Thành Phố Trên Mây Hay Mất ĐồCh.3 / 9
Chapter 3

Bậc thang không có người nhận trách nhiệm

Gió luồn qua các khe nẹp gỗ ở Phố Cầu Thang tạo thành những âm thanh rít ráo réo rắt khi Nhi bước nhanh lên tầng ba của khu nhà cheo leo trên sườn đông.

Ở cái góc dốc đứng bậc nhất Vân Thành này, các dãy nhà không mọc trên đất bằng mà bấu chặt vào vách đá lõi và khung dầm thép, xếp tầng tầng lớp lớp tựa như một tổ ong khổng lồ bằng gỗ thông và tôn mạ kẽm. Giao thông huyết mạch ở đây chẳng có đường xe, cũng không có máng trượt cáp lớn, mà hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống thang bộ công cộng đan chéo chằng chịt qua các ban công, gác lửng và hành lang treo. Mỗi bước chân giẫm lên mặt gỗ đều làm váng lên tiếng cót két khô khốc, hòa cùng tiếng gió ràn rạt thổi ngược từ biển mây trắng xốp bên dưới đáy vực.

Mùi không khí ở đây lúc nào cũng nồng nặc mùi hăng hăng của nhựa thông non quét chống ẩm, mùi rỉ sét của những vòng khuyên neo bằng sắt non cắm ngập vào vách đá, và cái vị mằn mặn, ẩm ướt của mây mù đọng lại trên đầu lưỡi. Những ngôi nhà ở sườn đông đón trọn từng cơn cuồng phong từ khoảng không thổi thốc tới, khiến cho toàn bộ hệ thống khung dầm liên tục vặn mình, phát ra những tiếng cọt kẹt trầm đục như xương cốt của một con thú khổng lồ đang ngái ngủ. Người dân Phố Cầu Thang đã quen với việc sống trên những mặt sàn nghiêng vài phân; họ quen với việc đặt chiếc bát ăn cơm lên bàn phải chêm thêm một mẩu vỏ bào, và trẻ con biết bám vào dây vịn trước khi biết chạy nhảy trên mặt đất.

Nhi siết chặt quai túi bưu tá vắt chéo qua ngực, tay kia lần theo mép lan can đã mòn nhẵn dấu tay người. Chiếc túi bằng da thuộc dày cộp đập nhịp nhàng vào hông cô, bên trong chứa mấy bọc linh kiện bọc rơm khô và một phong thư niêm sáp đỏ thắm gửi cho xưởng đóng khung tranh ở tầng áp mái. Dưới chân Nhi, đôi giày đế kếp bám chặt vào từng thanh gỗ bậc thang đã ngả màu xám bạc vì sương gió. Trên vai cô, Ríu xù lớp lông thép mỏng tang, hai đĩa cảm biến bên thái dương xoay tít để giữ thăng bằng trước luồng gió chướng thốc mạnh. Các bánh răng tí hon trong khớp cổ chú chim máy kêu lách cách như tiếng kim đồng hồ chạy nhanh.

“Cảnh báo độ dốc!” Chú chim máy lầm bầm qua chiếc mỏ hợp kim, giọng the thé như tiếng mài dao trên đá ướt. “Gió nghịch hướng bốn mươi lăm hải lý. Đồng hồ áp suất khí quyển đang trồi sụt bất thường, biên độ rung lắc của thanh giằng vượt ngưỡng an toàn sáu phần trăm. Khuyến cáo bưu tá tập sự hạ thấp trọng tâm, nếu không muốn biến thành một kiện hàng không người nhận rơi thẳng xuống tầng mây mù!”

“Yên nào, Ríu,” Nhi nheo mắt trước luồng bụi mây bay tạt vào mặt, hơi lạnh thấm qua lớp khăn len quấn quanh cổ. “Chỉ còn ba nhịp cầu thang nữa là tới căn hộ gác mái nhà bác thợ đóng khung tranh rồi. Giao xong kiện này là xong ca sáng, ta sẽ tạt qua quán trà ấm dưới chân dốc xin bác Bảy một bát nước gừng cho cậu sấy khô mấy cái khớp bánh răng.”

Cô vừa dứt lời, bàn chân phải đang theo quán tính bước tới nhịp thang tiếp theo bỗng chốc hụt vào khoảng không.

Cả cơ thể Nhi chúi nhào về phía trước.

Cảm giác hẫng hụt ập đến đột ngột như thể mặt sàn bằng gỗ lim vững chãi bỗng chốc hóa thành bọt nước tan biến. Tim cô thót lại một cái chết điếng, lồng ngực thắt nghẹn, bản năng nghề nghiệp tích lũy qua hàng trăm chuyến leo trèo khắp các vách đá cheo leo của thành phố lập tức thức tỉnh: các ngón tay gầy guộc của cô quắp chặt lấy thanh giằng gỗ bên hông bằng một phản xạ sinh tồn tuyệt vọng. Cú giật mạnh làm cơ vai cô nhói buốt, chiếc túi da nặng trĩu văng sang một bên mép vực.

Bàn chân phải của Nhi trượt lơ lửng giữa thinh không. Bên dưới lớp đế giày da chỉ là một khoảng trống rỗng toác, sâu hun hút, mở thẳng xuống biển mây cuồn cuộn cuộn sóng cách đó hàng trăm thước. Những cuộn sương mù dày đặc trắng xóa như sữa sôi sục dưới đáy sâu, sẵn sàng nuốt chửng bất cứ thứ gì rơi khỏi mạng lưới dầm giằng của thành phố.

Bậc thang gỗ thứ mười ba nối giữa ban công tầng hai và tầng ba đã biến mất hoàn toàn.

Không có lấy một mẩu dăm gỗ gãy vụn nào sót lại trên các thanh đỡ. Không có dấu vết cưa xẻ của bọn trộm cắp vật liệu, cũng không có dấu hiệu mục mọt hay nứt nẻ do ngậm nước lâu ngày thường thấy ở các công trình bằng gỗ thông vùng sườn đông. Hai đầu mộng nối cắm vào thanh dầm chịu lực nhẵn thín, trơn tru và vuông vức một cách hoàn hảo, như thể vị trí đó chưa từng tồn tại một thanh gỗ lim dày dặn nào suốt mấy chục năm qua. Và bao quanh hai mép rỗng ấy, đọng lại một dải bụi màu bạc mịn màng, phát ra ánh lân tinh mờ nhạt mát lạnh dưới ánh mặt trời buổi sớm—y hệt thứ bột ma quái từng xuất hiện ở biển tên Phố Hoa Gió và dưới đáy lọ mẫu phẩm của tiệm bác Vạn ngày hôm trước.

“Trời đất quỷ thần ơi!” Ríu đập cánh phành phạch, móng vuốt hợp kim cào sột soạt vào lớp vải bạt áo khoác của Nhi để khỏi bị trượt ngã. Đôi mắt cảm biến của nó chớp đỏ liên tục. “Thiếu hụt cấu trúc nghiêm trọng! Một mét khối không gian chịu tải đã bốc hơi! Khoảng hở nguy hiểm chín mươi phân trên trục dọc! Đề nghị lùi lại, khẩn cấp lùi lại!”

Nhi gồng hết sức bình sinh ở cơ bụng, bấu chặt mười đầu ngón tay vào thanh vịn gỗ thô nháp đến mức dằm gỗ đâm buốt vào da thịt, rồi giật mạnh người lùi về bậc thứ mười hai. Chân cô đạp trúng mặt gỗ vững chắc, phát ra một tiếng *huỵch* nghẹn ngào. Toàn thân cô run rẩy ngã ngửa ra sau, lưng đập mạnh vào vách ván ép của căn hộ tầng hai.

Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm chân tóc và chảy ròng ròng dọc sống lưng dù gió lộng buốt giá. Nhi ngồi bệt trên bậc thang số mười hai, lồng ngực phập phồng thở dốc, mắt vẫn dán chặt vào khoảng hở chết người ngay trước mặt. Bậc thang thứ mười ba—nơi hàng ngày hàng trăm lượt cư dân, người gánh than mù, người bán hàng rong và bưu tá vẫn dẫm chân qua lại để sinh tồn—nay chỉ còn là một cái bẫy vô hình dẫn thẳng xuống cõi hư vô của biển mây. Nếu ban nãy cô đi nhanh hơn nửa nhịp, nếu ánh mắt cô lơ đãng nhìn theo một cánh chim hải âu lướt gió, thì giờ này thân xác cô đã trở thành một dấu chấm mờ nhạt chìm sâu vào đáy thung lũng không đáy.

“Chà, phản xạ cũng khá đấy chứ, cô bưu tá mẫu mực!”

Một giọng nói lanh chanh, đượm vẻ đắc thắng và pha chút giễu cợt quen thuộc vang lên từ phía trên đầu.

Kèm theo tiếng rít sắc lẹm của ròng rọc cáp trượt cọ vào dây thép chịu lực, một bóng người từ nhánh thang gió phía trên đu dây tụt thẳng xuống. Cậu ta buông tay khỏi chốt trượt, xoay người một vòng giữa không trung rồi đáp gọn gàng bằng hai mũi giày da lên thành lan can ban công tầng ba, nơi chỉ rộng bằng một gang tay.

Đó là Tít. Cậu nhóc mười bốn tuổi đứng chông chênh trên thanh gỗ hẹp mà người không hề nghiêng ngả, chiếc áo gi-lê bưu tá màu hạt dẻ phanh ngực để lộ chiếc huy hiệu “Bưu tá giao nhanh nhất tháng” bằng đồng sáng loáng cài bên ngực áo. Chiếc mũ nồi vải thô đội lệch để lộ mớ tóc xoăn tít như rễ cây, trên tay cậu ta đung đưa một cuộn dây thừng cứu sinh nhỏ bằng sợi gai mây.

Nhìn thấy vẻ mặt tái mét, hơi thở đứt quãng và hai bàn tay đang run bần bật của Nhi, nụ cười nghênh ngang trên môi Tít bỗng sượng lại đôi chút. Cậu đưa tay gãi đầu, khẽ ho một tiếng lúng túng rồi hạ giọng, chỉ ngón tay xuống mép gỗ đối diện khoảng trống.

Ở đó, một sợi dây vải màu cam bẩn thỉu, dài chưa đầy một gang tay, đang bay phần phật trong gió, được buộc túm vội vã vào một cây đinh gỉ cắm hờ bên hông dầm chịu lực. Giữa luồng gió chướng cuồn cuộn cuốn theo bụi mây trắng xóa mù mịt, sợi dây cam bé tí xíu ấy chẳng khác nào một cọng rác vô nghĩa, hoàn toàn chìm nghỉm giữa khung cảnh xám xịt của vách gỗ mục.

“Cậu... cậu đã phát hiện ra chỗ này từ trước?” Nhi sững sờ. Nỗi sợ hãi vừa trải qua bỗng chốc hóa thành một ngọn lửa giận dữ bùng cháy dữ dội trong lồng ngực. Cô chống tay đứng phắt dậy, bước lên một bậc, ngón tay chỉ thẳng vào khoảng trống rỗng toác. “Cậu biết bậc thang này biến mất từ khi nào?”

“Ờ thì... từ cữ giao hàng sớm tinh mơ, lúc sương mù còn chưa tan,” Tít lí nhí, ánh mắt đảo quanh các giàn phơi quần áo phía sau lưng chứ không dám nhìn thẳng vào mắt Nhi. Cậu giẫm mũi giày lên mặt sàn ban công, làm bộ như đang kiểm tra độ căng của dây cáp. “Lúc đó tớ đang vội chạy chuyến hàng chuyển phát hỏa tốc qua xóm Thợ Mộc. Đơn hàng yêu cầu giao trước khi chuông nhà thờ gõ bảy tiếng. Tớ suýt nữa cũng bước hụt như cậu chứ bộ! May mà tớ bám kịp dây cáp gió.”

“Vậy sao cậu không báo ngay về Bưu Cục Gió? Sao không phát tín hiệu khẩn cấp cho Đội Bảo Trì hay dán biển cấm đi lại?” Nhi siết chặt nắm đấm, hai hàm răng nghiến lại ken két vì tức giận. “Cậu chỉ giăng một mẩu giẻ rách màu cam này rồi bỏ đi ư? Nếu người bước lên đây không phải là tôi, mà là bà cụ gánh rau ở tầng một, hay một đứa trẻ con chạy đi mua dầu hỏa thì sao? Cậu có biết người ta sẽ rơi thẳng xuống đáy vực không hả?”

Tít giật nảy mình trước cơn thịnh nộ hiếm thấy của Nhi. Vẻ lúng túng lộ rõ trên gương mặt lấm lem tàn than mây và vệt mồ hôi của cậu nhóc, nhưng lòng tự ái của một đứa trẻ luôn đứng đầu bảng xếp hạng thành tích bưu tá lập tức trỗi dậy, xui khiến cậu cãi cùn để giữ thể diện:

“Cậu thì biết cái gì mà nói! Cậu chỉ toàn đi mấy tuyến an toàn, giao mấy phong thư tình với bưu thiếp dạo chơi ngắm cảnh! Nếu tớ báo về bưu cục lúc sáng sớm, quy trình phong tỏa tuyến đường của Bà Tâm sẽ lập tức kích hoạt! Cậu lạ gì tính bà ngoại cậu nữa? Họ sẽ treo biển 'Tuyến nguy hiểm', cấm toàn bộ bưu tá đi qua Phố Cầu Thang cho tới khi Đội Thợ Neo đến kiểm tra gõ búa từng cái đinh. Mà cậu thừa biết cái bọn hành chính bên Cục Ngăn Nắp làm việc lề mề thế nào rồi đấy—mất ít nhất ba tiếng chỉ để cử một gã thư ký cầm kẹp hồ sơ đến lập biên bản hiện trường! Như thế thì toàn bộ mười tám kiện hàng hỏa tốc trong ca sáng của tớ sẽ bị hủy lượt giao, chỉ số đúng giờ của tớ sẽ tụt xuống đáy bảng! Tớ đã cẩn thận buộc dây cam đánh dấu rồi còn gì! Ai bảo mắt cậu để trên trán!”

“Cậu buộc một sợi dây cam bé bằng ngón tay giữa luồng gió chướng cuốn bụi mây mù mịt!” Nhi tức đến nghẹn họng, giọng cô run lên bần bật. “Cậu gọi thế là cẩn thận à? Cậu coi cái danh hiệu giao nhanh, coi cái mẩu huy hiệu bằng đồng rẻ tiền của cậu quý hơn cả mạng sống của người đi đường à?”

“Này này, có chuyện gì mà ầm ĩ váng cả góc phố thế hả bọn trẻ?”

Tiếng tranh cãi nảy lửa của hai đứa trẻ lập tức đánh động cư dân xung quanh. Giữa một khu phố nghèo nơi các vách ván mỏng tanh chỉ cách nhau vài tấc, bất kỳ một tiếng thở dài hay một trận cãi vã nào cũng nhanh chóng trở thành buổi biểu diễn công cộng. Những cánh cửa chớp bằng gỗ thông dọc theo dãy hành lang tầng hai và tầng ba lục tục đẩy ra kèm theo những tiếng cót két khô khốc.

Bác thợ may ở phòng 21 thò mái đầu bù xù chưa chải ra ngoài, khóe miệng còn ngậm một sợi chỉ đỏ và chiếc thước dây lòng thòng trên cổ; bà bán cá khô ở phòng 22 tay lăm lăm chiếc dao làm bếp dính đầy vảy cá lấp lánh; rồi ông giáo già dạy nhạc ở góc trong cùng tầng ba cũng lập cập chống cây gậy gỗ mun bước ra mép hiên, chiếc kính lão trễ xuống tận chóp mũi.

Nhìn thấy khoảng trống rỗng toác mở toang hoác giữa hai tầng nhà, nối thẳng xuống vực sâu hun hút không đáy, ai nấy đều biến sắc, đồng thanh hốt hoảng kêu la.

“Trời cao đất dày ngó xuống mà coi! Cái bậc thang gỗ lim dày năm phân đâu mất rồi?”

“Hồi nửa đêm tôi đi đổ bô rác nó vẫn còn nằm sờ sờ ra đó cơ mà! Gỗ lim nguyên khối bắt bốn con bu-lông mười hai ly, ai mà cưa trộm cho nổi?”

“Mau, mau tìm cái gì chắn lại không có người lọt chân rớt xuống biển mây bây giờ! Con Hai nhà tôi sắp đi chợ về rồi!”

Một cảnh tượng hỗn loạn đậm chất Phố Cầu Thang nhanh chóng diễn ra trước mắt Nhi. Sự hoảng hốt ban đầu nhanh chóng nhường chỗ cho thói quen ứng phó chắp vá của những người dân quen sống trên bờ vực. Bác thợ may và hai người thợ phụ từ xưởng đóng giày bên cạnh vội vã chạy vào bếp, hò dô ta khiêng ra một chiếc bàn ăn bốn chân bằng gỗ thông đã cũ mòn, mặt bàn loang lổ vết dầu mỡ và khét lẹt dấu tích của những đáy nồi nóng.

Họ đặt nghiêng chiếc bàn, lựa thế rồi kê tạm mặt bàn nằm gác ngang qua miệng vực sâu hun hút, nối từ mép chiếu nghỉ tầng hai vắt lên bậc thang thứ mười bốn của tầng ba. Chiếc bàn ăn trở thành một cây cầu vượt tạm bợ, cong vênh, các khớp chân bàn rung lên bần bật mỗi khi gió thốc qua. Gió từ biển mây lùa qua gầm bàn rỗng tuếch phát ra những tiếng *ù... ù...* u uất và rợn người, tựa như hơi thở của một loài quái vật đang ẩn mình dưới đáy sâu chờ chực con mồi trượt chân.

Thế nhưng, điều trớ trêu là ngay khi chiếc bàn vừa được kê xong, thay vì cử người đứng ra canh giữ cảnh báo hay gọi thợ mộc đến đo đạc sửa chữa dứt điểm, một cuộc khẩu chiến ầm ĩ lập tức bùng nổ giữa các hộ dân xung quanh.

“Bậc thang này nối từ chiếu nghỉ tầng hai lên, nó nằm sát sạt ngay cửa phòng 21 nhà bác thợ may, bác phải bỏ tiền túi ra mà mua gỗ đền bậc mới chứ!” Bà bán cá khô gào lên the thé, vung vẩy chiếc dao làm bếp trong không khí làm vảy cá bay lả tả. “Ngày nào khách khứa đến may đồ cũng dẫm chân thình thình qua đó, bác hưởng lợi nhiều nhất thì bác phải chịu trách nhiệm!”

“Bậy nào! Ăn nói hồ đồ vừa chứ!” Bác thợ may đỏ mặt tía tai phản pháo ngay tắp lự, nhổ phì sợi chỉ đỏ trong miệng ra sàn gỗ. “Cái bậc thứ mười ba này nằm ở nửa trên của nhịp thang, cách sàn tầng ba có ba bước chân, nó thuộc phạm vi sử dụng và không gian của mấy hộ tầng ba chứ liên quan quái gì đến tầng hai chúng tôi! Hơn nữa, đây là lối đi công cộng của cả dãy phố mười mấy hộ, ai đi chợ, ai gánh nước cũng bước qua đây cả! Phải trích quỹ bảo trì công cộng của Cục Ngăn Nắp ra mà đóng lại!”

“Quỹ công cộng cái con khỉ khô!” Ông giáo già dạy nhạc ho sù sụ một tràng dài, đưa đầu gậy gỗ mun gõ cồm cộp xuống sàn gỗ cót két để dẹp trật tự. “Các người quên hết rồi à? Sổ bộ địa chính cuối năm ngoái đã gạch tên đoạn cầu thang này khỏi danh mục hạ tầng thành phố rồi! Lý do là vì không có hộ nào ở cái khu dốc này chịu đứng tên đóng phí bảo dưỡng neo gió hàng quý cả! Nhà tầng hai thì bảo nhà tầng ba hưởng gió, nhà tầng ba thì bảo nhà tầng hai chiếm lối đi. Các người đùn đẩy trách nhiệm qua lại, giờ đoạn cầu thang này thành đất vô thừa nhận trên giấy tờ rồi! Cục Ngăn Nắp họ không hơi đâu mà rót một xu tiền gỗ cho thứ không có tên trong sổ!”

“Thế thì cứ để cái bàn đấy mà đi!” Một gã thợ giầy gắt gỏng nói xen vào. “Ai qua thì cẩn thận bước khẽ cái chân là được, việc gì phải cãi nhau cho nhức đầu!”

Nhi đứng nép bên mép lan can, nhìn lớp bụi bạc mịn màng bao quanh hai mép mộng rỗng đang dần dần bị những cơn gió chướng cuốn bay, hòa tan vào không khí đặc quánh của buổi sớm. Lòng cô trĩu nặng một cảm giác ớn lạnh quen thuộc đến rùng mình.

Quả nhiên là như thế.

Một bậc thang bị bỏ quên trong sổ bộ địa chính. Một kết cấu hạ tầng công cộng bị biến thành khoảng trống vô thừa nhận giữa những tranh chấp hành chính vụn vặt và sự ích kỷ của con người. Và rồi, cái cỗ máy vô hình nào đó đang vận hành dưới lòng thành phố này—thứ cơ chế tàn nhẫn và lạnh lùng mà cô từng lờ mờ nhận ra qua biển tên phố Hoa Gió—đã thẳng tay thu gom nó đi. Nó biến một khoảng trống trên giấy tờ hành chính thành một khoảng trống vật lý chết người giữa đời thực. Nếu người ta không thừa nhận sự tồn tại của nó trên văn bản, thành phố sẽ đơn giản là xóa bỏ nó khỏi thực tại.

Tít đứng trên thành lan can tầng ba, nhìn đám đông hàng xóm bắt đầu quay sang cãi cọ về chuyện tiền đổ rác và phí dây cáp. Dường như nhận thấy cơ hội tốt để lẩn trốn khỏi mớ rắc rối phiền toái này, cậu nhóc vội vã chỉnh lại quai túi da, hạ thấp trọng tâm, nhún chân định bám vào sợi cáp trượt gió để vọt đi tiếp sang sườn tây.

“Đứng lại đó, Tít!”

Nhi quát to một tiếng đanh gọn. Không một chút do dự, cô lấy đà nhảy phắt qua mặt chiếc bàn ăn gỗ thông ọp ẹp đang rung bần bật trên miệng vực sâu. Chiếc bàn kêu *rắc* một tiếng khô khốc dưới sức nặng của cô bé bưu tá, nhưng Nhi đã kịp lướt qua, vươn cánh tay gầy guộc tóm chặt lấy vạt áo gi-lê của Tít ngay khi cậu ta vừa chạm tay vào chốt cáp.

Tít bị giật ngược trở lại sàn ban công tầng ba, loạng choạng suýt ngã. Cậu nhóc bực bội hất mạnh tay Nhi ra, gắt lên:

“Cậu điên à Nhi? Tớ còn năm kiện hàng phải giao trước buổi trưa cho khu chợ cơ khí! Cậu đừng có cậy có bà ngoại làm Trưởng Bưu Cục rồi muốn hạch sách, giữ chân ai thì giữ! Cả cái thành phố này ngày nào chả mất đồ? Hôm nay mất cái xô nước, ngày mai mất biển tên đường, rơi mất một thanh gỗ thì người ta bắc cái bàn qua là xong, có chết ai đâu mà làm ầm lên? Cậu chỉ biết cắm mặt vào mấy trò bới lông tìm vết nhỏ nhặt, rỗi hơi đi lo chuyện bao đồng, làm như mình là thanh tra thành phố không bằng!”

“Nhỏ nhặt ư?” Giọng Nhi run lên vì phẫn nộ, đôi mắt đen láy nhìn trừng trừng vào mặt Tít, ánh lên sự kiên quyết không thể lay chuyển. “Nếu ban nãy tớ không bám kịp thanh lan can thì giờ này tớ đã tan xác dưới đáy mây rồi! Cậu gọi đó là nhỏ nhặt à? Cậu nhìn xuống dưới chân cậu xem, cái vực đó sâu bao nhiêu thước? Quy tắc đầu tiên được khắc trên cổng Bưu Cục Gió là gì? Là 'An toàn của mạng lưới địa chỉ là sinh mạng của người giao liên'! Cậu vứt nó cho gió thổi rồi sao? Cậu vì mấy điểm thi đua rách nát mà coi rẻ tính mạng đồng nghiệp à?”

Ríu trên vai Nhi cũng xù tung toàn bộ lông kim loại, bay vè vè quanh đầu Tít, phát ra âm thanh cảnh báo lách cách chói tai:

“Điều ba, khoản bốn Quy chế Vận hành Bưu cục Gió: Cố tình che giấu chướng ngại vật, gây nguy hại nghiêm trọng đến hành lang giao liên sẽ bị phạt giam túi phát thư ba ngày, tước phù hiệu và ghi hạnh kiểm xấu vào hồ sơ nghiệp vụ!”

Gương mặt Tít đỏ bừng lên vì xấu hổ, bẽ bàng và tức giận. Cậu nghiến răng trèo trẹo, hai nắm đấm siết chặt, trừng mắt nhìn Nhi. Nhưng trước sự cương quyết đến cùng của cô bé bưu tá tập sự, và trước những ánh mắt tò mò, soi mói của đám đông cư dân đang tụ tập quanh chiếc bàn ăn gãy chân, Tít hiểu rằng mình không thể nào giũ bỏ trách nhiệm được nữa. Nếu cậu bỏ chạy bây giờ, Nhi hoàn toàn có thể lập biên bản đơn phương và tội trạng của cậu sẽ còn nặng nề hơn gấp bội.

Cậu nhóc hậm hực giật mạnh quai túi, nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống khe sàn gỗ:

“Được thôi! Về thì về! Để xem Bà Tâm phân xử ra sao! Tớ chỉ làm tròn trách nhiệm giao hàng đúng giờ, tớ chẳng làm gì sai cả!”

***

Bưu Cục Gió vào giữa buổi sáng luôn ngập tràn trong một thứ hỗn âm bận rộn và quen thuộc: tiếng các ống khí nén bằng đồng chuyển thư liên tục khạc ra những ống trụ kim loại chứa điện tín với những tiếng *phụt... bộp* đều đặn; tiếng các con dấu gỗ tròn nện chan chát xuống giấy niêm phong sáp ong; tiếng bánh xe của những chiếc xe đẩy chở đầy bao kiện rít ken két trên sàn đá hoa cương đã mòn vẹt; và tiếng hắt hơi liên tục của các bác bưu tá già vì hít phải bụi mây lẫn phấn hoa gió bám đầy trên các kiện hàng từ các trạm neo xa xôi gửi về. Mùi giấy ẩm, mùi mực in dầu thông và mùi kim loại nóng hòa quyện vào nhau tạo nên một bầu không khí ngột ngạt nhưng tràn đầy sức sống của một trung tâm thông tin huyết mạch.

Thế nhưng, bước qua cánh cửa gỗ sồi dày dẫn vào văn phòng Trưởng bưu cục ở tầng hai, mọi tiếng ồn ào dường như bị nuốt chửng hoàn toàn. Không khí bên trong tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng cát mịn chảy róc rách trong chiếc đồng hồ đo ca trực bằng đồng đặt trên bệ cửa sổ, và tiếng ngòi bút sắt cào sột soạt trên mặt giấy da.

Bà Tâm ngồi sau chiếc bàn làm việc đồ sộ đóng bằng gỗ sồi sẫm màu. Mái tóc hoa râm của bà được búi gọn gàng sau gáy, cố định bằng một chiếc trâm kim loại có hình cánh chim bưu chính—biểu tượng của bốn mươi năm gắn bó với ngành giao liên thành phố. Đôi mắt sắc sảo sau cặp kính lão gọng đồi mồi lướt qua hai đứa trẻ đang đứng nghiêm trang trước bàn.

Nhi đứng thẳng lưng, quai túi da vẫn giữ chặt trước ngực, gương mặt lộ rõ vẻ bướng bỉnh nhưng ánh mắt kiên định không hề né tránh. Tít đứng cạnh bên, đầu hơi cúi thấp, hai ngón tay cái bồn chồn mân mê mép túi da, vẻ ngổ ngáo ngoài phố đã biến mất sạch, thay vào đó là sự thấp thỏm lo âu của một đứa trẻ sắp bị lột trần lỗi lầm.

Trên mặt bàn gỗ bóng loáng, Ríu đậu ngoan ngoãn cạnh lọ mực pha lê, đã tự động thu cánh và chuyển sang chế độ tiết kiệm năng lượng, chỉ có đôi mắt cảm biến thỉnh thoảng khẽ nhấp nháy ánh xanh lục nhạt.

Bà Tâm chậm rãi tháo kính lão xuống, đặt cạch một tiếng nhẹ tênh lên tập hồ sơ báo cáo sự cố vừa được viết vội bằng nét chữ run rẩy của Nhi. Âm thanh nhỏ bé ấy vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch lại khiến cả Nhi lẫn Tít khẽ giật mình thót thót.

“Một mẩu dây vải màu cam,” Bà Tâm cất tiếng. Giọng bà trầm, ấm nhưng mang một sức nặng vô hình khiến người nghe cảm thấy lồng ngực mình như bị nén lại. Bà nhìn thẳng vào Tít, ánh mắt khoan xoáy như muốn xuyên thấu tâm can cậu bé. “Và cậu cho rằng thế là đủ để hoàn thành trách nhiệm của một bưu tá khi phát hiện hạ tầng di chuyển bị đứt gãy?”

Tít lí nhí, hai vành tai đỏ ửng như phải bỏng:

“Cháu... cháu sợ chậm giờ giao hàng đợt sáng ạ. Thưa Trưởng bưu cục, các kiện hàng đó là linh kiện hỏa tốc cho xưởng rèn... Cháu nghĩ người lớn trong khu phố sẽ nhìn thấy sợi dây và biết đường tránh...”

“Bưu tá của Bưu Cục Gió không sống bằng chữ ‘nghĩ’ mơ hồ đó, Tít,” Bà Tâm nghiêm khắc cắt lời. Ánh mắt bà nghiêm nghị và phẳng lặng tựa như mặt hồ mùa đông không một gợn sóng. “Tốc độ là phẩm chất của bưu tá, nhưng kỷ luật an toàn mới là sinh mệnh của cả mạng lưới giao liên này. Cậu hãy nhớ cho kỹ: một kiện hàng đến chậm mười lăm phút, người ta có thể bực bội, có thể càu nhàu; nhưng một bước chân hụt xuống biển mây vì sự cẩu thả của cậu, không có bất kỳ lời xin lỗi hay bản kiểm điểm nào chuộc lại được mạng người. Cậu giấu giếm sự cố để giữ lấy cái danh hiệu cá nhân, giữ lấy mấy con số thi đua trên bảng vàng, đó không phải là sự nhanh nhẹn hay tận tụy. Đó là sự vô trách nhiệm hèn nhát.”

Tít cắn chặt môi dưới, hai bàn tay siết lại, cúi gằm mặt xuống đất để giấu đi sự bẽ bàng:

“Dạ... cháu biết lỗi rồi ạ.”

“Tước cờ bưu tá nhanh nhất tuần này của cậu,” Bà Tâm dứt khoát ra lệnh, với tay kéo cuốn sổ trực nhật bằng da đen dày cộp về phía mình, cầm cây bút sắt gạch một đường dứt khoát vào cột thành tích của Tít. “Trong ba ngày tới, chuyển cậu sang phụ trách tuyến giao công văn và tài liệu nội bộ ở khu bằng phẳng quanh quảng trường trung tâm. Tịch thu quyền sử dụng ròng rọc cáp trượt. Mỗi sáng phải nộp báo cáo kiểm tra trang thiết bị an toàn cá nhân cho ban trực nhật trước nửa tiếng. Có phục không?”

Tít nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng nghẹn lại:

“Dạ... phục ạ.”

Nhi đứng bên cạnh khẽ thở phào một hơi trong bụng. Cảm giác nhẹ nhõm len lỏi trong lòng, khóe môi cô hơi nhếch lên một tia thỏa mãn nho nhỏ vì công lý đã được thực thi và kẻ coi thường mạng sống người khác đã phải chịu phạt thích đáng.

Thế nhưng, nụ cười thầm kín của cô bé chưa kịp thành hình thì ánh mắt sắc như dao cau của bà ngoại đã lập tức quay ngoắt sang phía cô. Ánh nhìn ấy lạnh lẽo đến mức làm nụ cười của Nhi tắt ngấm ngay tức khắc.

“Còn cô nữa, Nhi.”

Nhi giật thót mình, vội vàng siết chặt hai bắp chân, đứng thẳng người hơn:

“Cháu... cháu làm đúng quy trình mà bà! Cháu phát hiện sự cố nguy hiểm, cháu đã dùng dây thừng cảnh báo tạm thời và đưa người có lỗi về trình báo ngay lập tức...”

“Cô làm đúng quy trình xử lý chướng ngại vật ngẫu nhiên, nhưng lại vi phạm nghiêm trọng quy chế lộ trình cá nhân,” Bà Tâm gõ nhẹ ngón tay trỏ mang chiếc nhẫn bưu chính bằng bạc xuống mặt bàn gỗ sồi, từng tiếng *cốc... cốc* vang lên đanh gọn. “Sáng nay, tuyến phân công trong lệnh điều động của cô là giao linh kiện cơ khí ở Phố Hoa Gió và nhận mẫu phẩm tại Chợ Mây Vá. Hai địa điểm đó nằm hoàn toàn ở sườn tây thành phố. Tại sao cô lại có mặt ở nhánh thang số mười ba của Phố Cầu Thang bên sườn đông vào đúng giờ cao điểm gió chướng?”

Nhi cứng họng, mắt chớp chớp bối rối:

“Cháu... cháu thấy tiện đường nên đi ngang qua...”

“Đừng có giở trò qua mặt tôi, Nhi,” Bà Tâm nheo mắt lại, đôi mắt từng trải qua hàng chục năm biến động của thành phố dường như đọc thấu từng ý nghĩ ngổn ngang trong đầu đứa cháu gái. “Cô đang tự ý rà soát các tuyến đường lệch giờ biểu mà không ghi lịch trình vào sổ trực ban. Cô đi lùng sục các điểm bất thường, ghi chép riêng tư vào sổ tay mà không báo cáo cấp trên. Cô nghĩ cô là ai? Cô nghĩ một mình cô với một con chim máy pin yếu, sắp hết hạn bảo hành là đủ để đóng vai người hùng đi sửa chữa cả cái thành phố rệu rã này sao?”

Nhi cúi gục đầu xuống, hai má nóng bừng. Bàn tay cô bất giác luồn vào túi áo khoác, siết chặt lấy góc bìa của cuốn sổ da cừu giấu sâu dưới đáy túi. Trong cuốn sổ ấy là những ghi chép tỉ mỉ về biển tên Phố Hoa Gió biến mất, về lớp bụi bạc ở đáy lọ của bác Vạn, và giờ đây là bậc thang thứ mười ba. Cô không dám cãi lại nửa lời, bởi từng câu từng chữ của bà ngoại đều đánh trúng phóc tim đen của cô.

“Tự ý rời bỏ tuyến giao hàng được phân công mà không có sự chấp thuận của trực ban: phạt quét dọn sảnh phân loại thư hai buổi tối liên tiếp sau ca trực,” Bà Tâm lạnh lùng đưa ra phán quyết, không hề có một chút thiên vị nào dành cho người nhà.

Nhi ỉu xìu, hai vai sụp xuống:

“Dạ... cháu rõ rồi ạ.”

Căn phòng làm việc lại chìm vào sự im lặng nặng nề trong vài giây. Chỉ còn tiếng cát chảy róc rách trong chiếc đồng hồ thủy tinh và tiếng gió thổi đập vào cánh cửa chớp bên ngoài.

Bà Tâm ngả lưng ra sau ghế, ánh mắt nghiêm nghị của người chỉ huy dần dần dịu lại khi nhìn hai đứa trẻ mười ba, mười bốn tuổi đang đứng trước mặt mình. Chúng là những đứa trẻ sinh ra và lớn lên giữa một thành phố cheo leo trên mây, nơi mỗi ngày trôi qua đều có những thứ vô lý biến mất, nơi những khoảng trống cơ học đang âm thầm lan rộng như một căn bệnh ung nhọt, trong khi những người lớn thì quá bận rộn với cơm áo gạo tiền, với những bản báo cáo chỉ số thành tích để có thể nhận ra sự nguy hiểm đang tích tụ từng giờ.

Sự nghiêm khắc của người Trưởng bưu cục dần nhường chỗ cho nỗi âu lo sâu sắc, khắc khoải của một người bà, một người giám hộ đang phải chứng kiến đứa cháu gái duy nhất dấn thân vào một trò chơi nguy hiểm mà nó chưa thể hiểu hết hậu quả.

Bà Tâm thở dài một hơi thật khẽ, tiếng thở dài như trút bỏ gánh nặng của cả một buổi sáng căng thẳng. Bà mở ngăn kéo khóa dưới cùng của bàn làm việc, lục lọi trong đó một lát rồi rút ra một vật bằng kim loại.

Đó là một tấm thẻ bài bằng hợp kim đồng mây hình chữ nhật, bề mặt có khắc nổi biểu tượng chiếc phong bì có đôi cánh dang rộng, bao quanh bởi một dải hoa văn răng cưa tinh xảo—thẻ cấp quyền khảo sát hiện trường đặc biệt, thứ chỉ dành riêng cho những bưu tá kỳ cựu bậc năm trở lên.

Bà đặt tấm thẻ lên mặt bàn, dùng ngón tay đẩy nhẹ nó về phía Nhi. Ánh đồng mây phản chiếu lấp lánh dưới ánh nắng rọi qua khung cửa kính.

Nhi ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt đen mở to hết cỡ vì kinh ngạc:

“Bà... đây là...?”

“Tôi cấp quyền tạm thời cho cô được kiểm tra các điểm bất thường phát sinh trên các tuyến giao hàng,” Bà Tâm nói chậm rãi, từng lời từng chữ rành rọt như đóng đinh vào không gian. “Tôi không mù, Nhi à. Tôi biết cô nhìn thấy những khoảng trống mà người khác chọn cách nhắm mắt làm ngơ. Tôi biết cô đang tìm kiếm cái gì. Nhưng cô phải ghi nhớ lấy điều này: lòng dũng cảm mà không có kỷ luật đi kèm thì chỉ là sự liều lĩnh ngu xuẩn, và ở thành phố này, kẻ liều lĩnh sẽ rơi xuống biển mây trước khi kịp tìm ra câu trả lời.”

Bà Tâm đứng dậy khỏi ghế. Dáng người bà cao ráo, vững chãi như một cột mốc chỉ đường. Bà chống hai bàn tay xương xẩu lên mặt bàn, nhìn thẳng vào mắt cháu gái, vạch ra những ranh giới dứt khoát và không thể thương lượng:

“Tôi đặt ra ba lằn ranh đỏ cho cô. Nếu muốn giữ tấm thẻ này, cô phải tuân thủ tuyệt đối:

Thứ nhất: Mọi lộ trình kiểm tra, dù chỉ là lệch tuyến một đoạn ngắn, đều phải được lập thành văn bản chi tiết, ghi rõ mục đích và nộp lại bàn trực nhật trước khi bước chân ra khỏi cổng bưu cục.

Thứ hai: Tuyệt đối không được hành động đơn độc. Đến bất kỳ khu vực khả nghi nào cũng phải có người hỗ trợ đi cùng—dù đó là một thợ máy như thằng Kha hay một bưu tá khác có kinh nghiệm thực địa.

Và thứ ba—đây là điều nghiêm ngặt nhất, cấm kỵ tuyệt đối: Không được tự ý chui vào các khoang cơ cấu máy móc đang vận hành dưới nền thành phố, không được bén mảng tới các trạm neo gió tầng sâu hay các trục xích chịu lực chính.

Nếu cô dám vi phạm dù chỉ một nửa điều trong ba điều này, tôi sẽ tịch thu túi bưu tá của cô vĩnh viễn, tước bỏ tư cách giao liên và nhốt cô trong phòng lưu trữ hồ sơ để gõ máy chữ cho đến năm mười tám tuổi. Cô có nghe rõ chưa?”

Trái tim Nhi đập thình thịch liên hồi trong lồng ngực. Một luồng cảm xúc trào dâng—vừa phấn khích tột độ, vừa xúc động nghẹn ngào trước sự thấu hiểu ngầm của bà ngoại. Cô biết đây là nhượng bộ lớn nhất mà một Trưởng bưu cục nguyên tắc như bà có thể dành cho cô.

Nhi vội vàng vươn cả hai tay, cẩn thận đón lấy tấm thẻ đồng mây mát lạnh và nặng trĩu. Cô áp nó vào lòng bàn tay, gật đầu lia lịa:

“Cháu nghe rất rõ rồi ạ! Cháu xin hứa sẽ tuân thủ tuyệt đối ba điều bà dạy! Cháu sẽ không làm bà thất vọng đâu ạ!”

“Được rồi. Biết thế là tốt. Cả hai đứa lui ra ngoài làm việc đi,” Bà Tâm xua xua tay, nét mặt lại trở về vẻ nghiêm nghị thường ngày. Bà ngồi xuống chiếc ghế xoay, đeo kính lão lên sống mũi và lại cắm cúi ngòi bút vào chồng công văn dở dang, như thể cuộc đối thoại vừa rồi chưa từng diễn ra.

Nhi và Tít đồng thanh cất tiếng dạ ran rồi xoay người, rón rén bước từng bước ra khỏi phòng.

Khi cánh cửa gỗ sồi nặng nề khép lại sau lưng với một tiếng *cạch* khô khốc, bầu không khí ngột ngạt dường như tan biến. Tít lập tức thở hắt ra một hơi thật dài đầy bực dọc. Cậu nhóc không thèm liếc nhìn Nhi lấy một cái, sải những bước chân dài và gấp gáp về phía dãy tủ khóa cá nhân bằng sắt đặt ở cuối hành lang phân loại để cất đồ nghề.

Cậu nhóc vùng vằng giật mạnh cánh cửa tủ sắt kêu *loảng xoảng*, quẳng mạnh chiếc mũ bưu tá và cuộn dây gai vào trong góc tủ. Rõ ràng, việc bị tước cờ thi đua và bị giáng xuống đi giao thư nội bộ ở khu bằng phẳng là một đòn giáng nặng nề vào niềm kiêu hãnh của cậu bưu tá nhanh nhất tháng.

Nhi bước chậm rãi phía sau, tay mân mê tấm thẻ đồng mây cất trong túi áo. Nhìn bóng lưng hậm hực của Tít, cô cảm thấy cơn giận ban nãy đã vơi đi nhiều. Cô định bụng sẽ bước tới nói với cậu bạn đồng nghiệp một vài lời nhẹ nhàng, giải thích rõ hơn về mối nguy hiểm của bậc thang gãy để làm dịu bớt không khí căng thẳng giữa hai đứa.

Nhi tiến lại gần dãy bàn phân loại cá nhân của Tít, nơi cậu ta thường chuẩn bị hàng trước mỗi chuyến đi. Thế nhưng, khi cô vừa bước tới cách mép bàn gỗ một bước chân, luồng gió mạnh từ chiếc quạt thông gió gắn trên trần nhà vô tình thổi lốc qua, lật tung mép bìa của cuốn sổ giao nhận bọc vải bạt sờn rách mà Tít đang để mở hờ trên mặt bàn.

Trang giấy trắng tinh của ca trực sáng nay đập vào mắt Nhi.

Đôi mắt tinh tường của một người bưu tá tập sự lập tức dừng lại ở góc dưới cùng của trang giấy mới toanh.

Ở đó, ngay bên dưới danh sách mười tám kiện hàng hỏa tốc đã được đánh dấu tích hoàn thành bằng mực xanh, có một dòng địa chỉ vừa mới được ghi vào sáng sớm nay. Nhưng thay vì một chữ ký nhận thông thường, dòng chữ ấy lại bị ai đó dùng bút mực đỏ gạch xóa một cách điên cuồng, vội vã và cuống cuồng đến mức ngòi bút kim loại sắc nhọn đã cào rách toạc cả thớ giấy bạt dày dặn:

*“Kiện số 04-NL/Neo7 — Chốt hãm...”*

Toàn bộ phần địa chỉ người nhận và tên cơ quan tiếp nhận phía sau đã bị bôi đen kịt bởi những vệt mực đỏ lem nhem chồng chéo lên nhau như muốn xóa sạch mọi dấu vết, còn ngay bên cạnh khoảng rách của trang giấy là một dấu chấm hỏi to tướng được vẽ nguệch ngoạc bằng mực đỏ thẫm.

Trước khi rời bưu cục, Nhi nhận thấy góc sổ giao nhận của Tít có một dòng địa chỉ bị bôi xóa vội vã bằng mực đỏ.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories