Sổ Nợ Nhà MìnhCh.6 / 35
Chapter 6

Của nhà mình là của ai

Chiếc xe máy của Trần Mai Chi vừa khuất sau rặng dừa thì tiếng bước chân dồn dập đã nện thẳng vào bậc thềm, kèm theo giọng nói gay gắt quen thuộc của cô ruột Võ Thị Dung đang cầm chặt một xấp giấy úa vàng.

Cánh cửa gỗ dán ghép lỏng lẻo ở gian phòng khách bị đẩy tung ra một cái *rầm*, va mạnh vào vách tường vôi bong tróc làm một mảng bụi vôi lấm tấm rơi xuống bậu cửa sổ. Cơn gió mặn chát của trưa nắng Phan Thiết thốc ngược vào bên trong, cuốn theo bụi cát khô khốc và mùi tanh nồng đặc trưng của mớ cá cơm đang phân giải dưới đáy những thùng ủ ngoài sân sau. Cái nóng hầm hập của miền duyên hải dường như tìm được lối thông, ùa vào gian nhà cấp bốn chật chội, đè nặng lên từng kẽ thở.

Lan chưa kịp uống hết ngụm nước trà nguội ngắt vừa rót ra chén, quai hàm còn mỏi nhừ sau hơn một tiếng đồng hồ căng thẳng cân não từng con số với đại diện chuỗi siêu thị Nam Lộ, thì đã phải ngẩng đầu đối diện với bóng người đồ sộ đang choán hết bậu cửa. Ánh sáng chói chang từ khoảng sân tráng xi măng hắt ngược vào lưng bà Dung, biến vóc người đẫy đà của người đàn bà buôn bán lâu năm thành một khối bóng tối sừng sững, chặn đứng luồng không khí hiếm hoi vừa lưu chuyển.

Bà Dung mặc chiếc áo hoa tím than đẫm mồ hôi hai bên nách, chiếc nón lá rách vành còn cầm hờ trên tay, mép nón tưa ra những cọng tre khô xơ xác. Mặt bà đỏ bừng vì nắng rát và cơn giận sôi sục đã tích tụ từ bao giờ, từng thớ thịt trên gò má giần giật theo nhịp thở dốc. Trên cổ tay múp míp, hai chiếc vòng vàng bốn số chín va vào nhau lách cách khô khốc khi bà vung mạnh xấp giấy mỏng dính, quăn góc, ném thẳng xuống mặt bàn làm việc bằng gỗ tạp của ông Thành.

Tập giấy chao lượn một vòng trong không khí đầy bụi bặm rồi rớt đè lên cuốn sổ thu chi bìa bọc nylon của Lan. Gió từ cửa sổ thổi lật mép giấy, để lộ những nếp gấp hằn sâu đã ngả màu cáu bẩn.

“Mày nhìn cho rõ đi con Lan!” Giọng bà Dung the thé, run lên bần bật vì kích động, chĩa thẳng mũi dùi vào cô cháu gái vừa từ thành phố trở về. “Mày đừng có tưởng ba mày nằm liệt trên cái giường bệnh kia, mày từ Sài Gòn xách ba lô về đây là muốn làm trời làm đất gì ở cái đất này cũng được! Mày tiếp khách sang, bàn chuyện tiền trăm triệu, tính qua mặt con ranh này để nuốt trọn mồ hôi nước mắt của cả họ hả mày?”

Lan không vội đáp. Cô ngồi nguyên tại vị trí của mình, đôi bàn tay gầy đặt phẳng trên mặt bàn gỗ gồ ghề. Cô hít sâu một hơi, để lồng ngực tự nén lại cảm giác chộn rộn đang chực trào dâng nơi cuống họng. Sau nhiều năm lăn lộn với những bảng cân đối tài chính và các đợt kiểm toán khắt khe tại các doanh nghiệp lớn trên thành phố, phản xạ đầu tiên của Lan trước mọi cơn thịnh nộ không phải là phân bua, mà là tách cảm xúc ra khỏi chứng từ. Cô từ tốn cúi xuống nhìn tập giấy vừa rơi trước mặt, ngón tay khẽ miết nhẹ lên mép giấy ráp ráp để cảm nhận độ tuổi của lớp xơ cellulose mục ruỗng.

Đó là bốn tờ giấy học sinh năm ô ly đã ngả sang màu vàng vôi, mép giấy bị gián nhấm nham nhở ở góc phải. Nét mực cửu long màu tím đã bay bớt sắc theo thời gian, chỉ còn lại những vệt tím nhạt khô khốc, loang lổ vài vệt ố tròn của nước mắm hoặc nước mưa từ nhiều năm trước đọng lại thành quầng thâm nâu xỉn. Nhưng nét chữ thô kệch, to bè và hơi nghiêng về bên phải thì không thể lẫn vào đâu được. Đó chính xác là chữ viết tay của ba cô—ông Võ Văn Thành. Từng nét móc, nét gạch chân vụng về của người đàn ông cả đời chỉ quen cầm dầm quấy mắm và kéo lưới hiện lên sắc nét, trần trụi dưới ánh nắng xiên khoai của buổi đứng trưa.

Tờ trên cùng ghi ngắn gọn vỏn vẹn mấy dòng, đề ngày mười hai tháng tư của mười năm về trước:

*“Có nhận của cô Dung năm mươi triệu đồng tiền mặt và ba cây vàng lá gom góp, lo việc cơi nới thêm bốn thùng chượp dãy sau cùng sắm cái máy chiết chai bán tự động. Hai anh em cùng tính, góp mở xưởng Hải Thành làm ăn lâu dài.”*

Bên dưới là chữ ký nguệch ngoạc của ông Thành, nét bút ấn sâu làm lằn cả sang mặt sau tờ giấy mỏng. Không có người làm chứng. Không có dấu lăn tay. Không có con dấu của bất kỳ cơ quan chính quyền nào. Và tuyệt nhiên, không có thêm bất kỳ một dòng nào giải thích về cơ cấu phân chia phần trăm, giá trị định giá xưởng thời điểm đó, hay thời hạn hoàn vốn và phương thức phân chia lợi nhuận giữa hai bên. Một tờ giấy giao dịch gia đình điển hình của miền Trung: nặng tình nghĩa, nhẹ nguyên tắc, và chứa đựng toàn bộ mầm mống của sự đổ vỡ khi biến cố ập xuống.

Bà Dung tiến sát lại gần mép bàn, mùi mồ hôi chua nồng quyện với mùi dầu gió xanh bốc ra từ người bà xộc thẳng vào mũi Lan. Ngón tay trỏ ngắn củn đeo chiếc nhẫn mặt đá đỏ thẫm chọc mạnh xuống mặt bàn gỗ, gõ từng nhịp chan chát như muốn đục thủng tờ giấy mỏng manh:

“Mày đọc đi! Đọc cho sáng mắt ra! Năm mươi triệu hồi đó với ba cây vàng là bao nhiêu tiền? Hồi đó vàng có hơn ba mươi triệu một cây, tao phải bán đứt nửa phần đất vườn ông bà già để lại ngoài Mũi Né đưa cho ổng dồn vào cái xưởng này. Ổng nói sao? Ổng bảo ‘Dung đưa anh lo cơi nới, sắm đồ nghề, sau này xưởng ăn nên làm ra là có phần của cô mày trong đó’. Mười năm nay tao có đòi ổng cắc bạc nào không? Tao để cho ổng làm, tao nhịn nhục tao buôn bán ngoài chợ kiếm từng đồng bạc cắc nuôi thân!”

Càng nói, hơi thở của người đàn bà trạc ngoài năm mươi càng trở nên dồn dập, hổn hển. Lồng ngực bà phập phồng dưới lớp vải áo hoa mỏng, hai con mắt vằn tia máu trừng trừng nhìn Lan như thể Lan chính là kẻ cắp vừa bị bắt quả tang tay nhúng chàm:

“Vậy mà bây giờ ba mày vừa ngã xuống, mày đem người trên Sài Gòn về tính ký hợp đồng gia công, tính thế chấp xưởng cho tụi nó làm nhãn hàng riêng gì đó để kiếm tiền cọc! Mày có hỏi tao một tiếng nào chưa? Cái đất này, cái dãy nhà thùng này, cả cái máy đóng chai đang chạy ngoài kia có máu thịt của tao dính trong đó! Tụi mày tự ý ký kết thương mại, tự ý đem của nả đi cầm cố hay gánh nợ thì tao trắng tay à? Tao nói cho mày biết, không thông qua con Dung này, một cọng rác ngoài xưởng mày cũng đừng hòng mang đi cấn nợ!”

Tiếng la hét của bà Dung dội vang khắp gian nhà cấp bốn lợp mái tôn hầm hập. Hơi nóng từ trên mái phả xuống khiến không khí trong phòng đặc quánh lại, ngột ngạt đến khó thở. Từng lời bà thốt ra như những nhát búa nện vào bầu không khí vốn đã căng như dây đàn của gia đình sau chuỗi ngày tăm tối ở bệnh viện tỉnh.

Từ lối cửa ngách ăn thông xuống nhà bếp, tiếng bước chân thình thịch bỗng vang lên dữ dội. Võ Minh Phúc bước thốc vào. Mặt Phúc đen sạm đi vì dầm mưa dãi nắng nhiều ngày, mồ hôi nhễ nhại chảy dài bên thái dương, đôi bàn tay còn vấy đầy dầu mỡ đen ngòm từ chiếc van xả thùng số 4 mà anh vừa phụ thợ cả Bảy Hòa siết lại ngoài sân. Trên trán Phúc nổi gân xanh, chiếc áo thun lính rách vai dính bết vào ngực. Ánh mắt Phúc quắc lên, tia nhìn dán chặt vào bà cô ruột với vẻ phẫn nộ không hề che giấu, ngực anh phập phồng theo từng cơn giận dữ kìm nén bấy lâu nay.

“Cô vừa phải thôi chứ cô Dung!” Phúc quát lớn, giọng gằn từng tiếng sắc lẹm, vang rền cả gian nhà nhỏ. “Ba cháu nằm trên bệnh viện tỉnh mới qua cơn thập tử nhất sinh, ống thở vừa rút ra còn chưa nói tròn vành rõ chữ, nửa người bên phải còn đang bất động trên giường, mà cô đã vội vã chạy sang đây làm loạn là sao? Cô rình rập ngoài ngõ từ sáng đúng không? Khách Sài Gòn vừa bước chân ra khỏi cổng là cô xách giấy nợ vào đập bàn đòi chia chác! Người ta nói sảy đàn tan nghé, người ngoài chưa kịp ép chết nhà này thì người ruột thịt đã nhảy vào đòi xâu xé gia sản rồi!”

“Mày nói cái giọng mất dạy đó với ai hả Phúc?” Bà Dung nhảy dựng lên như đỉa phải vôi, mặt tái mét rồi lại đỏ tía vì bị đứa cháu ruột vạch trần. Ngón tay đeo nhẫn đá đỏ lập tức đổi hướng, chĩa thẳng vào chóp mũi đứa cháu trai. “Mày có quyền gì dạy đời tao? Mày làm lụng ở cái xưởng này mười năm nay ăn lương của ba mày, mày có bỏ ra một đồng vốn nào như tao không? Tiền tao đưa là tiền mồ hôi nước mắt thật, có giấy trắng mực đen ba mày ký đàng hoàng! Tao đợi mười năm nay rồi, bây giờ ổng nằm một chỗ, lỡ ổng có mệnh hệ nào thì ai trả cho tao? Hay là hai chị em tụi mày tính xí xóa, tính bảo ba mày chết rồi là hết nợ?”

“Cô câm miệng lại!” Phúc gầm lên, sấn tới một bước khiến chiếc bàn gỗ rung lên bần bật. “Ba tôi chưa có chết! Cô đừng có trù ẻo ba tôi!”

Tiếng quát của Phúc như một mồi lửa ném thẳng vào chảo dầu sôi. Hai người đứng đối diện nhau qua chiếc bàn gỗ nhỏ, chỉ cách nhau một tầm với, khoảng cách gần đến mức họ có thể nghe rõ từng tiếng thở dốc nghẹn ngào vì tức tối của nhau. Nước bọt văng cả lên mặt kính đồng hồ treo tường cũ kỹ đã ố vàng. Phúc siết chặt hai nắm đấm đầy dầu mỡ, khớp ngón tay trắng bệch ra, trong khi bà Dung không hề lùi bước, ngực ưỡn ra thách thức, miệng không ngớt tuôn ra những lời cay độc về công lao, tiền bạc và sự bội bạc của nhánh họ lớn.

Phía sau cánh cửa buồng ngăn với gian bếp, nơi bức rèm vải hoa đã bạc màu vì khói bếp và thời gian khẽ lay động, bà Hạnh ngồi nép mình trên chiếc ghế đẩu nhựa thấp lè tè cạnh bao muối hạt. Đôi vai gầy guộc của người mẹ chìm trong chiếc áo bà ba màu tro run rẩy bần bật theo từng tiếng thét chói tai của con trai và em chồng. Bà không dám bước ra, hai bàn tay xương xẩu bấu chặt lấy vạt áo đến mức những đường chỉ may cũ kỹ dãn ra kêu lách tách. Đầu bà cúi gằm xuống né tránh mọi ánh nhìn, mái tóc pha sương rối bời vì những đêm dài mất ngủ trên sàn gạch hành lang bệnh viện.

Đôi mắt thâm quầng, trũng sâu vì những đêm thức trắng chăm chồng ở viện dán chặt vào khoảng tối mờ mịt dưới gầm chiếc giường gỗ lim kê sát vách bếp—nơi có chiếc rương gỗ nhỏ đóng then sắt khóa kín, phủ một lớp bụi mỏng tích tụ suốt bao nhiêu năm thăng trầm của gia đình này. Trong chiếc rương ấy chứa đựng những gì, chỉ có bà và ông Thành biết. Và chính cái khoảng tối câm lặng dưới gầm giường ấy dường như đang đè nặng lên ngực bà một khối u uất vô hình, khiến bà chỉ biết cắn chặt môi để ngăn một tiếng nấc nghẹn ngào không bật ra thành tiếng.

“Đủ rồi!”

Tiếng nói của Lan không quá lớn, không the thé như bà Dung và cũng không gầm rống như Phúc, nhưng đanh gọn, dứt khoát và sắc lạnh như một nhát dao chém ngọt xuống mặt nước.

Cô đứng bật dậy. Động tác dứt khoát của cô làm chiếc ghế tựa phía sau khẽ kêu rít trên nền xi măng. Không chần chừ, Lan luồn tay vào giữa khoảng cách ngột ngạt của Phúc và bà Dung, dứt khoát đẩy lùi đứa em trai ra phía sau nửa bước. Bàn tay nhỏ bé của cô áp vào khuôn ngực đang phập phồng dữ dội của Phúc mang một lực cản lạnh lùng nhưng kiên quyết. Ánh mắt Lan nghiêm nghị, chiếu thẳng vào mắt Phúc một cái nhìn không khoan nhượng khiến người em trai dù đang sôi máu giận dữ cũng phải khựng lại, nghẹn ứ lời muốn nói nơi cuống họng.

“Phúc, đi ra ngoài sân phụ chú Bảy Hòa đi,” Lan nói, giọng bình thản đến rợn người nhưng giữ một uy lực trật tự tuyệt đối. “Việc đối soát giấy tờ để chị làm. Đừng đứng đây đôi co làm trò cười cho thợ ngoài xưởng.”

“Chị Lan! Chị không thấy bả—” Phúc vùng vằng, bả vai rung lên, ánh mắt đầy ấm ức nhìn chị gái.

“Chị bảo em đi ra ngoài.” Lan lặp lại, từng âm tiết nhả ra chậm rãi, mắt nhìn thẳng vào Phúc, chặn đứng mọi ý định phản kháng. “Có việc gì trong nhà thì đóng cửa lại giải quyết. Em to tiếng thêm một câu nữa, thợ bỏ việc, khách hàng ngoài chợ nghe thấy thì xưởng này sập ngay trong chiều nay, khỏi cần đợi ai đến đòi nợ.”

Sự bình tĩnh lạnh lùng của Lan như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào cơn hỏa bốc của Phúc. Anh nghiến răng ken két, quai hàm bạnh ra đau đớn. Trừng mắt nhìn bà Dung một cái cháy da cháy thịt, Phúc hậm hực xoay người, gạt phắt chiếc rèm cửa ngách bước mạnh ra cửa sau. Tiếng dép cao su nện thình thịch, chát chúa trên nền xi măng ẩm ướt của lối đi xuống xưởng, rồi tiếng một chiếc xô kim loại bị đá văng vào góc tường vang lên loảng xoảng bên ngoài.

Căn phòng khách rơi vào một khoảng lặng căng thẳng đến tức ngực. Không gian như đặc quánh lại bởi bụi bặm, hơi muối và sức nóng của buổi trưa. Tiếng chiếc quạt máy cũ kỹ gắn trên tường quay đảo chiều phát ra âm thanh *cọt kẹt... cọt kẹt* đều đặn, vô cảm, phả ra những luồng gió khô nóng rát mặt. Bà Dung vẫn đứng đó, ngực phập phồng từng chặp, hai tay chống nạnh, mắt vẫn lườm lườm nhìn Lan như một con gà chọi thiện chiến sẵn sàng xù lông đá tiếp hiệp hai. Sự im lặng của Lan dường như không làm bà bớt giận, mà ngược lại, càng khiến bà thêm phần nghi ngại trước đứa cháu gái được ăn học đàng hoàng này.

Lan hít một hơi thật sâu để lấy lại nhịp tim ổn định. Trái tim cô trong lồng ngực đang đập nhanh, từng dây thần kinh bên thái dương giật giật nhức nhối sau chuỗi ngày kiệt quệ tinh thần. Nhưng đôi mắt nhà nghề của một kiểm toán viên quản trị đã nhanh chóng kéo cô về với thực tại của những con số và quy định. Cô gạt bỏ lớp vỏ cảm xúc giận dữ, nỗi đau xót gia đình hay sự tổn thương cá nhân sang một bên. Cảm xúc không thể giải quyết được các khoản nợ, và nước mắt không bao giờ làm mềm được câu chữ trên giấy trắng mực đen.

Cô nhìn xấp giấy mười năm trước đang nằm chỏng chơ trên mặt bàn. Từng con chữ vụng về của người cha, từng mốc thời gian cách đây một thập kỷ, từng từ ngữ mơ hồ như “hai anh em cùng tính”, “góp mở xưởng” bắt đầu hiện lên trong đầu cô thành những mắt xích pháp lý phức tạp, đầy cạm bẫy và rủi ro tranh chấp tài sản vô cùng nguy hiểm.

“Cô Dung, cô ngồi xuống ghế uống miếng nước đi,” Lan chỉ chiếc ghế gỗ đối diện, giọng điềm tĩnh đến mức khiến bà Dung có phần hụt hẫng, chưng hửng. “Chuyện tiền bạc của gia đình mười năm nay, nếu có giấy tờ của ba con viết, con sẽ không bao giờ phủ nhận hay né tránh. Nhưng giấy tờ này cần phải được xem xét một cách đàng hoàng và đúng luật. Cô cho con mười phút, con ra ngoài có cuộc điện thoại cần xác nhận công việc gấp, rồi con vào nói chuyện tiếp với cô.”

Bà Dung nhíu đôi lông mày xăm đen sì lại, ánh mắt đầy vẻ ngờ vực:

“Mày tính gọi cho ai? Mày tính gọi công an hay tính gọi người tới tẩu tán đồ? Tao nói cho mày biết, mày đừng có giở mấy cái trò ma mãnh học được trên thành phố ra đây gạt con này!”

“Con gọi cho người làm luật để hỏi cách bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cả cô và xưởng,” Lan đáp dứt khoát, ánh mắt trong veo nhưng kiên định nhìn thẳng vào mắt bà Dung không hề chớp. “Cô cầm giấy tờ tới đây là muốn giải quyết sòng phẳng, muốn lấy lại quyền lợi của mình, chứ không phải muốn phá nát cái xưởng này đúng không? Nếu phá xưởng thì ba con không có tiền viện phí, xưởng đóng cửa thì cô cũng chẳng thu lại được một đồng nào từ đống gỗ mục và nước mắm dở dang ngoài kia. Cô ngồi đây chờ con.”

Nói xong, không đợi bà Dung kịp định thần để phản ứng hay buông thêm lời đay nghiến, Lan cầm lấy chiếc điện thoại thông minh trên bàn, lùi lại hai bước rồi sải chân đi thẳng ra hành lang nhỏ bên hông nhà.

Bước qua cánh cửa bên, Lan bước vào khoảng không gian hẹp nằm kẹp giữa vách tường vôi bong tróc của gian nhà chính và hàng rào dâm bụt cằn cỗi dẫn ra khu bể lắng nước thải phía sau. Nắng trưa Phan Thiết như thiêu đốt đỉnh đầu, dội thẳng xuống lớp cát khô cằn dưới chân. Không khí nơi đây nồng nặc mùi mắm chín phơi ngấu dưới trời nhiệt đới xộc thẳng vào cuống họng Lan—thứ mùi vừa mặn đắng, nồng gắt, vừa mang vị hanh hao của muối và nắng gió duyên hải. Một nhánh mận còi cọc mọc nhô ra từ góc tường chỉ đủ tạo nên một vệt bóng râm mỏng manh, run rẩy.

Lan nép mình vào vệt bóng râm ấy, tựa lưng vào vách tường vôi ráp rúa để tìm một điểm tựa. Bàn tay cô hơi run run khi lướt trên màn hình cảm ứng, tìm đến số điện thoại của luật sư Lê Hoàng Sơn. Tiếng chuông reo từng hồi dài, chậm chạp và khô khan vang lên bên tai cô như đếm từng nhịp căng thẳng trong lồng ngực. Đến hồi chuông thứ ba, đầu dây bên kia bắt máy. Giọng Sơn trầm tĩnh, quen thuộc vang lên giữa tiếng còi xe máy vọng lại từ một ngã tư nào đó ở trung tâm thành phố:

“Alo, Lan à? Việc chuẩn bị giấy ủy quyền tại giường bệnh cho ba cô sáng nay tôi đang rà soát với bên văn phòng công chứng rồi. Bác sĩ xác nhận tri giác của ông đã đủ điều kiện để công chứng viên tiếp xúc trực tiếp. Có vấn đề gì phát sinh thêm ở xưởng không?”

Lan khẽ thở hắt ra, hạ thấp giọng xuống mức vừa đủ nghe nhưng câu từ gãy gọn, rành rọt, giữ vững tác phong truyền đạt thông tin chính xác của người làm tài chính:

“Anh Sơn, có việc khẩn cấp phát sinh ngay tại xưởng lúc này. Cô ruột của tôi—cô Dung—vừa mang một xấp giấy biên nhận viết tay từ mười năm trước tới đây làm ầm ĩ. Giấy do chính tay ba tôi viết vào tháng tư mười năm trước, xác nhận có nhận năm mươi triệu đồng tiền mặt và ba cây vàng với nội dung nguyên văn là: ‘lo việc cơi nới thêm bốn thùng chượp dãy sau cùng sắm cái máy chiết chai bán tự động. Hai anh em cùng tính, góp mở xưởng Hải Thành làm ăn lâu dài’. Bây giờ cô tôi tuyên bố đất xưởng và máy móc có phần sở hữu của bà ấy, kịch liệt phản đối việc tôi ký bất kỳ hợp đồng gia công hay thế chấp tài sản nào, đòi phân chia quyền lợi ngay lập tức.”

Đầu dây bên kia im lặng mất vài giây. Lan chỉ nghe thấy tiếng lật giấy sàn sạt quen thuộc của Sơn, rồi tiếng gõ ngón tay nhịp đều trên mặt bàn làm việc trước khi anh cất giọng bình thản, bóc tách rành rọt từng luận điểm pháp lý:

“Lan, cô bình tĩnh nghe tôi giải thích hai điểm mấu chốt này. Tình huống này trong các cơ sở kinh doanh gia đình ở miền Trung xảy ra rất phổ biến khi người đứng đầu gặp nạn. Thứ nhất, về mặt thừa kế: ba cô là ông Võ Văn Thành hiện tại vẫn còn sống. Dù ông đang điều trị phục hồi sau đột quỵ, ý chí có thể bị hạn chế một phần, nhưng về mặt pháp lý, thời điểm mở thừa kế hoàn toàn chưa hề phát sinh. Bất kỳ ai trong gia đình—dù là em ruột như bà Dung hay các con như cô và Phúc—đều chưa có tư cách đòi phân chia di sản hay đòi chia chác đất đai của ông Thành vào lúc này. Mọi lời đe dọa đòi xẻ đất, đòi đóng dấu niêm phong hay đòi quyền sở hữu tài sản theo diện phân chia di sản thừa kế đều hoàn toàn vô giá trị trước pháp luật.”

Lan lắng nghe, cảm thấy như có một tảng đá đè nặng trong lồng ngực vừa được nhấc ra đôi phần, nhưng nỗi lo lắng thực tế vẫn còn nguyên:

“Dạ, em hiểu điểm đó. Nhưng còn tờ giấy biên nhận thì sao anh? Cụm từ ‘góp mở xưởng’ do chính tay ba em viết rất rõ ràng. Bà ấy đang bám vào chữ ‘góp’ đó để tuyên bố có quyền đồng sở hữu cơ sở kinh doanh.”

“Đó chính là điểm mấu chốt thứ hai,” giọng Sơn trở nên đanh thép và cẩn trọng hơn hẳn. “Cụm từ ‘góp mở xưởng’ trên một mảnh giấy viết tay không đương nhiên xác lập tư cách đồng sở hữu tài sản hay tư cách thành viên hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật hiện hành. Hộ kinh doanh Hải Thành trên giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ai?”

“Đều đứng tên một mình ba tôi,” Lan trả lời không một giây do dự. “Từ ngày thành lập xưởng đến giờ, toàn bộ hồ sơ thuế, sổ đỏ khu đất xưởng này đều chỉ đứng tên cá nhân ông Võ Văn Thành.”

“Đúng vậy. Theo Luật Đất đai và các quy định về đăng ký kinh doanh, đất đai và tài sản gắn liền với đất chỉ được công nhận quyền sở hữu chung khi có đăng ký biến động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc tối thiểu giữa các bên phải có một hợp đồng góp vốn bằng văn bản công chứng hợp pháp, ghi rõ tỷ lệ góp vốn là bao nhiêu phần trăm, giá trị tài sản góp vốn tại thời điểm đó được định giá ra sao, phương thức phân chia lợi nhuận và nghĩa vụ chịu lỗ như thế nào. Một mảnh giấy biên nhận rời rạc ghi ‘hai anh em cùng tính’ mười năm trước thực chất chỉ chứng minh duy nhất một điều: có một giao dịch chuyển giao tài sản gồm tiền mặt và vàng giữa bà Dung và ông Thành.”

Sơn dừng lại một nhịp để Lan kịp ghi nhận, rồi tiếp tục phân tích sâu vào bản chất kinh tế:

“Bản chất của khoản tiền này hiện tại cần phải đối chiếu với hồ sơ gốc của gia đình để phân định rạch ròi. Đây là một khoản vay nợ dân sự có mục đích sử dụng tiền cụ thể, hay là một cam kết góp vốn đầu tư dở dang chưa từng hoàn tất thủ tục pháp lý? Nếu xem đây là quan hệ vay nợ dân sự, thì gia đình ông Thành có nghĩa vụ hoàn trả khoản nợ gốc kèm lãi suất theo thỏa thuận hoặc theo lãi suất luật định khi đến hạn, chứ bà Dung tuyệt đối không có quyền can thiệp vào hoạt động quản lý vận hành xưởng, càng không có quyền sở hữu đối với đất đai, nhà thùng hay thiết bị máy móc. Còn nếu bà ấy khăng khăng muốn chứng minh đây là phần vốn góp sở hữu, thì theo nguyên tắc chứng minh tài chính, bà ấy phải đưa ra được các chứng từ chứng minh mười năm qua bà ấy có tham gia phân chia lợi nhuận định kỳ, có chịu rủi ro kinh doanh cùng hộ kinh doanh hay không, có biên bản họp gia đình hay sổ sách kế toán nào ghi nhận phần vốn của bà ấy không? Với quy mô hộ kinh doanh cá thể, luật pháp không thừa nhận tư cách thành viên góp vốn mập mờ kiểu đó.”

Sơn hạ giọng, căn dặn một cách vô cùng nghiêm túc:

“Lan, tuyệt đối cô không được ký bất kỳ giấy tờ nào thừa nhận bà Dung có cổ phần, có tỷ lệ phần trăm sở hữu hay quyền sở hữu đất vào lúc này. Một chữ ký vội vã của cô lúc này nhằm xoa dịu tình hình sẽ biến một khoản nợ dân sự thành một tranh chấp đồng sở hữu tài sản vô cùng bế tắc, và lúc đó toàn bộ hồ sơ vay vốn hay hợp đồng thương mại với đối tác sẽ bị đình chỉ ngay lập tức. Nhưng ngược lại, cô cũng không được phủ nhận số tiền năm mươi triệu và ba cây vàng nếu chữ ký đó đúng là của ông Thành. Nếu phủ nhận hoàn toàn, cô sẽ đẩy mâu thuẫn gia đình thành một cuộc chiến pháp lý gay gắt, bà ấy có thể nộp đơn ngăn chặn khẩn cấp tạm thời lên tòa án, khiến xưởng bị phong tỏa hoạt động.”

Lan siết chặt ngón tay cầm chiếc điện thoại nóng ran vì cuộc gọi kéo dài. Từng câu chữ của vị luật sư dày dạn kinh nghiệm như vạch ra một lằn ranh rõ ràng giữa mớ bòng bong cảm tính và pháp lý:

“Em hiểu rồi. Giải pháp an toàn nhất để giải quyết tại chỗ trước mắt là gì thưa anh?”

“Hoãn binh bằng thủ tục pháp lý độc lập,” Sơn trả lời dứt khoát. “Yêu cầu giữ nguyên hiện trạng. Cam kết với bà ấy rằng cô chỉ đang thực hiện các biện pháp điều hành khẩn cấp để duy trì dòng tiền trả viện phí cho ba và trả lương công nhân, không ai có quyền và cũng không ai tiến hành định đoạt, bán tháo hay thế chấp đất đai vào lúc này. Đề nghị chuyển toàn bộ hồ sơ cho luật sư và kế toán độc lập kiểm tra đối chiếu với nguồn gốc tài sản và sổ sách cũ của gia đình, hẹn bà ấy một thời hạn làm việc chính thức bằng văn bản. Đừng tranh cãi đúng sai bằng miệng giữa trưa nắng. Càng cãi nhau bằng cảm tính thì họ hàng càng làm rối thêm, và những người xung quanh sẽ nhìn vào đó để ép giá xưởng.”

“Cảm ơn anh Sơn. Em biết phải làm gì rồi.”

Lan cúp máy. Âm thanh bíp dài đơn điệu kết thúc cuộc gọi trả lại cho cô tiếng xào xạc của hàng dâm bụt cằn cỗi và tiếng gió biển rít qua khe nứt trên bức tường vôi. Lan đứng lặng dưới bóng râm hẹp của mái tôn thêm nửa phút, nhắm nghiền hai mắt lại để ngọn gió khô rát thổi ráo bớt những giọt mồ hôi đang rịn ra trên trán.

Trong đầu cô, những con số và điều khoản bắt đầu sắp xếp lại thành một trật tự mới. Năm mươi triệu đồng và ba cây vàng mười năm trước là một khoản tiền lớn đối với cơ sở mắm nhỏ bé này—nó đại diện cho mồ hôi, nước mắt và cả sự chắt chiu của người cô ruột bán hàng xén ngoài chợ. Nhưng sự thiếu minh bạch của thế hệ trước—những thỏa thuận bằng miệng, những mảnh giấy viết tay không đầu không cuối dựa trên sự nể nang ruột thịt—đang biến thành một chiếc bẫy chết người kẹp chặt lấy thế hệ sau đúng vào thời điểm sinh tử này.

Lan mở mắt ra, ánh nhìn đã lấy lại sự sắc bén và bình thản. Cô chỉnh lại cổ áo, bước những bước chân vững chãi trở lại phòng khách.

Bà Dung vẫn ngồi nguyên trên chiếc ghế gỗ, hai tay khoanh chặt trước ngực, mắt nhìn chòng chọc ra cửa như một bức tượng đồng hun nóng. Nhìn thấy vẻ mặt điềm tĩnh, không chút nao núng hay sợ sệt của Lan khi bước vào, khóe môi bà khẽ nhếch lên một nụ cười mỉa mai, đầy vẻ khiêu khích:

“Sao? Gọi điện cầu cứu ai xong rồi? Định bày mưu tính kế gì để nuốt trôi miếng đất này với mấy cái thùng mắm của nhà tao?”

Lan không ngồi xuống chiếc ghế đối diện mà tiến thẳng tới bàn làm việc. Cô chậm rãi kéo ngăn kéo, rút ra một chiếc bìa sơ mi nhựa trong suốt còn mới. Đôi bàn tay thon dài của cô nhẹ nhàng nhấc tờ giấy biên nhận úa vàng lên khỏi mặt bàn gỗ ráp, vuốt phẳng lại nếp gấp bị quăn rồi đặt ngay ngắn vào giữa chiếc bìa nhựa. Động tác của cô cẩn trọng, từ tốn và trân trọng như một kiểm toán viên chuyên nghiệp đang tiếp nhận một chứng từ tài chính quan trọng trong đợt thanh tra.

“Cô Dung,” Lan cất lời. Giọng cô trầm xuống, chậm rãi và rõ ràng từng từ, vang lên rành rẽ trong gian phòng khách lặng ngắt. “Con vừa trao đổi nhanh với luật sư Lê Hoàng Sơn—người đang phụ trách tư vấn pháp lý cho gia đình con trong giai đoạn ba con nằm viện. Con muốn nói với cô ba điều rõ ràng thế này.”

Bà Dung nhướng đôi lông mày lên, vẻ mặt hơi khựng lại trước thái độ bài bản, không hề có chút bối rối hay tức giận của cô cháu gái:

“Mày nói nghe coi! Để tao coi đứa học chữ Sài Gòn tính giở lý lẽ gì!”

“Thứ nhất,” Lan nhìn thẳng vào mắt cô ruột, ánh mắt không hề né tránh hay chớp lấy một lần, “Ba con hiện tại vẫn còn sống. Ý chí của ba con tuy đang bị ảnh hưởng bởi cơn đột quỵ và đang trong quá trình hồi phục chức năng, nhưng về mặt pháp luật, ba con vẫn là chủ sở hữu duy nhất của hộ kinh doanh Hải Thành và là người đứng tên hợp pháp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất xưởng này. Quyền thừa kế chưa hề mở ra, nên trong căn nhà này, kể cả con, thằng Phúc hay bất kỳ ai trong dòng họ cũng không có tư cách đem tài sản của ba ra phân chia hay định đoạt. Việc cô nói tụi con tính bán xưởng hay đem đất đi thế chấp cho người ta là hoàn toàn không có thật. Con về đây là để giữ xưởng, giữ nồi cơm cho mười bốn người thợ gắn bó bao năm và kiếm từng đồng tiền sạch nộp viện phí cứu mạng ba con. Tuyệt đối không có chuyện đem đất đai của ông bà cha mẹ đi cầm cố cho ai cả.”

Bà Dung định há miệng ngắt lời, ngón tay lại chực giơ lên, nhưng Lan giơ nhẹ một bàn tay lên ngăn lại, giữ giọng điềm tĩnh tiếp tục mà không để đối phương chen ngang:

“Thứ hai, về tờ giấy biên nhận này. Con công nhận đây chính xác là nét chữ và chữ ký của ba con mười năm trước. Ba con đã nhận của cô năm mươi triệu đồng tiền mặt và ba cây vàng để cơi nới xưởng và mua máy đóng chai. Con không phủ nhận khoản tiền đó. Nhưng cô nhìn kỹ lại câu chữ trên giấy: ba con chỉ ghi là ‘hai anh em cùng tính, góp mở xưởng’, hoàn toàn không có tỷ lệ sở hữu cụ thể là bao nhiêu phần trăm, cũng không có bất kỳ điều khoản nào quy định cô sở hữu bao nhiêu mét vuông đất hay bao nhiêu phần của dàn máy móc. Luật sư khẳng định với con, về mặt pháp lý, khoản tiền này hiện đang nằm ở ranh giới giữa một khoản vay nợ dân sự của cá nhân ba con và một phần vốn góp chưa hoàn tất thủ tục pháp lý của hộ kinh doanh.”

“Mày... mày nói cái gì ranh giới?” Bà Dung đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn, nhưng tiếng đập lần này đã mất đi một nửa sự hùng hổ ban đầu, giọng bà run lên, pha lẫn vẻ chột dạ của một người cả đời buôn thúng bán mẹt chưa từng va chạm với các khái niệm luật định. “Chữ ‘góp’ rành rành ra đó mà mày dám bảo là vay nợ hả? Góp là tao có phần! Tao có phần trong từng giọt nước mắm chảy ra ở cái xưởng này!”

“Nếu là góp vốn sở hữu,” Lan giải thích với giọng điệu khách quan, không một chút mỉa mai hay gắt gỏng, “thì mười năm qua, theo luật kinh doanh, cô phải cùng ba con chia sẻ tiền lãi, chịu gánh nặng tiền lỗ, cùng chịu trách nhiệm liên đới khi xưởng nợ nần tiền cá, tiền muối, và quan trọng nhất là tên cô phải được đăng ký trong giấy phép kinh doanh của hộ gia đình. Nhưng thực tế mười năm nay, ba con tự làm tự chịu, lời ăn lỗ chịu, những năm mất mùa cá ba con cắn răng vay nóng trả nợ cô cũng không phải gánh một đồng nào, cô cũng không tham gia vận hành hay nhận chia lợi nhuận định kỳ theo sổ sách kế toán. Ngược lại, nếu xác định đây là một khoản nợ nghĩa vụ mà ba con vay của cô để đầu tư mở rộng xưởng, thì gia đình con có trách nhiệm phải hoàn trả lại cho cô một cách sòng phẳng, tính toán cả phần trượt giá hoặc lãi suất theo quy định của pháp luật, để cô không bị thiệt thòi tiền mồ hôi nước mắt dưỡng già.”

Bà Dung nghe đến hai chữ “hoàn trả sòng phẳng” và “tiền dưỡng già” thì nét mặt chùng xuống thấy rõ. Đôi mắt sắc lẹm, hung dữ của bà chớp chớp liên hồi. Cơn thịnh nộ bốc đồng ban nãy dường như va phải một bức tường lý lẽ quá vững chắc. Nỗi sợ lớn nhất của người đàn bà góa bụa, không con cái, sống đơn độc tuổi xế chiều này chưa bao giờ là việc giành giật mảnh đất xưởng tanh tưởi mùi cá này để làm gì. Nỗi sợ thực sự đang gặm nhấm tâm can bà chính là việc số tiền năm mươi triệu đồng và ba cây vàng tích cóp từ thời xuân sắc—khoản tiền bảo hiểm duy nhất cho tuổi già của bà—sẽ bị cuốn trôi theo cơn tai biến đột ngột của người anh trai ruột thịt.

“Mày... mày nói thì hay lắm,” giọng bà Dung chùng hẳn xuống, có chút nghẹn lại nơi cổ họng, vẻ chua ngoa biến mất, chỉ còn lại sự cay đắng của một tiểu thương già. “Nhưng tiền đâu mà trả? Xưởng nợ đầm nợ đìa ra đó, ai ngoài chợ cũng đồn ba mày nợ tiền cá cả tỷ bạc, giờ ổng nằm một đống tốn bạc triệu mỗi ngày trong bệnh viện, tụi mày lấy cái gì mà trả cho tao? Hay là tính hứa hươu hứa vượn rồi quỵt luôn?”

“Chính vì vậy, chúng ta cần sự minh bạch và thời gian,” Lan nói tiếp, đưa tay đẩy nhẹ tập hồ sơ đã được bọc bìa cẩn thận về phía giữa bàn. “Điều thứ ba con muốn nói với cô: Con cam kết bằng danh dự của con, toàn bộ giấy tờ này sẽ được chuyển trực tiếp cho luật sư Lê Hoàng Sơn và kế toán độc lập để đối chiếu lại toàn bộ sổ sách gốc của ba con còn lưu lại trong nhà. Chúng con sẽ phân định rạch ròi nguồn gốc tài sản hình thành xưởng qua từng thời kỳ, tách bạch phần nào là tài sản chung của ba mẹ, phần nào là nợ của cô. Con cam kết trước mặt cô, trong suốt quá trình này, con không tự ý ký kết bất kỳ văn bản chuyển nhượng, thế chấp hay định đoạt tài sản cố định nào của Hải Thành mà không thông báo cho gia đình và những người liên quan.”

Lan dừng lại một chút, ánh mắt ấm áp hơn đôi chút khi nhìn vào những nếp nhăn hằn sâu trên khóe mắt của bà Dung:

“Cô là cô ruột của con, là em gái ruột của ba con. Ba con đối xử với cô thế nào bao năm qua, cô hiểu rõ nhất trong lòng. Ba con chưa bao giờ có ý định quỵt tiền của cô, và con về đây cũng không phải để làm chuyện thất đức đó. Nhưng con cần thời gian để rà soát chứng từ một cách hợp pháp và minh bạch. Nếu bây giờ cô làm ầm ĩ lên, thợ thuyền hoang mang bỏ việc, cơ sở ngừng hoạt động, hàng chục ngàn lít nước mắm trong thùng hư hỏng hết vì không có người chăm sóc thì cả nhà mình cùng chết chìm. Lúc đó, một tờ giấy biên nhận này cũng chẳng thể đổi ra tiền cho cô được, mà chỉ thành một tờ giấy lộn vô giá trị.”

Căn phòng khách lại rơi vào một khoảng lặng sâu hoắm. Không còn tiếng cãi vã, chỉ còn tiếng gió biển rít từng cơn qua khe cửa sổ bằng gỗ hẹp và tiếng nước mắm ngoài sân sau nhỏ giọt tí tách đều đặn trong các bể lắng.

Bà Dung ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu gỗ đối diện, hai bàn tay đan vào nhau bóp chặt lấy những khớp ngón tay thô ráp, chai sần vì mấy mươi năm bưng bê buôn bán. Lời lẽ của Lan rành rọt, khúc chiết, lạnh lùng như những con số trên bảng cân đối kế toán, nhưng lại chan chứa cái lý và cái tình không thể bẻ gãy. Bà nhìn con bé cháu gái ngày nào còn lon ton theo ba ra xưởng vớt bọt mắm, nay đi học mười mấy năm ở đất Sài Gòn trở về, thấy nó toát lên một bản lĩnh khác hẳn. Sự đanh thép, chuẩn mực và thái độ không hề chối bỏ món nợ của Lan đã đánh trúng vào điểm yếu nhất trong tâm lý của bà: bà cần sự bảo đảm chắc chắn về đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình, chứ bà không hề muốn dồn đứa cháu gái vào chân tường để rồi cả cơ nghiệp của anh trai sụp đổ, khiến bà mất trắng.

Im lặng hồi lâu, bà Dung hít một hơi dài, đưa bàn tay thô ráp lên quệt mạnh vệt mồ hôi muối bám trên gò má xạm nắng. Giọng bà đã bớt đi vẻ gay gắt cay độc, nhưng sự sắc sảo, cứng rắn của một người đàn bà lăn lộn chợ búa vẫn còn nguyên vẹn:

“Được. Mày học cao hiểu rộng, mày nói chuyện có lý có luật, tao tạm nghe mày một lần. Tao không làm ầm ĩ ngoài sân cho thiên hạ dòm ngó, cười chê cái nhà này nữa.”

Nói đoạn, bà Dung đứng bật dậy, với tay cầm lấy chiếc nón lá rách vành trên bàn, ánh mắt sắc như dao găm xoáy thẳng vào mặt Lan:

“Nhưng tao ra tối hậu thư cho mày, con Lan! Tao cho mày thời hạn từ đây cho tới ngày rằm tháng này. Đúng ngày rằm, mày với thằng luật sư của mày phải đưa ra cho tao một câu trả lời bằng văn bản rõ ràng: Cái xưởng này tính trả cho tao bao nhiêu tiền, lộ trình trả nợ ra sao, hay là quy ra bao nhiêu phần trăm đất xưởng. Đúng ngày rằm mà không có giấy trắng mực đen có chữ ký đàng hoàng, tao sẽ mời cả mấy ông chú, bà cô bên họ nội tới đây ngồi giữa sân xưởng này nói chuyện phải quấy! Tao nói được là làm được, mày đừng có tưởng tao già mà dễ bị dắt mũi!”

Dứt lời, không đợi Lan trả lời thêm, bà Dung quay ngoắt người, sải những bước chân nặng nề, dứt khoát bước ra khỏi bậc thềm. Chiếc xe Honda Dream cũ kỹ dựng dưới bóng cây dừa ngoài ngõ lại nổ máy kêu *bành bạnh*, tiếng pô xe rách nhả ra một làn khói xám nhạt rồi phóng vút đi, cuốn theo một làn bụi đỏ mù mịt dưới cái nắng gắt gỏng của ban trưa.

Gian phòng khách trở lại vẻ trống trải, hoang vắng vốn có.

Lan đứng tựa lưng vào mép bàn làm việc bằng gỗ tạp, hai đầu gối bỗng chốc run lên nhè nhẹ vì phản ứng xả cơ sau cơn căng thẳng kéo dài suốt mấy tiếng đồng hồ. Toàn bộ sức lực dường như bị rút cạn. Cô nhắm nghiền hai mắt lại, đưa hai bàn tay lên bóp chặt hai bên thái dương đang giật lên từng cơn đau buốt như có kim châm.

Mười lăm ngày.

Từ nay đến ngày rằm tháng này chỉ còn đúng mười lăm ngày ngắn ngủi. Một tối hậu thư bằng văn bản. Một khoản nợ năm mươi triệu đồng tiền mặt và ba cây vàng từ một thập kỷ trước đang lơ lửng trên đầu như một thanh gươm Damocles chực rơi xuống, giữa lúc tài khoản ngân hàng của xưởng vẫn đang bị phong tỏa do thủ tục xác nhận người đại diện pháp luật, tiền mặt trong hòm sắt chỉ còn vỏn vẹn hơn bốn mươi triệu đồng, lương của mười bốn người thợ đang réo từng ngày, tiền mua muối ủ đợt mới chưa thanh toán, và hợp đồng gia công sống còn với chuỗi siêu thị Nam Lộ thì vẫn còn đang mắc kẹt ở biên lợi nhuận mỏng như lưỡi dao cạo.

Phía sau lưng, tiếng bước chân nhẹ và ngập ngừng vang lên trên nền gạch bông cũ.

Lan quay đầu lại. Bà Hạnh đang đứng ở ngưỡng cửa ngách ngăn với gian bếp. Hai bàn tay bà vẫn vo tròn vạt áo bà ba màu tro đã sờn chỉ, gương mặt xanh xao không còn một giọt máu và đôi mắt đỏ hoe ngấn nước. Ánh mắt bà Hạnh lướt qua chiếc bìa sơ mi nhựa đựng tờ giấy biên nhận của cô Dung đang nằm ngay ngắn trên bàn, rồi như một phản xạ sợ hãi vô thức, bà lại liếc nhìn về phía buồng ngủ tối om—nơi chiếc rương gỗ nhỏ đóng then sắt dưới gầm giường lim vẫn đang nằm im lìm trong góc khuất mờ mịt.

“Lan à...” Bà Hạnh mấp máy môi, giọng run run như sắp khóc, nghẹn ngào trong cổ họng. “Cô mày... cô mày đi rồi hả con?”

“Dạ, cô Dung về rồi mẹ,” Lan khẽ thở dài, cố nén lại sự kiệt sức, nặn ra một nụ cười mệt mỏi nhưng ấm áp để trấn an người mẹ đang hoảng loạn. “Mẹ vào nghỉ lưng chút đi, đừng lo nghĩ nhiều quá mà ngã bệnh ra đó. Việc của cô Dung, con sẽ cùng luật sư Sơn xử lý đúng luật, đúng tình nghĩa. Không ai ép mẹ con mình vào đường cùng được đâu.”

Bà Hạnh gật đầu máy móc, nhưng đôi mắt già nua vẫn trĩu nặng một nỗi âu lo sâu hoắm, một bí mật hay một gánh nặng tâm lý không thể gọi thành tên. Bà không nói thêm lời nào, lặng lẽ quay gót bước trở vào buồng ngủ, chiếc bóng gầy guộc, còng còng đổ dài trên nền gạch bông cũ kỹ rồi chìm dần vào bóng tối mờ mịt của gian phòng trong.

Lan bước ra hiên nhà, đứng vịn tay vào chiếc cột bê tông loang lổ vết ố, phóng tầm mắt nhìn ra khoảng sân xưởng rộng thênh thang.

Giữa trưa nắng đỉnh đầu, mặt đất cát biển hấp thụ nhiệt phả lên hơi nóng hầm hập như một lò than khổng lồ vô hình. Mùi mắm ủ nồng nặc, đậm đặc và chát mặn từ khu hai mươi thùng gỗ bời lời khổng lồ bốc lên cuồn cuộn giữa không trung, quyện chặt lấy từng hạt bụi cát, đặc quánh lại trong lồng ngực cô gái trẻ. Mùi hương ấy nồng gắt, nhức nhối, nhưng đồng thời cũng nhắc nhở Lan một thực tế tàn nhẫn không thể chối bỏ: xưởng mắm Hải Thành vẫn đang từng giây từng phút vận hành, con men dưới đáy những thùng gỗ sâu thẳm kia vẫn đang âm thầm phân giải từng thớ thịt cá cơm thành đạm mỗi ngày, và chi phí vận hành, tiền điện, tiền công thợ từng giờ trôi qua vẫn đang tiếp tục chạy như một chiếc đồng hồ đếm ngược không bao giờ dừng lại.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories