Điều khoản lộ ra mô hình
Tập hồ sơ dự thảo hợp đồng nhượng quyền thương mại dày đúng bốn mươi trang nằm bất động ở vị trí trung tâm chiếc bàn trà gỗ chàm tại văn phòng Bình Thạnh. Bên cạnh nó, ba tách trà móc câu pha từ đầu giờ chiều đã nguội ngắt, mặt nước đọng lại một lớp váng mỏng màu hổ phách sẫm phản chiếu ánh sáng hắt ra từ màn hình chiếc máy tính xách tay của Lan. Chiếc máy tính đang mở sẵn bảng tính dòng tiền dự phóng, nơi những dải ô màu xám, xanh và cam chen chúc những hàm số tài chính được lập trình với độ chuẩn xác đến từng chữ số thập phân.
Ánh chiều muộn của một ngày cuối tháng Mười trườn qua những thanh chấn song sắt sơn nâu đã tróc sơn, rọi những vệt sáng xiên khoai màu vàng vôi lên nền gạch men mờ lấm tấm những vết ố hóa chất cũ. Không gian bên trong căn phòng kiêm kho bãi nồng đượm một thứ mùi đặc thù không thể trộn lẫn: mùi tinh dầu sả chanh khuếch tán từ chiếc bình gốm cạn nước, quyện chặt với mùi cao su non khét nhẹ của những cuộn ống máy hút bụi công nghiệp ba motor đang xếp ngay ngắn ở góc tường, xen lẫn mùi xơ vải từ hàng chục tấm khăn lau microfiber loại một nghìn hai trăm GSM vừa được giặt sấy thơm tho xếp kín trên giá thép v lỗ. Chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt cũ kỹ đảo từng vòng lười biếng trên trần nhà, phát ra tiếng cọt kẹt trầm đục theo một nhịp điệu đơn điệu, mỏi mệt sau gần bốn tiếng đồng hồ quay không ngừng nghỉ kể từ một giờ ba mươi chiều.
Phan Gia Bảo ngồi thẳng lưng ở mép chiếc ghế gỗ tựa, hai bàn chân đặt song song trên mặt sàn gạch, tư thế giữ trọn vẹn sự chuẩn mực của một cựu giám đốc phát triển chuỗi từng kinh qua hàng chục vòng gọi vốn. Chiếc áo sơ mi may đo màu xanh đá phẳng phiu, ôm sát bờ vai, cổ tay áo cài khuy măng sét bằng bạc mờ không vương lấy một nếp nhăn dù cuộc thảo luận đã bước sang giờ thứ tư. Trước mặt anh, chiếc bút máy vỏ hợp kim titan nặng trịch nằm chếch bốn mươi lăm độ bên cạnh bản tóm tắt các chỉ số tài chính sơ bộ của dự án mở điểm nhượng quyền đầu tiên tại Quận 7. Trên trang giấy A4 ngả vàng được in bằng máy in kim sắc nét, con số hai trăm triệu đồng phí nhượng quyền ban đầu — trong đó có một trăm tám mươi triệu đồng tiền mặt sẵn sàng giải ngân vào tài khoản của Sạch Nhà trong vòng hai mươi tư giờ ngay sau khi hai bên ký nháy vào biên bản ghi nhớ hợp tác — được gạch chân hai lần bằng mực dạ quang màu đỏ nổi bật.
“Chị Hà, chúng ta đã mất gần hai tiếng đồng hồ chỉ để rà soát lại phần căn cứ pháp lý, quyền sở hữu trí tuệ và định nghĩa phạm vi bảo hộ nhãn hiệu rồi,” Bảo mở lời, giọng điệu trầm ấm, giữ nguyên ngữ điệu nhã nhặn, chuẩn mực của một người quen đứng trước hội đồng quản trị và các nhóm góp vốn thiên thần. Tuy nhiên, đầu ngón tay trỏ của anh gõ nhịp nhè nhẹ, từng tiếng cộc cộc rất khẽ lên mặt bàn gỗ đã để lộ một sự sốt ruột không thể che giấu hoàn toàn. “Tôi nghĩ điều các bên cần chốt dứt điểm ngay trong buổi chiều hôm nay là lộ trình thanh toán phí nhượng quyền ban đầu và lịch trình bàn giao toàn bộ bộ nhận diện thương hiệu từ biển hiệu, đồng phục cho tới hệ thống quản lý dữ liệu. Mức phí hai trăm triệu cho thời hạn ba năm độc quyền khai thác tại địa bàn Quận 7 là một mức định giá vô cùng hào phóng, nếu không muốn nói là vượt chuẩn thị trường đối với một thương hiệu dịch vụ mới có tuổi đời hoạt động thực tế chưa đầy một năm như Sạch Nhà. Nếu chị đồng ý ký nháy biên bản ghi nhớ ngay bây giờ, sáng mai, đúng chín giờ, tài khoản công ty của chị sẽ nổi một trăm tám mươi triệu đồng tiền tươi thóc thật. Chị sẽ có ngay dòng tiền mặt tức thì để tất toán dứt điểm các khoản nợ mua máy chà sàn liên hợp, trang trải chi phí mặt bằng và giải quyết toàn bộ định phí vận hành của ba tháng cuối năm.”
Hà không nhìn vào con số một trăm tám mươi triệu được gạch chân bằng mực đỏ chói lọi. Ánh mắt cô thậm chí không dừng lại ở góc dưới cùng của trang giấy — nơi Bảo đã ký sẵn chữ ký mẫu uốn lượn sắc sảo bằng mực xanh đen. Cô cũng không đưa tay chạm vào tách trà đã nguội ngắt đóng một lớp màng mỏng tanh trên miệng chén sành.
Bàn tay Hà, với những ngón tay thon nhưng khớp xương nổi rõ vết chai sần ở đốt ngón trỏ và ngón giữa do nhiều năm cầm gạt kính và kéo van máy phun áp lực cao, đặt phẳng phiu lên tập hợp đồng dày cộp. Cô lật dứt khoát qua mười lăm trang đầu tiên — nơi dày đặc những câu chữ hoa mỹ được sao chép từ các hợp đồng nhượng quyền F&B ngoại quốc, những điều khoản hào nhoáng quy định về quyền khai thác hình ảnh, khẩu hiệu tiếp thị trên mạng xã hội, quy chuẩn bảng hiệu mặt tiền chuẩn nhận diện và chính sách thu phí quản lý cố định năm phần trăm trên tổng doanh thu gộp hàng tháng.
Cô dừng lại chính xác ở Điều 14 của tập tài liệu, nằm ở phần nửa sau của tập hồ sơ dày cộp. Đó là nơi có những dòng ghi chú chi chít bằng mực bi xanh của Lan nằm chật kín ngoài lề giấy, và những dấu chấm than màu đỏ gắt gao được chính tay Hà vạch xuống mép lề từ đêm hôm trước.
“Chúng ta sẽ không bàn về bất kỳ con số nào, dù là một trăm tám mươi triệu hay một tỷ tám, chừng nào hai bên chưa đi xong phần chuẩn vận hành thực địa, anh Bảo,” Hà cất giọng. Âm lượng của cô không lớn, nhưng từng âm tiết phát ra đều đặn, điềm tĩnh và dứt khoát đến mức khiến ngón tay đang gõ nhịp của Bảo khựng lại giữa không trung. “Phí nhượng quyền chỉ là cái giá để mua quyền sử dụng một cái tên thương mại trên biển hiệu. Nhưng việc cái tên Sạch Nhà có giá trị thật sự, tạo ra uy tín lâu dài, hay nó sẽ biến thành một món nợ pháp lý và thảm họa truyền thông, thì lại phụ thuộc hoàn toàn vào cách những người mang đồng phục của anh bước chân vào nhà khách hàng. Tôi không bao giờ chấp nhận bán đi một cái vỏ rỗng được tô vẽ hào nhoáng, để rồi sau ba tháng vận hành chụp giật, tôi và các cộng sự của mình phải đi dọn rác và gánh chịu hậu quả pháp lý từ những sự cố kỹ thuật mà người bên anh gây ra.”
Bảo khẽ nhướn đôi lông mày rậm, ánh mắt hơi chớp lại sau tròng kính trắng. Anh thoáng đưa mắt lướt qua Lan, người vẫn đang dán mắt vào màn hình máy tính với vẻ mặt lạnh tanh, rồi chuyển ánh nhìn sang Trần Mỹ Dung.
Dung nãy giờ vẫn ngồi tựa lưng hoàn toàn vào thành ghế gỗ gụ, hai cánh tay rắn rỏi khoanh chặt trước ngực. Người phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi ấy không mang dáng dấp của một nhân sự bàn giấy; trên chiếc áo thun polo màu xám sẫm của bà còn vương một vệt bụi đá mài trắng mờ nơi cầu vai, đôi bàn tay gân guốc với những khớp xương to bè của một thợ nghề lão luyện lặng lẽ đặt trên tay vịn, đôi mắt sắc sảo giấu sau cặp kính lão trễ xuống sống mũi, bình thản quan sát từng cử chỉ, từng cú nhịp chân hay cái chớp mắt nhỏ nhất của Bảo trên bàn đàm phán.
“Về quy trình vận hành tiêu chuẩn, bên chị đã đóng gói thành tập tài liệu SOP dày cộp hơn một trăm trang kia rồi mà,” Bảo khẽ mỉm cười, cố gắng kéo giãn bầu không khí đang đặc quánh lại bằng một giọng điệu mềm mỏng, mang tính xoa dịu. “Bên tôi khi tiếp quản điểm bán Quận 7 sẽ cho bộ phận nhân sự in ra, phát tận tay từng nhân viên để học thuộc lòng. Chúng ta hoàn toàn có thể ủy quyền toàn bộ cho trưởng nhóm hiện trường giám sát chéo, kiểm tra checklist trên ứng dụng nội bộ trước khi nghiệm thu ca…”
“Học thuộc lòng trên giấy không bao giờ biến một người chưa từng cầm cây lau sàn thành một người thợ có kỹ năng thực tế, anh Bảo,” Hà ngắt lời, giọng cô đanh lại như một thanh kim loại vừa nhúng qua nước lạnh. “Tôi mở đầu buổi làm việc trực tiếp hôm nay bằng việc yêu cầu sửa đổi toàn diện Chương Bốn của bản dự thảo này. Nếu bên anh không chấp nhận các chuẩn vận hành tối thiểu này như những điều khoản ràng buộc pháp lý mang tính tiên quyết, có chế tài bồi thường cụ thể được ghi rõ trong hợp đồng chính thức, cuộc đàm phán chiều nay sẽ dừng lại ngay tại đây. Sạch Nhà sẽ không ký bất kỳ một biên bản ghi nhớ hay nhận một đồng tiền cọc nào hết.”
***
Không gian trong căn phòng chùng hẳn xuống. Tiếng vo ve của cuộn dây đồng trong chiếc quạt trần dường như vang lên rõ rệt hơn giữa khoảng lặng đột ngột.
Lan lập tức với tay kéo chiếc máy tính xách tay lại gần mình hơn vài phân, ngón tay lướt nhanh trên bàn phím để chuyển đổi giao diện bảng tính, rồi cô ngẩng đầu lên, phối hợp nhịp nhàng với Hà bằng cách đẩy tờ phụ lục bổ sung dày bốn trang A4 — phần tài liệu vừa được in ra lúc đầu giờ chiều, mực in còn thoang thoảng mùi ozon nồng nhẹ — sang ngay trước tầm mắt của Phan Gia Bảo.
Hà đặt ngón tay trỏ lên dòng chữ in hoa đậm nét đầu tiên trên trang giấy trắng:
“Thứ nhất,” Hà nói chậm rãi, nhấn mạnh từng từ ngữ mang tính kỹ thuật, “toàn bộ nhân sự tuyển dụng cho điểm nhượng quyền tại Quận 7, từ nhân viên vệ sinh phổ thông, thợ xử lý bề mặt cho đến giám sát hiện trường, bắt buộc phải trải qua khóa đào tạo thực hành tập trung tối thiểu hai tuần liên tục tại cơ sở đào tạo của Sạch Nhà. Khóa học này do chính chị Hạnh trực tiếp đứng lớp, kèm cặp từng thao tác và đánh giá sát hạch tay nghề. Và hai tuần đào tạo đó bắt buộc phải được tính là thời gian làm việc chính thức có trả công đầy đủ theo mức lương cơ sở vùng, cộng phụ cấp đi lại. Điểm nhượng quyền tuyệt đối không được phép áp dụng hình thức học việc không thù lao, không được thu tiền giáo trình, tiền đồng phục hay bòn rút sức lao động của người mới dưới danh nghĩa thử việc không lương. Chúng tôi không chấp nhận xây dựng chuỗi trên sự bóc lột sức lao động của những người yếu thế.”
Khóe miệng Bảo khẽ giật giật. Đôi chân mày của anh cau lại thành một nếp gấp sâu hoắm giữa trán. Anh toan mở miệng phản bác, bàn tay phải đã nhấc chiếc bút kim loại lên khỏi mặt bàn, nhưng Hà đã dứt khoát giơ một bàn tay lên ngăn lại. Ánh mắt cô kiên định khóa chặt lấy đối phương, tiếp tục đọc rành rọt điều khoản thứ hai:
“Thứ hai, trong hợp đồng lao động ký với thợ và trong quy chế vận hành nội bộ của cơ sở nhượng quyền Quận 7, bắt buộc phải có một điều khoản hiến định rõ ràng: người lao động có quyền dừng việc ngay lập tức tại hiện trường khi phát hiện các yếu tố có nguy cơ mất an toàn lao động nghiêm trọng. Điều này bao gồm nhưng không giới hạn ở: việc lau kính ngoài trời ở các tầng cao không có hệ thống dây đu an toàn đạt chuẩn kiểm định định kỳ; làm việc trong môi trường gần nguồn điện hở chưa ngắt cầu dao; làm việc trong không gian kín thiếu thông khí; hoặc phải tiếp xúc với các loại hóa chất tẩy rửa cực mạnh vượt ngoài danh mục hóa chất an toàn sinh học do Sạch Nhà ban hành. Trong mọi trường hợp dừng việc vì lý do an toàn, điểm nhượng quyền tuyệt đối không được phạt tiền, không được trừ điểm đánh giá thi đua, không được trừ lương chuyên cần, và nghiêm cấm việc quản lý dùng áp lực tiến độ để ép thợ phải làm liều cho kịp giờ bàn giao ca. Nếu đối tác vi phạm điều này dù chỉ một lần và bị xác minh qua đường dây nóng nội bộ, Sạch Nhà bảo lưu toàn quyền đơn phương đình chỉ quyền sử dụng thương hiệu mà không phải bồi thường bất kỳ khoản chi phí nào.”
Hà dừng lại một nhịp rất ngắn để quan sát sắc mặt đang dần tối sầm lại của Bảo, rồi cô lật sang trang tiếp theo của bản phụ lục, chỉ ngón tay vào ô điều khoản được đóng khung viền đen dày:
“Và điều khoản thứ ba, mang tính sống còn về mặt tài chính vận hành: trên từng đơn hàng dịch vụ phát sinh từ điểm nhượng quyền, bất kể là gói dịch vụ định kỳ hay tổng vệ sinh sau xây dựng, bên anh bắt buộc phải trích lập một khoản quỹ dự phòng xử lý sự cố kỹ thuật và bồi thường rủi ro ở mức tối thiểu năm phần trăm trên tổng doanh thu thực nhận sau thuế. Khoản tiền năm phần trăm này không được giữ lại tại két sắt điểm bán, mà phải được chuyển định kỳ vào ngày cuối cùng của tháng vào một tài khoản phong tỏa độc lập mở tại ngân hàng thương mại, do đại diện pháp luật của hai bên đồng đứng tên kiểm soát. Quỹ này chỉ được sử dụng cho ba mục đích duy nhất: khắc phục ngay lập tức các hư hại bề mặt vật liệu trong nhà khách hàng khi xảy ra sự cố; đền bù mất mát tài sản nếu có khiếu nại được xác minh; và chi trả viện phí khẩn cấp cùng các khoản bồi hoàn tai nạn lao động cho thợ khi có rủi ro xảy ra trong ca trực. Số tiền này tuyệt đối không được phép nhập nhèm, luân chuyển vào dòng tiền lưu động để chi trả tiền thuê nhà, trả lương định kỳ hay bù đắp chi phí quảng cáo của bên anh.”
Tiếng lật mép giấy của Hà vang lên khô khốc, dứt khoát như một dấu chấm hết cho bản điều kiện bổ sung.
Căn phòng rơi vào một trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối. Sự im ắng nặng nề đến mức người ta có thể nghe thấy cả tiếng một chiếc xe máy cà tàng nổ máy giòn giã ở con hẻm sâu ngoài đường Xô Viết Nghệ Tĩnh vọng vào, tiếng còi xe inh ỏi ngoài ngã tư Hàng Xanh và tiếng nước nhỏ giọt đều đặn từ chiếc van xả của bình lọc nước đặt ở góc văn phòng.
Phan Gia Bảo nhìn chằm chằm vào những dòng chữ đen trên nền giấy trắng trước mặt. Từng cơ mặt trên gương mặt vốn luôn giữ được vẻ điềm đạm, thư thái của anh bắt đầu căng cứng. Nụ cười lịch thiệp thường trực hoàn toàn biến mất. Anh tháo cặp kính gọng kim loại xuống, đặt mạnh lên tập tài liệu, rồi ngả toàn bộ lưng ra sau chiếc ghế gỗ. Anh bật ra một tiếng cười khan, ngắn ngủi và khô khốc, lắc đầu với một vẻ châm chọc lộ liễu:
“Chị Hà à, nghe chị nói nãy giờ, tôi thực sự bắt đầu tự hỏi liệu chị đang ngồi đây với tư cách người đứng đầu một doanh nghiệp thương mại tư nhân muốn mở rộng chuỗi, hay chị đang hình dung mình là một nhà hoạt động xã hội đang điều hành một tổ chức từ thiện phi lợi nhuận?”
Bảo không đợi Hà trả lời. Anh nghiêng người, mở phéc-mơ-tuya chiếc cặp da bò cao cấp đặt dưới chân, rút ra một chiếc máy tính bảng màn hình lớn có ốp lưng da sang trọng. Bàn tay anh lướt thoăn thoắt trên màn hình cảm ứng, mở ra tệp tài liệu tài chính có tiêu đề “Ke_hoach_kinh_doanh_cum_Nam_Sai_Gon_Rev_3.xlsx”. Anh xoay mạnh màn hình chiếc máy tính bảng, đặt nó dằn xuống mặt bàn gỗ, ngay sát cạnh xấp phụ lục của Hà.
Trên màn hình độ phân giải cao, một biểu đồ tài chính đa trục hiện lên chằng chịt những đường cong biểu diễn dòng tiền, chi phí biến đổi và điểm hòa vốn, với hai màu xanh lá cây và đỏ tươi đan xen nhau dày đặc.
“Chị hãy nhìn thẳng vào các con số thực tế đang vận hành thị trường này đi, làm ơn bỏ qua những lý tưởng đạo đức xa vời một lát,” Bảo bắt đầu cao giọng. Sự gay gắt, sắc nhọn của một nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp bộc lộ rõ mồn một qua từng âm tiết. “Bản mô hình tài chính ban đầu mà tôi và đội ngũ phân tích xây dựng cho cụm điểm bán Quận 7 được tính toán dựa trên định mức tối ưu hóa năng suất lao động: một thợ mới tuyển dụng chỉ cần đi kèm một thợ cũ có kinh nghiệm trong đúng hai ngày làm việc thực địa để nắm bắt các bước cơ bản. Đến ngày thứ ba, họ phải tự cầm cây lau, tự vác máy hút bụi để trực tiếp tạo ra doanh thu. Toàn bộ chi phí đào tạo phân bổ nội bộ cho mỗi nhân sự mới tối đa là năm triệu đồng cho một chu kỳ sáu tháng, hoàn toàn không phát sinh chi phí thù lao vô ích trong giai đoạn học việc. Vậy mà bây giờ chị đòi đào tạo thực hành tập trung hai tuần ròng rã, lại còn bắt trả đủ lương cơ bản và phụ cấp? Chị có ngồi tính xem một kíp thợ gồm sáu người, trả lương trọn vẹn mười bốn ngày học việc cộng với chi phí giảng dạy định mức của chị Hạnh, sẽ ngốn đứt bao nhiêu tiền tươi của điểm bán trước khi họ làm ra được một đồng doanh thu đầu tiên hay không?”
Bảo dùng đầu ngón trỏ gõ mạnh liên tiếp lên mặt kính máy tính bảng, điểm đúng vào hàng số hiển thị giá vốn hàng bán:
“Hai cái yêu cầu đầu tiên của chị — đào tạo có lương hai tuần và quyền dừng việc tùy tiện — cộng thêm cái quỹ dự phòng năm phần trăm bị chôn chết trong tài khoản phong tỏa kia, sẽ lập tức đẩy giá vốn dịch vụ, tức là chỉ số COGS, tăng vọt thêm ba mươi phần trăm trên mỗi một ca làm việc! Ba mươi phần trăm đấy, chị Hà! Chị có làm kinh doanh không vậy? Toàn bộ biên lợi nhuận ròng của cái ngành dịch vụ vệ sinh dân dụng này trên thị trường hiện nay, kể cả những tay to chạy ứng dụng công nghệ, chỉ dao động từ mười hai đến tối đa mười lăm phần trăm nếu như bộ máy vận hành cực kỳ khéo léo và thắt lưng buộc bụng. Chị đắp thêm ba mươi phần trăm giá vốn vào ngay từ ngày đầu tiên bấm nút vận hành, thì cái điểm bán ở Quận 7 lấy cái gì để sống? Lấy không khí để trả tiền thuê mặt bằng Nguyễn Lương Bằng ba mươi lăm triệu một tháng à?”
Bảo trượt mạnh ngón tay sang trang kế tiếp, mở ra bảng phân tích độ nhạy của dòng tiền và thời gian hoàn vốn đầu tư ban đầu. Giọng điệu của anh càng lúc càng trở nên kích động, từng câu từng chữ như muốn đập nát những yêu cầu mà Hà vừa đưa ra:
“Theo kế hoạch kinh doanh chuẩn mực mà tôi đã thuyết trình với nhóm đầu tư, điểm bán tại đường Nguyễn Lương Bằng sẽ đạt điểm hòa vốn sau đúng sáu tháng vận hành thương mại. Điều kiện cần và đủ là chúng tôi phải tối ưu hóa triệt để vòng quay của thợ: mỗi kíp thợ phải chạy tối thiểu bốn ca một ngày, khoảng đệm di chuyển giữa các ca được khống chế ở mức hai mươi phút. Thợ xong việc ở căn hộ này, dọn đồ lên xe máy là phải phi ngay sang biệt thự kế tiếp. Nhưng nếu tôi nhượng bộ và làm theo cái mớ ràng buộc lý tưởng hóa, không tưởng này của các chị — trả lương học việc hai tuần, cho phép thợ thích thì dừng việc vì thấy sợi dây điện hở, rồi lại trích năm phần trăm dòng tiền sống đem nhốt vào tài khoản phong tỏa — thì thời gian hòa vốn sẽ bị kéo dài từ sáu tháng lên bao nhiêu chị biết không? Hơn mười bốn tháng! Mười bốn tháng cho một điểm bán dịch vụ vệ sinh dân dụng có quy mô vốn đầu tư dưới một tỷ đồng!”
Bảo thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực phập phồng sau lớp áo sơ mi phẳng phiu. Anh nhìn xoáy vào mắt Hà với một vẻ mặt pha trộn giữa sự thất vọng cùng cực và thái độ thách thức ngạo mạn:
“Không một nhà đầu tư cá nhân hay một quỹ đầu tư nào trên thị trường này điên rồ đến mức ném tiền vào một mô hình kinh doanh chôn vốn hơn một năm trời ròng rã chỉ để đổi lấy cái gọi là ‘chuẩn mực an toàn’ trên giấy của chị cả! Thương trường hiện đại là cuộc đua tàn khốc về tốc độ chiếm lĩnh thị phần. Ai cắm cờ trước, người đó thắng. Khách hàng ở Phú Mỹ Hưng, các chủ căn hộ cao cấp ở Sunrise City hay Chateau, cái họ cần là sự tiện lợi tức thì: bấm điện thoại một cái, ba mươi phút sau phải có một đội thợ mang máy móc bấm chuông cửa nhà họ. Họ không rảnh rỗi và cũng chẳng có nhu cầu quan tâm xem cái người thợ đang quỳ lau sàn nhà họ được trả tiền học việc hai tuần hay hai ngày! Chị đang tự tay bóp chết cơ hội mở rộng thương hiệu của chính mình, tự tay chặt đứt cánh cửa bước lên quy mô chuỗi chỉ vì những nỗi sợ hãi vụn vặt và ấu trĩ của một người làm tiểu chủ thủ công!”
***
Những lời nói sắc bén của Phan Gia Bảo chém thẳng vào không gian yên ắng của căn phòng làm việc, mang theo toàn bộ sức nặng tàn nhẫn của tư duy tài chính thực dụng. Đó là thứ tư duy vận hành chỉ coi người lao động như những biến phí đơn thuần — những con số cơ học nằm ở cột chi phí nhân công cần phải được vắt kiệt, nén chặt và ép xuống mức tối thiểu bằng mọi thủ thuật quản trị nhằm đẩy biên lợi nhuận trên bảng cân đối kế toán lên mức cao nhất trong thời gian ngắn nhất.
Dưới gầm bàn trà, hai bàn tay của Hà siết chặt lại vào nhau đến mức các đầu ngón tay trắng bệch, móng tay hằn sâu vào lòng bàn tay.
Trong một thoáng chốc, những ký ức ngột ngạt và đau đớn mà cô cùng cả đội ngũ vừa phải trải qua trong những tháng ngày gian khó nhất dội ngược về như những nhát búa nện vào lồng ngực: Đó là buổi chiều cuối tháng Chín khi cô ngồi một mình trong căn phòng này, mở ứng dụng ngân hàng và nhìn thấy số dư khả dụng của công ty chỉ còn vỏn vẹn một triệu một trăm hai mươi nghìn đồng, trong khi tiền thuê nhà và tiền điện ba pha của kho bãi đã quá hạn năm ngày; đó là sự cố kinh hoàng tại căn hộ của Vũ Thanh Thảo, khi bùn đất và rác mịn kẹt cứng trong từng rãnh ray cửa lùa chỉ vì thợ bị thúc ép giờ giấc, không có đủ mười lăm phút đệm để hút bụi khô trước khi lau ướt; đó là vết trầy xước dài mười lăm phân sâu hoắm trên mặt bàn trà đá tự nhiên Carrara của anh Khoa, xảy ra chỉ vì Phúc — một người thợ trẻ mới vào nghề — quá hoảng sợ trước quy định phạt tiền chậm giờ của ca làm việc kế tiếp nên đã cố tình giấu nhẹm lỗi bung đệm mài, để rồi suýt chút nữa kéo sập toàn bộ uy tín cá nhân mà Hà gây dựng suốt bao năm; và trên hết, đó là những giọt nước mắt uất nghẹn lăn dài trên gò má sạm đen vì nắng gió của Hạnh, khi danh dự nghề nghiệp và đạo đức của một người thợ chân chính bị chà đạp tơi bời dưới một bài viết bóc phốt vô căn cứ trên mạng xã hội.
Tất cả những thảm họa, những lần suýt phá sản và những vết thương tinh thần đó đều bắt nguồn từ một gốc rễ duy nhất: sự cắt xén tàn nhẫn khoảng đệm an toàn, sự coi rẻ công tác đào tạo nền tảng, và thói quen xem thường sinh mạng, sự an nguy cùng phẩm giá của người lao động trực tiếp.
Hà hít một hơi thật sâu, bờ vai hơi nâng lên, toan cất lời đối chất trực diện với bảng tính tài chính của Bảo. Nhưng trước khi cô kịp phát ra âm thanh đầu tiên, một tiếng cười khẽ vang lên từ phía đối diện.
Đó là một tiếng cười ngắn, trầm đục và khô khốc như tiếng hai phiến đá thô cọ xát vào nhau giữa trưa nắng.
Trần Mỹ Dung chầm chậm tháo cặp kính lão bằng nhựa đồi mồi xuống. Bà đặt nó xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng *cạch* dứt khoát, thanh âm đanh gọn khiến cả Bảo và Lan đều bất giác giật mình nhìn sang. Người phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi ấy, với làn da rám nắng dày dạn sương gió, đuôi mắt hằn sâu những nếp nhăn của sự nhọc nhằn và những vết sẹo nhỏ li ti do mạt đá bắn vào mu bàn tay — dấu tích không thể phai mờ của hơn mười lăm năm trực tiếp vật lộn với từng khối đá cẩm thạch, hoa cương và những chiếc máy mài sàn công nghiệp nặng hàng tạ — ngước mắt lên, găm thẳng ánh nhìn vào Phan Gia Bảo.
“Cậu Bảo này,” Dung cất tiếng. Giọng bà không cao, mang âm hưởng khàn khàn đặc trưng của người hít nhiều bụi đá và hơi hóa chất suốt nhiều năm, nhưng mỗi một từ phát ra đều có một nội lực nặng trịch khiến Bảo bất giác rụt bàn tay đang đặt trên chiếc máy tính bảng lại vài centimet. “Nãy giờ ngồi nghe cậu thao thao bất tuyệt về các chỉ số COGS, về tỷ suất hoàn vốn nội bộ, về vòng quay dòng tiền và cái đích hòa vốn thần thánh sáu tháng của cậu, tôi thấy cậu thông minh và sắc sảo lắm. Cậu tính toán trên bảng tính Excel không trật một xu nào, số liệu nhảy múa lớp lang, nhìn vào cứ như mở cờ trong bụng. Nhưng tôi hỏi thật cậu một câu nhé: trong cả cuộc đời đi làm quản lý chuỗi của cậu, cậu đã bao giờ trực tiếp ngửi thấy mùi đá tự nhiên bị cháy khét lẹt trên sàn nhà chưa?”
Bảo ngẩn người ra trong một phần tư giây, đôi lông mày nhíu chặt lại thành một đường thẳng: “Chị Dung, tôi nghĩ chúng ta đang ngồi ở đây để giải quyết một bài toán tài chính đầu tư mang tính vĩ mô, chứ không phải…”
“Tôi đang nói về chính bài toán tài chính của cậu đấy, thưa cậu cử nhân kinh tế!” Dung cắt ngang lời anh, giọng bà đanh lại, ánh mắt sắc lẹm như một lưỡi dao cạo bằng thép gió găm thẳng vào sống mũi đối phương. “Cách đây đúng năm năm, vào cái thời điểm năm 2018, tôi cũng từng ngồi ở đúng cái vị thế trịch thượng, tự tin và ngập tràn tham vọng hệt như cậu bây giờ. Công ty phục hồi đá và sàn bê tông nghệ thuật của tôi lúc đó có tiếng tăm lẫy lừng khắp khu Nam Sài Gòn này. Uy tín của tôi lớn đến mức các nhà thầu thi công nội thất hạng sang muốn tôi nhận xử lý sàn đá cẩm thạch cho các căn biệt thự hay dinh thự của họ đều phải đặt lịch hẹn trước cả tháng trời, chấp nhận thanh toán tạm ứng năm mươi phần trăm mà không thèm mặc cả một hào. Rồi sau đó, có một nhóm nhà đầu tư tài chính — cũng comple chỉnh tề, cũng mở máy tính bảng chỉ trỏ các biểu đồ tăng trưởng y như cậu — mang đến văn phòng tôi một bọc tiền hai tỷ đồng tiền mặt. Họ đòi nhượng quyền thương hiệu của tôi để mở một lúc ba chi nhánh vận hành thần tốc ở Bình Dương, Thủ Đức và khu Thảo Điền Quận 2.”
Dung ngừng lại một nhịp. Bà đưa bàn tay thô ráp, chai sần với lấy chén trà nguội ngắt của mình, nhấp một ngụm nhỏ. Cổ họng bà chuyển động nhè nhẹ như thể bà đang cố nuốt trôi một cục nghẹn đắng chát của một ký ức cay nghiệt đã chôn sâu trong quá khứ:
“Ngày đó, tôi cũng bị những cái biểu đồ tài chính vẽ ra cảnh hòa vốn sau năm tháng, sáu tháng của họ làm cho mờ cả mắt, ù cả tai. Họ vỗ vai tôi bảo: ‘Quy trình kỹ thuật chị đã viết thành sách rồi, máy móc thì tiền đè chết người mua loại nào chẳng được, cần quái gì phải tốn cả tháng trời kèm cặp từng đứa thợ? Cứ tuyển thanh niên khỏe mạnh vào, phát cho chúng nó mỗi đứa một cái máy mài cầm tay, cho xem video hướng dẫn hai ngày, rồi để thợ cứng dắt thợ mới đi làm thực tế ba hôm là bắt đầu thả ra tự chạy ca kiếm tiền nuôi bộ máy được rồi.’ Và cậu có biết cái giá của sự thần tốc, của cái gọi là ‘tối ưu hóa vòng quay thợ’ đó nó đắt đến mức nào không?”
Bảo hoàn toàn im lặng. Hai bên quai hàm của anh khẽ bạnh ra dưới lớp da mặt căng thẳng, nhưng anh không thể tìm ra được bất kỳ một từ ngữ nào để ngắt lời người phụ nữ làm nghề lão luyện này.
“Một căn penthouse thông tầng rộng hơn bốn trăm mét vuông nằm trên đỉnh một tòa tháp cao cấp ven sông ở Thảo Điền,” Dung nói rất chậm, từng chữ từng câu rơi xuống mặt bàn gỗ nặng trịch như những khối chì đúc. “Chủ nhà là một vị tổng giám đốc người Pháp điều hành một tập đoàn đa quốc gia. Họ chịu chơi đến mức nhập khẩu nguyên tấm toàn bộ đá tự nhiên Calacatta loại một từ vùng Carrara của nước Ý xa xôi về để lát cho toàn bộ phòng khách và sảnh đón — đó là loại đá cẩm thạch biến chất màu trắng tinh khôi với những đường vân mây xám bạc tự nhiên tuyệt mỹ, có giá nhập khẩu và thi công hoàn thiện thời điểm đó ngót nghét gần chục triệu đồng cho mỗi mét vuông. Chi nhánh nhượng quyền Thảo Điền của tôi, vì muốn chạy đua để đạt chỉ tiêu bốn ca một ngày theo đúng bản kế hoạch hòa vốn thần tốc sáu tháng của các ông chủ tài chính, đã đẩy hai đứa thợ mới — hai đứa nhỏ học việc đúng bốn ngày, chưa từng được kiểm tra sát hạch về áp lực đĩa mài — ra công trình để nhận ca đánh bóng sàn định kỳ.”
Dung siết chặt các ngón tay lại. Những khớp xương ngón tay nổi gồ lên, chuyển sang màu trắng bệch dưới ánh đèn tuýp le lói của văn phòng:
“Thằng bé thợ phụ mới vào nghề, trong đầu nó làm gì có kiến thức cơ bản để phân biệt sự khác biệt sinh tử giữa một chiếc pad mài kim cương gắn hạt thô số 50 dùng để phá bê tông với một chiếc pad nỉ mịn số 3000 dùng để tăng bóng thẩm thấu? Nó bước vào phòng khách, nhìn thấy trên mặt đá Calacatta có một vài vết xước lông mèo li ti do đế giày tây của chủ nhà cọ vào. Thay vì bấm điện thoại báo cáo dừng việc ngay lập tức để thợ chính mang hóa chất tăng cứng thẩm thấu và bột mài mịn chuyên dụng đến xử lý theo đúng quy trình chuẩn, nó lại run sợ. Nó sợ rằng nếu dừng lại báo cáo thì sẽ bị quản lý hiện trường lập biên bản trừ tiền chuyên cần năm trăm nghìn vì làm chậm tiến độ ca sau của kíp thợ. Thế là nó tự ý hành động liều lĩnh. Nó lắp chiếc máy mài sàn đơn nặng hơn năm mươi cân với chiếc pad kim cương phá thô ráp nhất vào mâm quay, cắm điện, ghì toàn bộ trọng lượng cơ thể lên tay cầm rồi bấm công tắc khởi động tốc độ cực đại mà không thèm mở van xả nước làm mát bề mặt.”
Dung nghiêng người về phía trước, ánh mắt rực lửa nhìn thẳng vào con ngươi của Bảo:
“Ma sát khô ở tốc độ hai nghìn vòng một phút sinh ra một nhiệt lượng khủng khiếp, cậu Bảo ạ. Chỉ trong vòng chưa đầy ba phút đồng hồ — cậu nghe rõ không, chỉ đúng một trăm tám mươi giây ngắn ngủi! — toàn bộ mạng lưới tinh thể canxi cacbonat tự nhiên của phiến đá bị sốc nhiệt cục bộ và vỡ vụn hoàn toàn từ sâu bên trong kết cấu. Mặt đá Calacatta trắng tinh khôi, kiêu sa như một bức tranh thủy mặc bị cháy đen thui, biến thành một vệt sẹo sâu hoắm, nham nhở dài hơn hai mét, bốc lên một mùi nhựa mài cháy khét lẹt và mùi khoáng chất bị phân hủy hôi nồng nặc khắp cả căn penthouse sang trọng.”
Dung nâng giọng, âm thanh vang dội đập vào những bức tường gạch mộc của căn phòng:
“Cậu có biết cái giá bằng tiền của một vệt đá cháy dài hai mét đó là bao nhiêu không, cậu chuyên gia tài chính? Tấm đá Calacatta đó đã chết hoàn toàn, không có một loại hóa chất hay công nghệ đánh bóng nào trên quả đất này có thể cứu vãn hay đảo ngược được mạng tinh thể đã vỡ vụn. Để đền bù cho chủ nhà, người ta không thể chỉ thay một viên đá nhỏ chắp vá, mà bắt buộc phải thuê thợ đục toàn bộ sàn phòng khách rộng hơn một trăm mét vuông lên, rồi làm thủ tục hải quan đặt cẩu một phiến đá đồng màu mới tinh từ Ý về Việt Nam. Tổng thiệt hại vật chất được giám định viên bảo hiểm đưa ra tại chỗ là hơn tám trăm triệu đồng tiền mặt! Cái chi nhánh nhượng quyền Thảo Điền kia, ngay trong đêm hôm đó, gã giám đốc điều hành ôm toàn bộ tiền doanh thu thu hộ bỏ trốn, tuyên bố phá sản công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên để phủi sạch trách nhiệm. Nhưng ai là người đứng tên trên hợp đồng dịch vụ ban đầu? Ai là người xuất hóa đơn và cam kết chất lượng với vị tổng giám đốc tập đoàn kia? Là cái thương hiệu của tôi! Là cái tên mà tôi đã đổ mồ hôi, nước mắt và máu suốt mười năm trời để gây dựng!”
Giọng Dung bắt đầu run rẩy, một cơn run rẩy không phải vì sợ hãi, mà vì một nỗi uất nghẹn và cay đắng khôn nguôi đã bị dồn nén suốt nhiều năm tháng cơ hàn:
“Khách hàng họ không cần biết cổ đông phía sau là ai, họ lôi cổ chính tôi ra tòa án kinh tế! Tên tuổi, hình ảnh công ty tôi bị bêu riếu khắp các hội nhóm thầu xây dựng, các hiệp hội kiến trúc sư cao cấp từ Nam chí Bắc. Mười năm trời tôi lăn lộn ngoài công trường, thức trắng hàng trăm đêm, gãy cả khớp ngón tay và viêm xoang mãn tính vì bụi đá để đổi lấy uy tín cho một cái tên, tất cả sụp đổ tan tành thành tro bụi chỉ trong đúng ba phút đồng hồ của một thằng bé thợ học việc không được đào tạo đến nơi đến chốn và không có cái quyền được dừng việc khi cảm thấy sợ hãi! Tôi mất trắng toàn bộ khách hàng quen thuộc, phải cắn răng bán tống bán tháo một căn nhà cấp bốn ở Gò Vấp để gom tiền bồi thường thiệt hại ngoài tòa án, và mất thêm bốn năm trời ròng rã đi làm thuê, còng lưng đánh bóng sàn cho các đội thầu phụ khác để trả sạch những món nợ vật tư còn tồn đọng. Cậu ngồi đây nói với chúng tôi về sáu tháng hòa vốn à? Cậu chỉ cần một ca thợ làm ẩu, làm cháy một mặt sàn đá của một căn biệt thự ở Phú Mỹ Hưng, hay làm rơi một đứa thợ từ lan can tầng mười lăm xuống đất vì không đeo dây an toàn, thì không phải là mười bốn tháng hòa vốn đâu — mà là toàn bộ cái thương hiệu Sạch Nhà này sẽ bị xóa sổ vĩnh viễn khỏi thị trường trong vòng không quá hai mươi tư giờ đồng hồ!”
***
Câu chuyện của Dung kết thúc bằng một khoảng không gian lặng ngắt như tờ. Từng lời cảnh báo đanh thép, thấm đẫm mồ hôi và nước mắt của một người thợ đã đi qua tận cùng của đổ vỡ nghề nghiệp rơi xuống mặt bàn đàm phán, làm tan chảy hoàn toàn vẻ hào nhoáng của bản kế hoạch tài chính mà Bảo cất công xây dựng.
Phan Gia Bảo ngồi bất động, hai bờ vai hơi chùng xuống. Ánh mắt anh dại đi, nhìn trân trân vào tách trà nguội ngắt đã đóng váng trên mặt bàn gỗ. Những ngón tay thuôn dài của anh đan chặt vào nhau trên đầu gối, các khớp ngón tay gồng lên kìm nén. Những con số ROI, biên EBITDA hay tỷ lệ tăng trưởng doanh thu theo cấp số nhân đang hiển thị lấp lánh trên màn hình chiếc máy tính bảng đắt tiền bỗng chốc trở nên lạc lõng, mỏng manh và vô nghĩa một cách kỳ lạ trước hiện thực trần trụi của những rủi ro kỹ thuật nơi hiện trường thực tế.
Đúng vào lúc sự im lặng đang bóp nghẹt bầu không khí của căn phòng, một tiếng sột soạt giòn giã vang lên.
Phạm Ngọc Lan kéo mạnh xấp tài liệu kiểm toán nội bộ dày cộm về phía mình. Tiếng lật mép giấy A4 sắc gọn xé toang sự tĩnh mịch nặng nề. Lan không mang dáng vẻ từng trải, phong trần và nhuốm màu công trường như Dung, cô cũng không có vẻ đăm chiêu, nhẫn nại đầy trăn trở của Hà. Lan xuất hiện trên bàn đàm phán này với tư cách của một người làm việc thuần túy với các con số kiểm toán — lạnh lùng, sắc bén, không khoan nhượng và tuyệt đối không bao giờ để bất kỳ cảm xúc cá nhân nào can thiệp vào các phép tính logic.
“Anh Bảo này,” Lan lên tiếng, thanh âm trong trẻo nhưng lạnh buốt. Cô dùng đầu ngón tay đẩy nhẹ gọng kính cận lên sống mũi, ngón trỏ gõ thẳng vào Mục 8.3 nằm ở trang hai mươi hai của bản dự thảo hợp đồng. “Chúng ta vừa được nghe chị Dung phân tích về những rủi ro vận hành thực địa mà một người ngồi phòng lạnh như anh khó có thể hình dung hết. Còn bây giờ, tôi muốn cùng anh mổ xẻ những chi phí vận hành thực tế mà anh đã cố tình gạt ra ngoài lề, cố tình giấu nhẹm đi trong cái bảng dự toán tài chính sáu tháng hòa vốn vô cùng đẹp đẽ của anh.”
Bảo khẽ giật mình, ngước mắt lên nhìn Lan. Bản năng phòng thủ của một người làm kinh doanh chuỗi lập tức trỗi dậy trên nét mặt anh: “Chị Lan, tôi khẳng định lại một lần nữa là tôi không giấu bất kỳ một khoản mục nào cả. Toàn bộ các định phí và biến phí đều được đội ngũ kiểm toán của tôi phân bổ hoàn toàn tuân thủ theo chuẩn mực kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện hành.”
“Thế à?” Lan nhếch mép, một nụ cười nhạt không vương chút ấm áp nở trên môi cô. “Vậy thì tôi xin phép được chất vấn anh một câu cực kỳ đơn giản: trong toàn bộ bảng dự toán chi phí vận hành hàng tháng của cụm điểm bán Quận 7, cái dòng chi phí dành cho ‘Kiểm toán độc lập và giám sát chất lượng kỹ thuật định kỳ’ nó đang nằm ở xó xỉnh nào vậy? Trong điều lệ quản trị hệ thống của Sạch Nhà, chúng tôi quy định rất rõ ràng: mỗi tháng, ban quản trị thương hiệu sẽ cử một chuyên gia kỹ thuật độc lập đi thanh tra, kiểm tra đột xuất tại hiện trường tối thiểu hai mươi phần trăm tổng số ca làm việc của điểm nhượng quyền. Chi phí cho các buổi kiểm toán thực địa đó, chi phí gửi mẫu đến phòng lab để xét nghiệm dư lượng hóa chất độc hại trên bề mặt sàn gạch sau khi bàn giao, chi phí mua bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc mức trách nhiệm cao cho từng nhân sự mang đồng phục… tại sao trong toàn bộ cột số liệu của anh, tất cả các mục này đều được điền một con số không tròn trĩnh?”
Bảo hắng giọng một tiếng, cố gắng giữ lại thế chủ động trong cuộc tranh luận: “Đó là các khoản chi phí phát sinh thuộc về trách nhiệm quản lý nội bộ của bên nhượng quyền. Khoản phí quản lý năm phần trăm trên tổng doanh thu hàng tháng mà bên tôi cam kết trích nộp định kỳ cho Sạch Nhà chính là nguồn kinh phí để chi trả cho toàn bộ những hoạt động giám sát đó rồi!”
“Năm phần trăm doanh thu hàng tháng ư?” Lan bật cười thành tiếng, một tiếng cười mang đầy vẻ mỉa mai sắc sảo. Cô xoay hẳn màn hình chiếc máy tính xách tay của mình về phía Bảo, phơi bày một bảng tính chi tiết có tiêu đề “Phan_tich_bien_phi_quan_ly_thuc_te.xlsx” mà cô đã âm thầm lập sẵn từ tối hôm qua. “Anh nhìn vào đây đi. Theo chính cái kế hoạch kinh doanh đầy tham vọng của anh, doanh thu dự kiến của tháng vận hành đầu tiên tại điểm bán Quận 7 là sáu mươi triệu đồng. Năm phần trăm của sáu mươi triệu là đúng ba triệu đồng chẵn! Ba triệu đồng cho một tháng ba mươi ngày! Anh tính toán kiểu gì mà đòi bắt Sạch Nhà với ba triệu đồng đó vừa phải cử người có chuyên môn bậc cao như chị Hạnh hay chị Dung đích thân chạy xe máy xuống tận Nhà Bè, Phú Mỹ Hưng kiểm tra hiện trường, vừa phải gánh chịu toàn bộ trách nhiệm pháp lý liên đới trước tòa án nếu có sự cố xảy ra, lại vừa phải duy trì một đội phản ứng nhanh hỗ trợ kỹ thuật hai mươi tư trên bảy cho các anh? Anh không hề có ý định trả chi phí quản lý thực chất, anh Bảo ạ. Anh đang biến cái khoản phí năm phần trăm đó thành một tấm bình phong rẻ mạt để bòn rút toàn bộ năng lực kiểm soát, hút cạn công sức của đội ngũ sáng lập chúng tôi nhằm phục vụ cho mục tiêu sinh lời cục bộ của bên anh!”
Lan không cho Bảo có bất kỳ một giây phút nào để ngắt lời hay tìm cớ thoái thác. Ánh mắt cô sau tròng kính cận lóe lên những tia nhìn sắc nhọn như một mũi khoan thép:
“Và điều phi lý nhất, phản khoa học nhất trong toàn bộ cái bảng tính này nằm ở chỗ này: anh nằng nặc đòi nén khoảng đệm thời gian di chuyển giữa các ca làm việc của một kíp thợ xuống đúng hai mươi phút. Tôi hỏi anh, anh đã bao giờ tự mình xách hai chiếc máy hút bụi công nghiệp nặng bốn mươi cân, chở theo ba xô hóa chất và bốn chiếc thang nhôm trên một chiếc xe máy số, rồi chạy từ khu Tân Phong qua khu Phú Mỹ Hưng hay len lỏi vào các khu dân cư ven sông sâu trong huyện Nhà Bè vào đúng khung giờ cao điểm từ mười một giờ trưa đến một giờ chiều chưa? Quãng đường đó trong điều kiện giao thông thực tế của Sài Gòn ngốn ít nhất ba mươi lăm đến bốn mươi phút di chuyển an toàn! Anh ép họ chỉ được có hai mươi phút, nghĩa là anh đang gián tiếp ép những người thợ đó phải vừa phóng xe bạt mạng ngoài đường, vượt đèn đỏ, leo lề để kịp giờ, vừa phải nhịn ăn trưa, hoặc tệ hại hơn là họ bắt buộc phải cắt xén thời gian làm sạch, làm ẩu, làm dối trong chính căn nhà của khách hàng để kịp thu dọn đồ nghề tháo chạy sang ca kế tiếp!”
Lan dừng lại, hít một hơi dài, giọng cô đanh lại từng tiếng:
“Một kíp thợ phải làm việc liên tục bốn ca một ngày trong tình trạng thể lực bị vắt kiệt, bụng đói meo và tâm lý luôn hoảng loạn, sợ hãi trước những đồng hồ đếm ngược của người quản lý là một kíp thợ chắc chắn một trăm phần trăm sẽ gây ra lỗi kỹ thuật nghiêm trọng! Anh là một người từng lăn lộn nhiều năm trong ngành vận hành chuỗi bán lẻ và dịch vụ, anh không thể nào ngây thơ đến mức không hiểu được sự phi lý chết người của cái bảng tính này. Anh thừa hiểu những rủi ro đó, anh nắm rõ từng lỗ hổng đó hơn bất kỳ ai trong căn phòng này.”
Lan rướn người về phía trước, ánh mắt nhìn xoáy sâu vào tâm can của Phan Gia Bảo:
“Vậy thì câu hỏi thực sự mà chúng tôi muốn anh trả lời thẳng thắn chiều hôm nay là: Tại sao một người có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm thực chiến như anh lại cố tình nhồi nhét một mô hình vận hành bóp nghẹt sức lao động của con người, tích tụ một khối thuốc nổ rủi ro kỹ thuật khổng lồ và hoàn toàn phi thực tế như thế này vào bản hợp đồng nhượng quyền? Anh đang vội vã cái gì? Động cơ thực sự nào đang thúc ép anh phải sống chết đòi mở bằng được cái điểm bán ở đường Nguyễn Lương Bằng ngay trong quý này, với một cái mốc thời gian hòa vốn phi lý đến mức điên rồ là sáu tháng?”
***
Những câu hỏi dồn dập, đanh thép và logic đến mức không để lại một kẽ hở nào của Lan giáng xuống như những đòn đánh quyết định, đánh trúng vào điểm yếu chí mạng nhất, nơi sâu kín nhất mà Bảo đã cố gắng che giấu suốt bốn tiếng đồng hồ đàm phán căng thẳng.
Phan Gia Bảo khẽ giật bắn người. Sự tự tin bóng bẩy, nụ cười ngoại giao và phong thái điềm tĩnh thường thấy của anh hoàn toàn vỡ vụn. Gương mặt anh chuyển biến liên tục: từ vẻ tự tin chuyển sang sự căng thẳng tột độ, rồi từ căng thẳng biến thành một thoáng bối rối, hoang mang hiếm thấy trên gương mặt của một chuyên gia phát triển chuỗi kỳ cựu. Hai bàn tay anh đặt trên mặt bàn vô thức siết chặt lại thành nắm đấm, các khớp ngón tay run rẩy nhè nhẹ.
Chiếc bút máy titan đắt tiền đang nằm kẹp giữa các ngón tay anh bỗng trượt ra, lăn lông lốc trên mặt gỗ tràm láng bóng rồi rơi thẳng xuống sàn gạch men, phát ra một tiếng *cạch* khô khốc, vang vọng rõ mồn một giữa căn phòng tĩnh mịch.
Không một ai trong phòng cúi xuống nhặt chiếc bút.
Bảo ngước mắt lên, nhìn trân trân vào Lan, rồi đưa mắt nhìn sang Hà và Trần Mỹ Dung. Ba người phụ nữ ngồi đối diện anh, mỗi người mang một vẻ mặt, một thần thái khác nhau, nhưng họ hợp lại thành một bức tường thành kiên cố vững chắc đến mức tuyệt đối — một ranh giới đạo đức và nghề nghiệp không thể xuyên thủng mà anh không có cách nào dùng những thuật ngữ tài chính thời thượng, những biểu đồ tăng trưởng bóng bẩy hay món tiền tươi một trăm tám mươi triệu đồng sẵn sàng giải ngân để lung lay hay mua chuộc: Hà là người nắm giữ linh hồn, đạo đức nghề nghiệp và kiên quyết bảo vệ sinh mạng, nhân phẩm của người lao động; Dung là hiện thân của những bài học xương máu, của chuẩn mực kỹ thuật thực chiến không thể thỏa hiệp; còn Lan là hiện thân của sự thật trần trụi, lạnh lùng được bảo chứng bằng những con số kế toán chính xác đến từng xu.
Khoảng lặng kéo dài đằng đẵng gần hai phút đồng hồ. Chiếc quạt trần trên đầu vẫn đảo từng vòng đơn điệu, tiếng kim loại cọ xát trầm đục dường như càng lúc càng trở nên nặng nề hơn, bóp nghẹt từng nhịp thở của những người ngồi quanh bàn trà.
Cuối cùng, Phan Gia Bảo buông một tiếng thở dài thật sâu. Âm thanh thở hắt ra nghe như một quả bóng khí bị xì hơi sau khi bị bơm quá căng. Toàn bộ bờ vai anh buông thõng xuống, tấm lưng vốn luôn giữ thẳng tắp của anh hơi gập lại, tựa hẳn vào thành ghế gỗ. Lớp vỏ bọc hào nhoáng, tự tin của một nhà đầu tư tăng trưởng sành sỏi dường như đã bong tróc hoàn toàn, để lộ ra một con người đang kiệt sức vì những áp lực vô hình đè nặng lên vai.
Anh không buồn nhặt chiếc kính cận lên đeo lại, đưa tay với lấy chén trà nguội ngắt của mình, ngửa cổ uống cạn một hơi như một kẻ lữ hành vừa thoát khỏi cơn khát cháy họng giữa sa mạc.
“Được rồi,” Bảo cất tiếng, giọng anh trầm hẳn xuống, khản đặc và lạc đi, không còn một chút âm hưởng hùng hồn, đanh thép nào của người đàn ông vừa đứng lên thuyết trình nửa tiếng trước. “Nếu các chị đã phân tích đến tận chân tơ kẽ tóc, đã dồn tôi vào tận chân tường như thế này… thì tôi cũng không có lý do gì để tiếp tục giấu giếm các chị thêm nữa.”
Anh ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Hà. Đôi mắt sau tròng kính của anh giờ đây vằn lên những tia máu đỏ li ti vì thiếu ngủ và sự căng thẳng thần kinh kéo dài suốt nhiều tuần lễ:
“Cái đề xuất nhượng quyền thương hiệu Sạch Nhà để mở điểm bán tại cụm Quận 7 này… thực chất không phải là tiền túi cá nhân của riêng một mình tôi. Đứng sau lưng tôi là một nhóm cổ đông góp vốn ủy thác gồm bốn người. Họ là những nhà đầu tư tài chính chuyên nghiệp, chuyên đi săn lùng và lướt sóng các mô hình chuỗi bán lẻ, chuỗi cà phê và dịch vụ tiêu dùng nhanh để thổi phồng định giá rồi bán lại kiếm lời.”
Hà khẽ nhíu mày, giọng cô vẫn giữ được sự bình tĩnh nhưng ánh mắt đã ánh lên nét thấu hiểu: “Nghĩa là anh thực chất chỉ là một người đại diện vận hành được thuê để thực thi dự án?”
“Đúng vậy,” Bảo cay đắng gật đầu thừa nhận, khóe môi nhếch lên một nụ cười tự giễu. “Họ là những người nắm giữ nguồn tiền, còn tôi chỉ là một kẻ bỏ công sức, bỏ kinh nghiệm quản trị chuỗi ra để cày cuốc, chịu trách nhiệm đạt các chỉ số KPI tăng trưởng nóng nhằm hy vọng được hưởng một phần cổ phần quyền chọn khi chuỗi được thoái vốn cho các quỹ lớn hơn. Và điều khoản giải ngân trong hợp đồng hợp tác đầu tư mà họ trói vào cổ tôi… nó tàn khốc và khắc nghiệt hơn các chị tưởng tượng rất nhiều. Toàn bộ gói vốn cam kết trị giá một tỷ hai trăm triệu đồng cho dự án phát triển chuỗi dịch vụ vệ sinh này bắt buộc phải được giải ngân toàn bộ, và chúng tôi phải khai trương đi vào vận hành thực tế ít nhất hai điểm bán trước khi kết thúc năm tài chính này — nghĩa là hạn chót là ngày ba mươi mốt tháng Mười Hai.”
Bảo đưa cả hai bàn tay lên ôm lấy mặt, các đầu ngón tay xoa mạnh hai bên thái dương đang giật lên từng cơn đau nhức:
“Hôm nay đã là những ngày cuối cùng của tháng Mười rồi, các chị có hiểu tình cảnh của tôi lúc này không? Tôi chỉ còn đúng vỏn vẹn hai tháng! Nếu như trước ngày ba mươi mốt tháng Mười Hai tới đây, tôi không có được trong tay một hợp đồng nhượng quyền thương mại có hiệu lực pháp lý đầy đủ, không kịp hoàn tất sửa chữa mặt bằng và không khai trương được điểm bán ở Nguyễn Lương Bằng cùng một điểm phụ trợ nữa ở khu vực Nam Sài Gòn, toàn bộ nhóm cổ đông ủy thác đó sẽ lập tức kích hoạt điều khoản phạt vi phạm cam kết tiến độ đầu tư. Họ sẽ rút toàn bộ số vốn cam kết còn lại về, phong tỏa tài khoản dự án, và tệ hại nhất là họ sẽ tịch thu trắng trợn khoản tiền ký quỹ năm trăm triệu đồng mà tôi đã phải thế chấp bằng chính chiếc xe ô tô tôi đang đi và căn hộ chung cư trả góp của hai vợ chồng tôi. Tôi sẽ bị đá văng ra khỏi dự án này ngay lập tức với hai bàn tay trắng và một đống nợ nần ngập đầu!”
Sự thật cuối cùng đã phơi bày một cách trần trụi, trơ trẽn và tàn nhẫn nhất ngay trên bàn đàm phán.
Không phải Phan Gia Bảo không nhìn thấy nguy cơ cháy mặt đá cẩm thạch Calacatta mà Trần Mỹ Dung vừa cảnh báo. Không phải anh không thấu hiểu nỗi thống khổ và sự kiệt quệ thể xác của những người thợ khi bị nén khoảng đệm di chuyển xuống hai mươi phút giữa cái nắng chang chang của Sài Gòn như Lan vừa vạch trần. Càng không phải anh không nhận thức được giá trị sống còn của hai tuần đào tạo bài bản dưới sự kèm cặp nghiêm ngặt của Hạnh mà Hà kiên quyết đòi hỏi.
Anh biết hết. Anh hiểu tường tận từng rủi ro đó. Nhưng bản thân anh lúc này đang bị kẹp chặt giữa chiếc kẹp gắp tàn bạo của tư bản tài chính: một bên là thời hạn giải ngân sinh tử và áp lực thoái vốn điên cuồng của những kẻ đầu cơ chỉ muốn nhìn thấy những con số điểm bán mọc lên thật nhanh để vẽ biểu đồ thổi phồng định giá chuỗi; một bên là những đòi hỏi khắt khe, chậm rãi, cẩn trọng và chuẩn mực đến từng milimet của những người làm nghề thực thụ. Để tự cứu lấy cái ghế điều hành của mình, để cứu lấy chiếc xe ô tô và tài sản thế chấp của gia đình, Bảo đã không ngần ngại chọn cách ép Sạch Nhà phải bán rẻ các nguyên tắc an toàn, biến những người lao động nghèo thành những con tốt thí trên bàn cờ tăng trưởng nóng của các nhà tài phiệt lướt sóng.
Hà lặng lẽ nhìn người đàn ông đang ngồi suy sụp, vò đầu bứt tai trước mặt mình.
Trong lòng cô lúc này hoàn toàn không có cảm giác hả hê hay đắc thắng của một kẻ vừa dồn được đối thủ trên bàn đàm phán vào bước đường cùng. Thay vào đó, trong lồng ngực cô dâng lên một nỗi xót xa cay đắng cho quy luật vận hành nghiệt ngã của thương trường ngoài kia — nơi những giá trị thực tế của sức lao động và đạo đức nghề nghiệp luôn bị biến thành những món hàng mặc cả để phục vụ cho lòng tham vô đáy của những cuộc chơi tài chính ngắn hạn.
Cô bất giác rùng mình khi nghĩ lại chính bản thân mình của những ngày tháng trước. Suýt chút nữa thôi, trong những buổi chiều tăm tối khi nhìn vào số dư tài khoản chỉ còn hơn một triệu đồng, khi những áp lực cơm áo gạo tiền bủa vây tứ phía, cô đã có thể vì hoa mắt trước con số một trăm tám mươi triệu đồng tiền tươi mà nhắm mắt ký bừa vào bản hợp đồng nhượng quyền này. Và nếu cô làm thế, cô đã chính tay ký vào bản án tử hình cho thương hiệu Sạch Nhà, phản bội lại niềm tin của Hạnh, của Lan, của Dung và của hàng chục người thợ đang ngày đêm đổ mồ hôi trên các công trình.
Hà khẽ quay đầu sang bên cạnh, ánh mắt cô chạm vào ánh mắt của Phạm Ngọc Lan.
Hai người phụ nữ, hai người bạn đã cùng nhau đi qua những ngày tháng khốn khó nhất từ con số không, nhìn nhau trong một tích tắc. Không cần phải thốt ra bất kỳ một lời nói nào, ánh mắt giao nhau của họ chan chứa sự thấu hiểu trọn vẹn, sự kiên định không gì có thể lay chuyển và một quyết định chung đã được đưa ra trong im lặng.
Lan không nói thêm một lời thừa thãi nào nữa.
Đôi bàn tay gầy gò nhưng cứng cáp của người làm kế toán từ tốn vươn ra, đặt lên mép tập hồ sơ dự thảo hợp đồng nhượng quyền thương mại dày bốn mươi trang đang nằm trước mặt Phan Gia Bảo. Cô kéo tập tài liệu đó trượt dài trên mặt bàn gỗ tràm, đưa nó trở về vị trí trước mặt mình.
Dưới ánh hoàng hôn muộn màng đang lịm dần sau những thanh chấn song sắt, Lan đặt lòng bàn tay lên bìa tập hồ sơ, gập mạnh tập giấy lại.
*Tách.*
Tiếng gập bìa tài liệu vang lên đanh gọn, dứt khoát và sắc lạnh như một nhát búa đóng đinh dấu chấm hết cho toàn bộ cuộc đàm phán kéo dài suốt bốn tiếng đồng hồ. Thanh âm ấy vang vọng giữa gian phòng tĩnh mịch, cắt đứt hoàn toàn mọi ảo tưởng về một thỏa thuận thương mại dễ dãi.
Lan ngẩng cao đầu, ánh mắt sau cặp kính cận nhìn thẳng tắp vào đôi mắt đỏ ngầu, mệt mỏi và rệu rã của Phan Gia Bảo. Cô cất giọng, từng chữ từng câu rơi xuống không gian, rành rọt, dứt khoát và chuẩn xác như một lời tuyên ngôn:
“Nếu anh muốn một mô hình vắt kiệt sức lao động để làm đẹp báo cáo thoái vốn, Sạch Nhà không phải là món hàng đó.”