Chuyến đò không nhận lời hứa
Sương mù dày đặc tựa hồ một tấm lụa ẩm ướt chưa ráo nước hồ, trùm kín như nêm lên khắp mặt nước Cửu Hà khi Nam và Kỷ Vân luồn mình qua những kiện hàng chất cao như thành lũy trên cầu tàu của Liên hội Vận Thương.
Hơi ẩm sớm mai mặn mòi, tanh nồng mùi rêu nhớt quyện lẫn với mùi dầu trẩu quét vỏ thuyền ngai ngái, mùi cói rạ ẩm mốc từ những sạp bè kéo dài ven bờ và mùi bùn phù sa bốc lên ngột ngạt từ những bãi bồi sau con nước ròng. Cả bến trạm Bến Lau sớm nay chìm lỉm trong thứ ánh sáng nhờ nhờ, bàng bạc và xám xịt như lớp tro tàn nằm đáy một lò nung gạch đã nguội ngắt tự đêm qua. Sau những biến cố kinh hoàng ở sân phơi vải của phường thợ nhuộm, khắp các ngõ ngách dẫn ra triền sông đều vương vãi bột vôi trắng dùng rải trừ tà khí, lẫn lộn cùng những vết ủng da đóng đinh sắt sâu hoắm của toán sai nha áo đen thuộc Ty Chấp Khế.
Mỗi bước sải chân của Nam đều kéo theo một cơn đau xé rách nơi khoang ngực. Dư chấn kinh hoàng từ vụ nổ bức áp linh lực khi cọc câu linh bị cưỡng bức phá vỡ chiều hôm trước vẫn đang âm ỉ cắn xé; hai bên mạn sườn anh nhức nhối, buốt rát như thể từng giàn xương sườn bị những tảng đá mồ côi ngoài ghềnh đè nghiến lấy. Khí lạnh luồn qua những đường rách trên manh áo chàm tả tơi phả thẳng vào da thịt, làm vết thương tấy đỏ lên từng chặp. Dẫu vậy, hai cánh tay anh vẫn ghì chặt lấy bọc vải bạt dầu thô dày cộp trước bụng, nơi cất giấu cuốn Sổ Đối Chiếu—vật chứng độc nhất còn sót lại có thể vạch trần sổ sách ma quỷ của trạm kiểm vận.
Kỷ Vân bám sát ngay phía sau anh, bước chân cô lướt trên những thanh tà vẹt gỗ trơn trượt nhẹ bẫng tựa một bóng ma. Tấm áo tơi đan bằng lá gồi rừng rộng thùng thình trùm kín từ cổ xuống tận gót chân, che lấp toàn bộ dáng người dong dỏng cao và thanh trường kiếm dài quấn vải bố đeo chéo sau lưng. Chiếc nón mê rách mép sụp xuống rất thấp, khéo léo giấu kín nửa khuôn mặt chằng chịt những lằn sẹo lồi co rúm—di chứng tàn khốc của một lần linh lực phản phệ đốt cháy kinh mạch thuở cô còn phục vụ nơi cửa nha môn. Mỗi khi một bóng phu khuân vác đẩy chiếc xe cút kít kẽo kẹt lướt qua màn sương bảng lảng, bàn tay quấn đầy băng vải thô của Kỷ Vân lại khẽ siết chặt lấy đốc kiếm giấu dưới lớp lá gồi, các đốt ngón tay gồ lên trắng bệch, không để lọt một tiếng động nào.
"Thuyền buôn hai buồm neo ở cầu tàu số ba," Nam ghé sát tai Kỷ Vân, thì thầm qua kẽ răng. Hơi thở anh phả ra thành những vệt khói trắng mỏng manh rồi nhanh chóng tan biến vào màn sương muối ẩm lạnh. "Đó là thuyền số hiệu 772, mạn thuyền đóng bằng gỗ kiền kiền hun khói, mũi khắc phù hiệu đầu chim ưng ngậm đồng tiền xâu dải lụa đỏ của Tạ Bách. Trừ lão ta ra, khắp bến sông này không một chủ thuyền nào đủ gan góc nhổ neo chạy thẳng về hướng phủ Tĩnh Giang vào đúng ngày chuyển lệnh hành chính."
Kỷ Vân không đáp lời. Đôi mắt sắc lẹm như mũi dao nhọn dưới vành nón rách chỉ khẽ đảo qua một lượt quanh bến trạm. Cách đó chừng vài chục bước chân, bên dưới mái hiên rách của chòi canh bến, một toán tuần đinh bến trạm mặc áo chẽn nẹp đồng đang xúm xít quanh một chậu than củi lép bép tàn đỏ, mải mê chuyền tay nhau bầu rượu ngô để xua đi cái rét thấu xương của con nước đầu đông, hoàn toàn không để mắt tới hai bóng người rách rưới đang hòa lẫn vào dòng phu phen bốc dỡ sớm.
Hai người lách qua một dãy rương gỗ sồi bọc đai sắt gỉ sét, bước chân dẫm lên tấm ván gỗ lim dày bắc nối từ bờ kè đá hoa cương trơn tuột sang mép mạn thuyền. Chiếc thuyền buôn hai buồm sừng sững dập dềnh theo từng đợt sóng đục ngầu phù sa; những thớ gỗ mun dày dặn nơi thân thuyền đã tróc lở nhiều mảng sơn đen lớn do va quẹt liên miên vào các bến đá dọc triền sông Cửu Hà qua năm tháng phong sương. Trên mặt sàn boong trước ngổn ngang những kiện cói bện chặt đựng thảo dược khô, rơm bện lót đáy chống ẩm, và mấy thùng sắt niêm phong kín kẽ bằng sáp xám mang dấu triện của Liên hội Vận Thương.
Cửa khoang lái ở tầng lửng khép hờ, để lộ một khe sáng vàng vọt hắt ra nền ván gỗ ướt sũng. Từ bên trong, mùi thuốc rê lào xắt nhuyễn phảng phất hương thơm gắt nồng xộc thẳng ra ngoài, quyện chặt lấy vị cay nồng của quế chi hun khói và mùi da thuộc ngâm mỡ cá.
Nam nén một tiếng ho khan nghẹn ứ nơi cổ họng, đưa bàn tay run rẩy gõ ba tiếng dứt khoát lên mặt cánh cửa gỗ thông đã ngả màu xám xịt. Không chờ đợi tiếng vọng đáp lại từ bên trong, anh đẩy nhẹ then cài bước vào. Kỷ Vân lách mình theo sát gót, xoay người kéo sập cánh cửa gỗ lại, cài then sắt nặng trịch để ngăn màn sương buốt giá và những cặp mắt tò mò ngoài boong tàu.
Không gian trong khoang lái chật hẹp, thấp tè và nồng nặc mùi giấy tờ ẩm mốc. Một ngọn đèn dầu hạt cải treo đung đưa trên xà ngang bằng gỗ nghiến tỏa ra thứ ánh sáng đỏ quạch, tù mù, soi rõ từng lớp bụi lơ lửng trong không khí. Ngồi sau chiếc bàn tính bằng đồng thau nặng trịch kê sát vách thuyền là một người đàn ông trạc ba mươi sáu tuổi. Gã có vóc người đẫy đà, vai rộng bè bè nhưng từng thớ thịt bắp tay lại săn chắc như cuộn dây cáp kéo buồm; gã khoác chiếc áo giáp nhẹ lót lông cừu bên trong manh áo lụa màu nâu sẫm đã sờn rách ở cổ tay áo. Đó chính là Tạ Bách—tay buôn kỳ cựu khét tiếng lọc lõi của Liên hội Vận Thương, kẻ nắm giữ đường dây luân chuyển hàng hóa dọc lưu vực hạ lưu Cửu Hà suốt hơn mười năm qua.
Trên mặt bàn ngổn ngang đủ loại chứng từ, trích lục kho vận, một bàn tính lớn với những hạt ngọc bích mài nhẵn thín bóng loáng, và một chiếc tẩu thuốc dài bằng rễ tre đực bọc bạc sáng lóa ở đầu ngậm.
Khi hai bóng người bước vào, ngón tay của Tạ Bách vẫn không hề dừng lại. Những đầu ngón tay thô ráp, nứt nẻ vì sương gió của gã thoăn thoắt gạt từng hàng hạt ngọc bích chạy lên chạy xuống trên khung đồng, phát ra những chuỗi âm thanh giòn tan, khô khốc và đều đặn đến rợn người: *lách cách, lách cách, tạch*.
"Cửa đóng then cài là quy củ sống còn của giới buôn sông khi sương mù chưa tan," giọng Tạ Bách cất lên, trầm đục và khàn đặc như tiếng đá cọ vào đáy thuyền mục, nghe biếng nhác nhưng từng thanh âm nhả ra đều ẩn chứa sự dò xét lạnh lùng. "Các người không giật chuông đầu mũi, không xưng tên theo sổ thuyền, tự tiện bẻ then xông vào khoang tài công. Tính cướp bến, tống tiền hay là dân tha hương tính mò lên thuyền xin ăn?"
Nam hít một hơi sâu, tháo chiếc nón lá đẫm sương đêm ra khỏi đầu. Dưới ánh đèn dầu vàng vọt, gương mặt anh lộ rõ vẻ hốc hác, hai hõm má sâu hoắm, lem luốc vệt than củi và bụi vôi trắng sau đêm trốn chạy, nhưng đôi tròng mắt màu nâu sẫm của anh vẫn giữ nguyên tia nhìn bình thản, sắc sảo đến kỳ lạ của một kẻ quanh năm sống cùng những con số và sổ sách kế toán:
"Chú Tạ, là tôi. Đỗ Hoài Nam, kiểm sổ viên bậc ba của Trạm Linh Vận Bến Lau."
Ngón tay đang thoăn thoắt đẩy hạt bàn tính của Tạ Bách đột ngột khựng lại giữa chừng.
Một hạt ngọc bích dừng lại lơ lửng bên thanh ngang bằng đồng. Tạ Bách từ từ ngước mắt lên. Đôi mắt hẹp dài, mí mắt sụp xuống tạo thành những nếp nhăn sâu hoắm nhưng con ngươi đen lánh lại sắc lẹm như một lưỡi dao cạo. Gã quét ánh nhìn săm soi từ đỉnh đầu xuống đôi bàn chân quấn vải bố đẫm bùn của Nam, rồi lập tức chuyển hướng, dừng trừng trừng trên thân ảnh người phụ nữ quấn áo tơi lá gồi đang đứng áp sát mép vách gỗ sau cánh cửa.
Kỷ Vân đứng đó, trọng tâm hạ thấp, hai bàn chân tạo thành một góc đứng chuẩn mực của lối cận chiến trong không gian hẹp, mũi chân hơi chếch về phía góc bàn. Mắt Tạ Bách khẽ co rút lại khi bắt gặp một tấc vải thô bọc chuôi kiếm ló ra dưới mép áo tơi, cùng nửa vết sẹo lồi xám ngoét ánh lên dưới vành nón mê. Thế nhưng, con buôn già dặn kinh nghiệm này không hề tỏ ra hoảng hốt, ngón tay gã cũng không hề với tay về phía chiếc chuông đồng báo động đặt khuất sau góc gầm bàn.
"Cựu kiểm sổ viên mới đúng chứ," Tạ Bách buông một câu khô khốc, khóe miệng gã khẽ giật giật rồi nhếch lên thành một nụ cười nửa miệng đầy mỉa mai và chua chát. "Võ Nghiêm từ sáng sớm tinh mơ đã cho sai đinh dán cáo thị truy nã đỏ lòm khắp ba mươi sáu cột mốc bến cảng rồi. Tội danh: Đỗ Hoài Nam cấu kết với phần tử phản nghịch cản trở chấp hành án, cố ý phá hoại cọc phụ trận pháp cưỡng thu linh cơ của Ty Chấp Khế, bị tước thẻ bài đồng thau, khai trừ khỏi ngạch kiểm sổ và trục xuất vô thời hạn. Căn nhà tranh ba gian của dòng họ Đỗ ngoài xóm thợ giờ đây đã bị dán bốn lá bùa niêm phong bằng chu sa đỏ chót. Cậu bây giờ là một kẻ không tấc đất cắm dùi, gánh trên lưng án phạt phá hủy tài sản công của nha môn cấp phủ. Sao hả? Không chui xuống hầm than trốn chui trốn lủi, lại mò lên khoang thuyền của tôi làm gì?"
Nam không hề lùi bước. Anh bước lên nửa bước, chống một bàn tay khẳng khiu nhưng cứng cáp lên gờ mép bàn gỗ lim, giọng nói ghìm xuống thật thấp nhưng từng từ nhả ra đều đanh gọn:
"Tôi cần một chỗ trên chuyến thuyền này vào phủ Tĩnh Giang ngay trong sáng nay. Kỳ hạn cưỡng thu kế tiếp của Phạm Diên chỉ còn vỏn vẹn hai ngày rưỡi. Nếu tôi không tới được Nha môn Sinh Khố và Tòa Khế cấp phủ trước khi tờ công văn giải trình bổ sung của trạm Bến Lau được đệ trình lên thượng ty, cả phường thợ nhuộm lẫn ba mươi sáu gia đình đứng tên trong phụ lục khế ước sẽ bị cắm cọc câu linh rút sạch toàn bộ tuổi thọ. Chú Tạ, chú chạy thuyền trên tuyến đường thủy Cửu Hà này suốt mười năm ròng, chú hiểu rõ nhà họ Đỗ chúng tôi chưa từng quỵt nợ hay trễ hạn với ai một đồng trinh. Xin chú mở cho một lối thoát."
Tạ Bách không vội vã đáp lời. Gã thong thả nhấc chiếc tẩu thuốc bằng rễ tre lên, đưa mồi lửa vào đầu tẩu rồi rít một hơi thật sâu. Đóm thuốc đỏ rực lên trong chốc lát, soi tỏ những nếp nhăn hằn sâu nơi đuôi mắt của kẻ phong trần, trước khi phả ra một luồng khói xám đặc quánh, nồng nặc mùi hắc ám cuộn xoáy dưới chao đèn dầu. Đoạn, gã cầm thân tẩu thuốc gõ mạnh ba tiếng côm cốp xuống mặt bàn tính bằng đồng thau:
*Cốp. Cốp. Cốp.*
Âm thanh kim loại va chạm vang lên chát chúa trong khoang lái chật chội.
"Thôi đi, Hoài Nam," Tạ Bách lạnh lùng gạt phắt, ánh mắt gã dửng dưng không gợn một chút mảy may xúc động nào trước vẻ khẩn thiết cùng cực của người thanh niên trẻ tuổi. "Đừng đem chuyện sống chết của phường thợ nhuộm hay cái danh dự dòng họ Đỗ ra nói với một con buôn đường sông. Nước sông Cửu Hà chỉ chảy xuôi từ thượng nguồn đổ về biển chứ chưa từng chảy ngược, lời van xin tình cảm không mua nổi nửa bát cháo hoa ở bến Tĩnh Giang, càng không bù nổi một giọt dầu trẩu đốt cháy dưới đáy nồi hơi của con thuyền này."
Gã đặt chiếc tẩu thuốc sang một bên, vươn ngón tay trỏ thô ráp, chai sần chỉ thẳng vào trán Nam:
"Cậu có biết cái giá của việc chứa chấp một kẻ đang mang lệnh tầm nã của Ty Chấp Khế trên thuyền của Liên hội Vận Thương là bao nhiêu không? Nhẹ thì bị tuần đinh bến trạm giữ thuyền mười ngày tại các trạm kiểm dịch, phạt tiền vạ năm mươi lượng bạc trắng nguyên chất. Nặng thì bị tước bài thông hành bến bãi, tịch thu toàn bộ chuyến hàng tạp hóa ký gửi của các thương hộ. Lũ chấp hành viên của Lương Trạch chỉ chực chờ có thế để ép tôi phải nộp thêm phí bảo an bến bãi cắt cổ. Tôi thương cậu mất nhà, thương con bé Hoài An phải chịu oan ức, nhưng nếu con thuyền 772 này bị xích lại ở trạm gác cửa sông, ba mươi thuyền viên cùng gia quyến của họ đang trông chờ vào chuyến hàng này dưới khoang đáy sẽ phải cạp bùn phù sa mà nuốt trừ bữa hay sao?"
Đứng áp lưng vào vách gỗ sau cánh cửa, Kỷ Vân nheo mắt lại. Bàn tay giấu dưới lớp áo tơi của cô bỗng siết mạnh vào chuôi kiếm; lớp vải bố quấn chặt quanh bao kiếm phát ra tiếng sột soạt ghê người. Không một động tác thừa, cô bước xéo một bước dài, mũi chân xoay nhẹ tạo thành thế bình phong che chắn góc nghiêng, đồng thời ngón tay cái khẽ bật nhẹ gờ chắn.
*Keng!*
Thanh trường kiếm trong vỏ trượt ra đúng một tấc. Một vệt thép xám lạnh lẽo, sắc lẹm lóe lên trong bóng tối lờ nhờ của khoang lái, phả ra một luồng sát khí ngưng tụ tựa hồ băng giá ngàn năm tích tụ nơi hẻm núi.
"Một lão lái buôn giảo hoạt mạt hạng," Kỷ Vân gằn từng tiếng qua kẽ răng, giọng cô khàn đặc, trầm đục nhưng mang theo uy áp sắc lạnh của kẻ từng nhiều năm nắm giữ quyền sinh sát trong tay nơi công đường. "Ngươi nghĩ mình có tư cách ngồi đây cò kè mặc cả khi lưỡi thép này chỉ cách yết hầu ngươi chưa đầy nửa sải tay sao? Đưa bọn ta rời bến ngay tức khắc, hoặc con thuyền này sẽ đổi chủ trước khi những giọt sương mai đầu tiên kịp tan trên mặt boong."
Sát khí tỏa ra từ mũi kiếm khiến ngọn lửa đèn dầu hạt cải chao đảo dữ dội, ánh sáng vàng vọt co giật trên vách ván gỗ.
Thế nhưng, Tạ Bách thậm chí không hề chớp mắt lấy một lần. Gã thản nhiên tựa toàn bộ tấm lưng đẫy đà vào chiếc ghế bọc da hươu sờn cũ, hai bàn tay đan lỏng vào nhau đặt lên bụng, nhìn xoáy thẳng vào Kỷ Vân với một ánh mắt giễu cợt, khinh bỉ của kẻ đã từng vào sinh ra tử qua hàng trăm trận tao loạn trên sông nước:
"Rút kiếm ra đi, nữ hiệp. Cứ việc vung tay chém đôi cái bàn tính này rồi cắt đứt cổ họng Tạ Bách này xem sao. Nhưng trước khi ngươi kịp lau vết máu trên lưỡi thép, ngươi nên mở to mắt ra nhìn lên xà nhà: trên đỉnh cột buồm chính của thuyền 772 có gắn ba đạo phù phong hỏa liên lạc nối thẳng với trạm canh gác của tuần giang ty ven bờ. Máu của tôi chỉ cần rớt xuống sàn ván này đúng ba giọt, cơ quan ngắt xích neo dưới đáy tàu sẽ tự động khóa chết trục tời. Khi ấy, cô cùng thằng nhóc kiểm sổ này sẽ cùng một cái xác không hồn trôi lờ đờ giữa sông, làm bia tập bắn cho hàng trăm mũi nỏ thép tẩm linh phù của lũ lính giáp đen rỉa nát thịt nát xương. Cô mang vết sẹo ăn mòn của linh lực phản phệ trên mặt sâu hoắm thế kia, chắc hẳn từng là một con chó săn có hạng của Ty Chấp Khế chứ gì? Kẻ từng ăn lộc nha môn mà ngây thơ đến mức nghĩ rằng chỉ cần vung một thanh kiếm gãy là có thể ép thuyền buôn rẽ sóng ra khơi được ru?"
"Kỷ Vân, dừng tay lại!" Nam lập tức sải bước tới, giang cả hai cánh tay chắn ngang khoảng không giữa lưỡi kiếm của Kỷ Vân và bàn làm việc của Tạ Bách. Đôi mắt anh trừng trừng nhìn thẳng vào người phụ nữ áo tơi, lồng ngực phập phồng dữ dội khiến từng thớ cơ đau buốt, nhưng giọng nói lại đanh thép, không chứa một mảy may run sợ: "Tra kiếm vào bao ngay lập tức!"
Kỷ Vân cắn chặt môi dưới, vết sẹo lồi co rúm bên gò má giật liên hồi theo từng nhịp thở dồn. "Hắn muốn bán đứng chúng ta cho quan nha. Ngươi tưởng một con buôn hám lợi như hắn sẽ để chúng ta yên lành đi hết một trăm dặm đường sông này sao?"
"Chú Tạ không báo quan," Nam khẳng định chắc nịch, ánh mắt kiên định không hề lay chuyển. "Nếu chú ấy muốn báo quan đổi thưởng, thì ngay từ giây phút mũi giày của tôi bước qua ngưỡng cửa khoang lái, sợi dây chuông giật ngầm dưới gầm bàn đã rung lên ở bến trạm rồi. Chúng ta đến đây là để mua một con đường sống bằng một cuộc trao đổi sòng phẳng, không phải đến để làm lũ cướp sông cướp bến gây thù chuốc oán. Thu kiếm lại!"
Căn phòng rơi vào một khoảng im lặng chết chóc. Hơi thở nặng nhọc của Nam hòa lẫn cùng tiếng gió sớm rít qua khe cửa gỗ. Cuối cùng, Kỷ Vân khẽ hừ lạnh một tiếng trong lồng ngực, ngón tay cái ấn nhẹ, thanh trường kiếm trượt trở lại vào bao gỗ với một tiếng *cạch* gọn lỏn, dứt khoát. Cô lùi lại một bước, khoanh hai tay trước ngực, đứng dựa vào vách gỗ tối tăm nhưng ánh mắt cảnh giác vẫn găm chặt vào từng cử động nhỏ nhất của Tạ Bách.
Tạ Bách khẽ nhếch mép, với tay lấy chiếc tẩu thuốc gõ nhẹ vào cái gạt tàn bằng sành tráng men nâu. Ánh mắt gã nhìn Nam thoáng hiện lên một tia tán thưởng kín đáo:
"Xem ra cái đầu của thằng nhóc kiểm sổ nhà họ Đỗ vẫn chưa bị nước sông làm cho úng não. Tốt lắm. Biết nói chuyện bằng lý lẽ và lợi ích thì ta mới có thể ngồi chung một thuyền."
Nói đoạn, Tạ Bách thò tay kéo mạnh ngăn kéo bên dưới bàn làm việc. Gã lôi ra một tập sổ sách dày cộp bọc bìa da cừu màu xanh lục thẫm, các góc bìa đã ố vàng, quăn queo và mủn ra vì ngấm hơi nước sông qua nhiều tháng ngày. Gã quẳng mạnh tập sổ xuống mặt bàn gỗ, đẩy về phía Nam:
*Bịch!*
"Tôi là dân buôn, không phải kẻ làm từ thiện nơi đầu bến cuối bãi," Tạ Bách chống hai cùi chỏ lên bàn, nhìn thẳng vào mắt Nam. "Nhưng trong nghề buôn, phàm là việc gì có thể sinh ra lợi nhuận hoặc gỡ lại tiền mất mát thì đều có thể đặt lên bàn cân tính toán. Chuyến này tôi có thể mở lòng cho hai người một chỗ ẩn thân trên thuyền 772, nhưng đừng mơ đến chuyện ngồi chễm chệ trong khoang khách ngắm trăng thưởng gió như quan chức đi tuần."
Gã xòe bàn tay thô kệch, gõ một ngón tay xuống mặt tập sổ da cừu:
"Điều kiện thứ nhất: từ Bến Lau này về đến phủ Tĩnh Giang, con thuyền này bắt buộc phải đi qua ba trạm kiểm vận phụ dọc lưu vực, lần lượt là bến Đoan Kiều, trạm Kho Muối Hạ Nham và âu thuyền Vạn Lại. Cậu, Đỗ Hoài Nam, sẽ phải lột bỏ cái áo thư lại trạm dịch này ra, khoác áo vải gai thô của phu khuân vác, làm công việc bốc dỡ hàng hóa, vác từng hòm quặng chì và vần từng bình dầu trẩu dưới đáy khoang như ba mươi thằng phu khác để che mắt tuần đinh. Điều kiện thứ hai—và cũng là điều kiện tiên quyết quyết định sống chết của chuyến đi này—trong suốt ba ngày ba đêm thuyền lênh đênh trên mặt nước, cậu phải dùng con mắt nhà nghề của mình rà soát, kiểm tra lại toàn bộ chỗ chứng từ sổ sách này cho tôi."
Nam đưa tay lật nhẹ góc bìa da cừu, ánh mắt lướt qua những trang giấy bản chi chít số liệu. Anh nhận ra ngay lập tức: đây chính là toàn bộ các bản trích lục luân chuyển kho vận giữa bến Đoan Kiều, Bến Lau và trạm trung chuyển Kho Muối Hạ Nham trong suốt nửa năm qua của đội thuyền Liên hội Vận Thương.
"Sai lệch kiểm kê nội bộ?" Nam khẽ hỏi, ngón tay vô thức lướt qua một cột số liệu ghi chép trọng lượng hàng rời.
"Rất nhiều sai lệch, và ngày càng trầm trọng," giọng Tạ Bách trầm hẳn xuống, trong mắt gã hiện lên vẻ căm phẫn và u ám của kẻ bị chèn ép lâu ngày. "Mỗi chuyến hàng của đội thuyền tôi chở qua ba trạm kiểm vận đó đều bị hao hụt một cách hết sức vô lý. Lúc thì thiếu nửa cân quế chi loại một, lúc thì bình áp suất chứa sinh cơ báo rò rỉ nhưng lớp niêm phong bằng chì và sáp xám bên ngoài vẫn còn nguyên vẹn, không hề có dấu vết cạy phá. Đội kiểm vận của nha môn ở các trạm luôn miệng vịn vào điều lệ 'hao hụt tự nhiên trên đường thủy', ép tôi phải ký nhận biên bản thiếu hụt rồi tự móc tiền túi ra đền bù thiệt hại cho các chủ hàng trên phủ. Chuyến tàu 772 trưa hôm qua chở năm bình sinh cơ hụt mất mười sáu chỉ từ Đoan Kiều về Bến Lau, chính thằng khốn Võ Nghiêm đã dí bút ép cậu phải ký khống vào biên bản tiếp nhận, việc đó tôi thừa biết. Lũ quan lại nha môn đang coi đội thuyền của tôi như một cái túi không đáy để rút ruột hàng hóa của thiên hạ rồi đổ vấy tội lỗi cho cánh lái buôn. Tôi cần một người có ngón nghề kiểm sổ cặn kẽ như cậu, rà soát lại từng đường đi nước bước của dòng hàng, chỉ ra đích xác lỗ hổng thất thoát nằm ở trạm kiểm vận nào, viên chức nào đã ký lệnh xuất nhập kho khống, và con số thực tế bị bòn rút qua từng tháng là bao nhiêu."
Nam nhìn chăm chú vào từng dòng số liệu ghi chép rời rạc, tâm trí anh vận động với tốc độ cực nhanh. Những lời dặn dò cuối cùng của bác thợ già Trần Định trong đêm giông bão bỗng dội về rõ mồn một trong tâm trí anh: *Đừng bao giờ tin vào những con số tròn trĩnh được tô vẽ trên sổ cái công khai; hãy bám chặt lấy dòng chảy vật chất thực tế.* Tạ Bách hoàn toàn không phải là một con buôn bị ức hiếp đơn thuần; gã quá am tường quy luật vận hành của các luồng hàng lậu và mạng lưới sinh cơ ngầm chảy qua Cửu Hà. Việc gã nhận chở hàng cấm cho các chức sắc ở phủ Tĩnh Giang bấy lâu nay thực chất chỉ là một bước đi bắt buộc để sinh tồn, và giờ đây, gã đang ráo riết tìm kiếm những bằng chứng kế toán xác thực nhất để tự bảo vệ tính mạng mình trước khi bị đám quan lại cấp trên biến thành vật tế thần.
"Đổi lại điều đó," Tạ Bách ngắt dòng suy nghĩ của Nam, ánh mắt gã liếc xéo qua Kỷ Vân với vẻ lạnh lùng, dứt khoát, "tôi cần một lời cam kết bằng máu từ cô ả mang kiếm này. Đã bước chân lên thuyền của tôi, cô phải giấu thanh bảo kiếm kia sâu dưới đáy những kiện rơm mục trong khoang chứa hàng. Suốt dọc hải trình qua các trạm trung chuyển, dù có chạm trán tuần đinh bến bãi hay nhân viên thủ kho lên boong khám xét định kỳ, cô tuyệt đối không được manh động, không được phép rút kiếm hay gây ra bất kỳ xung đột đổ máu nào. Nếu một giọt máu của nhân viên giữ kho hay tuần đinh rơi xuống ván tàu của tôi, bản giao kèo này lập tức bị hủy bỏ, và tôi sẽ đích thân mở van xả nước nhấn chìm khoang hàng, hoặc đạp hai người xuống đáy sông làm mồi cho lũ cá da trơn. Có làm được không?"
Kỷ Vân đứng sừng sững giữa ranh giới của bóng tối và ánh sáng đèn dầu, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két. Đối với một cựu chấp hành viên từng quen dùng uy quyền của lệnh bài và sự sắc bén của kiếm thuật để trấn áp mọi kẻ chống đối, việc phải cúi đầu nhẫn nhục, giả dạng làm kẻ tôi tớ hèn mọn trước những tên lính gác bến tép riu là một sự sỉ nhục khôn cùng đối với tôn nghiêm của cô. Thế nhưng, nhìn sang thân hình tiều tụy, bờ vai gầy guộc run rẩy vì kiệt sức của Nam, cô hiểu rằng nếu bước chân rời khỏi mạn thuyền này, Nam sẽ vĩnh viễn không có cơ hội vượt qua trạm kiểm soát cửa sông với một cơ thể phàm nhân đầy thương tích.
"Được," Kỷ Vân phun ra một chữ cộc lốc, thanh âm lạnh ngắt tựa hồ giọt sương đêm rơi trên đá tảng. "Chỉ cần lũ sai nha bến bãi không chủ động rút đao đoạt mạng, ta sẽ không nhấc một ngón tay."
"Tốt lắm. Kẻ biết co biết duỗi mới là kẻ có cơ hội sống sót rời khỏi ván cờ này," Tạ Bách gật gù, kéo một tờ giấy bản thô nhám đã ngả màu vàng sẫm từ mép bàn ra trước mặt. Gã cầm lấy chiếc bút lông thỏ, chấm sâu vào nghiên mực đen quánh rồi thoăn thoắt hạ bút viết từng dòng chữ chân phương, rõ ràng theo đúng thể thức nghiêm ngặt của giới thương nhân đường thủy.
Đó là một bản *Biên bản thỏa thuận đổi công vận chuyển* theo đúng biểu mẫu pháp lý nội bộ của Liên hội Vận Thương. Từng điều khoản chi tiết được vạch ra không thiếu một nét: Đỗ Hoài Nam, cựu kiểm sổ viên, tự nguyện nhận trách nhiệm lao dịch bốc dỡ hàng rời và thực hiện công tác kiểm toán, đối chiếu chứng từ nội bộ trên thuyền buôn số hiệu 772 trong suốt hải trình từ bến Bến Lau đến thương cảng phủ Tĩnh Giang; đổi lại, thuyền chủ Tạ Bách chịu trách nhiệm cung cấp một chỗ trú ẩn kín đáo dưới đáy khoang hàng, khẩu phần lương thực khô cơ bản mỗi ngày, và đảm bảo việc vận chuyển hai nhân khẩu vượt qua các trạm kiểm tra đường thủy thuộc quyền tài phán hành chính thông thường. Cuối bản thỏa thuận ghi rõ: nếu bên đổi công gây ra bất kỳ tổn thất nào đối với hàng hóa ký gửi hoặc làm gián đoạn hành trình của thuyền buôn vì lý do riêng tư, bên đổi công phải chịu trách nhiệm bồi hoàn toàn bộ bằng giá trị tài sản thực tế hoặc trừ dần vào công dịch khổ sai vô thời hạn trong tương lai.
Không có lấy một chữ nhắc đến ân tình. Không có một lời hứa hẹn che chở viển vông. Mọi thứ đều được quy đổi rạch ròi thành trách nhiệm, rủi ro và nghĩa vụ kinh tế.
Tạ Bách đặt bút xuống, lôi từ trong túi áo ra một con dấu bằng đồng thau đúc hình mỏ neo quấn xích của thương đoàn, dập mạnh một dấu triện vuông vức màu mực đen vào góc dưới tờ giấy, rồi đẩy bản thỏa thuận cùng nghiên mực sang phía Nam:
"Điểm chỉ đi. Dưới gầm trời này, lời thề thốt chỉ là gió thoảng qua sông, chỉ có mực đen dấu đỏ đóng trên giấy khế là không bao giờ biết nói dối."
Nam nhìn chằm chằm vào tờ giấy bản thô ráp. Ngón tay trỏ bàn tay phải của anh vẫn còn vương vệt mực tím từ đống biên bản kiểm kê ở bến trạm chiều hôm trước, hòa lẫn với những vệt máu khô đóng vảy ở kẽ móng tay—di chứng sau cú va đập dữ dội để phá vỡ cọc trận pháp. Anh không hề do dự dù chỉ một tích tắc, ấn mạnh đầu ngón tay dính máu và mực tím vào nghiên mực đen đặc, rồi dập thẳng chỉ dấu hoa tay của mình xuống bên cạnh chữ ký uốn lượn của Tạ Bách.
Một vệt mực đen thẫm pha lẫn sắc đỏ của máu tươi hằn sâu lên từng thớ vỏ cây thô nhám của tờ giấy bản, chính thức xác lập một món nợ sức lao động mới của anh trên con đường trốn chạy đầy bất trắc này.
"Xong rồi," Nam ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt vuông vức của Tạ Bách. "Tôi sẽ xuống đáy khoang bốc dỡ hàng ngay bây giờ."
Đúng vào khoảnh khắc ấy, từ phía vách ván gỗ mạn ngoài boong tàu bỗng vang lên ba tiếng gõ nhẹ: *cộc, cộc, cộc*. Tiếng gõ ngập ngừng, dồn dập và đầy vẻ lén lút. Tiếp ngay sau đó là một giọng nói then thét, non nớt nhưng cố nén nhỏ hết mức của một đứa trẻ:
"Bác Tạ ơi! Bác Tạ có ở trong khoang không? Cháu... cháu đem đồ gửi cho khách buôn bến sớm đây ạ!"
Tạ Bách khẽ nhíu mày, ánh mắt sắc như chim ưng liếc nhanh qua Nam và Kỷ Vân rồi hất nhẹ cằm ra hiệu cho cả hai lùi sâu vào góc tối sau tấm rèm vải bạt dày ngăn cách khoang ngủ của tài công. Đoạn, gã đứng dậy, sải bước tới gần mép cửa, tháo then sắt rồi khẽ kéo hé cánh cửa gỗ thông ra một khoảng chừng nửa gang tay.
Bên ngoài làn sương muối buốt giá, một đứa bé trai trạc mười hai tuổi đang đứng co ro trên mép sàn ván ướt nhẹp. Nó mặc một bộ quần áo vải nâu vá chằng vá đụp ướt sũng nước mưa, đôi vai gầy guộc khoác một manh chiếu rách tơi tả. Đó chính là thằng Cuống—đứa trẻ chân chạy chuyên đưa cơm nắm, chuyển thư từ và tin tức vặt cho phường thợ nhuộm Bến Lau suốt mấy năm qua. Thằng bé thở không ra hơi, hai hàm răng va vào nhau lập cập vì lạnh, đôi mắt láo liên nhìn quanh quất mặt boong tàu vắng tanh vắng ngắt.
"Có chuyện gì mà mò ra đây giờ này?" Tạ Bách trầm giọng hỏi, thân hình to lớn của gã chắn trọn khe cửa.
Thằng bé không trả lời ngay, nó nghển cổ lách đầu qua khe nách của Tạ Bách nhìn vào bên trong khoang lái. Khi ánh mắt nó bắt gặp bóng dáng gầy guộc của Nam đang đứng sau lớp rèm bạt, đôi mắt đen láy của nó bỗng sáng rực lên. Nó vội vàng thò tay sâu vào trong bụng áo tơi ướt sũng, lôi ra một bọc đồ được gói ghém vô cùng cẩn mật bằng nhiều lớp vải dầu chống thấm nước màu xanh chàm—thứ vải dầu chuyên dùng của thợ nhuộm—bên ngoài quấn chằng chịt những nút thắt bằng dây gai khô.
"Anh Nam!" Thằng Cuống thì thầm qua kẽ răng, hai tay run rẩy chìa bọc đồ qua khe cửa. "Chị Hoài An dặn em... dặn em phải đem cái này giao tận tay anh trước khi con thuyền của bác Tạ nhổ neo rời bến! Chị bảo em phải đi đường vòng dưới chân rặng tre, tuyệt đối không được để lũ lính áo đen ngoài điếm canh nhìn thấy!"
Nam không kìm lòng được, vội vã bước ra khỏi góc tối, đón lấy bọc đồ nặng trịch từ đôi bàn tay lạnh ngắt như băng của đứa trẻ. Lớp vải dầu bên ngoài vẫn còn nồng nặc mùi hăng hăng ngai ngái của lá chàm tươi ủ men và mùi bùn khoáng ngâm vải—thứ mùi hương ruột thịt thân thương của xưởng nhuộm gia đình đã nuôi nấng hai anh em anh khôn lớn qua bao mùa giông bão.
"Hoài An thế nào rồi em? Con bé có an toàn không?" Nam nắm chặt lấy bả vai khẳng khiu của thằng bé, giọng anh run lên từng chặp, ngực nhói buốt vì lo âu.
"Dạ, chị An được giấu kỹ trong cái hầm ủ vải cũ dưới gầm xưởng của bác Thuận rồi ạ," thằng Cuống quẹt ngang mũi, nói tống táng thật nhanh như sợ màn sương nuốt mất lời. "Lúc nửa đêm, bọn nha môn áo đen kéo đến rầm rập, đập vỡ cửa xưởng đòi lùng bắt anh với chị, nhưng cả xóm thợ kéo ra vây kín đầu ngõ. Bác Thuận dù bị ho ra máu sau trận ép linh hôm qua nhưng vẫn cùng các bác thợ cả vác đòn gánh, gậy gộc chặn cứng đầu cầu ván, bảo rằng nha môn không có trát lục soát có triện đỏ của Tòa Khế cấp phủ thì đừng hòng bước nửa bước vào bể nhuộm. Chị An bảo em chuyển gói này cho anh, dặn anh tuyệt đối không được quay trở lại làng! Chị bảo anh phải sống!"
Thằng bé thở hổn hển, rồi từ trong túi áo lôi ra thêm một mẩu bánh ngô nướng đã nguội ngắt, cháy sém một góc, nhét vội vào lòng bàn tay Nam: "Em phải chạy về ngay đây, bọn tuần đinh đang xua chó săn sục sạo ngoài bến cá rồi ạ!"
Chẳng đợi Nam kịp cất lời dặn dò, thằng bé thoăn thoắt quay đầu, đôi bàn chân trần lướt nhẹ như sóc trên mặt sàn ván ướt rồi lách qua tấm ván cầu, mất hút vào màn sương mù xám xịt đang cuộn trào trên cầu cảng.
Nam quay trở lại bên bàn tính, đôi bàn tay run rẩy dùng móng tay cẩn thận gỡ từng nút thắt dây gai quấn quanh bọc vải dầu chống thấm.
Bên trong ba lớp vải dầu dày cộp là sáu phong lương khô ép chặt làm bằng bột ngô rang trộn vừng đen khô khốc—khẩu phần ăn đạm bạc mà Hoài An vẫn thường cặm cụi thức đêm chuẩn bị cho anh mỗi khi bước vào mùa kiểm kê sổ sách cao điểm ở bến trạm. Nhưng nằm gọn gàng dưới đáy bọc lương khô ấy là một cuộn giấy bản mỏng manh, dài gần hai gang tay, được quấn tròn quanh một thanh tre cật nhỏ xíu vót nhẵn.
Nam nín thở, cẩn thận trải cuộn giấy ra dưới quầng sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hạt cải.
Hiện ra trước mắt anh là những dòng chữ quen thuộc, thanh mảnh nhưng vô cùng cứng cỏi của em gái. Đó là một bản danh sách thống kê sơ bộ gồm đúng ba mươi sáu cái tên—những người thợ nhuộm chàm, thợ hồ vải, phu gánh nước và những người chèo đò ngang của Bến Lau. Dưới mỗi cái tên đều ghi chép chi li số tiền nợ thực tế: người thì nợ ba quan tiền mua vải mộc từ vụ trước, người nợ năm đấu muối mỏ của thuyền buôn, người nợ vài chục đồng tiền thuốc thang khi con cái ốm đau... Tất cả đều là những khoản nợ thương mại vụn vặt, phát sinh từ đời sống nghèo khó thường nhật giữa người dân xóm thợ với Thương hội Hà thị.
Thế nhưng, ở cột lề bên cạnh, Hoài An đã dùng mực đỏ chép lại toàn bộ các mã số phụ lục bí mật mà cô đã đánh liều chép trộm được từ bảng trát sắt của Chấp hành viên Phạm Diên chiều hôm qua: toàn bộ ba mươi sáu con người này, bằng những thủ đoạn pháp lý ma quỷ, đều đã bị nha môn gài tên vào mục "Bảo lãnh liên đới vô điều kiện" cho khoản nợ sinh cơ khổng lồ lên tới hàng trăm năm tuổi thọ của tên tán tu đào tẩu Tống Lăng.
Nằm xếp ngay ngắn ở góc cuối của tờ danh sách là một mẩu giấy bản nhỏ bằng bàn tay, trên đó chỉ vỏn vẹn một dòng chữ nắn nót của em gái:
*“Ba mươi sáu mạng người này không vay sinh cơ của trời, cũng không bảo lãnh cho tu sĩ nào hết. Giữ lấy mạng anh, tìm ra bản khế gốc, đem sự thật về cứu làng.”*
Các đầu ngón tay của Nam siết chặt lấy mép giấy bản đến mức những thớ giấy nhăn nhúm lại, khớp tay trắng bệch ra. Một ngọn lửa phẫn uất cùng nỗi xót xa tột cùng trào dâng nghẹn đắng nơi lồng ngực, khiến vết thương do linh lực chấn động bên mạn sườn lại nhói buốt từng hồi. Những con người này—bác Cửu lưng còng sớm tối gánh nước sông đổ vào bể nhuộm, chú Thuận hai bàn tay thâm đen vì ngâm nước chàm quanh năm, thím Mận tần tảo nuôi ba đứa con thơ dại—họ chỉ biết cặm cụi bán từng giọt mồ hôi nước mắt từ lúc trời chưa rạng cho đến khi tắt mặt trời chỉ để đổi lấy bát cơm độn ngô và manh áo vá. Họ chưa từng nhìn thấy mặt mũi một viên linh đan ra sao, chưa từng được hít thở một ngụm linh khí thanh khiết của tông môn, thế mà chỉ bằng một nét bút son ngoáy vội của bọn quan chức ngồi trên lầu cao phủ Tĩnh Giang, toàn bộ sinh mạng và tuổi thọ còn lại của họ đã bị biến thành vật thế chấp để bù đắp cho sự thất bại trong việc đột phá cảnh giới của một kẻ xa lạ.
"Một bản danh sách đòi mạng của nha môn," giọng nói của Kỷ Vân vang lên ngay sát bên tai anh. Thanh âm của cô lạnh băng, nhưng ẩn sâu dưới đáy mắt lại là một vẻ trầm mặc u uất. "Năm năm về trước ở biến cố Cầu Tro, ta cũng từng tận tay cầm một bản danh sách giống hệt như thế này. Tên của những người dân phu phải chết đều được viết ngay ngắn bằng mực chu sa, còn kẻ hạ bút ra lệnh cưỡng thu thì ngồi ung dung thưởng trà trong sảnh đường lát đá hoa cương của Tòa Khế."
Nam im lặng không đáp. Anh cẩn thận cuộn tròn tờ danh sách lại, nhét sâu vào lớp áo lót trong cùng, áp sát vào lồng ngực—nơi cuốn Sổ Đối Chiếu đang tỏa ra hơi lạnh thấu xương qua lớp vải bạt. Anh ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn thẳng vào Tạ Bách:
"Cho thuyền chạy đi, chú Tạ."
Tạ Bách đưa ngón tay dụi tắt đóm thuốc tàn trong lòng tẩu, ánh mắt gã quét qua bọc lương khô cùng cuộn giấy của Nam rồi khẽ thở dài một tiếng thật sâu qua cánh mũi: "Kéo rèm lại cho kín. Xuống khoang hàng ngay lập tức."
Dứt lời, người chủ thuyền quay ngoắt bước nhanh ra khỏi cabin lái. Gã đứng sừng sững trên sàn boong cao, cất tiếng quát vang dội, đanh thép như tiếng chuông đồng đánh thức toàn bộ con thuyền:
"Toàn bộ thủy thủ chú ý! Tháo dây chằng mũi! Kéo ván cầu lên! Nhổ neo đáy! Bắt gió nam, chuẩn bị xuất bến!"
Tiếng bước chân rầm rập của cánh thủy thủ và phu thuyền lập tức vang lên dồn dập trên khắp mặt sàn gỗ. Tiếng hò hét bắt nhịp, tiếng ma sát ken két của những cuộn dây thừng bện vỏ đay cọ vào ròng rọc sắt vang lên chói tai, xé toạc không gian tĩnh mịch của buổi sớm mù sương. Dưới mũi thuyền, tiếng xích sắt khổng lồ va đập loảng xoảng vào thành tàu bằng đá hộc khi chiếc mỏ neo sắt nặng năm tạ được trục tời kéo dần lên khỏi lòng sông ngập bùn lầy.
Hai cánh buồm lớn bằng vải bố thô nhuộm vỏ cây nâu sẫm từ từ được kéo căng lên đỉnh cột buồm chính, đón lấy luồng gió nam lạnh buốt đang thổi ràn rạt dọc theo triền sông Cửu Hà. Thân thuyền 772 khẽ chao đảo mạnh sang mạn trái, mũi thuyền bằng gỗ kiền kiền bắt đầu rẽ nước phù sa, từ từ tách khỏi mép cầu tàu bằng gỗ lim của bến trạm Bến Lau.
Nhưng đúng vào khoảnh khắc mũi thuyền vừa xoay hướng ra phía luồng lạch chính giữa dòng, một hồi còi đồng chói tai bỗng rộ lên từ phía bờ đê đá ven sông.
*U... u... u... reng!*
Âm thanh báo động gắt gao xé rách màn sương bảng lảng:
"Dừng thuyền lại ngay! Toàn bộ thuyền bè ở khu vực cầu tàu số ba thả neo tại chỗ để chờ kiểm tra!"
Ánh đuốc bập bùng đỏ rực xé toạc làn sương sớm xám xịt. Một toán tuần tra gồm tám tên sai nha áo đen thuộc Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang, giáp nẹp đồng thau sáng loáng, tay lăm lăm đoản đao và nỏ thép có gắn phù chú cưỡng chế, đang hối hả chạy rầm rập dọc theo bờ kè đá hướng thẳng về phía cầu tàu nơi thuyền 772 vừa rời đi. Dẫn đầu toán lính là một viên Đội trưởng tuần đinh mặt sắt đen sì, hốc mắt sâu hoắm, tay giơ cao một tấm lệnh bài bằng đồng đỏ đang phát ra những luồng hào quang đỏ nhạt chập chờn.
"Có trát phong tỏa khẩn cấp của Chấp hành viên Phạm Diên!" Tên đội trưởng gầm lên, giọng nói mang theo linh lực khuếch đại vọng qua mặt nước đục ngầu. "Nghi can can thiệp trận pháp Đỗ Hoài Nam đang lẩn trốn ra hướng bến sông! Lệnh phong tỏa toàn bộ tàu thuyền rời bến trong phạm vi ba dặm! Thuyền chủ Tạ Bách, lập tức bẻ lái ghé mạn vào bờ để chúng ta khám xét toàn bộ đáy khoang!"
Dưới khoang hàng tối om ngập ngụa mùi rơm mục, mùi dầu trẩu và quặng sắt, Kỷ Vân đã đứng thủ thế ngay chân cầu thang gỗ dẫn lên boong. Bàn tay quấn vải bố của cô nắm chặt lấy cán kiếm, đôi mắt sắc lẹm dưới vành nón rách lóe lên tia sáng lạnh lẽo tựa như một con dã thú đang rình mồi trong bóng đêm. Nam nín thở, hai bàn tay bấu chặt vào một kiện gỗ thông, cảm nhận rõ từng nhịp tim đập thình thịch, dồn dập vào lồng ngực đang đau nhức như muốn vỡ tung.
Trên boong tàu cao vút, Tạ Bách vẫn ung dung chắp hai tay sau lưng, bước ra sát mép lan can mạn thuyền, cúi đầu nhìn xuống toán lính đang đứng nhốn nháo trên mỏm cầu đá cách đó chừng hai trượng.
"Lệnh phong tỏa của vị quan lớn nào cơ?" Tạ Bách cất giọng sang sảng, tiếng cười nửa miệng vang vang trên mặt nước, hoàn toàn phớt lờ mệnh lệnh hạ neo. "Phạm Diên chấp hành viên à? Cậu ta mới leo lên được cái chức chấp hành viên bậc hai chưa đầy nửa năm, quyền hạn thi hành án trên giấy tờ chỉ giới hạn trong phạm vi đầm lầy và xóm thợ của Bến Lau thôi chứ nhỉ? Từ bao giờ mà tay chân của Phạm chấp hành lại có quyền vươn dài ra tận mặt nước luồng hàng hải của Liên hội Vận Thương thế này?"
"Bớt nói nhảm đi, Tạ Bách!" Viên đội trưởng tuần đinh quát lớn, giương chiếc nỏ thép gắn bùa phóng hỏa nhắm thẳng vào boong thuyền lái. "Bọn ta đang truy bắt tội phạm nguy hiểm can thiệp công vụ của nha môn! Dám cản trở, Ty Chấp Khế sẽ lập biên bản quy tội ngươi là đồng phạm phản nghịch!"
"Đồng phạm phản nghịch?" Tạ Bách cười khẩy một tiếng đầy vẻ khinh miệt. Gã thong thả thò tay vào sâu trong lớp áo giáp lót lông cừu, rút ra một tấm thẻ bài bằng ngọc trắng viền đồng thau sáng loáng, cùng một ống đồng khắc chìm hình triện sáp đỏ của Liên hội Vận Thương phủ Tĩnh Giang.
Tạ Bách giơ cao tấm ngọc bài trước ánh đuốc bập bùng của toán lính:
"Mở to mắt chó của các ngươi ra mà nhìn cho rõ từng nét khắc trên này! Đây là Phù điệp Lưu thông Hàng hải Khẩn cấp do đích thân Chánh Hội trưởng Liên hội Vận Thương ký duyệt, mang số hiệu LH-Vận-109! Toàn bộ khoang thuyền 772 chuyến này chở quặng đồng và thảo dược khô phục vụ cho việc duy tu pháp trận của Y quán Nha môn phủ thành! Chậm trễ một khắc giờ, gây hư hỏng dược liệu hạng nhất của các quan lớn trên phủ, cái đầu của ngươi và cả tổ đội tuần đinh bến này có đủ tiền đền bù bảo hiểm khế ước cho hội buôn hay không?"
Toán sai nha áo đen bỗng khựng lại. Ánh sáng từ tấm ngọc bài trên tay Tạ Bách tỏa ra một tầng dao động linh lực chuẩn xác, tinh thuần, biểu thị quyền miễn trừ khám xét dọc đường đối với các tuyến hàng vận tải trọng điểm cấp phủ—thứ đặc quyền tối thượng mà giới tài phiệt thương hội đã phải bỏ ra hàng vạn lượng bạc bảo chứng mỗi năm mới mua được từ tay các đại nhân Tòa Khế cấp trên.
Viên đội trưởng tuần đinh nghiến răng trèo trẹo, hàm dưới giật giật vì phẫn uất. Bàn tay đặt trên lẫy nỏ run lên bần bật nhưng tuyệt nhiên không dám bóp cò. Y là kẻ lăn lộn ở chốn quan trường bến bãi đủ lâu để hiểu rõ quy củ tàn khốc của hệ thống: tự ý bắn vào thuyền buôn mang cờ hiệu ưu tiên của Liên hội khi không có lệnh khám xét đặc biệt mang dấu triện đỏ của đích thân Trưởng ty Lương Trạch đồng nghĩa với việc toàn bộ gia sản và mạng sống của y sẽ bị tịch thu để bồi thường thiệt hại kinh tế phát sinh.
"Tạ Bách, ngươi đừng có đắc ý vội!" Tên đội trưởng gầm ghè trong bất lực, ngọn đuốc trên tay y run rẩy chao đảo. "Đến trạm kiểm soát Kho Muối Hạ Nham, người của Ty Chấp Khế sẽ chờ sẵn ở đó! Để xem cái tấm phù điệp thương hội này bảo vệ được con thuyền của ngươi bao lâu!"
"Chuyện ở Hạ Nham thì để người ở Hạ Nham lo liệu," Tạ Bách phất mạnh tay áo bào, lạnh lùng quay lưng bước về phía khoang lái. "Kéo căng buồm chính! Bẻ hết lái sang hữu ngạn, rẽ nước ra luồng chính cho ta!"
Một luồng gió nam thốc mạnh vào hai cánh buồm no gió. Chiếc thuyền buôn hai buồm rung lên bần bật một hồi dữ dội, mũi thuyền kiền kiền xé toạc làn sương mù dày đặc, lướt băng băng ra giữa dòng nước cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa của sông Cửu Hà, bỏ lại sau lưng những tiếng gầm rống cay cú cùng những đốm đuốc đỏ lập lòe đang mờ dần, mờ dần bên mép cầu cảng Bến Lau.
Dưới khoang hàng tối tăm, Nam từ từ trượt người ngồi bệt xuống một bao tải cói đựng vỏ cây khô lót đáy. Toàn thân anh run rẩy dữ dội vì kiệt sức, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm sống lưng, làm manh áo rách dán chặt vào da thịt. Kỷ Vân khẽ thở hắt ra một hơi, buông lỏng bàn tay khỏi chuôi kiếm, dựa lưng vào chiếc cột gỗ lim sừng sững, ánh mắt đăm đăm nhìn qua một khe nứt nhỏ trên vách ván thuyền hướng ra khoảng không gian mờ mịt bên ngoài.
Qua kẽ nứt ẩm ướt của lớp ván gỗ mun, Nam đưa mắt nhìn lại lần cuối cùng.
Dưới ánh bình minh ảm đạm, lạnh lẽo chưa thể xuyên thấu qua màn sương muối dày đặc, bờ bãi của làng Bến Lau đang lùi xa dần, nhạt nhòa dần theo từng nhịp sóng vỗ. Những rặng tre ngà khẳng khiu gầy guộc ven đê, những mái nhà tranh xơ xác tiêu điều nép mình trong bóng tối, những giàn phơi vải nhuộm chàm xanh ngắt bên mép nước—nơi chôn rau cắt rốn, nơi lưu giữ toàn bộ ký ức tuổi thơ thanh bình và những giọt mồ hôi nhọc nhằn của hai anh em—giờ đây chỉ còn là một vệt đen mờ mịt, xa xăm và lạnh lẽo.
Con thuyền trôi vào khúc quanh mờ mịt của dòng Cửu Hà, để lại sau lưng bến nước tuổi thơ đang chìm dần trong vòng vây của những chủ nợ vô hình.