Thành Phố Trên Mây Hay Mất ĐồCh.4 / 9
Chapter 4

Bảy nhịp bị bỏ quên

Quảng trường trung tâm ngập tràn ánh nắng chói chang giữa trưa, nhưng bóng đen quen thuộc thường đổ dài qua những hàng quán quanh Tháp Đồng Hồ bỗng nhiên sạch bóng, để lại nền gạch trơ trọi đến chói mắt.

Bình thường vào giờ này, ngọn tháp đá xám cao hơn ba mươi trượng sừng sững đâm thẳng lên nền trời sẽ vươn một dải bóng đổ khổng lồ, sẫm màu như một vệt mực tàu đặc quánh quét ngang qua phân nửa mặt bằng đá hoa cương của quảng trường. Chiếc bóng ấy từ bao đời nay đã là chốn che chở thân thuộc: lũ trẻ con đuổi bắt nhau rúc vào bờ bóng râm để trốn luồng nhiệt hầm hập của biển mây bốc lên, các bà các chị đẩy những cỗ xe gỗ nhỏ chở đầy hạt dẻ nướng, bánh bột mây hấp lá thơm nép sát vào vệt râm mát để giữ bánh khỏi khô khốc, và đối với những người phu khuân vác hay giới thương nhân qua lại, cái bóng ấy chính là chiếc kim chỉ giờ tự nhiên vĩ đại nhất của toàn khu lõi Vân Thành.

Thế nhưng lúc này đây, vòm trời cao rộng xanh ngăn ngắt không gợn lấy một mảnh mây trắng che chắn. Nắng trên tầng không trút xuống như mật sôi rót thẳng từ đỉnh đầu, soi thấu từng kẽ nứt li ti, từng mạch vữa xám và những đường vân tự nhiên rạn vỡ trên nền đá hoa cương trải rộng. Ngọn tháp vẫn đứng đó, uy nghiêm, sừng sững, từng bờ gờ chạm nổi hình sóng cuộn và đầu rồng mây vẫn nguyên vẹn từng góc cạnh, lớp đá xám ngả màu rêu phong vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Duy chỉ có một điều quái dị đến lạnh người: dưới chân nó, bao quanh bốn bề khối đế tảng, tịnh không có lấy một vệt lam mờ nào của bóng râm. Tựa hồ như luồng quang tuyến chói lọi kia khi hạ xuống chạm vào thân tháp đã bị một bàn tay vô hình bẻ cong, trượt lướt qua những thớ đá gồ ghề rồi rọi thẳng xuống mặt đất, biến toàn bộ chân công trình thành một vùng sáng trần trụi, nhức nhối và khô khốc đến lạ lùng.

Nhi bước từng bước cẩn trọng qua khoảng sân rộng thênh thang, hai mắt phải nheo chặt lại vì hơi nóng phả lên hầm hập từ lớp đá hoa cương hấp thụ nhiệt. Bàn chân cô bé cách một lớp đế giày da thuộc vẫn cảm nhận rõ rệt cái râm ran bỏng rát của mặt sàn. Trên hai tay Nhi là chiếc bình ủ bằng đồng thau bọc một lớp vải nỉ xám dày dặn, bên trong sóng sánh thứ trà búp mây còn nóng rẫy, bốc lên mùi thơm ngai ngái, thanh nhẹ của cỏ non mọc trên vách đá hứng sương mà sáng nay cô đã cẩn thận chắt từng giọt từ ấm trà lớn ở góc phòng phân loại thư tín của bưu cục. Chim máy Ríu đậu vững chãi trên mỏm vai Nhi, bộ móng vuốt bằng hợp kim bấm chặt vào sợi quai da sờn bóng của chiếc túi bưu tá đeo chéo. Hai cánh quạt gió mini bằng lá đồng mỏng sau gáy nó khẽ xòe rộng ra, xoay tít đón luồng gió đối lưu yếu ớt nhằm tự làm nguội các khớp bánh răng bên trong cơ thể cơ khí.

“Cảnh báo: nhiệt độ bề mặt đo được tại tọa độ chân bước vượt mức bình thường mười lăm phần trăm,” Ríu lắc lắc cái đầu tròn vo, mỏ sắt gõ vào nhau lách cách thành từng hồi giòn giã. “Hệ thống bôi trơn bản lề khớp gối của tôi đang đứng trước nguy cơ giảm độ nhớt. Tôi kiến nghị chuyển hướng hành trình sang đi nép dưới mái hiên của dãy tiệm may phía đông, thưa cô bưu tá bướng bỉnh.”

“Chỉ còn vài bước chân nữa là tới thềm đá chân tháp rồi, Ríu chịu khó một chút đi,” Nhi khẽ đáp, mắt vẫn không rời khoảng sân sáng lóa phía trước, bước chân thoăn thoắt bấm xuống mặt gạch. “Bác Vạn trước khi nhóm lò đợt bánh trưa đã dặn đi dặn lại, phải mang bằng được bình trà này sang cho Ông Giờ. Từ sáng sớm tinh mơ đến giờ, tin đồn ngọn tháp mất bóng đã lan truyền ầm ĩ khắp các bàn trà bưu cục, người ta bàn tán xôn xao đến mức thư từ bị đình trệ cả lượt phát chuyến một. Chắc chắn ở đây ông ấy đang lo sốt vó lên rồi.”

Quả đúng như những gì Nhi dự đoán dọc đường đi. Trên dãy bậc thềm đá hoa cương dẫn thẳng lên vòm cửa cuốn bằng đồng dẫn vào lòng tháp, Ông Giờ đang ngồi bần thần. Dáng người ông còng rạp xuống, chiếc lưng gù dường như càng gập sâu hơn thường lệ dưới sức nặng vô hình của sự kinh hãi. Mái tóc hoa râm xơ xác bù xù như một tổ chim bị bão mây vò nát sau nhiều lần bị những ngón tay gầy guộc, gân guốc vò rối trong cơn bối rối tột cùng. Hai bàn tay khô ráp như vỏ cây cổ thụ của ông ôm chặt lấy một chiếc ấm đất nung màu da chu đồng — thứ gia bảo bất ly thân mà ông vẫn hằng nâng niu — nhưng miệng ấm trơ trọi, vòi ấm nguội ngắt không còn lấy một làn khói mỏng bốc lên. Đôi mắt già nua sau cặp kính tròn dày cộp mờ đục nước vôi dường như đã dại đi, nhìn trừng trừng vào khoảng sân đá bằng phẳng, trơn nhẵn phía trước thềm với một nỗi hoang mang đến nghẹn lời.

“Ông Giờ ơi!” Nhi cất tiếng gọi mềm mại, bước chân nhẹ nhàng chạm lên bậc thềm đá cuối cùng để tránh làm ông lão giật mình quá đỗi.

Thế nhưng ông lão vẫn nảy bắn người lên, hai bờ vai gầy guộc giật giật như thể vừa bị ai đó giật phắt ra khỏi một cơn ác mộng đen tối giữa ban ngày. Chiếc ấm đất nung trên đùi ông nghiêng đi, suýt chút nữa thì trượt khỏi những ngón tay run rẩy nếu Nhi không kịp thời đưa tay đỡ lấy đáy ấm. Ông lão chầm chậm ngước đôi mắt đỏ hoe lên, đồng tử đờ đẫn mất một nhịp mới định thần nhận ra gương mặt lấm tấm những giọt mồ hôi của Nhi, rồi lại liếc sang con chim máy nhỏ đang nghiêng đầu chớp chớp hai thấu kính pha lê trên vai cô.

“Nhi... Nhi đấy à cháu...” Giọng ông khàn đặc, đục ngầu và run rẩy như tiếng gàu múc nước va vào thành giếng cạn lâu ngày không có người nạo vét. “Cháu nhìn xem... cháu ghé mắt nhìn hộ lão già này một lần cho rõ xem nào. Mắt lão hỏng rồi, thấu kính của lão mờ rồi, hay là trật tự trời đất trên cái đảo nổi Vân Thành này đã đảo lộn lung tung cả rồi?”

Nhi không vội đáp lời ngay. Cô đặt chiếc bình ủ bằng đồng ấm sực xuống mép bậc đá hoa cương, cẩn thận đỡ lấy chiếc ấm nguội tanh từ đôi tay khẳng khiu của người coi tháp, đặt nó sang một bên rồi ngồi xuống bậc thềm ngay cạnh ông. Gió từ biển mây thổi tạt qua quảng trường mang theo vị mặn chát của hơi ẩm tầng thấp, nhưng không tài nào xua đi được cái cảm giác ngột ngạt kỳ dị đang bủa vây quanh chân công trình.

“Mắt ông không hỏng đâu ạ, kính của ông cũng chẳng mờ chút nào đâu,” Nhi nói, giọng đều đặn và chậm rãi để trấn an tinh thần đang hoảng loạn của ông lão. “Từ sáng sớm tới giờ, cả khu chợ quanh quảng trường, rồi cả những người bên Bưu Cục Gió ai ai cũng nhìn thấy rõ mười mươi. Ngọn tháp... thực sự không còn đổ bóng xuống mặt đất nữa rồi.”

Nghe lời khẳng định rành rọt của cô bé bưu tá, Ông Giờ thở hắt ra một hơi dài, nặng nề như thể chút sinh lực cuối cùng vừa bị rút cạn khỏi lồng ngực gầy trơ xương. Ông đưa cả hai bàn tay thô ráp lên ôm lấy mặt, những khớp ngón tay run lẩy bẩy tỳ chặt vào gọng kính, giọng nói nghẹn ngào vỡ vụn ra từng mảnh:

“Biến mất thật rồi... Mất sạch sành sanh rồi cháu ơi! Ngọn tháp vẫn trơ trơ đứng đây, từng tảng đá hoa cương vẫn nặng hàng chục tấn ghìm chặt xuống móng, quả chuông đồng trên đỉnh chóp vẫn cứ gõ boong boong mỗi đầu canh giờ chẳng sai một khắc. Nhưng cái bóng của nó thì bay biến đi đâu mất sạch! Cháu có hiểu được nỗi khổ, nỗi bàng hoàng của lão già này không? Ba mươi năm nay... tròn ba mươi năm ròng rã kể từ ngày lão nhận việc trông coi tháp trên cái đảo nổi này, lão chưa từng một lần phải ngước mắt nhìn lên mặt đồng hồ để biết khi nào cần nhóm bếp pha trà trưa!”

Ông lão buông tay khỏi mặt, ngón tay run rẩy chỉ thẳng về phía những rãnh đá khắc hình cánh cung đồng tâm kéo dài trên mặt sàn quảng trường, nơi các dải kim loại khảm chìm đang phát ra ánh sáng vàng lấp loáng dưới ánh mặt trời rực lửa:

“Ngọn tháp này cao vút, đỉnh nhọn của nó vươn thẳng lên tầng mây trên, chính là chiếc kim chỉ thời gian tự nhiên chuẩn xác nhất, công bằng nhất của cả vùng lõi thành phố này. Cứ mỗi độ đứng bóng, khi mép bóng đen thẫm của đỉnh tháp trườn chầm chậm qua rãnh đá khắc hoa văn rồng mây, chạm đúng vào cái ngấn khảm đồng thứ ba nằm sát bậc thềm này, đó là lúc khí quyển tầng trung bình ổn nhất, gió từ biển mây thổi vào êm nhất, không một chút gắt gỏng. Đúng vào tích tắc thiêng liêng ấy, lão mới đánh lửa nhóm bếp than đượm, bắc ấm nước suối mây sôi sùng sục để hãm ấm trà búp mây đầu trưa. Đó là quy tắc ba mươi năm không suy suyển của lão! Thế mà trưa nay... lão ngồi đây đợi từ lúc sương sớm vừa tan. Nắng cứ gắt dần lên, gắt đến mức cháy rát cả da thịt, nhưng mặt đất trước mặt lão cứ trơn tuột, trắng lóa, chẳng có lấy một vệt đen nào chịu bò qua vạch đá cả. Lão đợi mãi... đợi cho tới khi ấm nước đun sẵn nguội ngắt như đá lạnh, mà chẳng thể nào biết được giờ ngọ đã trôi qua tự lúc nào...”

Nhi lặng im lắng nghe, lòng chùng xuống một nỗi niềm xót xa sâu sắc. Đằng sau những lời than thở tưởng như lập dị, lẩm cẩm của một ông lão coi tháp tuổi xế chiều là một thực tế trần trụi và hiển hiện: đối với Ông Giờ, và đối với hàng trăm con người buôn bán, sinh sống quanh khu quảng trường này, chiếc bóng đổ khổng lồ kia chưa bao giờ là một hiện tượng quang học vô tri vô giác. Nó không phải là thứ thuộc tính ngẫu nhiên sinh ra rồi mất đi không ai hay biết. Nó là nhịp đập sinh học, là chiếc đồng hồ định hình từng nếp ăn, nếp ở, nếp làm ăn buôn bán của cả một cộng đồng người dân trên đảo nổi.

“Ông còn giữ cuốn nhật ký pha trà ấy không ạ?” Nhi nhẹ nhàng hỏi, mắt nhìn chăm chú vào chiếc túi vải thô đã bạc màu vắt ngang hông ông lão.

“Cuốn nào cơ? Cuốn sổ tay ghi chép giờ giấc của lão ấy à?” Ông Giờ ngơ ngác chớp mắt vài cái, rồi như sực nhớ ra điều gì quý giá, ông vội vã thò bàn tay run rẩy vào ngăn đáy của chiếc túi vải thô, run rẩy rút ra một cuốn sổ tay dày cộm. Bìa sổ bọc bằng da bò thuộc thủ công, bốn góc đã mòn vẹt, sờn rách và bóng loáng lên bởi mồ hôi tay cùng bụi bặm của hàng chục năm tháng cầm nắm.

Nhi đỡ lấy cuốn sổ từ tay ông lão. Lớp bìa da mang lại cảm giác ram ráp, mát rượi lạ thường giữa cái nóng chang chang của buổi trưa. Cô cẩn thận lật từng trang giấy dó ngả màu vàng ố dưới ánh nắng gay gắt. Từng trang, từng dòng chữ viết bằng mực nho tím hiện ra ngay ngắn, nắn nót đến từng nét móc, tỉ mỉ đến mức đáng kinh ngạc. Đây tuyệt nhiên không đơn thuần chỉ là một cuốn sổ ghi lại sở thích ẩm thực cá nhân của một kẻ rỗi việc; cuốn sổ chính là một bản biên niên sử sống động, một tấm gương phản chiếu trọn vẹn nhịp sống thường nhật của vùng trung tâm Vân Thành qua năm tháng:

*“Ngày 04 tháng Gió Trong: Mép bóng chạm khảm đồng thứ nhất — các tiểu thương đồng loạt dọn dù che, mở sạp rau mây đón sương sớm.”*

*“Ngày 18 tháng Gió Rét: Mép bóng chạm vạch chữ thập — rước cỗ xe thư của Bưu Cục Gió qua quảng trường; gió chướng nhẹ từ hướng đông bắc, nước trà hãm chậm hơn hai phút để giữ vị đậm.”*

*“Ngày 02 tháng Gió Lặng: Mép bóng tháp trùm qua hiên tiệm bánh nướng — lò nướng của bác Vạn đỏ than đón đợt bánh trưa, mùi bơ ngọt ngào tỏa khắp ba dãy phố...”*

Nhi lướt nhẹ đầu ngón tay qua từng mốc thời gian được ghi chép cẩn trọng. Từng giờ, từng phút, từng biến chuyển nhỏ nhất của thời tiết hay sinh hoạt phố xá đều được neo chặt một cách kỳ diệu vào vị trí dịch chuyển của mép bóng ngọn tháp đá.

“Ríu, nhìn này,” Nhi khẽ huých nhẹ cùi chỏ vào mạn sườn con chim máy trên vai. “Cái bóng này đâu phải là một thứ hư vô hay đồ bỏ đi muốn vứt lúc nào thì vứt! Nó có công năng thực tế rõ ràng, có hành vi sử dụng công cộng mang tính liên tục và được cả cộng đồng thừa nhận suốt ba mươi năm qua. Nó hoàn toàn đáp ứng đầy đủ mọi tiêu chí pháp lý để được công nhận là một tài sản công có đăng ký, có giá trị sử dụng thực tế theo đúng quy chuẩn của sổ bộ địa bạ thành phố!”

Ríu nghiêng hẳn cái đầu sắt sang một bên, hai thấu kính pha lê phát ra một tia sáng đỏ nhạt quét dọc từ trên xuống dưới mặt trang giấy dó:

“Ghi nhận dữ liệu: Hành vi sử dụng thực tế mang tính xác thực cao, tần suất ghi nhận đạt một trăm phần trăm tính liên tục. Tuy nhiên, theo điều lệ số 104 của Cục Ngăn Nắp ban hành vào đầu chu kỳ gió trước, một thuộc tính phi vật chất như 'bóng đổ' hay 'vùng râm quang học' thường tự động bị xếp vào diện 'hiện tượng tự nhiên không chủ quản', trừ phi có biên bản kỹ thuật chính thức chứng minh nó liên kết trực tiếp với cơ cấu chịu lực hoặc mạng vận hành trung tâm.”

“Nó có liên kết chứ! Sao lại không liên kết!” Ông Giờ bỗng nhiên ngẩng phắt đầu dậy, hai mắt trợn trừng, giọng nói khàn khàn bỗng chốc vút cao lên bởi một sự bực bội và tự ái nghề nghiệp bị xúc phạm ghê gớm. “Mấy cái gã viên chức mặc áo bành tô xám cài kín cổ ở Cục Ngăn Nắp thì biết cái quái gì về sự sống của ngọn tháp này! Chúng ngồi trong phòng máy lạnh ngắm các bảng biểu giấy tờ rồi tưởng ngọn tháp này xây lên chỉ để làm cảnh cho đẹp mắt à? Đi theo lão! Đi ngay vòng ra phía sau xem những chiếc đồng hồ đo mạng neo rồi các cháu sẽ sáng mắt ra!”

Nói đoạn, ông lão chống hai tay lên đầu gối, lập cập gượng dậy. Dáng người còng queo của ông bước đi thoăn thoắt một cách bất ngờ, dẫn Nhi và Ríu vòng qua gờ đá chạm nổi hình sóng, đi sâu về phía sau khối chân đế bằng đá tảng đồ sộ của ngọn tháp.

Khu vực chân tháp phía sau hoàn toàn tách biệt khỏi sự ồn ào của quảng trường, được bao bọc bởi một hành lang bán nguyệt đúc bằng hợp kim đồng mây ăn sâu vào vách đá tảng. Tại đây, rải rác trên sáu trụ đá hoa cương chịu lực chính là một dãy gồm sáu chiếc đồng hồ phụ hình bát giác cỡ lớn. Mặt kính bằng pha lê tự nhiên dày dặn bảo vệ những con lắc bằng đồng thau nặng trịch đang đung đưa qua lại nhịp nhàng bên trong khung máy. Nhi nhận ra ngay những đường dây dẫn bằng hợp kim bọc chỉ ma thuật màu lam sẫm nối từ đáy mỗi chiếc đồng hồ, đâm thẳng qua nền đá xuyên sâu xuống lòng đất — đây chính là hệ thống thiết bị đo dao động và giám sát nhịp vận hành của các dây chằng nối liền với mạng neo khí quyển của Vân Thành. Mỗi một nhịp gõ khô khốc của con lắc kim loại bên trong khung kính chính là một lần ghi nhận sự ổn định của sức nâng khí quyển mà các cỗ Neo Gió ngầm dưới đáy đảo truyền về trung tâm điều hành.

“Tháp đồng hồ này chính là quả tim của mạng đo lường toàn thành phố,” Ông Giờ giải thích, ngón tay gầy guộc run rẩy gõ cộc cộc lên mặt kính pha lê bám đầy bụi mịn của chiếc đồng hồ số 1. “Bóng của ngọn tháp di chuyển theo ánh mặt trời trên cao, tạo ra trục quy chiếu quang học chuẩn xác nhất để đối soát trực tiếp với nhịp gõ cơ học của sáu chiếc đồng hồ phụ này. Sáng nay, ngay khi bóng tháp biến mất không tăm tích, lão đã thấy những con lắc này bắt đầu có những biểu hiện kỳ dị mà ba mươi năm qua lão chưa từng chứng kiến...”

Ríu không đợi Nhi phải lên tiếng nhắc nhở. Bản tính tò mò và thói quen phân tích dữ liệu cơ khí của chú chim máy lập tức trỗi dậy. Chú vỗ phành phạch đôi cánh kim loại mỏng, bay vút lên bậu đá rồi đậu bám chặt lấy gờ đồng của chiếc đồng hồ phụ số 1.

“Kích hoạt màng thu âm tiếp xúc rung chấn bề mặt,” Ríu thông báo bằng chất giọng kim khí trầm đều, không cảm xúc.

Chú chim áp sát một bên tai kim loại được chế tác cực kỳ tinh xảo vào mặt kính pha lê dày của chiếc đồng hồ. Đôi mắt tròn xoe của Ríu lập tức lóe lên những xung ánh sáng màu xanh lam nhấp nháy liên hồi khi bộ vi mạch bên trong lồng ngực bắt đầu lọc bỏ tạp âm của gió biển mây và tiếng bước chân xao xác từ quảng trường dội lại, dồn toàn bộ công suất để tóm lấy từng tiếng tích tắc giòn giã phát ra từ các bánh răng truyền động bên trong hộp máy.

*Tích... tắc... tích... tắc...*

Nhi đứng nép bên dưới trụ đá, nín thở theo dõi từng cử động của bạn đồng hành. Ríu lần lượt nhảy chuyền từ gờ đá của chiếc đồng hồ số 1 sang số 2, số 3, rồi áp mỏ sắt sắc nhọn vào lớp vỏ đồng của chiếc đồng hồ phụ số 5. Bỗng nhiên, chiếc đầu tròn vo của chú chim máy giật ngược lại một cái thật mạnh, hai cánh xòe rộng ra hết cỡ để giữ thăng bằng trên gờ đá hẹp, đôi mắt pha lê xanh biếc đột ngột chuyển sang màu vàng cam chói gắt — tín hiệu cảnh báo xung đột dữ liệu nghiêm trọng.

“Phát hiện sự trùng khớp âm học bất thường!” Ríu kêu ré lên qua loa phát âm thanh, tiếng kêu the the xé toạc bầu không khí ngột ngạt. “Độ trùng khớp dạng sóng âm đạt mức chín mươi chín phẩy tám phần trăm!”

“Trùng khớp cái gì? Nói rõ ra xem nào Ríu!” Nhi sốt ruột bước rảo lên hai bước, áp sát người vào chân bệ đá hoa cương.

“Đối chiếu trực tiếp với các dữ liệu âm học đã lưu trữ trong bộ nhớ tạm thời!” Ríu ưỡn căng lồng ngực bọc đồng, mở van loa phát thanh tích hợp dưới ức chim. “Bản ghi số một: Ghi nhận tại Tiệm Bánh Nướng Lò Gạch ở Chợ Mây Vá, đúng vào thời điểm mẫu hương số 04 bị biến mất khỏi khay bánh! Bản ghi số hai: Ghi nhận tại Bậc thang thứ mười ba ở Phố Cầu Thang khi thanh gỗ bị rút ruột! Và bản ghi số ba: Ghi nhận trực tiếp từ hộp máy đồng hồ phụ số 3 tại chân tháp sáng hôm nay!”

Từ trong lồng ngực kim loại của Ríu, một chuỗi âm thanh tích tắc khô khốc, đanh gọn vang lên rành rọt giữa không gian tĩnh mịch của góc hành lang đá. Tiếng *tích... tắc... tích... tắc...* đều đặn, nhịp nhàng và chuẩn xác như một hơi thở cơ khí đang chạy trơn tru bỗng nhiên khựng lại.

*Khực.*

Một tiếng nấc khô khốc vang lên từ sâu bên trong cơ cấu truyền động. Bánh răng gai bị ghì chặt lại, con lắc bằng đồng thau ngưng đọng lơ lửng giữa không trung như bị một bàn tay vô hình tóm lấy. Rồi sau đó, một khoảng lặng tuyệt đối, chết chóc bao trùm. Nhi nín thở, ngón tay bấu chặt vào quai túi da đến mức khớp ngón trắng bệch. Cô đếm thầm từng nhịp đập trong lồng ngực mình.

Một... hai... ba... bốn... năm... sáu... bảy.

Đúng một khoảng thời gian dài đằng đẵng tương đương với bảy nhịp gõ con lắc bị nuốt chửng hoàn toàn vào hư vô, bánh răng bên trong bản ghi âm mới giật cục một cái dữ dội. Một tiếng kim loại cọ xát ken két rợn người rít lên, rồi cỗ máy gượng gạo, nhọc nhằn tiếp tục guồng quay: *tích... tắc... tích... tắc...*

Ríu tiếp tục phát lại đoạn ghi âm thứ hai từ Phố Cầu Thang, rồi đến bản ghi âm vừa thu được từ chiếc đồng hồ phụ số 3 dưới chân tháp. Cả ba đoạn âm thanh, khi được khớp nhịp và phát song song ở tốc độ chuẩn, đều thể hiện một hiện tượng y hệt nhau đến từng phần nghìn giây:

“Chậm đúng bảy nhịp!” Nhi thốt lên nghẹn ngào, đôi mắt đen mở to vì kinh ngạc tột độ. “Không phải là do đồng hồ bị kẹt bụi mây, cũng chẳng phải do dầu bôi trơn bị khô ngẫu nhiên! Mỗi một lần có một thứ đồ vật hay một thuộc tính cụ thể bị biến mất — từ mùi thơm của bánh nướng mới ra lò, bậc thang gỗ trên lối đi dốc, cho tới chiếc bóng khổng lồ của ngọn tháp này — chiếc đồng hồ cơ học nằm ở vị trí gần hiện trường nhất đều bị cưỡng bức khựng lại đúng bảy nhịp con lắc!”

“Chính xác là bảy nhịp tích tắc không thừa không thiếu,” Ríu bổ sung bằng chất giọng máy móc đầy tự hào. “Theo phân tích bước sóng, khoảng thời gian bảy nhịp này tương đương chuẩn xác với thời lượng cần thiết để một xung lệnh định tuyến phân loại cấp ba chạy hết chiều dài của mạng truyền dẫn cáp đồng mây. Đây là một quy luật mang tính chu kỳ cơ học hoàn hảo!”

Nhi cảm thấy lồng ngực mình đập dồn dập như có ai gõ trống. Từng mảnh ghép rời rạc bấy lâu nay bỗng chốc khớp chặt vào nhau thành một bức tranh rõ ràng và rùng rợn! Sự biến mất bí ẩn của các đồ vật trong thành phố bấy lâu nay tuyệt nhiên không phải là những vụ tai nạn thời tiết ngẫu nhiên, càng không phải trò quấy phá ma thuật của những sinh vật biển mây hoang dã như lời đồn đại mê tín của dân chúng. Đằng sau những khoảng trống hoác để lại lớp bụi bạc lân tinh lấp lánh là một cỗ máy, một cơ chế vận hành có tổ chức, có nhịp điệu toán học chặt chẽ và để lại những dấu vết vật lý rõ ràng trên từng chiếc đồng hồ cơ khí của Vân Thành. Mỗi một lần bộ máy thu gom khổng lồ kia kích hoạt để nuốt chửng một tài sản vào Kho Chưa Ai Nhớ, lực hút hoặc xung lệnh cưỡng chế của nó đã làm xáo trộn không gian cục bộ, đánh cắp đi chính xác bảy nhịp đập của trật tự thời gian.

“Mau lên, Ông Giờ!” Nhi quay phắt sang người coi tháp, giọng nói run lên vì niềm phấn khích tột cùng. “Cháu cần cuốn sổ theo dõi kỹ thuật của sáu chiếc đồng hồ phụ này! Nếu đối chiếu thời điểm các con lắc bị chậm bảy nhịp với thời điểm bóng tháp biến mất và mốc thời gian trên các biên nhận chuyển phát của bưu cục, cháu có thể dựng lại toàn bộ biểu đồ thời gian của các đợt thu gom. Cục Ngăn Nắp sẽ không thể nào chối cãi được nữa! Họ sẽ phải thừa nhận sự tồn tại của quy trình rút ruột này!”

Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với vẻ hào hứng, quyết liệt của Nhi, Ông Giờ bỗng nhiên lùi lại nửa bước. Nét mặt ông già biến đổi một cách kỳ quái, từ vẻ bàng hoàng kinh sợ chuyển sang lúng túng, bối rối, rồi đôi mắt sau cặp kính tròn bắt đầu nhìn lảng tránh sang những phiến đá dưới chân, tuyệt nhiên không dám nhìn thẳng vào ánh mắt sáng rực của cô bé bưu tá.

“Sổ... sổ theo dõi kỹ thuật ấy à?” Ông Giờ ngập ngừng, hai bàn tay đan chặt vào nhau, các khớp ngón tay vặn vẹo phát ra những tiếng kêu răng rắc khô khốc. “Chuyện đó... chuyện đó có thực sự cần thiết đến thế không cháu? Liệu... liệu có thể bỏ qua cuốn sổ ấy được không?”

“Rất cần thiết ạ! Đây là bằng chứng sống còn!” Nhi kiên quyết bước tới gần ông hơn. “Đó là cứ liệu duy nhất để chứng minh rằng cái bóng tháp không tự nhiên bốc hơi, mà đã bị một quy trình kỹ thuật can thiệp rút ruột khỏi mạng neo của thành phố!”

Ông Giờ đứng chôn chân một hồi lâu, rồi thở dài một hơi não nề như buông xuôi tất cả. Ông chậm chạp quay người lại, thò tay vào ngăn dưới của chiếc tủ sắt cũ kỹ gắn chìm sau lưng bệ đá hoa cương, lôi ra một tập hồ sơ dày cộp đóng bằng bìa cứng màu xám tro. Đó là cuốn nhật trình kỹ thuật ghi chép lại mọi biến động của các con lắc đo nhịp mạng neo. Ông run rẩy trao nó vào tay Nhi như thể đang trao một hòn than nóng.

Nhi vội vã lật giở từng trang bảng biểu dày đặc những cột mục chi tiết. Các cột mốc thời gian, biên độ dao động của con lắc và độ lệch pha của sáu chiếc đồng hồ phụ được ghi chép vô cùng tỉ mỉ bằng hai màu mực đỏ và mực đen, thẳng tắp và ngay ngắn theo đúng thói quen cẩn trọng của một người thợ già. Cô dò ngón tay dọc theo trang ghi chép ngày hôm qua, lần ngược lại từng mốc giờ trước thời điểm bóng tháp hoàn toàn biến mất vào buổi sáng sớm.

Thế nhưng, khi ngón tay Nhi lướt đến khoảng tám giờ ba mươi sáng hôm trước, toàn thân cô bỗng sững sờ đông cứng lại.

Trên mặt giấy dó phẳng phiu, bắt đầu từ mốc tám giờ ba mươi đến đúng chín giờ sáng tròn trĩnh, toàn bộ các cột thông số của cả sáu chiếc đồng hồ đều bị bỏ trống. Một khoảng trắng toát, lạnh lùng, trơ trọi kéo dài suốt ba mươi phút quan trọng nhất — khoảng thời gian chuyển giao định mệnh ngay trước khi ánh sáng mặt trời rọi xuống đỉnh tháp mà không tạo ra bóng đổ. Thậm chí tệ hại hơn, ở mép cột số liệu của chiếc đồng hồ số 4, vết mực cũ còn có dấu hiệu bị cạo đi nham nhở bằng dao trổ kim loại, làm xơ cả thớ giấy, rồi được đè lên bằng một con số méo mó, run rẩy viết vội bằng thứ mực khác màu.

“Ông Giờ...” Nhi chầm chậm ngẩng đầu lên, ánh mắt đầy vẻ bàng hoàng, nghi hoặc và thất vọng sâu sắc nhìn thẳng vào người coi tháp. “Khoảng nửa giờ này... toàn bộ số liệu đo nhịp đâu mất rồi ạ? Tại sao lại bị bỏ trống hoàn toàn, và chỗ này... tại sao lại có dấu vết cạo sửa thô bạo thế này?”

Bị Nhi bắt trúng điểm yếu chí mạng, Ông Giờ co rúm người lại như một đứa trẻ bị bắt quả tang phạm lỗi. Đôi gò má nhăn nheo, xám ngắt của ông lão bỗng ửng đỏ lên vì xấu hổ và tủi nhục. Ông ấp úng, miệng mấp máy mãi mới phát ra thành tiếng:

“Lão... lão thật sự không cố ý làm hỏng việc đâu Nhi à... Sáng hôm ấy... đúng lúc tám giờ rưỡi, lão đang đi kiểm tra dầu máy thì thấy con lắc của chiếc đồng hồ số 4 tự dưng khựng lại, giật cục một cách kỳ quái rồi đứng im. Lão... lão sợ quá, lão tưởng là do bánh răng bị kẹt hạt bụi mây hay do lão quên tra dầu mỡ... nên... nên lão đã tự ý mở nắp kính pha lê, dùng kẹp sắt vặn lại núm cót phụ để chỉnh kim phút chạy nhanh vượt lên cho kịp với giờ chuẩn trên tháp chuông... Lão sợ lắm cháu ơi, lão sợ bị đám thanh tra kỹ thuật bên Cục Ngăn Nắp xuống phạt vạ, tước mất sổ trợ cấp vì tội lơ là trách nhiệm bảo dưỡng... nên lão mới... mới cạo sửa số liệu để lấp liếm...”

Nhi thở hắt ra một hơi cay đắng, hai cánh tay buông thõng xuống hai bên sườn, tập hồ sơ trên tay trĩu nặng như một tảng chì. Khoảng khuyết nửa giờ ấy tựa như một nhát cắt chí mạng giáng thẳng vào chuỗi chứng cứ logic mà cô đang dốc lòng xây dựng. Thiếu mất dữ liệu gốc nguyên bản của ba mươi phút then chốt đó, toàn bộ biểu đồ thời gian sẽ bị gãy vụn ở mắt xích quyết định nhất. Không có chuỗi sai lệch liên tục để chứng minh chiếc bóng bị rút đi cùng lúc với cú nhảy vọt của xung lệnh mạng neo, bất kỳ một viên chức đối soát nào của Cục Ngăn Nắp cũng có thể dễ dàng vứt bỏ toàn bộ hồ sơ của cô vào sọt rác, quy chụp toàn bộ sự việc chỉ là trò bịa đặt nhằm che đậy tay nghề bảo dưỡng cẩu thả, gian dối của một lão coi tháp già nua.

Không gian quanh chân tháp bỗng chìm vào một sự im lặng nặng nề, ngột ngạt đến khó thở. Chỉ còn tiếng quạt gió mini trên lưng Ríu vẫn quay vo vo đều đặn trong cái nóng hầm hập của buổi trưa không bóng râm.

Đúng lúc Nhi đang cắn chặt môi, đầu óc căng như dây đàn tìm cách cứu vãn tập hồ sơ thì chim máy Ríu bỗng nghiêng hẳn cái đầu sắt sang một bên. Chú chim không nhìn vào cuốn sổ nữa mà rướn cổ, áp thẳng toàn bộ phần ức bằng hợp kim vào vách đá hoa cương sâu hoắm dưới chân tháp. Đôi mắt kính pha lê của chú co giật dữ dội, chuyển từ màu vàng cam sang một vệt sáng đỏ rực đầy cảnh báo.

Từ sâu thẳm trong lòng vách đá dưới chân tháp đồng hồ, một chuỗi rung động kim loại trầm thấp, nặng nề và lạnh buốt bỗng truyền ngược lên lớp đá hoa cương, vang lên từng nhịp rền rĩ: đúng bảy lần.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories