pha chế từ một loại dầu khoáng chất cấm kỵ trộn lẫn với tro tàn của những giấc mơ bị thiêu hủy.

Nội dung tờ thông cáo ngắn gọn, được in ấn bằng khuôn chữ sắt đều tăm tắp nhưng toát lên vẻ xoa dịu giả tạo đến rợn người:

*"TẠM NGỪNG HOẠT ĐỘNG VÌ SỰ AN TOÀN TÂM THỨC* *Trước tình trạng suy nhược tinh thần và các biến chứng ác mộng lan rộng trong cộng đồng dân cư, cơ sở này đã tự nguyện gia nhập chương trình 'Bảo Hộ Giấc Ngủ Bình Yên' do Quỹ Từ Thiện Ánh Sáng Mới tài trợ.* *Toàn bộ nhân công được bảo đảm trợ cấp sinh hoạt đầy đủ và tiếp nhận liệu trình điều hòa tâm trí không đau đớn định kỳ.* *Mọi hoạt động sáng tạo cá nhân, dệt mẫu mới và nhuộm màu thử nghiệm tạm đình chỉ vô thời hạn để tránh kích động tổn thương mộng giới.* *Vì một cuộc sống trật tự, an toàn và không ác mộng."*

Và ở góc dưới cùng của tờ thông cáo, nơi đóng dấu xác thực thẩm quyền, là một con dấu triện màu xanh đậm hình tròn.

Bên trong vòng tròn ấy không phải là biểu tượng Mười Hai Đèn của học viện, cũng không phải huy hiệu hoa sen ba cánh của chính quyền thành phố Vọng Nguyệt. Đó là hình khắc một chiếc ngòi bút sắt bị bẻ gãy làm đôi, nằm gối lên một vòng nguyệt quế héo tàn rũ lá!

"Biểu tượng này..." Linh Lan khẽ thốt lên, lùi lại nửa bước, ngón tay run rẩy chỉ vào con dấu triện. Ánh mắt cô bé mở to kinh hãi: "Đúng là nó rồi! Dấu ấn này... chính là vết tích để lại trên gáy cuốn Mộng Thư bị mất chữ đêm qua ở thư viện... và cả trên bìa sau của Cụ Mục Lục nữa! Thứ mực xanh này... mùi của nó giống hệt mùi chất lỏng nhớp nháp trên sàn phòng đọc sách cấm!"

"Quỹ Từ Thiện Ánh Sáng Mới..." Hạc Vân nghiến răng, cơ hàm cậu giật mạnh, mắt cậu nheo lại đầy vẻ căm phẫn tột cùng. Cậu đưa đầu ngón tay lướt nhẹ trên nét mực xanh cách mặt giấy nửa phân, cảm nhận từ trường tỏa ra từ vết tích mà không trực tiếp chạm vào:

"Một tổ chức bình phong hoàn hảo tại Cõi Thức! Chúng dùng danh nghĩa từ thiện, an sinh xã hội và hỗ trợ tài chính để tiếp cận những người thợ thủ công đang suy kiệt vì hiện tượng Trang Trắng, rồi từng bước ép họ ký kết từ bỏ việc sáng tạo. Nhìn loại mực xanh này đi... đây chính là Mực Đồng Nhất, thứ mực biến dị chuyên dùng trong các pháp trận cấm kỵ nhằm tẩy xóa các biểu tượng cá nhân, san phẳng mọi sai biệt cảm xúc và ép tâm thức con người vào một kịch bản rập khuôn tàn nhẫn!"

"Chúng đang lừa gạt mọi người," Tiểu Vũ nói, lồng ngực cô phập phồng vì tức giận, hai bàn tay siết chặt thành quả đấm. "Chúng biến sự sợ hãi ác mộng của người dân thành cái cớ để tước đoạt hoàn toàn quyền được mơ của họ. Một 'giấc ngủ bình yên không đau đớn'... cái giá phải trả cho sự bình yên giả tạo đó chính là biến thành những cỗ máy sinh học vô tri như cha của Bin! Không đau đớn, nhưng cũng không còn niềm vui, không còn tình yêu, không còn ký ức!"

Họ nhìn ra lòng đường lát đá xám xịt.

Những cư dân hiếm hoi còn đi lại trên phố buôn bán lúc này đều mang một dáng vẻ giống hệt nhau một cách đáng sợ: họ mặc những bộ quần áo đơn sắc màu tro hoặc nâu xỉn, không một hoa văn, không một điểm nhấn. Họ bước đi với ánh mắt lờ đờ, mệt mỏi, đầu hơi cúi gằm xuống mặt đất, hai tay buông thõng hai bên sườn. Không ai nói chuyện với ai. Không có tiếng mặc cả quen thuộc của các bà nội trợ, không có tiếng chào hỏi rôm rả giữa những người hàng xóm lâu năm.

Ngay trước mắt họ, hai người đàn ông đi ngược chiều lỡ va mạnh vào nhau ở góc phố. Nhưng thay vì một lời xin lỗi hay một cái liếc nhìn khó chịu, cả hai người chỉ lẳng lặng lách qua nhau như hai khúc gỗ trôi sông va quẹt trên dòng nước. Không một cái chớp mắt, không một biến đổi cơ mặt, không một âm thanh phát ra từ cuống họng. Mọi cảm xúc – dù là hỷ nộ ái ố, dù là giận dữ hay yêu thương – dường như đã bị một chiếc máy bơm khổng lồ vô hình vắt kiệt khỏi cơ thể họ, chỉ để lại những cái vỏ rỗng tuếch mang hình hài con người.

Khi cả nhóm đi ngang qua một con hẻm nhỏ hẹp, tối tăm nằm kẹp giữa hai dãy nhà kho dệt cũ kỹ của xưởng Vạn Hưng – con hẻm hun hút, ẩm ướt dẫn thẳng về phía khu kho hàng bỏ hoang gần bến cảng – chiếc đồng hồ bỏ túi trong ngực áo Tiểu Vũ bỗng nhiên rung lên bần bật.

*Rung... Rung... Rung...*

Một luồng nhiệt nóng rẫy, gay gắt bất thường tỏa ra từ nắp lưng bằng đồng thau, đốt cháy qua lớp áo len dày khiến da thịt nơi lồng ngực cô nhói buốt như bị dí sắt nung. Cùng lúc đó, khe cắm ngòi bút bí mật ở đáy đồng hồ khẽ giật lẫy, phát ra một tiếng rít rất nhỏ, sắc bén và ma mị, chỉ có mình cô nghe thấy.

Tiểu Vũ khựng lại giữa bước chân, đưa bàn tay run rẩy ôm chặt lấy ngực áo, cả người cứng đờ. Ánh mắt cô vô thức bị hút sâu vào bóng tối hun hút, đặc quánh của con hẻm dẫn ra bến cảng cũ.

Ở nơi sâu nhất của con hẻm ấy, giữa những đống thùng gỗ mục nát, những cuộn dây thừng bốc mùi ẩm mốc và hàng rào chắn bằng lưới thép rỉ sét, một luồng khí lạnh buốt mang theo mùi tro tàn khét lẹt và vị mặn chát của sương muối từ từ thoảng qua. Linh cảm của một người mang trong mình dòng máu giữ mộng mách bảo cô rằng, đầu nguồn của những sợi dây rối rắm đang bóp nghẹt thành phố này, sào huyệt của thứ Mực Đồng Nhất đang đầu độc tâm thức cư dân... đang nằm ẩn mình đâu đó dưới những mái tôn hoang phế, rỉ nát bên mép nước bến cảng bị bỏ quên.

"Tiểu Vũ? Cậu sao thế?" Hạc Vân quay lại ngay lập tức, nhận thấy sự khựng lại bất thường và sắc mặt tái nhợt của cô bạn.

"Đồng hồ của tớ..." Tiểu Vũ hạ giọng thì thầm, hơi thở cô gấp gáp, mắt vẫn không rời khỏi con hẻm tối tăm như một cái miệng quái vật đang há hốc. "Nó vừa rung lên. Rất mạnh. Nóng ran như muốn thiêu cháy ngực áo tớ... Kim giây chỉ thẳng về phía kho hàng bỏ hoang ngoài bến cảng."

Hạc Vân bước tới bên cạnh cô, đưa mắt nhìn theo hướng chỉ tay của Tiểu Vũ. Chân mày cậu nhíu chặt lại đầy cảnh giác, ngón tay khẽ chạm vào chuôi chiếc bút đo đạc trong túi áo:

"Đó là khu vực bến tàu cũ của Công ty Vận tải Vọng Nguyệt, đã ngừng hoạt động từ mười năm trước sau trận lụt lịch sử. Nơi đó địa hình phức tạp, nhiều nhà kho ngầm thông ra mép sông và hoàn toàn nằm ngoài mạng lưới tuần tra của cảnh sát đô thị. Một nơi hoàn hảo để che giấu những hoạt động ngầm vượt ngoài tầm kiểm soát của chính quyền Cõi Thức... và cả học viện."

"Có khi nào... cha tớ và những người khác bị biến thành thế này là do những thứ trong khu kho hàng đó không?" Bin bước tới, giọng cậu run lên vì xúc động xen lẫn căm hờn, hai nắm tay siết chặt đến mức móng tay hằn sâu vào lòng bàn tay. "Chúng ta phải tới đó xem thử!"

"Bình tĩnh đã, Bin," Hạc Vân giơ tay ngăn bạn lại, ánh mắt cậu lóe lên vẻ thận trọng của một chỉ huy: "Quy tắc của Giáo sư Tạ Lam: chúng ta phải hoàn thành việc đo đạc chỉ số Giấc Mơ Chung trước đã. Chúng ta cần những số liệu khách quan, những bằng chứng không thể chối cãi để kích hoạt quyền can thiệp khẩn cấp. Nếu hành động bốc đồng lúc này, Phái Niêm Phong sẽ có cớ tước bỏ tư cách của chúng ta ngay lập tức."

***

Họ bước ra khỏi con phố buôn bán u ám, men theo con đường dốc lát đá dẫn lên một mỏm đất cao nhìn xuống bờ sông Vọng Nguyệt. Nơi đây từng là một trạm đo đạc khí tượng cổ bằng đá hoa cương, được xây dựng từ thời kỳ đầu của thành phố, nay đã bị bỏ hoang, rêu phong phủ đầy các bệ quan sát.

Gió từ mặt sông thổi thốc lên mỏm đất, mang theo hơi lạnh buốt giá luồn qua các lớp áo, làm tê buốt từng thớ thịt. Đứng từ vị trí này, toàn cảnh khu phố thợ thủ công ven sông Vọng Nguyệt thu trọn vào tầm mắt: một vùng mái ngói xám xịt trải dài u uất dưới bầu trời chiều chạng vạng, không một làn khói bếp ấm cúng, không một ánh đèn lồng rực rỡ, chỉ có những khối nhà im lìm như một bãi tha ma khổng lồ bên bờ dòng sông chì quánh đặc.

Hạc Vân tháo chiếc ba lô nặng trĩu trên vai, cẩn thận đặt lên bệ đá hoa cương nứt nẻ. Cậu rút ra chiếc la bàn không gian gia truyền bằng bạc sáng loáng và một ống trụ thủy tinh đo đạc Minh Quang chuyên dụng của học viện – một thiết bị tinh vi với các vạch chia độ bằng vàng ròng và chứa một lượng dung dịch phát quang nhạy cảm với năng lượng tâm thức.

Hạc Vân đặt ống trụ lên chính giữa bệ đá, dùng đầu chiếc bút bạc vạch một vòng tròn ký hiệu cổ xưa xung quanh chân đế để kích hoạt pháp trận thu thập năng lượng mộng giới của khu vực xung quanh.

Cùng lúc đó, Linh Lan mở cuốn sổ ký họa ra, trải phẳng trên mặt đá gồ ghề. Gió thổi lật phần phật những trang giấy trắng tinh. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô bé cầm lấy mẩu than chì đen nhánh, từ từ nhắm nghiền hai mắt lại. Cô bé hít một hơi thật sâu, mở rộng toàn bộ các giác quan tâm linh nhạy bén của mình để cảm nhận trường cảm xúc đang bao trùm lấy thành phố. Từng đường gân trên cổ tay Linh Lan khẽ rung lên khi cô bắt đầu đặt mẩu than chì xuống mặt giấy, để cho tiềm thức dẫn dắt những nét vẽ phác thảo dòng chảy tâm thức của quần thể dân cư ven sông.

*Tách... Tách... Tách...*

Tiếng động cơ học bên trong ống trụ thủy tinh của Hạc Vân bắt đầu phát ra những âm thanh khô khốc.

Chất lỏng phát quang bên trong ống trụ bắt đầu phản ứng với trường năng lượng mộng giới được hút về từ các ngõ ngách của khu phố thợ. Nhưng thay vì dâng cao và bừng sáng lên một màu vàng kim rực rỡ – dấu hiệu của một môi trường tràn ngập hy vọng, sự sáng tạo và những giấc mơ tươi đẹp – dung dịch bên trong ống trụ lại co rút lại một cách bất thường.

Các vạch chia độ sáng trên thân ống lần lượt lịm tắt như những ngọn nến gặp bão: từ mức an toàn bảy mươi phần trăm, tụt dốc không phanh xuống năm mươi, bốn mươi, rồi lao dốc thẳng đứng xuống dưới mười lăm phần trăm.

Chất lỏng vốn trong suốt và lấp lánh bụi sao bỗng chốc vẩn đục, sôi lên ùng ục những bọt khí xám xịt rồi nhanh chóng biến thành một màu xám xịt như bùn loãng. Cuối cùng, nó hoàn toàn mất đi ánh sáng, lắng cặn xuống đáy ống trụ thành một lớp tro chết màu đen xỉn, bốc lên một làn khói mỏng lạnh ngắt bên trong lớp thủy tinh kín.

"Chỉ số Minh Quang trong không khí tụt giảm hơn tám mươi lăm phần trăm so với mức chuẩn an toàn tối thiểu," Hạc Vân đọc kết quả đo đạc trên các vạch số, giọng cậu khô khốc và run lên vì sự chấn động tột cùng vượt quá mọi dự liệu trong sách vở. Bàn tay cậu chống lên bệ đá, các khớp ngón trắng bệch:

"Đây không còn là sự suy yếu cục bộ do ác mộng thông thường... Giấc Mơ Chung của toàn bộ khu vực ven sông Vọng Nguyệt đang trên bờ vực sụp đổ hoàn toàn. Trường tâm thức bảo vệ đã bị đục thủng một lỗ hổng khổng lồ. Cứ theo tốc độ phân rã này, trong vòng chưa đầy một tuần nữa, toàn bộ cư dân ở đây sẽ rơi vào trạng thái 'Hôn Mê Trắng' – họ sẽ ngủ mà không bao giờ mơ được nữa, và khi thức dậy, họ sẽ quên sạch mình là ai, quên sạch nghề nghiệp, gia đình và những ký ức quý giá nhất của chính cuộc đời mình. Họ sẽ trở thành những cái bóng hoàn toàn rỗng ruột."

Trên trang giấy vẽ của Linh Lan, những nét than chì không còn tạo thành hình hoa cỏ, chim muông hay những dòng sông ánh sáng như phong cách quen thuộc của cô bé.

Dưới tác động của trường năng lượng đau đớn từ thành phố, bàn tay nhỏ nhắn của Linh Lan chuyển động run rẩy, giật cục. Những nét vẽ đan xen chằng chịt vào nhau thành một mạng lưới xích sắt đen ngòm, sắc nhọn và tàn bạo, với những chiếc gai nhọn hoắt đang găm sâu, siết chặt lấy một trái tim bằng đá nứt nẻ nằm ở trung tâm bức tranh. Từ những vết nứt của trái tim đá, những giọt mực đen đang rỉ ra, nhỏ giọt xuống một vực thẳm không đáy.

"Tớ không vẽ được... tớ không tài nào vẽ được cái gì vui vẻ cả..." Linh Lan buông rơi mẩu than chì xuống nền đá, úp hai bàn tay lấm lem bụi than lên mặt, hai giọt nước mắt lăn dài qua kẽ ngón tay trên đôi gò má nhợt nhạt. Giọng cô bé vỡ òa trong tiếng nấc:

"Không khí ở đây... nó nghẹt thở quá các cậu ơi... Nó đầy ắp tiếng khóc... một tiếng khóc câm lặng xé lòng của hàng ngàn con người đang cố bấu víu lấy một mẩu ký ức nhỏ nhoi nhưng vô vọng... Họ muốn nhớ lại nụ cười của con mình, muốn nhớ lại màu sắc của tấm lụa họ từng dệt, nhưng tâm trí họ chỉ là một màn sương mù xám xịt... Giấc mơ của thành phố đang bị bóp nghẹt... từng chút, từng chút một... đau đớn lắm..."

Tiểu Vũ nhìn lớp tro xám chết chóc dưới đáy ống trụ thủy tinh của Hạc Vân, rồi nhìn những nét vẽ giằng xé đầy đau đớn trên cuốn sổ của Linh Lan. Cuối cùng, ánh mắt cô dừng lại nơi bóng lưng trĩu nặng, cô độc của Bin.

Cậu bạn mập mạp của họ đang đứng tựa vào lan can đá rêu phong của trạm khí tượng, đôi mắt ngấn lệ dõi về phía mái nhà tiệm bánh gia đình xa xa nơi góc phố Cối Xay Gió cũ – nơi cha cậu, người thợ cả tài hoa từng là niềm tự hào lớn nhất đời cậu, lúc này vẫn đang đơn độc, lầm lũi đứng bên bàn đá lạnh ngắt, đẩy tới, gập lại, ấn xuống tảng bột vô hồn như một cỗ máy sinh học bị bỏ rơi.

Một sự thức tỉnh đau đớn và dữ dội dâng trào trong huyết quản của Tiểu Vũ.

Chuyến đi này không còn là một bài kiểm tra thực hành ngoại khóa đơn thuần để các giáo sư chấm điểm học kỳ cho Đội Giữ Mộng Tập Sự số bảy. Nó không còn là những bài tập lý thuyết an toàn về cấu trúc biểu tượng, về biên độ dao động của Minh Quang hay sự phản xạ của thớ giấy trong Mê Lộ Giấy của học viện.

Hiểm họa Trang Trắng – thứ từng bị các đại giảng sư đạo mạo trong Hội đồng Mười Hai Đèn xem nhẹ như một sự cố kỹ thuật thứ yếu của hệ thống lưu trữ Mộng Thư – nay đã hiện nguyên hình là một con quái vật tàn bạo, có tổ chức và mưu mô. Nó đã vươn những xúc tu vô hình vượt qua Lằn Ranh, cắm sâu vào lòng Cõi Thức để bóp nghẹt chính gia đình, bạn bè, những người thợ thủ công chất phác và mảnh đất quê hương nơi họ đã cất tiếng khóc chào đời và lớn lên.

Lời thề đêm qua trong căn phòng lưu trữ cấm một lần nữa vang vọng trong tâm khảm Tiểu Vũ, vang lên cùng nhịp đập râm ran của giọt Mực Khởi Nguyên nơi đầu ngón tay cô:

*Bảo vệ những câu chuyện, bảo vệ hy vọng, và không bao giờ để bất kỳ ai viết thay kết cục của người khác.*

Bốn đứa trẻ đứng sát lại bên nhau trên mỏm đá lộng gió, vai kề vai trước vực thẳm đen tối đang đe dọa nuốt chửng thành phố Vọng Nguyệt. Không còn sự e ngại của những đứa trẻ tập sự, trong ánh mắt của mỗi người lúc này đều rực cháy ngọn lửa kiên định của những Người Giữ Mộng thực thụ – những người sẵn sàng bước qua lằn ranh giới hạn để giành giật lại từng mảnh linh hồn cho cuộc đời.

Bầu trời chiều Vọng Nguyệt bỗng chốc tối sầm lại.

Một đám mây xám trôi ngang vòm trời Vọng Nguyệt, kéo theo tiếng chuông gió lạnh lẽo phát ra từ phía bến cảng cũ.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories