Đối thủ biết đường vòng
Sáng sớm hôm sau, sân sau Bưu Cục Gió phủ một lớp sương mây dày lạnh ngắt khi Bà Tâm đặt hai tập sổ giao nhận lên bàn làm việc bằng gỗ trăn.
Mặt gỗ trăn thô ráp còn đọng hơi ẩm li ti của biển mây bốc lên sau một đêm dài trở gió bấc. Những thớ gỗ nâu sẫm đã qua hàng chục mùa dầm mưa tuyết cọ sát vào tay vịn của chiếc ghế bành bọc da thuộc cũ kỹ, phát ra những tiếng cọt kẹt trầm đục mỗi khi người ngồi cử động. Không gian gian sau của bưu cục chìm trong thứ ánh sáng mờ đục của buổi bình minh vùng cao nguyên lơ lửng, nơi mà ranh giới giữa bầu trời và vực thẳm chỉ được phân định bằng độ đậm nhạt của những dải mây xám xịt đang cuồn cuộn trôi qua chấn song cửa sổ mở hé.
Bà Tâm không nói một lời thừa thãi. Chiếc áo choàng dạ màu lam đậm viền nhung xám của bà phẳng phiu không một nếp gấp, vạt áo rủ thẳng đứng xuống mép sàn đá hoa cương xám nhạt như thể được là bằng chính sức nặng của quyền uy và kỷ luật bưu chính. Hai bàn tay gầy gân guốc với những khớp xương ngón tay to bè vì năm tháng ghì giữ tay lái cáp trượt được bà chắp chặt sau lưng. Ánh mắt màu hạt dẻ sắc lẹm, sâu thẳm và nghiêm nghị của bà chậm rãi quét qua hai đứa trẻ đang đứng thẳng tắp, gót ủng khép chặt trước bậc thềm đá dẫn lên bục chỉ huy.
Trên giá gỗ thông gắn chốt đồng bên cạnh, chim máy Ríu vừa được nạp lại một phần pin sấm ở trạm sạc sau lưng bưu cục. Những cuộn dây đồng quấn quanh lõi thạch anh trong lồng ngực kim loại của nó khẽ rực lên ánh chớp xanh tím mỗi khi một xung điện nhỏ chạy qua. Các khớp kim loại tinh xảo ở cổ và đầu cánh kêu lách cách khẽ khàng, nhịp nhàng và đều đặn khi nó rỉa từng phiến lông bằng đồng mây bóng loáng, chốc chốc lại nghiêng đầu phát ra tiếng tích tắc khô giòn của bánh răng vừa khớp vào rãnh hãm.
“Quy tắc giao nhận là xương sống giữ cho Vân Thành không tan tác giữa hư không,” Bà Tâm mở đầu, giọng trầm và vang như tiếng gõ vào chuông đồng treo nơi vọng gác đầu cầu. Từng âm tiết buông ra đanh gọn, không chừa chỗ cho bất kỳ sự biện minh hay yếu mềm nào. “Một khi địa chỉ bị đứt gãy, sợi chỉ niêm phong mất phương hướng, bưu tá không được phép đoán mò, càng không được phép lấp liếm. Đoán mò biến các người thành những kẻ quáng gà giữa luồng gió quẩn; còn lấp liếm chính là nhát cuốc đào rỗng móng chân của toàn bộ hệ thống thang neo giữ thành phố này lơ lửng. Tít, cháu phụ trách giám sát và hỗ trợ Nhi. Nhi, cháu phụ trách đối soát thực địa. Hai đứa sẽ rà soát lại toàn bộ mạng địa chỉ bị gián đoạn ở khu phía đông. Từng mét cầu treo, từng bậc thang gió, từng biển số nhà. Đi đến đâu, ghi nhật ký đến đó. Mọi ghi chép sửa đổi phải có kiểm chứng mắt thấy tai nghe, cấm tuyệt đối việc thêm thắt bằng suy đoán.”
Bà vươn cánh tay áo dạ lam, những ngón tay khô gầy đẩy hai tập sổ da có bìa đóng dấu niêm phong màu xám tro về phía mép bàn gỗ trăn.
Một cuốn là bản sao lưu mạng lưới bưu chính khu đông, gáy sổ nẹp nẹp đồng mạ kền, các trang giấy bản dày cộp in chằng chịt những sơ đồ phân tuyến, mã số công trình và tên gọi hành chính của từng ngóc ngách thuộc địa bàn thợ máy. Cuốn còn lại là sổ nhật trình hành trình rỗng, giấy kẻ ô vuông li ti màu xanh lơ chuyên dùng cho thợ đo vẽ địa bạ để ghi nhận tọa độ dây neo và tính toán độ võng của cáp chịu lực qua từng chu kỳ thời tiết.
“Rõ thưa Trưởng bưu cục,” Tít đáp to, hai gót chân giập mạnh vào nhau kêu một tiếng *cốp* giòn giã. Cậu ưỡn căng lồng ngực dưới tấm áo bưu tá màu nâu đất mới tinh, cằm hất cao như thể vừa được gắn lên ngực áo một tấm huân chương danh dự sáng chói, dù ở nơi khóe mắt giật giật, cậu vẫn không nén nổi cái liếc nhìn đầy vẻ dè chừng và khó chịu hướng về phía Nhi.
Nhi siết chặt quai túi bưu tá vắt chéo sau lưng. Các ngón tay cô bấu chặt vào lớp vải bạt dày thô ráp cho đến khi đầu móng tay trắng bệch ra. Chiếc túi hôm nay nhẹ bẫng một cách lạ lùng, nhẹ đến mức khiến đôi vai cô hẫng hụt và lồng ngực quặn thắt lại. Trong ngăn chính của nó không còn cuốn sổ da cừu cũ sờn mép của mẹ, cũng không còn tờ biên nhận mang nét mực tím quen thuộc với dòng chữ viết vội năm nào—những kỷ vật duy nhất gắn kết cô với ký ức về người mẹ đã mất tích giữa biển mây mù mịt, những thứ mà tối qua chính tay người bà ngoại đang đứng trước mặt cô đã lạnh lùng khóa chặt vào chiếc tủ sắt cá nhân ba tầng bảo mật. Cảm giác trống rỗng cay đắng nghẹn ứ nơi cuống họng, nhưng Nhi không để lộ một tia dao động nào trên mặt. Cô hít sâu một hơi luồng khí lạnh buốt mang theo mùi lưu huỳnh ngai ngái từ xưởng máy phía đông thổi lại, gật đầu dứt khoát:
“Cháu đã rõ.”
***
Hai đứa trẻ rời cổng sau bưu cục khi mặt trời chỉ mới là một quầng sáng bạc lờ mờ, yếu ớt như một đồng xu thiếc chìm sâu dưới đáy lớp mây xốp dày hàng ngàn mét. Gió sớm ở rìa thành phố thổi ràn rạt, quất những vạt hơi ẩm buốt giá vào da gà trên cổ hai người.
Khu phía đông của Vân Thành là nơi tập trung các phân xưởng cơ khí nặng, các khoang máy nén khí khổng lồ gầm rú ngày đêm và cụm cư xá chật chội của hàng trăm thợ neo—những con người dành trọn đời mình để căn chỉnh từng sợi cáp thép giữ cho hòn đảo đá hoa cương này không trôi dạt vào vùng giông bão. Toàn bộ khu vực này không có lấy một con đường phẳng phiu. Mọi thứ được nối kết với nhau bằng một mạng lưới cầu treo bện bằng mây gai ngâm dầu rái đen nhánh, những nhịp cầu chao đảo theo từng cơn gió đổi chiều, và những tuyến thang gió chênh vênh bằng gỗ lim đóng đinh then sắt bám chặt vào sườn đá dựng đứng nhìn thẳng xuống vực sâu hun hút.
Không khí giữa hai người nặng trĩu, ngột ngạt chẳng khác nào áp suất nén trong buồng máy hơi nước trước giờ xả van. Tiếng ủng bọc cao su nện côm cốp xuống mặt ván gỗ ẩm ướt vang lên đều đặn, khô khốc, xen lẫn tiếng gió rít u u qua các khe hở của búi cáp treo đan chéo chằng chịt trên đầu.
“Nhìn cho kỹ vào dưới chân, đồ chậm chạp,” Tít vừa thoăn thoắt bước qua một nhịp cầu treo chao đảo với độ nghiêng gần ba mươi độ vừa cất giọng gắt gỏng. Cậu cố ý nói thật to, mượn sự gay gắt để xua đi sự ngột ngạt đang đè nặng lên từng bước chân. “Bà Tâm bảo tôi giám sát và hỗ trợ cậu, nghĩa là tôi có toàn quyền báo cáo nếu cậu lại giở trò làm chậm tiến độ tuyến đông. Đừng có mà thấy cái bóng râm nào méo mó trên vách đá hay chiếc chốt sắt gỉ sét nào rơi ra dưới khe rãnh cũng cắm đầu vào vẽ hươu vẽ vượn rồi ngồi thần mặt ra đó. Vì mấy trò điều tra bừa bãi, suy diễn vớ vẩn của cậu mà hôm qua tôi suýt bị thu luôn cả ròng rọc cáp trượt cá nhân đấy!”
Nhi bặm chặt môi, không buồn ngước mắt nhìn bóng lưng đang thoăn thoắt lướt đi phía trước. Đôi mắt nâu sẫm của cô găm chặt vào chiếc compa định hướng bằng đồng kẹp trên bảng gỗ đo đạc:
“Nếu cậu không giăng sợi dây cam giả vờ rào chắn công trình ở bậc mười ba Phố Cầu Thang để chạy theo cái chỉ số đúng giờ chết tiệt của mình, thì chẳng ai bị phạt cả! Cậu nghĩ giăng một sợi dây để che giấu một lỗ hổng rỗng toác giữa trời là thành tích đáng tự hào hả?”
“Tôi đánh dấu để người ta không bước hụt chân xuống vực!” Tít quay phắt người lại trên mặt cầu mây gai hẹp chỉ vừa hai bàn chân, hai má cậu đỏ bừng lên vì tức tối và tự ái bị chạm nọc. Cậu vung chiếc kẹp hồ sơ bằng tôn về phía mặt Nhi, các khớp nối ngón tay run lên. “Cậu thì biết cái quái gì về áp lực giao hàng đúng giờ? Tuyến đông dốc ngược từ chân vách đá lên đến đỉnh tháp thông hơi, gió quẩn liên tục từ ba thung lũng mây thổi xốc vào hông cầu. Chậm một khắc đồng hồ thôi là kiện hàng vật tư trễ nhịp xả khí của xưởng cơ khí, lò luyện nguội ngắt, thợ neo không có bu lông thay thế kịp chu kỳ gió đổi. Cậu được bà ngoại che chở trong phòng lưu trữ hồ sơ mát rượi, cậu chỉ giỏi suy diễn rồi làm to chuyện!”
“To chuyện?” Nhi dừng phắt bước ngay giữa nhịp cầu treo đang đu đưa kẽo kẹt. Gió vực thốc ngược từ dưới đáy vực lên làm tà áo bưu tá của cô bay phần phật, để lộ chiếc thắt lưng da đeo la bàn và thước dây đo độ nghiêng. “Một bậc thang bằng gỗ lim già dày năm phân, ngâm hắc ín chống mọt, nặng tới mười lăm cân không thể tự nhiên bốc hơi biến thành hư không chỉ sau một đêm và để lại một vốc bụi bạc lân tinh mịn như bột phấn! Sáng nay trước khi bước chân ra khỏi cổng bưu cục, cậu có thèm liếc nhìn chiếc cốc đo áp suất ở trụ cầu số ba không? Mực thủy ngân tụt xuống bốn vạch! Cả cây cầu này đang rung lắc lệch pha hẳn ba mươi độ so với hai hôm trước đấy!”
“Cảnh báo âm học xác nhận,” tiếng Ríu đột ngột vang lên từ trên vai Nhi. Con chim máy tung cánh bay vút lên, đậu vững chãi trên một tao cáp thép lớn phía trên đầu hai người. Chiếc đầu kim loại của nó nghiêng một góc ba mươi lăm độ sang mạn phải, hai mắt kính thạch anh phóng to thu nhỏ liên tục để đo lường độ dao động của sợi cáp. “Biên độ rung chấn của thang gió trục đông tăng không phẩy bốn nhịp trên giây so với chu kỳ trung bình tháng trước. Tần số dao động không khớp với dao động gió thông thường. Dữ liệu khớp hoàn toàn với hiện tượng cơ cấu chịu lực bị trượt tải cục bộ.”
Tít hừ mạnh một tiếng qua kẽ răng, nhưng bước chân đang hùng hổ của cậu bỗng chốc khựng lại. Cậu vô thức vươn bàn tay đeo găng da siết chặt lấy sợi cáp vịn bên sườn cầu, lòng bàn tay cậu ấn mạnh đến mức những thớ da găng cọ vào thép phát ra tiếng rít ken két. Dưới chân họ, lớp mây đặc quánh màu chì cuộn trào cuồn cuộn như một vạc nước sôi khổng lồ không đáy.
Nhi nhận ra điều gì đó khác thường. Cậu bé bưu tá vốn nổi danh khắp Bưu Cục Gió là kẻ thông thạo từng luồng gió quẩn, từng ngóc ngách khu đông bỗng có vẻ bồn chồn khó tả. Ánh mắt Tít không còn giữ vẻ vênh váo thường ngày. Cứ mỗi lần bước qua một trụ đỡ thang gió bằng bê tông neo sâu vào vách đá, mắt cậu lại đảo quanh quất, lén lút liếc nhìn mặt kính của những chiếc đồng hồ đo sức căng bằng đồng thau gắn trên vách đá. Đôi lông mày rậm rạp của cậu nhíu chặt lại, hơi thở bắt đầu dồn dập hơn mức bình thường của một người leo cầu treo chuyên nghiệp.
Họ rẽ ngoặt vào ngõ Hẻm Cáp Rẽ. Đoạn đường dốc đứng này được đục đẽo trực tiếp vào vách đá hoa cương xám xịt, dẫn thẳng xuống cụm cư xá công nhân kỹ thuật nằm nép mình dưới bóng râm vĩnh cửu của tháp xả khí nén số bốn. Tại đây, những ngôi nhà gỗ mái tôn rỉ sét xếp chồng chéo lên nhau như những chiếc tổ chim, áp sát lưng vào vách đá lạnh ngắt. Khói than đá và mùi dầu máy bốc lên nồng nặc từ những ống thông hơi nhỏ nhô ra từ vách tường gỗ.
Nhưng ngay tại ngã ba dẫn sang ngách Thợ Tiện—tuyến đường huyết mạch nối khu dân cư với kho dự trữ vật tư cơ khí nặng—sợi chỉ ma thuật trên tập hồ sơ đối soát của Bưu Cục Gió mà Nhi đang cầm trên tay bỗng run rẩy dữ dội.
Sợi chỉ tơ tằm tẩm bột dạ quang màu xanh ngọc bích vốn dùng để dò tìm các luồng khí bưu chính bỗng dựng đứng lên như một sợi dây thép bị giật mạnh. Đầu sợi chỉ phát sáng nhạt nhòa, xoay tít tại chỗ thành những vòng tròn hỗn loạn, rồi đột ngột gãy gập thành hình chữ Z kỳ dị. Nó co rúm lại, rút ngắn về phía gốc kẹp đồng, run rẩy hệt như một con sâu bướm vừa vô tình chạm phải tàn lửa đang cháy dở.
Nhi lập tức dừng lại, tim cô đập thịch một tiếng. Cô ngước nhìn lên cột mốc chỉ đường bằng đồng mây cắm ở góc tường đá nơi ngã ba.
Tấm biển kim loại dày hình chữ nhật vốn được đóng đinh tán chắc chắn, trên đó khắc chìm dòng chữ “NGÁCH THỢ TIỆN SỐ 3” với nét chữ nghiêm cẩn của Sở Địa Chính thành phố. Nhưng lúc này, chữ “TIỆN” đã biến mất hoàn toàn.
Bề mặt kim loại nơi chữ cái từng ngự trị phẳng lì một cách rợn người. Nó nhẵn thín, bóng loáng như thể miếng đồng được đúc ra chưa từng có chiếc đục hay lưỡi dao khắc nào chạm tới. Không hề có một vết xước cọ quẹt, không có dấu vết của búa đục hay hóa chất ăn mòn cơ học. Xung quanh đường viền vô hình của chữ cái bị khuyết là một lớp bụi xám bạc mịn màng đến khó tin, phản chiếu ánh lân tinh mờ lạnh trong bóng râm ẩm ướt của vách đá hoa cương.
“Lại mất chữ,” Nhi thì thầm, giọng cô hạ thấp xuống như thể sợ đánh thức một thứ gì đó đang ngủ vùi trong khe đá. Cô tháo chiếc găng tay len, đưa đầu ngón tay trỏ nhẹ nhàng chạm vào khoảng trống trơn nhẵn trên tấm biển kim loại. Một cảm giác lạnh buốt thấu xương truyền thẳng qua da thịt, thứ lạnh không phải của gió mây vùng cao, mà là cái lạnh vô hồn của một khoảng trống tuyệt đối. “Hệ thống định tuyến bưu chính không thể đọc được địa chỉ này nữa. Sợi chỉ dẫn đường coi toàn bộ ngách này là một khoảng không vô định trôi dạt giữa trời.”
Cô quay phắt người lại nhìn Tít.
Cậu thiếu niên đứng chôn chân cách cô chừng ba bước, ngay dưới chân bóng râm của một mái hiên tôn gỉ sét. Gương mặt Tít thoắt cái trắng bệch ra, không còn lấy một giọt máu. Đôi mắt cậu dán chặt vào tấm biển đồng khuyết chữ với một sự kinh hoàng tột độ, môi mấp máy run rẩy nhưng không phát ra được tiếng nào. Hai bàn tay cậu luống cuống, hết thọc vào túi áo bưu tá lại lục lọi túi đồ nghề đeo bên hông một cách hỗn loạn, như thể đang tìm kiếm một vật gì đó để vá víu lại vết nứt vô hình này trong tuyệt vọng. Toàn bộ vẻ kiêu hãnh ngạo mạn, vẻ câng câng của một đứa trẻ luôn tự hào về tốc độ giao hàng nhanh nhất khu đông bỗng chốc bốc hơi sạch trơn, chỉ còn lại sự bối rối và hoảng loạn tột cùng.
Nhi nheo mắt lại. Ký ức thị giác sắc bén của cô lập tức tua ngược lại buổi sáng hôm qua, khi cô đứng nhìn trộm trang sổ giao nhận của Tít trong lúc cậu cãi vã với nhân viên tiếp nhận ở quầy bưu cục trung tâm.
“Tít,” Nhi bước từng bước chậm rãi lại gần cậu, giọng cô đanh lại, trầm và dứt khoát, nhưng được ghìm vừa đủ để không kinh động đến những người thợ đang cặm cụi giũa kim loại sau những ô cửa sổ gỗ đóng kín bên đường. “Đoạn này… chính là nơi cậu đi giao hàng hôm thứ Ba tuần trước, đúng không?”
“Tôi… tôi giao cả trăm tuyến mỗi tuần!” Tít lảng tránh ánh mắt sắc sảo của cô, giật lùi lại nửa bước, quay người toan bước vội lên những bậc thang gió dẫn sang mỏm đá bên cạnh. “Làm sao mà tôi nhớ hết từng ngóc ngách, từng biển số nhà được! Đừng có đứng đây lãng phí thời gian nữa, chúng ta phải đi hết mười lăm trạm đo trước khi đồng hồ điểm mười hai giờ trưa!”
“Cậu nhớ rất rõ,” Nhi vọt lên, dang hai tay chặn ngang lối đi hẹp chỉ vừa một người lách qua. Không để cho Tít kịp phản ứng, cô giật lấy tập sổ giao nhận lưu trữ của Tít mà Bà Tâm đã phát sáng nay đang kẹp bên hông cậu. Bằng một động tác dứt khoát, cô lật phanh trang giấy ghi ngày mười ba—ngày xảy ra sự cố rung chấn đầu tiên ở mạn đông. “Nhìn vào đây! Dòng số 04. Mực đỏ cào rách cả thớ giấy bản, nét cào sâu đến mức làm hằn sang tận trang sau. ‘Kiện số 04-NL/Neo7 — Chốt hãm dự phòng…’ Phần địa chỉ người nhận bị bôi đen đặc bằng ba lớp mực tàu, nhưng nét gạch đè vội vã lên vẫn còn sót lại đuôi móc của chữ ‘T’ và một dấu nặng sắc lẹm!”
Tít giật nảy mình như bị điện giật. Cậu vươn cả hai tay định chộp lại cuốn sổ, nhưng Nhi đã nhanh chân lùi lại một bước, lưng tựa vững chãi vào lan can sắt rỉ sét, đôi mắt không hề chớp nhìn thẳng vào mắt cậu.
“Cậu đã giao nhầm kiện hàng đó, đúng không?” Nhi gặng hỏi, từng lời buông ra rành rọt như những mũi kim thép đâm xuyên qua lớp vỏ bọc dối trá mà Tít cố dựng lên suốt mấy ngày qua. “Kiện hàng chứa chốt hãm dự phòng cho Neo Gió Thứ Bảy—sợi cáp neo lớn nhất giữ cho toàn bộ xưởng nén khí không bị giật đứt khỏi vách đá! Cậu đi đến ngã ba này vào sáng thứ Ba, thấy biển phố bị khuyết chữ, sợi chỉ dẫn đường chỉ bậy bạ vào khoảng không hoặc tắt ngấm. Cậu không chịu dừng lại để đối soát mã số địa bạ trong bản đồ dự phòng vì sợ trễ giờ! Cậu sợ mất cờ thi đua bưu tá nhanh nhất tuần mà Cục Ngăn Nắp trao tặng! Cậu giao đại vào một căn nhà nào đó có chữ ‘Thợ’, rồi khi nhận ra mình giao sai địa chỉ, cậu không dám báo cáo. Cậu tự ý giăng sợi dây cam cảnh báo giả ở bậc mười ba Phố Cầu Thang để ngăn người ta đi lại kiểm tra tuyến đường này, rồi cào rách sổ để xóa dấu vết!”
“Không phải tôi giao đại!”
Tít bỗng hét lên, giọng cậu vỡ òa ra trong một tiếng nấc uất nghẹn và hoảng loạn tột cùng. Cậu đưa hai bàn tay lấm lem dầu mỡ ôm chặt lấy đầu, lồng ngực phập phồng thở dốc như người vừa ngoi lên khỏi biển mây nghẹt thở. Cậu ngã ngồi thụp xuống vách đá, lưng tựa vào chân cột mốc đồng khuyết chữ, hai vai run bắn lên từng chập:
“Tôi… tôi đọc nhầm thành ‘Ngách Thợ May’! Biển mất chữ ‘Tiện’, nó trơn nhẵn như thế thì ai mà biết được! Nó chỉ còn lại trơ trọi chữ ‘Thợ’, mà bên ngách Thợ May cũng có số nhà 03 y hệt như thế! Kiện hàng đó nặng gần bốn mươi cân, là chiếc hộp bằng thép nguyên khối dán niêm phong đỏ khẩn cấp của xưởng đúc. Tôi vác nó từ sáng sớm, mồ hôi chảy ròng ròng làm mờ cả mắt, hai bắp chân run lẩy bẩy trên cầu treo. Lúc tôi vác được đến nơi, gõ cửa, một gã thợ đang ngủ gật bước ra, nhìn thấy hộp thép thì chẳng buồn kiểm tra mã số, ký bừa một cái dấu triện gỉ sét lên biên nhận rồi xua tôi đi như xua đuổi một con ruồi! Đến tận chiều tối khi tôi quay lại bưu cục nộp sổ, tình cờ nghe các bác bên Đội Thợ Neo rà soát tìm chốt hãm thay thế vì Neo 7 bắt đầu rung lắc lệch pha, tôi mới rụng rời nhận ra mình đã đưa nhầm chỗ!”
Tít run rẩy giơ ngón tay trỏ chỉ xuống lớp mây xám xịt, sâu hoắm đang gầm gừ dưới chân cầu treo:
“Tôi sợ bị đuổi việc, Nhi à! Cậu có hiểu không? Tôi không có một người bà ngoại làm Trưởng bưu cục để bảo bọc, để che chắn mỗi khi mắc sai lầm như cậu! Mẹ tôi ốm liệt giường nằm ở xóm Dệt dưới chân vách đá, tiền phụ cấp bưu tá tuyến ba của tôi là thứ duy nhất mỗi tháng mua được ba lọ thuốc xông phổi cho mẹ thở! Nếu tôi bị tước thẻ bưu tá vì làm mất vật tư an toàn cấp một của thành phố, cả hai mẹ con tôi sẽ bị tước quyền cư trú, bị trục xuất xuống các đảo rác trôi dạt phía dưới tầng mây độc! Ngay tối hôm đó tôi đã quay lại tìm căn nhà ở ngách Thợ May, nhưng cửa đã khóa chặt bằng xích sắt, người ta bảo đồ đạc đã bị một toán người lạ dọn đi đâu mất từ trưa rồi… Tôi hoảng quá… tôi không biết phải làm sao cả… Tôi sợ đến phát điên nên mới bôi xóa sổ giao nhận, rồi sáng hôm sau lén giăng dây ở bậc mười ba để ngăn dòng người chuyển hướng, để kéo dài thời gian…”
Những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi gò má lấm lem bụi than và dầu mỡ của Tít, cuốn trôi đi lớp bụi xám, để lại những vệt dài trắng bệch trên gương mặt non nớt. Cậu ngồi co ro bên chân vách đá dựng đứng, chiếc áo bưu tá rộng thùng thình dường như không đủ để giữ ấm cho cơ thể đang run rẩy bần bật vì tuyệt vọng.
Con chim máy Ríu đang đậu trên tao cáp phía trên khẽ xoay tít chiếc đầu tròn, các thấu kính thạch anh co lại thành hai điểm sáng nhỏ xíu. Nó phát ra một tiếng *chíp* ngập ngừng đầy tính máy móc:
“Ghi nhận âm học: Lời thú nhận khớp với chín mươi phần trăm các tiêu chí cấu thành biên bản sai lệch hành chính loại A theo quy chế Bưu chính Vân Thành. Khung hình phạt quy chuẩn: Thu hồi phù hiệu bưu tá vĩnh viễn, tước quyền hành nghề, chuyển hồ sơ sang Cục Ngăn Nắp để xử lý kỷ luật trục xuất.”
“Im đi, Ríu,” Nhi khẽ bảo, giọng cô trầm và dứt khoát.
Ríu lập tức cụp đôi cánh đồng mây lại, lùi sâu vào góc khuất của dầm thép, chỉ còn tiếng tích tắc bên trong lồng ngực là vẫn vang lên khe khẽ.
Nhi nhìn Tít. Cơn giận dữ bùng cháy ban nãy trong lồng ngực cô bỗng chùng xuống, tan biến vào làn gió lạnh buốt từ vực sâu thổi lên, nhường chỗ cho một cảm giác trĩu nặng đến nghẹn lòng.
Cô hiểu nỗi sợ hãi tột cùng ấy. Chính cô cũng vừa trải qua cảm giác kinh hoàng khi bị tước đi quyền bước chân lên những tuyến đường gió lộng, khi cuốn sổ da cừu và mảnh ký ức về mẹ bị khóa chặt trong tủ sắt, khi bị người ta xem như một đứa trẻ vô kỷ luật chỉ biết gây rối. Đem toàn bộ sự thật này báo cáo ngay cho Bà Tâm? Chắc chắn bà ngoại sẽ không dung thứ cho sự dối trá của Tít. Bà Tâm sẽ lập biên bản, tước ngay chiếc túi bưu tá của Tít, và đổi lại, Nhi sẽ được minh oan, sẽ được khôi phục thẻ đồng mây, được tự do đi lại trên các tuyến đường gió vì cô đã tìm ra chân tướng của kiện hàng vật tư số 04 bị mất tích.
Nhưng rồi Tít sẽ ra sao? Người mẹ nằm liệt giường ở xóm Dệt sẽ ra sao khi những lọ thuốc xông phổi bị cắt đứt? Và quan trọng hơn cả, việc trừng phạt Tít có giúp tìm lại được chốt hãm số 04 đang nằm đâu đó giữa mạng lưới hỗn loạn này không, hay nó chỉ giúp cỗ máy giấu mặt ngoài kia xóa sạch thêm một dấu vết?
Nhi không mở miệng nói một lời phán xét nào. Thay vào đó, cô bước tới, ngồi thụp xuống bậc đá bằng phẳng bên cạnh chân cột mốc khuyết chữ, kéo chiếc túi bưu tá vải bạt ra phía trước ngực.
Từ ngăn phụ may chìm sát đáy túi—nơi cô dùng để cất những món đồ quan trọng nhất—Nhi rút ra một cuốn sổ tay bìa bọc vải thô màu nâu nhạt nhỏ nhắn. Đó là cuốn sổ cô đã cặm cụi thức suốt đêm qua dưới ánh đèn dầu leo lét để vẽ lại, tái hiện lại toàn bộ các mốc định vị, các tọa độ và hình ảnh từ trí nhớ thị giác phi thường của mình trước khi cuốn sổ da cừu của mẹ bị thu giữ.
“Ngồi thẳng dậy. Lại đây,” Nhi vỗ nhẹ bàn tay trần lên mặt đá lạnh ngắt bên cạnh.
Tít ngơ ngác quệt vội nước mắt bằng mu bàn tay bết dầu, chần chừ một thoáng trong sự ngờ vực rồi rụt rè lê từng bước tới, ngồi cách cô chừng nửa mét, hai mắt vẫn dán chặt xuống mũi ủng cao su lấm bùn.
Nhi lật mở cuốn sổ bọc vải thô. Từng trang giấy mở ra trước mắt Tít không phải là những con số khô khốc, những mã vạch hành chính hay các thuật ngữ quan liêu của Cục Ngăn Nắp, mà là hàng trăm hình vẽ tỉ mỉ, sống động đến từng chi tiết nhỏ: một chậu phong lan gió treo nghiêng bên hiên nhà số 12 ngách Thợ Mộc; một vết nứt hình tia sét dài ba gang tay trên dầm bê tông chịu lực ở ngã tư Thợ Rèn; ba vết cào móng vuốt sâu hoắm của chim đưa thư đời cũ trên khung cửa gỗ thông tiệm đồng hồ.
“Địa chỉ trên giấy tờ hành chính có thể mất chữ, sợi chỉ ma thuật dẫn đường có thể bị đứt hoặc bị bẻ cong,” Nhi vừa chỉ ngón tay mảnh khảnh vào một bức vẽ góc ngã ba vừa nói, giọng điềm tĩnh, chắc nịch và truyền cảm. “Nhưng thành phố này không chỉ sống bằng những con chữ vô hồn khắc trên biển đồng mây. Thành phố này được neo giữ bởi con người, bởi thói quen sinh hoạt hàng ngày, bằng những vết mòn nhẵn thín trên từng bậc cửa gỗ lim mà người ta bước qua mỗi sáng. Nhìn vào đây. Đây là sơ đồ mắt thấy tai nghe của tôi quanh khu Thợ Tiện và cụm Thợ May ba ngày trước.”
Tít tròn xoe mắt, há hốc miệng nhìn những nét chì chi tiết đến kinh ngạc: “Cậu… cậu vẽ lại toàn bộ những thứ này chỉ từ trí nhớ thôi sao?”
“Tôi dùng đôi mắt và đôi tai của mình để nhớ đường, chứ không chỉ cắm đầu nhìn vào sợi chỉ dẫn đường như một cỗ máy,” Nhi đáp, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười khô khốc. “Kiện hàng chốt hãm số 04-NL/Neo7 nặng gần bốn mươi cân, làm bằng thép đúc hợp kim. Một người thợ may hay một kẻ dọn nhà bình thường không thể dễ dàng vác nó đi xa qua những cây cầu treo dốc đứng mà không để lại dấu vết kéo lê trên mặt gỗ. Nếu nó bị cậu giao nhầm sang xưởng may số 08, thì hoặc là nó vẫn đang nằm lăn lóc dưới gầm bàn cắt vải vì quá nặng không ai buồn khiêng, hoặc là nó đã bị chuyển sang kho chứa sắt vụn cũ ở mạn sau. Bây giờ, chúng ta không ngồi đây để khóc lóc hay đổ lỗi. Chúng ta phải làm rõ hai việc.”
Nhi lật sang trang nhật trình hành trình rỗng kẻ ô vuông li ti mà Bà Tâm đã phát sáng nay. Cô rút chiếc bút chì kỹ thuật có gắn ngòi than cứng, vạch một đường thẳng tắp chia đôi trang giấy thành hai cột rõ ràng.
“Cột bên trái: Địa chỉ đứt gãy do biến động dân cư tự nhiên,” Nhi vừa viết những dòng chữ nắn nót vừa giải thích cặn kẽ. “Đây là những trường hợp bình thường: người ta chuyển nhà, thợ dọn xưởng cơ khí sang khu cảng mây để tiện bốc dỡ hàng mà chưa kịp lên Cục Ngăn Nắp nộp phí đổi sổ bộ địa chính. Dấu hiệu nhận biết thực tế: Cửa đóng nhưng bụi bám bình thường, có mạng nhện giăng ở góc cửa, ổ khóa bị rỉ sét do mưa gió, đồ đạc vứt lại bừa bãi, và quan trọng nhất: hàng xóm xung quanh vẫn nhớ mặt, nhớ tên chủ nhà, nhớ rõ ngày họ dọn đi.”
Cô chuyển đầu bút chì sang cột bên phải, gõ nhẹ ba tiếng *cộc, cộc, cộc* xuống mặt giấy dày:
“Cột bên phải: Địa chỉ đứt gãy do bị thu gom và nuốt chửng bất thường. Dấu hiệu nhận biết: Biển tên bị mất chữ một cách nhẵn thín, phẳng lì không vết đục phá; xung quanh mép khuyết luôn có một lớp bụi bạc lân tinh mát lạnh; đồng hồ cơ học treo gần nhất bị khựng lại đúng bảy nhịp tích tắc mỗi khi chuông gió điểm; và sợi chỉ niêm phong bưu chính bị co rút, gãy gập dị thường như sợ hãi khoảng trống đó.”
Tít chăm chú nhìn hai cột phân loại rành mạch trên trang giấy. Đôi mắt cậu sáng dần lên, sự nhạy bén, tinh tường của một đứa trẻ lớn lên từ những tuyến thang gió chênh vênh bắt đầu quay trở lại, xua tan đi vẻ hoảng loạn ban nãy:
“Tôi hiểu rồi! Ở Phố Cầu Thang hôm trước, bậc thang thứ mười ba biến mất là thuộc cột bên phải—vì nó có bụi bạc lân tinh và hai đầu mộng gỗ nhẵn thín như bị gọt bằng dao nhiệt! Nhưng dãy nhà trọ ở ngách số 5 đằng kia, hôm qua tôi qua thấy cửa đóng then cài, sợi chỉ bưu chính cũng đứt, nhưng biển tên bằng gỗ vẫn còn nguyên vẹn, chỉ là người ta nợ tiền thuê nhà ba tháng nên dọn đồ trốn đi trong đêm!”
“Chính xác,” Nhi mỉm cười, chìa chiếc bút chì phụ cho Tít. “Nếu chúng ta cứ gộp chung hai loại lỗi này làm một như cách Cục Ngăn Nắp đang làm trong các thông cáo chung, chúng ta sẽ chỉ thấy một mớ hỗn độn vô phương cứu chữa. Cục trưởng Đoan luôn rêu rao rằng mọi sự biến mất chỉ là ‘hao mòn tự nhiên theo chu kỳ gió mùa’ chính là vì ông ta cố tình xóa nhòa ranh giới giữa hai cột này! Việc của chúng ta hôm nay không phải là đi tìm cờ thi đua. Việc của chúng ta là tách bạch từng trường hợp một. Cậu dẫn đường theo địa hình thực tế, tôi đối soát theo bản vẽ và dấu vết. Chúng ta sẽ tìm lại kiện chốt hãm số 04 trước khi Neo 7 bị đứt cáp!”
Tít siết chặt chiếc bút chì trong lòng bàn tay. Cậu ngước nhìn Nhi, ánh mắt không còn vẻ thù hằn hay ganh tị, mà tràn đầy sự biết ơn sâu sắc pha lẫn kính nể:
“Được. Tôi biết từng ngách tắt, từng thanh dầm thép có thể bước qua từ đây sang ngách Thợ May mà không cần đi qua trạm kiểm soát. Đi thôi!”
Suốt buổi chiều hôm đó, khu phía đông của Vân Thành chứng kiến một cảnh tượng hiếm thấy chưa từng có trong lịch sử Bưu Cục Gió: hai bưu tá tập sự, một người nhanh nhẹn, thoăn thoắt leo trèo như một con sóc gió trên các thanh dầm thép rỉ sét để đo đạc từng cột mốc, căng thước dây kiểm tra độ chùng của từng tao cáp; một người tỉ mỉ, kiên nhẫn ghi chép, đối chiếu từng dấu vết bụi bạc lân tinh và lắng nghe nhịp đập của những quả lắc đồng hồ.
Cứ mỗi năm mươi mét đường, Tít lại áp chiếc thước đo góc bằng đồng vào các trụ đỡ thang gió, ghi lại độ rung bất thường của khung thép. Trong khi đó, Nhi cúi sát người, áp ống nghe cơ học vào vách đá hoa cương, ghi nhận từng khoảng lặng dị thường—những nơi mà âm thanh rền rĩ của máy nén khí bỗng nhiên biến mất một cách kỳ lạ, như thể bị hút vào một hố sâu vô tận.
Họ lần lượt rà soát qua từng ngõ ngách. Kết quả thực địa hiện ra rõ ràng như một bức tranh phơi bày dưới ánh mặt trời: Họ phát hiện ra ba địa chỉ bị gián đoạn đơn thuần do người dân dời xưởng cơ khí sang khu cảng mây mà chưa kịp làm thủ tục hành chính—những nơi này thuộc cột bên trái, hoàn toàn bình thường. Nhưng đáng sợ hơn, có tới bảy điểm nút giao cắt quan trọng trên các tuyến thang gió huyết mạch đã bị mất chữ trên biển chỉ giới hoặc mất hẳn cọc tiêu kim loại, để lại những vệt bụi bạc lân tinh quen thuộc—những điểm thuộc cột bên phải.
Nghiêm trọng nhất, toàn bộ tuyến thang gió dẫn xuống trạm trung chuyển vật tư của Neo Gió Thứ Bảy đang có độ võng bất thường: khung thép chịu lực chính đã bị nghiêng gần hai độ về phía biển mây rỗng, và nếu không có chốt hãm dự phòng để khóa chặt cụm puli trợ lực trước khi cơn gió chướng tối nay tràn về, sợi cáp neo khổng lồ có thể bị tuột khỏi rãnh trượt bất cứ lúc nào.
Và nhờ sự am hiểu ngóc ngách của Tít kết hợp với bản vẽ chi tiết của Nhi, họ đã tìm thấy manh mối của kiện hàng: tại tiệm may số 08 ngách Thợ May, chiếc hộp thép dán niêm phong đỏ số 04-NL/Neo7 vẫn đang nằm im lìm dưới gầm chiếc bàn cắt vải dày cộp, bị phủ lên bởi hàng chục xấp vải bạt thô mà người thợ may chưa buồn dọn dẹp.
***
Khi ráng chiều đỏ ối như máu nhuộm thẫm những rặng mây ngoài rìa thành phố, biến toàn bộ biển mây bao quanh Vân Thành thành một chảo lửa rực cháy, Nhi và Tít mệt lả quay trở về trạm giao nhận của Bưu Cục Gió. Áo khoác bưu tá của cả hai đều bết dính hơi sương lạnh ngắt và bụi than đen sì từ các ống khói máy nén khí, nhưng trong mắt họ ánh lên một ngọn lửa kiên định chưa từng có.
Bà Tâm vẫn ngồi nguyên ở vị trí cũ bên chiếc bàn làm việc bằng gỗ trăn. Ngọn đèn bão treo trên vách đá tỏa ra ánh sáng vàng ấm áp, soi rõ từng nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt và vầng trán cương nghị của người phụ nữ đã dành trọn đời mình giữ vững những đường bay bưu chính.
Tít hít một hơi thật sâu, hai bàn chân bước đều, tiến lên trước bàn làm việc đúng ba bước. Cậu không hề lảng tránh ánh mắt của Trưởng bưu cục nữa. Bằng hai tay trân trọng, cậu đặt tập nhật trình dày cộp lên mặt gỗ trăn, bên cạnh đó là một tờ giải trình bổ sung được viết tay vội vã bằng nét chữ nguệch ngoạc nhưng vô cùng ngay ngắn:
“Báo cáo Trưởng bưu cục. Cháu xin nộp nhật trình rà soát mạng giao nhận khu đông. Đồng thời… cháu xin tự nhận kỷ luật về lỗi nghiệp vụ nghiêm trọng ngày mười ba. Cháu đã đọc sai địa chỉ do biển ngách Thợ Tiện bị khuyết chữ, giao nhầm kiện hàng vật tư số 04-NL/Neo7 chứa chốt hãm dự phòng sang kho chứa đồ của tiệm may số 08 ngách Thợ May. Cháu đã tự ý sửa sổ giao nhận để che giấu sai phạm. Chiều nay, nhờ phương pháp đối soát thực địa và bản vẽ chi tiết của Nhi, chúng cháu đã xác định được chính xác vị trí kiện hàng. Kiện hàng hiện vẫn còn nguyên niêm phong dưới gầm bàn cắt vải của tiệm may số 08, chưa bị thất lạc vào các kho ngầm.”
Bà Tâm không hề ngắt lời cậu bé. Bà ngồi thẳng lưng, từ tốn đón lấy tập nhật trình đối chiếu. Những ngón tay gầy guộc của bà lật giở từng trang giấy kẻ ô vuông. Ánh mắt màu hạt dẻ của bà dừng lại rất lâu ở hai cột phân loại rành mạch: một bên là biến động dân cư tự nhiên, một bên là hiện tượng rút ruột vật thể kèm theo bụi bạc lân tinh và nhịp đồng hồ hụt. Bà chăm chú đọc từng số đo độ võng của thang gió khu đông, từng ghi chú về độ lệch hai độ của trụ đỡ Neo 7, và chữ ký xác nhận của cả hai đứa trẻ nằm ngay ngắn dưới mỗi mục kiểm tra.
Căn phòng chìm vào một khoảng im lặng trang nghiêm, chỉ còn tiếng tích tắc khô giòn của chim máy Ríu đang đứng rỉa cánh trên giá gỗ.
Bà Tâm ngước mắt nhìn Tít. Giọng bà phẳng lặng, trầm ấm, không còn vẻ sắc lạnh gay gắt của buổi sáng:
“Biết nhận lỗi trước khi hậu quả đổ ập xuống đầu người khác, đó là điều kiện tối thiểu để được giữ lại chiếc túi bưu tá trên vai. Kiện hàng chốt hãm đó, ngay sáng mai sẽ có đội vận chuyển chuyên trách của bưu cục đến tiếp quản, lập biên bản bàn giao tận tay cho Đội Thợ Neo theo đúng quy chuẩn an toàn bưu chính cấp một.”
Bà quay sang nhìn Nhi. Đôi mắt người bà nghiêm nghị bỗng ánh lên một tia ấm áp kín đáo, một tia sáng tự hào mà chỉ có đứa cháu gái hiểu bà sâu sắc mới có thể nhận ra:
“Cháu đã không dùng sai phạm của đồng nghiệp để đổi lấy sự minh oan hay quyền lợi cá nhân. Cháu đã dùng chính nghiệp vụ bưu chính thuần thục để sửa chữa một lỗ hổng có thật giữa mạng lưới gió. Tinh thần hợp tác và phương pháp phân loại thực địa này hoàn toàn đạt quy chuẩn của một bưu tá cấp cao.”
Bà Tâm kéo ngăn kéo bàn làm việc, rút ra con dấu đồng nặng trịch mang biểu tượng cánh chim lướt gió của bưu cục. Bà ấn mạnh con dấu vào khay mực đỏ, rồi dập dứt khoát một vết mực đỏ chót, vuông vắn mang dòng chữ *ĐÃ KIỂM CHỨNG HỢP LỆ* lên góc trên cùng của tập nhật trình rà soát:
“Nhóm của hai đứa được chấp thuận tiếp tục rà soát toàn bộ các tuyến phụ lưu còn lại của khu đông theo quy chuẩn bưu tá chính thức. Chưa khôi phục thẻ tự do cho Nhi, nhưng từ ngày mai, hai đứa sẽ đi tuyến cùng nhau.”
Nhi và Tít nhìn nhau. Cả hai cùng thở phào nhẹ nhõm, một gánh nặng nghìn cân dường như vừa được cất khỏi đôi vai gầy. Khóe môi hai đứa trẻ khẽ nở một nụ cười kín đáo nhưng rạng rỡ giữa ánh đèn vàng ấm áp.
*Phụt… khẹc!*
Đột nhiên, chiếc ống chuyển thư bằng đồng thau cỡ lớn gắn trên góc tường bưu cục rung lên bần bật. Các vòng đệm cao su kêu rít lên kin kít, rồi hệ thống phát ra một tiếng hắt hơi giòn giã vì bụi khí nén lâu ngày bị tống mạnh ra ngoài.
Một chiếc phong bì công văn dày cộp bằng giấy nến chống ẩm từ miệng ống trượt ra, rơi cộp xuống khay hứng bằng kim loại. Bìa phong bì in biểu tượng bánh răng đồng tâm sắc lạnh của Cục Ngăn Nắp, mang chữ ký đóng dấu mật màu đỏ tươi của kiểm viên Liên.