Sổ Nợ Trường Sinh — Phần 1: Người Đòi Nợ TrờiCh.28 / 38
Chapter 28

Đồng minh bán một nửa sự thật

Ngọn đèn dầu trong khoang thuyền của Tạ Bách chập chờn khi Nam đặt hai cuốn nhật trình vận tải cảng cạnh nhau dưới ánh trăng khuya.

Gió từ mặt sông Cửu Hà thốc qua khe ván gỗ ghép tạm, mang theo mùi tanh nồng của bùn lợ, mùi rỉ sét ẩm ướt bốc lên từ những vòng xích neo ngập nước, và hơi lạnh rượi buốt xương của một đêm thành phủ cuối thu. Những đợt sóng vỗ lách bách vào mạn con thuyền buôn mang số hiệu LH-772 như từng nhịp gõ khô khốc, dồn dập của chiếc mõ điểm canh nơi cửa ngục. Bên ngoài chấn song gỗ, thành Tĩnh Giang đã chìm sâu vào giấc ngủ ngột ngạt dưới bóng tối lừng lững của những dãy tháp canh tuần tra giăng kín ven bờ. Nhưng ngay trong khoang lái chật hẹp, tù hãm này, không khí lại đặc quánh, bức bối như thể ai đó vừa đổ một mẻ chì nóng chảy vào lồng ngực của từng người đang có mặt.

Đỗ Hoài Nam khẽ hít một hơi thật sâu, giữ cho luồng khí lạnh lọt qua kẽ răng tràn xuống đan điền. Luồng chân khí Thông Mạch sơ kỳ vừa thành hình đêm qua chậm rãi luân chuyển qua mười hai chính kinh, mang theo chút hơi ấm le lói mỏng manh nhằm xoa dịu hai huyệt Phế Du và Tâm Du vốn vẫn còn âm ỉ rạn nứt sau trận đối đầu với đám sai nha Ty Chấp Khế. Mỗi nhịp đập nơi lồng ngực anh đều nhói lên một cơn đau âm ỉ, nhưng sự nhức nhối xác thịt ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với gánh nặng đang đè chặt tâm trí. Việc Kỷ Vân tự tra tay vào cùm sắt, nộp mình vào ngục tối Tòa Khế chiều nay giống như một khối đá ngàn cân rơi thẳng xuống vận mệnh của toàn bộ liên minh. Mất đi tay kiếm hộ vệ chủ lực, mất đi tấm lá chắn sắc bén nhất có thể cản phá những thủ đoạn ngầm của giới tu sĩ, mỗi bước đi của đoàn kiểm toán giờ đây đều phải tính toán bằng từng nét mực, từng con số, từng kẽ hở luật lệ trên giấy tờ để tự giữ lấy mạng sống của chính mình.

Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của ngọn đèn bấc ba tim ngâm dầu trẩu, Nam dùng đầu ngón tay thô ráp, chai sần vì nhiều năm cầm bút miết chậm rãi dọc theo bảng kê lộ trình di chuyển hồ sơ ngày thứ năm. Đó là bản kế hoạch tuyệt mật mà liên minh vừa mới thống nhất sáng nay nhằm áp giải hòm tang vật từ Kho Văn Thư Số Ba sang Tòa Khế để đối chất trực diện với phía đại diện Tông môn Thanh Đài. Kế ngay bên cạnh bản lộ trình còn thơm mùi mực mới là cuốn nhật ký tàu thuyền xuất bến tại cảng Tĩnh Giang do tuần bộ bến sông vừa niêm yết công khai lúc đầu canh một.

Đột nhiên, đầu ngón tay Nam khựng lại ở dòng mực thứ mười bảy.

Anh nheo mắt, hơi thở khẽ ngừng trệ. Cánh tay run rẩy gạt nhẹ chiếc chụp đèn bằng thủy tinh ố khói, kéo ngọn bấc lại gần mặt giấy thêm nửa tấc. Mùi dầu trẩu khen khét bốc lên cay xè sống mũi, hòa lẫn với mùi giấy dó cũ kỹ tạo nên một thứ áp lực vô hình bóp nghẹt gian khoang.

— Tạ huynh, lại đây xem cái này.

Tạ Bách đang ngồi xếp bằng ở góc khoang lái, lưng tựa vào vách ngăn bọc nẹp sắt. Hai bàn tay to bè, sần sùi của gã thương nhân vận tải đang thoăn thoắt gảy chiếc bàn tính bằng gỗ mun, những hạt tính va vào nhau tanh tách khô giòn khi gã cố tính toán lại chi phí neo đậu, tiền dầu đèn và các khoản tiền công ứng trước cho đám phu thuyền trung thành. Nghe tiếng gọi trầm đục của Nam, gã hơi giật mình, ngón tay dừng lại trên hàng tính thứ tư. Gương mặt vuông vức dãi dầu sương gió của gã cau lại, đôi mày rậm như sâu róm nhíu chặt khi nhận thấy nét mặt nghiêm trọng khác thường cùng sự im lặng bất thường của người thanh niên kiểm sổ. Gã buông chiếc bàn tính mun xuống mặt sàn cói, chống gối đứng dậy, đôi ủng da bò nện từng bước nặng nề, lê trên mặt ván gỗ tiến tới bên chiếc bàn trà thấp.

— Có chuyện gì mà mặt mày ngươi như đưa đám thế kia? — Tạ Bách cất giọng khàn đặc vì khói thuốc và sương đêm. — Chẳng phải lịch niêm phong hòm tang vật và niêm chì xe tải của Thị sát viên Tiết Chấn đã chốt xong xuôi từ chập tối rồi sao? Giờ này không lo nhắm mắt dưỡng tức lấy sức cho buổi điều trần sáng mai, còn bới mớ giấy lộn của tuần bộ bến cảng làm gì cho tổn hao tâm lực?

Nam không ngẩng đầu lên đáp lời, chỉ lặng lẽ cầm lấy ngọn bút lông đã mòn vẹt đầu, chấm nhẹ vào chiếc nghiên mực cạn đáy, rồi vạch một vòng tròn màu đen bao quanh hai điểm mốc thời gian cách nhau chưa đầy ba tấc giấy.

— Huynh nhìn kỹ chỗ này đi. Đừng nhìn vào tổng số chuyến, hãy nhìn vào con dấu điểm chỉ giờ khắc xuất phát. Theo bảng điều phối luồng lạch nội bộ của Liên hội Vận Thương được ký kết hồi đầu tuần, đoàn thuyền buôn gồm bốn chiếc tải trọng ba trăm thạch của Thương hội Hà thị—toàn bộ do đích thân Hà Duy Thịnh đứng tên đăng ký pháp nhân—được xếp lịch rời bến Tĩnh Giang xuôi về hạ lưu vào giờ Thìn ba khắc sáng mai. Đó là khung giờ mở cửa xả đập, khi con nước xuôi dòng và sương mù trên sông đã tan hẳn. Nhưng huynh hãy nhìn vào cuốn nhật ký xuất bến thực tế của trạm tuần tra cảng vừa nộp về đêm nay xem. Đội thuyền bốn chiếc của Hà lão bản đã nhận lệnh kéo cọc chắn luồng, thu dây néo, nhổ neo rời bến từ lúc giờ Hợi canh ba.

Tạ Bách chớp mắt lia lịa. Gã cúi gập người, ghé sát gương mặt râu ria lởm chởm xuống trang giấy vàng úa nồng nặc mùi ẩm mốc. Đồng tử gã co rút lại thành hai điểm nhọn hoắt khi những con số và con dấu triện màu đỏ nhạt đập vào mắt:

— Rời bến sớm hơn ba canh giờ? Giữa lúc thành phủ đang giới nghiêm toàn diện, các đội tuần tra thủy binh và trạm kiểm soát liên ngành của Ty Chấp Khế phong tỏa từng khúc sông rà soát dịch tả lẫn khế ước lậu, mà đoàn thuyền bốn chiếc chất đầy hàng của lão Thịnh lại lọt qua trạm kiểm soát êm ru như đi dạo chợ đêm? Không hề có một dòng ghi chú kiểm tra mớn nước, không có biên bản lưu giữ chứng từ kiểm dịch, thậm chí không có cả chữ ký của viên thanh tra bến đỗ phụ trách mạn nam?

— Không những không bị gây khó dễ hay ách tắc kiểm tra, mà con triện đỏ cho phép thông hành đặc cách còn do đích thân viên Thừa biện trực ban đêm của Doanh Vận Ty ký duyệt ngoại lệ, — Nam trầm giọng, từng thanh âm phát ra lạnh tanh như nước múc từ đáy giếng sâu giữa mùa đông. — Một thương nhân lão luyện, đa nghi và cẩn trọng đến từng đồng tiền phế bến bãi như Hà Duy Thịnh, người từng đắn đo từng cắc bạc lẻ trong suốt cuộc họp liên minh tại xưởng rèn Chợ Đổi Niên, cớ sao phải vội vã tháo chạy trong đêm hôm khuya khoắt thế này? Ông ta vội vã đưa hàng đi đâu, hay là... đang vội vã tháo chạy khỏi một nơi mà ông ta biết chắc rằng sắp sửa nổi phong ba bão táp?

Tạ Bách đứng thẳng dậy, bờ vai gã rung lên bần bật. Sắc mặt gã sầm xuống như đám mây giông vần vũ ngoài cửa biển trước cơn cuồng nộ. Bàn tay to bè gân guốc của gã siết chặt lấy thanh lan can khoang lái, chiếc then cài bằng đồng bên dưới nẹp gỗ rên lên kẽo kẹt, khớp xương ngón tay gã kêu răng rắc từng chập:

— Mẹ kiếp nhà nó! Đội thuyền bốn chiếc của lão Thịnh neo ngay sát mạn con thuyền 772 này của ta ở bến Nam Hà suốt ba ngày nay. Mới hồi chiều, trước khi Kỷ Vân bước vào Tòa Khế nộp kiếm, lão còn bước sang đây uống trà, vỗ vai ta bôm bốp, luôn mồm thề thốt bảo sẵn sàng đem toàn bộ ngân phiếu bảo lãnh của Hà thị ký thác vào quỹ bảo toàn rủi ro của Tòa Khế để ép phe Lương Trạch phải mở sổ sách Thanh Đài Tông ra đối chất. Lẽ nào... con chó già đó dám...

Lời rủa sả của Tạ Bách còn chưa kịp dứt thì từ phía mạn ngoài khoang thuyền bỗng vang lên tiếng gõ nhẹ vào mạn gỗ. Ba tiếng ngắn, rồi tiếp theo là hai tiếng dài, nhịp điệu ngắt quãng đều đặn theo đúng quy ước ám hiệu mà liên minh đã đặt ra từ trước.

Tạ Bách nín bặt, tay phải lập tức đưa xuống bên hông chạm vào chuôi đoản đao. Nam khẽ lắc đầu ra hiệu cho gã bình tĩnh, rồi đứng dậy tiến về phía cửa khoang.

Tấm rèm cói dày ngăn gió lạnh khẽ vén lên. Một bóng người trùm áo tơi đen tuyền, đầu đội chiếc nón lá sụp che khuất nửa khuôn mặt bước vào bên trong một cách nhanh nhẹn nhưng không hề phát ra tiếng động. Khi chiếc nón lá đọng nước được tháo xuống, lộ ra gương mặt già nua với những nếp nhăn sâu hoắm như vết chém khắc khổ của bà Mẫn. Đôi mắt sâu của vị cựu thư lại trưởng Tòa Khế sáng quắc như hai ngọn đuốc giữa đêm trường tăm tối. Tà áo tơi của bà ướt đẫm hơi sương, gấu quần bết dính những mảng bùn non xám xịt từ các ngõ ngách ngoằn ngoèo ven bến sông.

Bà Mẫn không ngồi xuống ghế, cũng chẳng thèm cởi bỏ chiếc áo tơi sũng nước. Bà chỉ đưa đôi mắt sắc sảo nhìn lướt qua hai cuốn sổ đang mở toang trên bàn trà, rồi dời ánh nhìn thẳng vào mặt Nam bằng một vẻ nặng trĩu âu lo:

— Khỏi cần ngồi đây đoán mò đoán non nữa cho nhọc lòng. Tin tức nội bộ từ đám sai dịch cũ của ta trong nha môn vừa bí mật truyền ra cách đây đúng nửa khắc. Hà Duy Thịnh bán sạch chúng ta rồi.

Khoang thuyền bỗng chốc rơi vào một sự im lặng chết chóc. Gió ngoài sông dường như cũng ngừng thổi, chỉ còn lại tiếng ngọn bấc đèn cháy lách tách gắt gao giữa không gian ngưng trệ.

Nam đứng chôn chân tại chỗ, nhưng lồng ngực anh không hề dao động. Anh ngẩng đầu nhìn thẳng vào bà Mẫn, giữ cho giọng nói của mình phẳng lặng đến mức tàn nhẫn:

— Ông ta đã bán những gì, thưa bà?

Bà Mẫn rút từ sâu trong ống tay áo rộng ra một dải lụa mỏng có ghi vài dòng chữ thảo viết vội bằng mực tàu pha nước chè, ném thẳng lên mặt bàn gỗ:

— Giờ Tuất tối nay, khi thành phủ vừa đánh kẻng giới nghiêm, Hà Duy Thịnh đã bí mật đi vào cửa sau của Trà Lâu Vọng Giang bằng lối ngõ phụ dành cho kẻ gánh nước. Ở căn phòng kín trên tầng ba, tay chân thân tín của Chưởng khế Lương Trạch đã ngồi chờ sẵn cùng một ấm trà quý. Thịnh đã giao nộp toàn bộ tuyến đường áp giải hồ sơ kiểm toán ngày thứ năm—chính là bản lộ trình bí mật đi qua hẻm Ngõ Gạch và ngã tư cầu Thợ Nhuộm mà chúng ta vừa mới chốt lại sáng nay—cho phía Ty Chấp Khế. Đổi lại món mồi béo bở đó, đích thân Lương Trạch đã dùng ấn tín đặc quyền ký lệnh gỡ niêm phong đặc cách cho kho hàng riêng chứa năm trăm kiện tơ sống và linh dược quý của Hà thị tại khu Cảng Mới, vốn bị kẹt cứng từ đợt tổng phong tỏa ba ngày trước. Bốn chiếc thuyền của lão ta vừa nhổ neo tháo chạy trong đêm chính là chở trọn vẹn số hàng được giải vây đó rời khỏi bờ cõi Tĩnh Giang trước khi Tòa Khế kịp mở phiên xử vào sáng mai.

*Rầm!*

Tạ Bách không kìm nén nổi cơn lôi đình, giáng một quyền như búa tạ xuống mặt bàn gỗ lim. Chiếc bàn rung lên bần bật khiến ngọn đèn dầu nảy lên khỏi đế, một vệt dầu trẩu sánh ra ngoài rớt xuống trang giấy nhật trình, làm nhòe đi những dòng chữ số.

— Lão già khốn nạn! Ăn cháo đá bát! — Tạ Bách nghiến răng trét trét, hai tròng mắt đỏ ngầu như rưới máu, từng đường gân xanh trên trán giật lên điên cuồng. — Lão sợ cháy kho tơ của lão, sợ mất mấy trăm kiện hàng linh dược, liền nhẫn tâm đem mạng sống của mấy chục con người xóm Bến Lau, đem cả danh dự và tính mạng của toàn bộ hội đồng liên minh ra làm mồi nhử cho Lương Trạch! Tuyến đường bí mật bị lộ sạch, ngày mai chúng ta chỉ cần khiêng hòm chứng từ bước chân ra khỏi Kho Văn Thư Số Ba là sẽ rơi thẳng vào ổ phục kích bọc sắt của đám tay chân Chấp Khế! Chúng nó sẽ đập vỡ hòm, đốt sạch sổ sách, rồi đổ vấy cho chúng ta tội chống người thi hành công vụ!

— Nguy cơ lộ đường đi còn là chuyện có thể xoay xở đổi hướng, — bà Mẫn thở dài, giọng nói khô khốc vang lên như tiếng lá khô cọ xát dưới gót giày mùa đông. — Điều chí mạng nhất nằm ở chỗ này: Hà Duy Thịnh là một trong ba trụ cột đứng tên bảo trợ tài chính pháp lý cho Lệnh Thẩm Kê Số Bảy. Theo quy chuẩn tố tụng nghiêm ngặt của Tòa Khế, để duy trì hiệu lực tối cao của lệnh đình chỉ cưỡng thu đối với ba mươi hai hộ Bến Lau, quỹ bảo toàn rủi ro bắt buộc phải duy trì liên tục đủ một ngàn lượng bạc trắng chuẩn ngân hoặc tài sản tương đương có bảo chứng hợp pháp của các thương hội tham gia. Hai con thuyền vận tải của Tạ Bách được định giá sáu trăm lượng, bản thân ta và các thợ nhuộm gom góp được một trăm lượng. Toàn bộ bốn trăm lượng bạc ký quỹ dự phòng thiếu hụt trước đây đều dựa vào cam kết bảo lãnh tín dụng bằng giấy tờ của Hà thị. Lão Thịnh rút lui, xé bỏ cam kết, đồng nghĩa với việc toàn bộ hạn mức tín dụng dự phòng và cam kết bồi thường rủi ro vỡ thanh khoản của chúng ta bị khoét một lỗ hổng bốn trăm lượng bạc trắng.

Bà Mẫn tiến thêm một bước, ngón tay gầy guộc run rẩy chỉ vào tờ công văn niêm phong có dấu triện xám của Tòa Khế:

— Nếu trước giờ Thìn sáng mai, khi tiếng chuông điểm canh phiên xử đầu tiên vang lên, chúng ta không bổ sung đủ bốn trăm lượng bạc hoặc tài sản có giá trị pháp lý tương đương để bù đắp vào khoảng trống này, Thẩm khế Tống Nhược Thủy—dù bà ta có muốn duy trì sự công chính đến đâu—cũng buộc phải tuyên bố bãi bỏ Lệnh Thẩm Kê Số Bảy theo đúng điều khoản tố tụng hiện hành. Pháp luật của Tòa Khế xây trên sự cân bằng tài chính. Không có tiền bảo chứng, lệnh sẽ chết yểu ngay trước khi phiên tranh tụng bắt đầu.

Nam vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ con. Từng lời nói của bà Mẫn rót vào tai anh như những giọt chì lỏng buốt giá, khiến đại não đang căng thẳng tột độ như muốn nứt toác.

Mất Kỷ Vân đã là mất đi thanh kiếm hộ mệnh bên ngoài công đường. Nhưng nếu để mất Lệnh Thẩm Kê Số Bảy, hậu quả sẽ là sự hủy diệt hoàn toàn. Cỗ máy cưỡng thu Bát Môn Tỏa Khí đang nằm chực chờ tại Bến Lau sẽ lập tức được Ty Chấp Khế tái kích hoạt. Những cọc sắt câu linh sẽ lại cắm sâu xuống lòng đất bùn lầy, các sợi huyết tuyến vô hình sẽ xuyên thấu da thịt, rút cạn từng giọt sinh mệnh và chân khí của ba mươi hai người thợ nhuộm già yếu. Và Hoài An—người em gái ruột đang cùng anh dốc trọn tâm lực đứng tên đồng đại diện tố tụng nơi đất phủ hiểm nguy này—sẽ lại bị trát cưỡng thu thọ mệnh của Ty Chấp Khế bóp nghẹt, tước đoạt tuổi xuân trước khi kịp nhìn thấy ánh sáng của một bản án công minh.

Mọi công sức, máu và nước mắt đổ ra suốt năm ngày qua sẽ tan thành mây khói chỉ vì một cái bắt tay bẩn thỉu trong quán trà đêm.

— Hà Duy Thịnh hiện giờ đang ở đâu? — Nam cất giọng hỏi. Thanh âm của anh không hề cao, nhưng sắc lạnh, dứt khoát như nhát dao cạo ngọc lam cắt qua mặt băng.

Bà Mẫn quay đầu, đưa mắt nhìn ra màn sương mờ mịt đang cuộn sóng ngoài lòng sông Cửu Hà:

— Bốn thuyền hàng chở tơ của lão đã rời bến xuôi dòng, nhưng bản thân lão ta thì chưa lên thuyền. Một con cáo già lọc lõi như Thịnh không bao giờ dại dột đặt tính mạng của mình lên một chuyến thuyền chở hàng giải vây đầy rủi ro giữa đêm khuya. Lão đang ngồi tại Nhạn Hồi Trà Quán ở mỏm đá đầu bến sông, uống trà chờ đợi. Lão muốn đợi cho đến khi đoàn thuyền vượt qua trạm gác cửa sông an toàn tuyệt đối, lúc đó mới dùng ngựa trạm phi nước đại theo đường thiên lý để đón đầu thuyền tại bến dưới thuộc địa phận phủ bên.

Nghe đến đó, Tạ Bách giận run người. Gã không thèm suy nghĩ thêm một khắc nào, với tay giật phắt thanh đoản đao gài bên vách thuyền, rút phắt nửa lưỡi thép ra khỏi vỏ da:

— Mẹ nó chứ! Ta đi lột da con chó già đó ngay bây giờ! Ta sẽ kéo cổ lão ra giữa Chợ Đổi Niên, lôi lão đến trước mặt bàn dân thiên hạ để toàn bộ giới buôn bán Tĩnh Giang thấy rõ bộ mặt phản trắc, tráo trở của một tên hội viên Liên hội! Dù có phải đâm chết lão rồi đền mạng trước pháp trường, ta cũng không để lão sống yên ổn mà hưởng số bạc bẩn thỉu đó!

— Dừng lại ngay, Tạ huynh! — Nam vụt đứng dậy, bước nhanh tới giơ một cánh tay chặn ngang trước ngực Tạ Bách.

Thân hình Nam mảnh khảnh, nhìn qua tưởng chừng như yếu ớt trước vóc dáng vạm vỡ như gấu rừng của gã thương nhân sông nước. Nhưng ngay khoảnh khắc cánh tay hai người chạm nhau, luồng chân khí Thông Mạch sơ kỳ ẩn sâu dưới làn da Nam khẽ chuyển động, vững vàng như cọc lim cắm sâu vào lòng đá cuội, kìm chặt cánh tay đang cầm đao của Tạ Bách lại giữa không trung.

— Buông ta ra, Nam! Ngươi còn muốn nhẫn nhịn đến bao giờ nữa? — Tạ Bách gầm lên qua kẽ răng, mắt trợn trừng.

— Huynh làm ầm ĩ lên vào lúc này chính là tự tay bóp chết toàn bộ chúng ta, — Nam nhìn thẳng vào mắt Tạ Bách, ánh mắt kiên định đến mức khiến ngọn lửa giận dữ trong mắt gã thương nhân phải chùng xuống. — Huynh giết lão thì giải quyết được gì? Lấy lại được bốn trăm lượng bạc ký quỹ không? Hay là huynh chỉ tạo cớ cho đám sai nha Ty Chấp Khế kéo tới bến thuyền bắt bớ, niêm phong luôn con thuyền 772 này? Huynh nghĩ xem, nếu nửa đêm nay tin tức chủ thuyền Hà Duy Thịnh bị giết hoặc bị liên minh kiểm toán thanh trừng vỡ lở ra ngoài, giới thương gia trong thành phủ sẽ nghĩ gì?

Tạ Bách khựng lại, ngực thở phập phồng dữ dội.

Nam hạ giọng, từng lời nói rành rọt phân tích:

— Bọn họ sẽ nghĩ liên minh kiểm toán đã cùng đường, nội bộ bắt đầu tàn sát lẫn nhau, và cả tòa thành này sắp sửa sụp đổ dưới đòn phản công tàn độc của Chưởng khế Lương Trạch. Một khi tâm lý hoảng loạn bùng phát trong đêm, phong trào rút vốn, hủy bỏ bảo lãnh tín dụng sẽ lan rộng như một đám cháy rừng gặp gió lớn. Không chỉ Hà Duy Thịnh, mà toàn bộ các phường thợ nhuộm, các chủ xưởng cơ khí, các thương đoàn nhỏ lẻ đang lén lút ủng hộ chúng ta cũng sẽ lập tức đồng loạt rút đơn, xé khế ước để tự bảo toàn thân phận. Đến lúc đó, Tòa Khế thậm chí chẳng cần mở phiên xử, chúng ta đã tự tan rã thành tro bụi rồi!

— Vậy... vậy chẳng lẽ ngươi tính để yên cho lão nuốt trọn số hàng tơ tằm, bỏ túi bạc trắng rồi ung dung vỗ mông bỏ đi sao? — Tạ Bách buông thõng thanh đao xuống, giọng nghẹn lại vì uất ức.

— Yên sao được, — Nam quay người bước về phía góc khoang, cúi xuống với lấy chiếc tráp gỗ đựng hồ sơ mật đặt ở đầu giường. Anh đưa tay lật mở phần đáy tráp hai lớp được lót bằng một tấm lụa chống ẩm, rút ra một cuộn giấy vàng đã ngả màu ố vàng vì thời gian, bên trên chằng chịt những con số đối chiếu mớn nước, trọng tải thuyền bè và những con dấu mộc trạm kiểm vận đã mờ nhạt. — Đã là một thương nhân lăn lộn làm ăn trên chín khúc sông Cửu Hà suốt mười mấy năm qua, dưới chân thuyền ai mà chẳng dính vài vệt chàm dơ bẩn? Hà Duy Thịnh tưởng rằng mình có thể phủi tay áo lùi bước trong êm thấm, đem chúng ta làm vật hiến tế để đổi lấy sự bình an cho gia tộc lão sao? Không dễ thế đâu. Muốn rút lui an toàn, lão bắt buộc phải trả lại chiếc chìa khóa sinh tồn cho chúng ta.

***

Nhạn Hồi Trà Quán nằm chơ vơ trên một mỏm đá vôi xám nhô hẳn ra ngoài mép nước sông Cửu Hà, bốn bề gió thổi lồng lộng không ngớt.

Đêm đã trôi về canh tư, sương mù từ dưới mặt sông bốc lên bảng lảng, che khuất gần hết những ánh đèn hiệu mờ nhạt từ các cột buồm ngoài xa. Quán trà lá đơn sơ vắng ngắt không một bóng khách qua đường, chỉ có bốn chiếc đèn lồng khung tre bọc lụa đỏ treo đung đưa dưới mái hiên xiêu vẹo, hắt xuống mặt nước gợn sóng những vệt sáng lờ nhờ, đỏ quạch như vệt máu loãng nổi trên mặt sông.

Tại chiếc bàn con bằng tre mộc đặt sát mép lan can nhìn ra luồng lạch, Hà Duy Thịnh đang ung dung tự tại nâng chén trà hoa cúc nóng lên ngang mũi hít hà hương thơm. Vị thương nhân trung niên béo tốt, khoác trên mình chiếc áo gấm đắt tiền viền lông chồn trắng mịn màng, trên mười ngón tay lấp lánh ba chiếc nhẫn ngọc bích phỉ thúy. Gương mặt tròn trĩnh trắng trẻo của lão lúc nào cũng phảng phất nụ cười hòa nhã, đắc thắng của một kẻ cả đời trên thương trường chưa từng nếm mùi thua thiệt trong bất kỳ canh bạc sinh tử nào.

Đứng sừng sững sau lưng lão là hai tên hộ vệ to lớn vạm vỡ, áo chẽn bó sát người, hai tay khoanh trước ngực, ánh mắt lạnh lùng liên tục quét qua màn sương đêm đang dâng cao từ phía con đường mòn dẫn vào quán.

Tiếng bước chân giẫm lên lớp đá dăm lạo xạo vang lên từ bậc thềm đá.

Hà Duy Thịnh không hề quay đầu lại nhìn, khóe miệng lão khẽ nhếch lên thành một nụ cười nhàn nhạt, ngón tay tròn lẳn đeo nhẫn ngọc chậm rãi xoay tròn miệng chiếc chén sứ mỏng manh:

— Đêm hôm khuya khoắt thế này, gió sông buốt giá thấu xương, Đỗ tiểu ca và Tạ lão đệ không ở lại bến mà trông nom hòm chứng từ quý báu của mình, lại có nhã hứng vượt sương đêm ra tận mỏm đá này để cùng kẻ buôn bán nhỏ mọn như ta đàm đạo chuyện trà nước sao?

Nam và Tạ Bách cất bước bước lên sàn gỗ của quán trà. Gió sông thốc mạnh làm vạt áo vải thô màu xám của Nam bay phần phật, để lộ dáng người mảnh khảnh nhưng thẳng tắp như ngọn tùng trước bão. Nam không mang theo đoản côn, hai bàn tay buông thõng tự nhiên bên hông, nhưng từng bước chân của anh hạ xuống mặt sàn gỗ đều vững chãi lạ thường, khí tức bên trong cơ thể tuần hoàn một cách êm ái, tĩnh lặng không phát ra một tiếng động thừa thãi nào.

Tạ Bách đi ngay phía sau, đôi mắt đỏ ngầu trừng trừng nhìn vào gáy Hà Duy Thịnh. Bàn tay gã vẫn siết chặt lấy chuôi đoản đao giấu kín trong tay áo thụng, nhưng nhớ kỹ lời căn dặn của Nam trước khi rời thuyền, gã nghiến chặt quai hàm không nói nửa lời, lẳng lặng bước sang một bên, đứng sừng sững chắn ngang lối bậc thang đá duy nhất dẫn từ mỏm quán xuống bến buộc ngựa.

Nam bước thẳng tới chiếc bàn tre đối diện với Hà Duy Thịnh, kéo chiếc ghế đẩu mộc mạc ngồi xuống, ánh mắt bình thản nhìn vào chén trà bốc khói nghi ngút:

— Hà lão bản quả thực là người biết cách hưởng thụ thanh nhàn. Nhưng chén trà hoa cúc bến sông đêm nay e rằng uống vào sẽ có vị chát ngắt nơi đầu lưỡi. Bốn chiếc thuyền tải trọng ba trăm thạch chở đầy tơ sống và linh dược của Hà thị vừa thuận buồm xuôi gió qua khỏi trạm kiểm soát cửa sông chưa đầy nửa khắc, chắc hẳn trong lòng Hà lão bản lúc này đang cảm thấy nhẹ nhõm, khoan khoái vô cùng?

Nụ cười trên gương mặt tròn trĩnh của Hà Duy Thịnh hơi cứng lại một nhịp rất ngắn, nhưng con cáo già thương trường lập tức khôi phục lại vẻ tự nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Lão thong thả nâng chén trà lên môi, nhấp một ngụm nhỏ rồi thở ra một làn khói trắng:

— Thương trường như chiến trường khốc liệt, Đỗ tiểu ca à. Ta đây chỉ là một kẻ buôn bán phàm trần, cả đời chắt bóp, luồn cúi mới gầy dựng được chút cơ nghiệp mọn mằn để nuôi sống hàng trăm miệng ăn của già trẻ lớn bé trong gia tộc họ Hà. Chưởng khế Lương Trạch là con mãnh hổ hung hãn ngự trị toàn bộ vùng đất Tĩnh Giang này bao năm qua, còn các ngươi... dù có nắm trong tay Lệnh Thẩm Kê Số Bảy thần thánh của Tòa Khế, thì rốt cuộc cũng chỉ là một nắm phàm nhân yếu ớt cầm que củi khô đi chọc vào tổ ong vò vẽ khổng lồ mà thôi. Kỷ Vân chiều nay đã tự nguyện tra tay vào cùm sắt bước vào ngục tối, mất đi nanh vuốt hộ vệ duy nhất, các ngươi lấy gì để bảo vệ cái mạng quèn của mình sống sót qua giờ Ngọ ngày mai?

Hà Duy Thịnh đặt nhẹ chén trà xuống đĩa sứ, ánh mắt lộ rõ vẻ thương hại giả tạo:

— Ta không hề có ý hãm hại các ngươi, ta chỉ bán đi một mẩu thông tin mà sớm muộn gì phía Ty Chấp Khế cũng sẽ tự mình điều tra ra được, để đổi lấy một con đường sống sót an toàn cho số tài sản mồ hôi nước mắt của cả gia tộc ta. Đó là đạo sinh tồn căn bản của kẻ làm nghề buôn, tuyệt đối không phải là tội ác phản phúc.

— Đạo sinh tồn của ông, — Nam lạnh lùng cất lời, từng thanh âm của anh rành rọt xuyên qua tiếng gió rít gào trên mặt sông, — là giẫm đạp lên xương máu của ba mươi hai hộ thợ nhuộm Bến Lau để kéo đoàn thuyền chở tơ của mình thoát khỏi bãi cạn? Đạo sinh tồn của ông là bán đứng tính mạng của những người đã từng tin tưởng đưa lưng ra che chắn cho ông suốt những ngày qua?

— Các ngươi ngây thơ lắm, các ngươi không cứu nổi thiên hạ này đâu! — Hà Duy Thịnh khẽ lắc đầu, thở dài một tiếng sầu não. — Sáng mai khi Tòa Khế chính thức mở phiên xử đại hình, Lương Trạch đã bí mật bố trí sẵn hơn ba trăm tên tán tu vũ trang đầy mình bao vây toàn bộ các ngả đường ngoài thành để gây áp lực tuyệt đối. Dù các ngươi có mọc cánh mang được chiếc hòm chứng từ nguyên vẹn bước tới công đường, thì chỉ cần quỹ bảo trợ rủi ro của liên minh thiếu hụt bốn trăm lượng bạc ký quỹ từ phần của ta, Thẩm khế Tống Nhược Thủy cũng buộc phải hạ bút hủy bỏ Lệnh Thẩm Kê Số Bảy ngay tại chỗ theo đúng quy chế tố tụng. Ta khuyên hai người một câu chân tình: cầm lấy năm mươi lượng bạc lộ phí này của ta, nhân lúc trời còn chưa rạng sáng, mau chóng nhảy lên một chiếc thuyền nan xuôi về phương nam mà trốn chạy đi. Đừng vùi xác ở chốn Tĩnh Giang đầy cạm bẫy này nữa.

Nói đoạn, Hà Duy Thịnh thò tay vào ngực áo, rút ra một tấm ngân phiếu đặt lên bàn.

Nam không thèm liếc mắt nhìn tấm ngân phiếu lấy một lần. Khóe môi anh khẽ nhếch lên thành một nụ cười khô khốc, buốt lạnh. Anh thong thả thò tay vào trong bọc áo vải thô, rút ra một xấp vận đơn bằng giấy dâu đã ngả màu vàng sẫm, đặt ngay ngắn, phẳng phiu lên mặt bàn tre, ngay sát cạnh chiếc chén sứ của Hà Duy Thịnh.

— Hà lão bản quả nhiên tính toán sâu xa, kín kẽ từng đường đi nước bước. Nhưng hình như ông đã quên mất một sự thật căn bản: trước khi tôi trở thành người đứng đơn khiếu nại trước Tòa Khế, tôi đã từng làm một người kiểm sổ cặm cụi tại Trạm Linh Vận Bến Lau suốt sáu năm trời đằng đẵng.

Hà Duy Thịnh khẽ nheo mắt nhìn xấp giấy dâu cũ kỹ, đôi hàng lông mày được tỉa tót cẩn thận bỗng giật giật liên hồi:

— Cái đống giấy lộn này... là cái gì? Ngươi định đem giấy tờ phế thải ra dọa dẫm ta sao?

— Đây là toàn bộ bản sao trích lục vận đơn đường thủy mang mã hiệu từ HT-ĐoanKiều-088 đến HT-ĐoanKiều-094, được lập vào mùa lũ lớn năm Khang Định thứ mười một, — Nam dùng đầu ngón tay trỏ gõ nhẹ từng nhịp đanh gọn lên mặt giấy. — Toàn bộ sáu chuyến thuyền vận tải hạng nặng đó của Thương hội Hà thị đều khai báo với quan nha là chở muối mỏ và quặng sắt trợ giá cho công trình đắp đê ngăn lũ khẩn cấp của phủ thành Tĩnh Giang, nhờ đó mà được miễn trừ hoàn toàn một trăm phần trăm thuế quan lưu thông và các khoản phụ thu luồng lạch. Nhưng theo kết quả đối chiếu chéo mà tôi vừa kiểm tra lại với nhật trình mớn nước của trạm thu phí bến Đoan Kiều và sổ kho ngầm tại bãi cẩu rác Chợ Đổi Niên, toàn bộ ruột hàng thực tế giấu bên trong sáu chuyến thuyền năm đó không phải là muối, càng không phải là quặng sắt. Chúng là ba trăm thùng linh dược hạ phẩm chứa tạp chất kịch độc bị cấm lưu hành, trốn lậu trót lọt hơn sáu trăm lượng bạc tiền thuế giao thương liên phủ.

Sắc mặt của Hà Duy Thịnh trong tích tắc biến đổi từ hồng hào sang trắng bệch, rồi nhanh chóng chuyển thành một màu xám ngoét như tro tàn đáy bếp. Bàn tay đang cầm chén trà của lão khẽ run rẩy dữ dội, khiến vài giọt nước trà hoa cúc nóng rẫy sánh ra ngoài, rớt thẳng xuống mu bàn tay mập mạp của lão.

— Ngươi... ngươi đào đâu ra cái mớ chứng cứ ma quỷ này? — Giọng lão Thịnh bỗng lạc hẳn đi, run rẩy không giấu giếm. — Chuyện này... chuyện này đã trôi qua ba năm rồi, toàn bộ sổ sách gốc năm đó đã bị hỏa hoạn thiêu rụi trong trận cháy kho Đoan Kiều rồi cơ mà!

— Đối với những kẻ gian thương buôn lậu, một trận hỏa hoạn có thể xóa sạch dấu vết. Nhưng đối với một người làm sổ sách chuyên nghiệp, các con số luôn luôn để lại bóng ma của nó trên từng trạm kiểm vận liên đới, và chúng không bao giờ trở thành rác rưởi vô giá trị, — Nam rướn người về phía trước, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo ngọc lam khóa chặt lấy đôi đồng tử đang co giật kịch liệt của kẻ đối diện. — Hà lão bản, ông hãy thử nghĩ xem: nếu ngay trong đêm nay, tôi sai người đem toàn bộ tập vận đơn gian lận kèm theo dấu triện kiểm định đối chiếu này nộp thẳng vào phòng trực ban của viên Giám sát viện Tòa Khế đang thụ lý hồ sơ kiểm toán, cộng thêm bản tường trình chi tiết có điểm chỉ của Lão Đồ bên xưởng cơ khí Chợ Đổi Niên về các khoản lại quả bốc dỡ ngầm, thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Nam ngừng lại một nhịp, để từng lời nói ngấm sâu vào nỗi kinh hoàng của đối phương:

— Bốn chiếc thuyền chở tơ sống và linh dược quý mà ông vừa thở phào cho xuất bến sẽ bị lực lượng thủy quân của Hiệp ước Liên Phủ đón lõng, chặn đứng ngay tại âu thuyền Vạn Lại dưới danh nghĩa điều tra tội phạm buôn lậu và trốn thuế liên phủ quy mô lớn. Toàn bộ kho hàng vừa được gỡ niêm phong của ông tại Cảng Mới sẽ lập tức bị Tòa Khế ra lệnh tịch thu phong tỏa vĩnh viễn để bán đấu giá sung công quỹ bồi thường. Đến lúc đó, khi ông đã mất sạch toàn bộ sản nghiệp và danh dự, ông nghĩ xem Chưởng khế Lương Trạch có thèm nhấc một ngón tay út lên để cứu vớt một con tốt thí đã bị vắt kiệt giá trị lợi dụng như ông hay không? Hay là lão sẽ lập tức hạ lệnh diệt khẩu để bịt đầu mối?

Hai tên hộ vệ đứng phía sau Hà Duy Thịnh nhận thấy tình hình nguy cấp, ánh mắt lóe lên vẻ hung tợn, bàn tay toan thò vào bên trong vạt áo để rút chủy thủ ám sát.

*Keng!*

Một tiếng rít chói tai của kim loại cọ xát vang lên xé toạc màn sương đêm. Tạ Bách đứng bên bậc thềm đá đã rút phắt thanh đoản đao ra khỏi vỏ da trâu. Ánh thép xanh biếc lấp loáng dưới ánh đèn lồng đỏ hắt ra luồng sát khí hung hãn, tàn bạo của một kẻ đã từng tung hoành, chém giết nơi sóng dữ bến nước:

— Thằng nào dám nhúc nhích nửa bước? Cứ thử cử động xem ngón tay các ngươi nhanh hơn hay lưỡi đao của Tạ Bách này nhanh hơn! Con thuyền buôn 772 của ta chở bốn mươi tay chèo trang bị câu liêm, giáo mác đang neo cách mỏm đá này đúng mười trượng ngoài mặt sông. Đao của ta chưa từng chém đầu tu sĩ Lập Đài, nhưng chặt đứt cổ hai con chó giữ nhà của Hà thị thì chưa cần tốn đến nửa tuần trà đâu!

Hà Duy Thịnh hoảng hồn, vội vã giơ hai bàn tay run lẩy bẩy lên trời, quát tháo the the ngăn cản hai tên hộ vệ của mình:

— Dừng tay! Lũ ngu xuẩn kia, cút ra phía sau mau! Không được manh động!

Những giọt mồ hôi lạnh toát bắt đầu túa ra như tắm trên vầng trán bóng nhẫy của lão thương nhân họ Hà. Lão đưa chiếc khăn lụa lên lau vội, nhưng mồ hôi cứ thế ứa ra. Lão trừng trừng nhìn vào chàng thanh niên nghèo khó đang ngồi trước mặt mình. Đỗ Hoài Nam vẫn giữ nguyên vẻ điềm tĩnh đến đáng sợ, không một chút gợn sóng giận dữ, không một chút biểu hiện của sự đắc thắng. Lão hiểu rõ, phàm nhân trước mặt lão là một con người đáng sợ hơn bất kỳ tên đao phủ nào: một kẻ nắm giữ bản chất của những con số và sự vận hành tàn nhẫn của luật lệ. Từng mã số vận đơn, từng con dấu mớn nước đều chính xác đến rợn người, đủ sức biến toàn bộ gia sản ba đời của họ Hà thành tro bụi chỉ trong một buổi sáng.

— Ngươi... Đỗ tiểu ca... ngươi rốt cuộc muốn gì ở ta? — Hà Duy Thịnh nuốt nước bọt cái ực, cổ họng lão đắng ngắt, giọng nói khàn đặc như bị nghẹn cát.

— Tôi không muốn làm ầm ĩ chuyện này khiến toàn bộ giới thương gia trong thành phủ hoảng loạn tháo chạy, làm hỏng đại cục kiểm toán, — Nam thong thả rút từ trong tay áo ra một tờ giấy bản trắng tinh đã được cắt góc cẩn thận, cùng một thỏi mực nang và một cây bút lông nhỏ, đẩy nhẹ sang phía trước mặt Thịnh. — Tôi muốn ông cầm bút lên, tự tay viết và ký vào bản cam kết tự nguyện rút lui khỏi liên minh kiểm toán vì lý do sức khỏe cá nhân sa sút. Trong văn bản này, ông phải cam kết giữ im lặng tuyệt đối, không được tiết lộ nửa lời về bất kỳ tài liệu, thông tin hay kế hoạch nội bộ nào của liên minh cho phía Ty Chấp Khế hay bất kỳ ai, cho tới khi phiên điều trần ngày mai tại Tòa Khế kết thúc trọn vẹn. Đồng thời, ông phải bàn giao lại toàn bộ con dấu lưu động của thương hội và tấm thẻ bài hội viên Liên hội Vận Thương mà ông đang dùng để điều phối các luồng lạch bến sông cho Tạ Bách nắm giữ.

Hà Duy Thịnh nhìn chằm chằm vào tờ giấy trắng vô tội, rồi lại đưa mắt nhìn xuống xấp vận đơn gian lận chết người đang nằm im lìm dưới những ngón tay gầy gò của Nam. Toàn thân lão run rẩy, hàm răng va vào nhau lập cập. Lão hiểu rằng mình không còn bất kỳ một sự lựa chọn nào khác. Nếu không ký, cả người lẫn hàng của lão sẽ bị chôn vùi ngay trong đêm nay.

Bàn tay béo múp míp của lão run rẩy cầm lấy cây bút lông, chấm đẫm vào thỏi mực mài vội.

— Ký xong... và giao nộp thẻ bài rồi... ngươi có cam đoan sẽ đốt bỏ toàn bộ mớ giấy tờ chết tiệt này không?

— Tôi là một người kiểm sổ sách, không phải một tên cướp cạn tống tiền, — Nam lạnh lùng nhìn thẳng vào mắt lão, từng lời nói đanh thép như gang thép. — Toàn bộ chứng cứ phạm pháp này sẽ nằm yên dưới đáy tráp của tôi, vĩnh viễn không bao giờ nhìn thấy ánh sáng mặt trời, chừng nào ông giữ trọn vẹn lời thề im lặng của mình. Nhưng chỉ cần sáng mai có thêm một mảnh tin tức nào bị rò rỉ ra ngoài bến sông, hay có thêm một bóng người của Ty Chấp Khế xuất hiện ngăn chặn chúng tôi, thì bốn chiếc thuyền tơ của ông sẽ vĩnh viễn không bao giờ có cơ hội cập được vào bất kỳ bến cảng nào ở vùng hạ lưu. Lời của Đỗ Hoài Nam này nói ra, nặng ngàn cân.

Hà Duy Thịnh cắn chặt môi dưới đến mức bật máu tươi. Lão cúi gằm mặt xuống, ngòi bút lông run rẩy ngoáy từng nét chữ nguệch ngoạc lên tờ giấy trắng, cam kết rút lui và giữ bí mật tuyệt đối. Sau khi ký xong tên họ, lão nhắm nghiền mắt lại, dùng ngón tay cái ấn ngập vào hộp mực đỏ tươi, điểm chỉ một dấu triện máu đỏ chót vào góc dưới cùng của văn bản.

Kế đó, với vẻ mặt xót xa như bị cắt từng khúc ruột, lão thò tay vào thắt lưng, tháo ra một tấm thẻ bài bằng đồng thau nặng trịch chạm khắc hoa văn sóng nước cuộn trào—biểu tượng quyền lực điều phối luồng lạch của Liên hội Vận Thương—cùng hai con dấu lưu động bằng ngà voi, run rẩy đặt tất cả lên mặt bàn trà. Xong xuôi, lão cúi gằm mặt, không dám ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt hai người thêm một lần nào nữa.

— Nhận lấy đồ đạc của lão, rồi cút xéo khỏi mắt ta! — Tạ Bách gằn giọng qua kẽ răng, lưỡi đoản đao trong tay gã khẽ vung lên một đường chỉ thẳng về phía con đường mòn.

Hà Duy Thịnh như kẻ vừa bước một chân vào cửa tử rồi được tha mạng, vội vã lồm cồm đứng dậy. Chiếc áo gấm đắt tiền quệt cả vào cạnh bàn trà làm đổ nghiêng chén nước. Lão không buồn ngoái đầu lại, luống cuống cùng hai tên hộ vệ cắm đầu cắm cổ lủi nhanh vào bóng tối mịt mùng của con đường mòn bến sông. Tiếng vó ngựa dồn dập vang lên gấp gáp trong màn đêm, tiếng roi quất ngựa xé gió vang vọng một hồi rồi chìm dần, mất hút hẳn sau những rặng lau sậy lạnh lẽo ven bờ.

***

Khi Nam và Tạ Bách trở về tới gian kho trung chuyển lớn nhất của họ Tạ tại bến cảng Tĩnh Giang, tiếng mõ điểm canh tư từ tháp canh trên bờ thành đã gõ những nhịp rời rạc, báo hiệu màn đêm sắp sửa tàn lụi.

Bên trong gian kho thênh thang, rộng ngút ngàn, không khí nồng nặc mùi bao tải đay ẩm ướt, mùi nhựa thông dùng để xảm trét thuyền và mùi gỗ bồ đề khô xếp lớp. Không gian u tối chỉ được chiếu sáng le lói bởi một ngọn đèn dầu đơn độc đặt trên chiếc bàn gỗ thô sơ kê ở gian giữa.

Ngồi quanh bàn là bà Mẫn, cùng với bác Ba và chú Đạt—hai người đại diện thợ nhuộm lớn tuổi của Bến Lau. Cả hai người thợ già đều mặc những bộ quần áo nâu sờn rách, hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì ngâm nước chàm lâu năm đang nắm chặt lấy nhau đặt trên đầu gối. Trên mặt bàn gỗ, tờ biên bản tự nguyện rút lui còn ướt mực đỏ của Hà Duy Thịnh được đặt ngay ngắn bên cạnh văn bản Lệnh Thẩm Kê Số Bảy có dấu triện xám quyền lực của Tòa Khế.

Sắc mặt của bà Mẫn vô cùng ngưng trọng, đôi lông mày hoa râm nhíu chặt lại khi nhìn vào ngọn lửa bấc đèn đang lụi dần:

— Việc ép được Hà Duy Thịnh ký giấy rút lui trong im lặng và thu hồi được thẻ bài vận tải quả thực là một nước cờ chuẩn xác của Nam. Ít nhất, chúng ta đã chặn đứng được nguy cơ bùng phát làn sóng hoảng loạn tháo chạy của các phường thợ và giới buôn bán nhỏ trong đêm nay. Tuyến đường cũ bị lộ cũng có thể kịp thời thay đổi nhờ tấm thẻ bài điều phối luồng lạch của Tạ Bách. Nhưng... bài toán hóc búa nhất, nan giải nhất đe dọa sinh mạng của chúng ta thì vẫn nằm trơ trọi ở đó, chưa hề suy chuyển.

Bà Mẫn đưa tay gõ nhẹ lên tờ công văn Lệnh Thẩm Kê Số Bảy, giọng nói chùng xuống nặng nề:

— Hà Duy Thịnh rút lui, khoản bảo chứng tín dụng bốn trăm lượng bạc trắng của lão lập tức bốc hơi khỏi sổ sách. Quỹ bảo trợ rủi ro của chúng ta hiện thời rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản nghiêm trọng. Chưa đầy hai canh giờ nữa thôi, khi tiếng chuông điểm canh giờ Thìn vang lên, Viện Thẩm Tra Tòa Khế sẽ chính thức mở sổ kiểm kê tính hợp lệ của quỹ bảo chứng. Nếu chúng ta không thể xuất trình đủ bốn trăm lượng bạc trắng chuẩn ngân để lấp vào lỗ hổng này nhằm duy trì hiệu lực của Lệnh Thẩm Kê Số Bảy, Thẩm khế Tống Nhược Thủy dù có lòng muốn che chở cho dân nghèo cũng buộc phải hạ bút tuyên bố lệnh đình chỉ cưỡng thu vô hiệu lực theo đúng điều lệ tố tụng. Luật pháp không có chỗ cho sự thương hại nếu thiếu đi bảo chứng vật chất.

Nghe những lời giải thích rành rẽ nhưng tàn nhẫn ấy, bác Ba run bần bật. Hai bàn tay nhuộm màu chàm xanh xao của người thợ già bấu chặt vào mép bàn, đôi môi run rẩy lắp bắp:

— Lại... lại thiếu tiền sao các bác? Quỹ tương trợ của ba mươi hai hộ dân cả làng chúng tôi gom góp từng hạt thóc, cắc bạc lẻ suốt năm năm trời đằng đẵng... chiều nay đã dốc cạn sạch từng đồng nộp vào Tòa Khế rồi... Giờ đào đâu ra bốn trăm lượng bạc trắng giữa đêm hôm khuya khoắt thế này? Chẳng lẽ... chẳng lẽ chuyến này trời thật sự tuyệt đường sống của đám dân đen Bến Lau chúng tôi rồi sao hả bà Mẫn?

Chú Đạt ngồi bên cạnh cũng gục đầu xuống hai bàn tay, bờ vai gầy guộc rung lên từng chặp, phát ra những tiếng nghẹn ngào bất lực.

Không gian trong gian kho hàng rộng lớn bỗng chốc trở nên ngột ngạt đến nghẹt thở. Cảm giác tuyệt vọng như một khối đá tảng vô hình đè nặng lên từng hơi thở của mỗi người. Bốn trăm lượng bạc chuẩn ngân—đó là một con số khổng lồ đối với những người phàm trần lao động nghèo khổ. Giữa lúc đêm hôm khuya khoắt, thành phủ đang áp đặt lệnh giới nghiêm nghiêm ngặt, các cửa hiệu cầm đồ và ngân trang đều đóng cửa then cài, họ biết đi đâu để vay mượn một số tiền lớn như vậy? Kể cả có chạy đến gõ cửa Hội đồng Góp vốn Sinh Khố của thương nhân Lê Hữu Cẩn, thì quy trình thẩm định tài sản phức tạp của phường buôn cũng phải mất ít nhất ba ngày ba đêm mới giải ngân được.

Mà thời gian của họ lúc này chỉ còn được tính bằng từng giọt dầu cạn dần trong chiếc đèn bấc, từng khắc lụn tàn của bóng đêm.

Đúng lúc sự bế tắc bao trùm lấy gian phòng, Tạ Bách—người từ lúc trở về vẫn đứng im lìm tựa lưng vào cây cột gỗ lim lớn ở giữa kho, lặng lẽ đảo mắt nhìn quanh những dãy kiện hàng hóa chất cao ngút ngàn chạm tới tận xà nhà—đột nhiên bật ra một tiếng cười khàn đục, chua chát.

Tiếng cười vang vọng giữa không gian kho hàng tĩnh mịch khiến mọi người đều giật mình ngẩng đầu lên.

— Tạ huynh? — Nam quay sang nhìn gã thương nhân, ánh mắt thoáng vẻ băn khoăn.

Tạ Bách không đáp lại ngay. Gã chậm rãi cất bước tiến về phía chiếc bàn gỗ, đôi ủng da nện từng bước chắc nịch trên nền đất nện. Ánh mắt gã quét qua từng khuôn mặt hốc hác, nhợt nhạt vì kiệt sức của bác Ba, chú Đạt, rồi dừng lại thật lâu trên đôi mắt thâm quầng nhưng vẫn rực sáng của Đỗ Hoài Nam:

— Đỗ Hoài Nam. Ngươi có bao giờ tự hỏi, vì sao một gã lái buôn lọc lõi, ranh ma, cả đời chỉ biết cân đong đo đếm từng cắc bạc cước như ta, lại chấp nhận mạo hiểm cả tính mạng để chở ngươi và Kỷ Vân rời khỏi Bến Lau trong cái đêm mưa gió mịt mùng ấy không?

Nam im lặng nhìn gã, khẽ lắc đầu.

— Không phải vì ta tốt bụng, càng không phải vì ta rỗi hơi đi làm chuyện trượng nghĩa bao đồng, — Tạ Bách tự trả lời, giọng nói của gã trầm xuống một cách kỳ lạ, mang theo một nỗi niềm cay đắng, u uất đã bị đè nén bấy lâu nay dưới đáy lòng. — Mà là vì ta sợ. Mười năm qua, đội thuyền buôn của dòng họ Tạ tung hoành ngang dọc khắp chín khúc sông Cửu Hà, người ngoài nhìn vào ai cũng tưởng Tạ Bách này phong quang vô hạn, tiền vào như nước, oai phong một cõi bến sông. Nhưng có ai thấu hiểu được, để giữ được luồng lạch êm ả, để những con thuyền chở hàng của ta không bị đám sai nha trạm kiểm vận kiếm cớ giữ lại làm khó làm dễ, ta đã phải cắn răng nhận vận chuyển bao nhiêu chuyến hàng mờ ám, tanh tưởi theo những tờ lệnh điều động bằng giấy tay của Ty Chấp Khế?

Nói đoạn, gã thương nhân bước nhanh về phía góc khuất sau cánh cửa kho, cúi người dùng mũi ủng gạt tung lớp rơm rạ khô phủ dày dưới chân một chiếc hòm gỗ lớn. Gã lôi ra từ bên dưới một bọc vải dầu cũ kỹ, mở tung ra, để lộ một tập sổ sách dày cộp đóng bằng bìa da cá đuối đã sờn rách các góc. Gã bước lại bàn, ném mạnh tập sổ sách xuống mặt gỗ lim:

*Bịch!*

— Mở mắt to ra mà xem! — Tạ Bách gằn từng tiếng, lồng ngực gã phập phồng dữ dội. — Năm mươi sáu chuyến tàu đêm! Toàn bộ đều khởi hành vào những đêm không trăng, tắt hết đèn lồng hiệu buồm! Chở những thứ gì? Giấy khế ước rọc trang chưa vào sổ bộ, mực chu sa pha bột lưu huỳnh chuyên dùng để yểm bùa phong tỏa, và hàng chục hòm cọc sắt câu linh rỉ sét được đúc lén lút từ các xưởng rèn ngầm của Lương Trạch xuôi về các vùng quê nghèo khó như Bến Lau, Cầu Tro! Ta biết thừa những chuyến hàng đó tanh tưởi mùi máu và nước mắt. Ta biết những cọc sắt đó chở đi là để cắm xuống đất đai, trói buộc sinh mệnh và bòn rút tủy sống của những người dân nghèo khổ như các ngươi!

Bác Ba và chú Đạt bàng hoàng run rẩy, đưa mắt nhìn tập sổ sách bìa da cá đuối, rồi lại ngước nhìn Tạ Bách với ánh mắt đầy kinh sợ xen lẫn xót xa.

— Nhưng ta đã nhắm mắt làm ngơ! — Giọng Tạ Bách nghẹn lại, hai bàn tay gã siết chặt thành nắm đấm đến trắng bệch các khớp xương. — Ta tự dối lòng mình rằng ta chỉ là một kẻ chở hàng thuê kiếm cơm, nhận vài đồng tiền cước lẻ để nuôi sống bốn mươi anh em phu thuyền dưới trướng. Chuyện thiện ác, nhân quả ở đời là việc của trời xanh lo, liên quan gì đến một gã lái đò như ta! Nhưng ta đã lầm to rồi...

Tạ Bách ngẩng phắt đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Nam, ánh mắt gã long lên những tia lửa quyết liệt:

— Nhắm mắt làm ngơ không bao giờ giúp một kẻ trở nên vô can! Lương Trạch chưa từng coi ta là đối tác. Lão dùng cái phụ thu khống quái quỷ DV-PhụThu-09 để bòn rút từng đồng tiền cước mồ hôi nước mắt của đội thuyền ta, rồi biến thương hiệu vận tải của ta thành tấm bình phong bẩn thỉu để hứng chịu mọi tiếng xấu bóc lột của người đời! Chiều hôm nay, khi đứng ở bậc thềm Tòa Khế, tận mắt chứng kiến con nha đầu Kỷ Vân—một đứa con gái trẻ tuổi—dám quỳ xuống nền đá hoa cương chịu cùm sắt tra vào cổ để gánh tội đền mạng cho xóm Cầu Tro... ta bỗng thấy lạnh toát cả sống lưng!

Gã vỗ mạnh mu bàn tay vào lồng ngực vạm vỡ của mình, hơi thở dồn dập:

— Một nữ chấp hành viên của Tòa Khế, từng cầm kiếm giết người không chớp mắt, mà khi nhận ra sai lầm còn dám đứng ra nhận lãnh trách nhiệm bằng cả mạng sống của mình. Chẳng lẽ một gã đàn ông đầu đội trời chân đạp đất, cả đời vùng vẫy giữa sóng to gió lớn như Tạ Bách này, lại hèn nhát rụt cổ trốn sau lưng mấy trang sổ sách gian lận mãi sao? Ta sống thế thì khác đéo gì một con giòi bọ rúc dưới đáy thuyền?

Bà Mẫn nheo mắt nhìn gã thương nhân, giọng bà trầm ngâm nhưng đầy vẻ cảnh báo:

— Tạ Bách, ngươi có hiểu rõ những điều mình vừa nói không? Ngươi muốn công khai tập nhật trình năm mươi sáu chuyến tàu đêm này trước Tòa Khế? Ngươi có lường trước được hậu quả pháp lý ghê gớm của nó không? Nếu công khai việc đội thuyền của họ Tạ từng tham gia vận chuyển vật tư phục vụ cho mạng lưới khế ước giả của Lương Trạch, toàn bộ giấy phép lưu thông đường thủy của ngươi sẽ bị thu hồi. Uy tín vận tải ba đời của họ Tạ sẽ sụp đổ hoàn toàn, và bản thân ngươi rất có thể sẽ bị Viện Kiểm Sát Tòa Khế truy cứu trách nhiệm đồng phạm liên đới ngay trước công đường!

— Ta biết chứ! Ta tính hết rồi! — Tạ Bách gằn giọng, ánh mắt lóe lên một quyết tâm sắt đá chưa từng thấy. — Nhưng chỉ có cách tự tay vạch áo cho người xem lưng, ta mới chứng minh được ta không phải là một mắt xích trong mạng lưới chuyển nợ ngầm của Lương Trạch! Chỉ có những trang nhật trình tàu đêm này mới bóc trần được toàn bộ tuyến vận tải khế ước giả mà lão Chưởng khế dùng để thao túng toàn bộ phủ Tĩnh Giang suốt năm năm qua! Và quan trọng hơn tất cả... ta có cái này để cứu lấy Lệnh Thẩm Kê Số Bảy của các ngươi!

Nói dứt lời, Tạ Bách thò tay sâu vào bên trong lớp áo lót dày bằng da thuộc, lôi ra một chùm chìa khóa bằng đồng đen to bản, nặng trịch. Chùm chìa khóa va vào nhau phát ra những tiếng kêu *leng keng* giòn giã, vang dội khắp gian kho tĩnh mịch. Cùng với chùm chìa khóa là một bản văn tự khế ước sở hữu nhà đất bằng giấy lụa dầy, có đóng dấu triện son đỏ chót của nha môn phủ Tĩnh Giang từ hai mươi năm về trước.

Tạ Bách trải mạnh bản văn tự sở hữu ra mặt bàn gỗ lim, đè chùm chìa khóa đồng đen lên trên:

— Gian kho trung chuyển số một này—chính là mảnh đất ba mẫu và dãy nhà kho kiên cố mà chúng ta đang đứng đây—là sản nghiệp lớn nhất, quý giá nhất của cả gia tộc họ Tạ tại bến cảng Tĩnh Giang này! Đất đai ven sông thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn, kết cấu tường bao xây bằng hai lớp đá hộc chống cháy, rui mè toàn bằng gỗ lim nguyên khối, sức chứa thực tế lên tới năm ngàn thạch hàng hóa! Giá trị thực tế trên thị trường giao thương phàm trần hiện nay không dưới sáu trăm lượng bạc trắng nguyên chất!

Tạ Bách cầm lấy cây bút lông mà Hà Duy Thịnh vừa vứt lại trên bàn, không chút do dự, gã chấm ngập ngòi bút vào nghiên mực đỏ tươi.

Trước sự chứng kiến sững sờ đến nín thở của bà Mẫn, hai người thợ Bến Lau và Đỗ Hoài Nam, Tạ Bách cúi người, cổ tay gân guốc vung lên viết xoèn xoẹt từng dòng chữ cam kết bảo lãnh bổ sung ngay vào phần lề dưới của bản khế ước sở hữu:

*“Nay Tạ Bách, đương kim chủ thương hiệu vận tải đường thủy Tạ thị, tự nguyện đem toàn bộ quyền sở hữu, khai thác và sử dụng gian kho trung chuyển số một tại bến Nam Hà đặt cọc toàn phần vào tài khoản bảo toàn rủi ro của Tòa Khế Tĩnh Giang. Bản cam kết này có giá trị bảo chứng vô điều kiện cho khoản thiếu hụt ngân quỹ bốn trăm lượng bạc do Hà Duy Thịnh để lại, nhằm duy trì hiệu lực pháp lý toàn phần của Lệnh Thẩm Kê Số Bảy cho đến khi kết thúc phiên kiểm toán mở rộng.”*

Viết xong dòng chữ cuối cùng, Tạ Bách ấn ngón tay cái dính đẫm mực chu sa đỏ thẫm vào cuối văn bản, rồi cầm lấy con dấu triện thuyền buôn bằng đồng của riêng mình đóng sầm một nhát đè lên vết điểm chỉ.

Gã ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào bà Mẫn:

— Thư lại Mẫn, bà là người am hiểu từng dấu chấm, dấu phẩy trong quy chế Tòa Khế suốt ba mươi năm qua. Chiếu theo Điều 28 Khoản 3 Quy chế Bảo toàn Tố tụng do chính tay bà tham gia biên soạn năm xưa, bất động sản kho bãi bến cảng có đầy đủ văn tự xác thực của quan nha sở tại có đủ tư cách pháp lý để thay thế cho phần ký quỹ chuẩn ngân bị thiếu hụt hay không?

Bà Mẫn đứng sững sờ. Đôi mắt già nua của vị cựu thư lại trưởng nhìn chằm chằm vào bản cam kết còn ướt đẫm mực đỏ, rồi nhìn sang chùm chìa khóa đồng đen nặng trịch, và cuối cùng dừng lại trên gương mặt vuông vức, kiên định của gã thương nhân sông nước. Khóe mắt nhăn nheo của bà bỗng chốc hoe đỏ, ngấn lệ. Bà khẽ hít một hơi run rẩy, gật đầu thật mạnh:

— Đủ! Hoàn toàn đủ tư cách pháp lý! Bản khế ước này có giá trị vượt xa bốn trăm lượng bạc trắng thiếu hụt! Ta sẽ đích thân dùng tư cách cựu thư lại trưởng Tòa Khế ký tên xác nhận vào vị trí người bảo chứng, và hai đại diện của phường thợ Bến Lau sẽ điểm chỉ làm chứng. Ngay đầu giờ Thìn sáng mai, trước khi tiếng chuông công đường điểm nhịp thứ ba, ta sẽ nộp toàn bộ hồ sơ bảo lãnh bất động sản này thẳng vào phòng lưu ký của Tống Nhược Thủy! Lương Trạch và Ty Chấp Khế đừng hòng dùng trò bẩn cắt quỹ để bức tử Lệnh Thẩm Kê Số Bảy thêm một lần nào nữa!

Bác Ba và chú Đạt run rẩy, hai người thợ già nước mắt lưng tròng, xúc động đến mức toan quỳ sụp xuống sàn đất nện để lạy tạ ân đức cứu mạng của Tạ Bách. Nhưng gã thương nhân đã nhanh như cắt giơ hai bàn tay to bè, thô ráp đỡ chặt lấy nách hai người, kéo họ đứng thẳng dậy:

— Đừng lạy ta! Hai bác đừng làm thế! Tạ Bách này không phải bồ tát, càng không phải kẻ đi làm phúc cứu đời! Ta cược toàn bộ gia sản ba đời của tổ tiên chuyến này không phải chỉ để cứu Bến Lau, mà là để đòi lại ba trăm hai mươi lượng bạc phụ thu khống mà con chó già Lương Trạch đã cướp trắng của anh em phu thuyền chúng ta suốt ba năm qua! Món nợ này, ta phải tính cả vốn lẫn lời với lão!

Nói xong, Tạ Bách dứt khoát quay người lại.

Gã thò tay chộp lấy chùm chìa khóa kho hàng bằng đồng đen nặng trịch, nện một tiếng *cạch* đanh gọn, dứt khoát lên mặt chiếc bàn gỗ lim, rồi dùng cả hai tay đẩy thẳng về phía trước ngực của Đỗ Hoài Nam.

Đôi mắt gã thương nhân đỏ ngầu vì thiếu ngủ, vì khói thuốc và sự căng thẳng tột cùng, nhìn xoáy thẳng vào đôi mắt kiên nghị của chàng thanh niên kiểm sổ Bến Lau:

— Cả cơ nghiệp ba đời nhà họ Tạ đều nằm ở đây. Chuyến này nếu chìm thuyền, chúng ta cùng làm ma sông Cửu Hà.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories