Một lời cầu hôn có điều khoản
Gió thu thổi lồng lộng qua bãi ngô xanh mướt ven sông, mang theo hương phù dung ngai ngái hòa cùng tiếng chuông chùa xa xăm điểm từng nhịp thanh tịnh giữa thinh không.
Mặt nước bến Vọng Giang sau những ngày cuộn đỏ phù sa vì mưa nguồn nay đã lắng lại thành một dải lam biếc hiền hòa, phẳng lặng như một tấm lụa là dài vô tận, phản chiếu ánh ráng chiều vàng ruộm đang từ từ loang dần từ đỉnh rặng Tây Lĩnh xuống tận mép nước. Tiếng mái chèo khua nước bì bõm của đám đò thưa khách lúc chạng vạng vọng lại đứt quãng, chìm nổi giữa tiếng rì rào của rặng sậy trổ bông trắng xóa men theo bãi bồi. Từng đoàn phu bốc vác áo nâu sờn vai sau một ngày dài mướt mồ hôi đang túm tụm chia nhau tiền công bên cột gỗ lim đầu cầu tàu; tiếng cười nói giòn tan rộn rã át cả tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân kè đá hộc mới dựng. Mùi khói rơm rạ đốt đồng từ các xóm chài phía hạ lưu lững lờ bay sang, quẩn quanh nơi sống mũi, gợi lên một cảm giác an yên đến nao lòng của một buổi chiều tà nơi bến nước.
Hàn Thụy chắp hai tay sau lưng, bước chân thong thả trên con đường mòn đất nện chạy dọc theo triền đê. Anh mặc chiếc áo dài bằng vải thô màu chàm sẫm, vạt áo khẽ bay theo từng cơn gió sông lồng lộng. Lúc này, trên gương mặt góc cạnh và cương nghị của anh không còn vẻ sắc sảo, nghiêm cẩn hay sự dè chừng lạnh lùng của một chưởng quỹ nắm ba phần mười cổ phần Thương đoàn Tây Lĩnh giữa chốn thương trường đầy rẫy mưu mô cạm bẫy. Thay vào đó, cả dáng vẻ anh toát lên sự an tĩnh, phong trần của một người từng trải, đã nếm đủ đắng cay, đã bước qua trăm ghềnh ngàn thác để hiểu được giá trị thực sự của sự bình yên.
Đi song song bên cạnh anh, cách chừng nửa bước chân đầy ý tứ, là Liễu Thanh Hà. Nàng mặc bộ áo vải mộc màu xanh vỏ đỗ quen thuộc, chiếc thắt lưng vải gai bản nhỏ gọn gàng, mái tóc đen nhánh được vấn cao để lộ cần cổ thanh mảnh và đôi mắt sáng ngời, sâu thẳm như làn nước giếng đá ong gò Thanh Khê. Từng nhịp bước của Thanh Hà nhẹ tênh, như thể bao nhiêu gánh nặng vô hình trĩu nặng trên đôi vai gầy suốt mấy năm trời ròng rã nay đã được rũ bỏ hoàn toàn theo ngọn gió thu.
Chưa bao giờ trong đời mình, bước chân của Thanh Hà lại thanh thản đến nhường này.
Buổi sáng hôm nay, tại gian phòng khách của Hội nữ thương Đông Tân, món nợ vật tư mười lượng bạc với Đỗ Nguyệt Nương đã được nàng trao trả sòng phẳng bằng những thỏi bạc trắng tinh tươm, kèm theo đúng hai lượng bạc tiền lãi cảm tạ như lời đã hứa từ ngày đầu dựng móng quán. Đỗ Nguyệt Nương đã nắm lấy tay nàng, hai người phụ nữ buôn bán lam lũ nhìn nhau mà rơm rớm nước mắt vì mừng vui. Đến buổi chiều, tại bàn thu ngân của Thương đoàn mé bến đò, mười lăm lượng bạc trắng cùng một lượng hai phân bạc tiền lời vay mượn suốt hai mươi bốn tháng ròng rã cũng đã được nàng trao tận tay Hàn Thụy trước sự chứng kiến của người bến đò. Tờ văn tự nợ năm xưa bằng giấy bản ố vàng đã bị gạch chéo dứt khoát bằng mực đen, xé làm đôi rồi đốt thành tro tàn ngay trước mắt mọi người.
Kể từ khoảnh khắc ấy, nàng không còn là con nợ khốn khổ phải thắt lưng buộc bụng từng đồng, anh cũng chẳng còn là chủ nợ nắm giữ tờ văn tự sinh tử. Giữa hai người họ lúc này, không còn một điều khoản tiền bạc trói buộc, không còn sự phụ thuộc đầy mặc cảm của kẻ đi vay đối với người cho vay, cũng không còn những phép tính chi ly, lạnh lùng của hai bên đối tác trên thương trường đầy toan tính.
Chỉ còn ngọn gió thu lồng lộng thổi bay tà áo, và hai năm đồng cam cộng khổ dệt nên một mối tri kỷ trầm lặng mà sâu nặng như lòng sông Vọng Giang.
Hàn Thụy dừng bước dưới bóng râm của một cây đa cổ thụ rủ rễ buông dài xuống triền dốc đứng. Từ vị trí này, phóng tầm mắt qua khúc quanh của bờ đê, có thể nhìn thấy trọn vẹn Trà lâu Thanh Hà kiên cố hai tầng với mái ngói mũi hài đỏ tươi đang soi bóng lấp lánh xuống mặt nước bờ đông. Những ô cửa sổ mở rộng đón gió sông, những cột gỗ lim chắc nịch được bọc chân đá xanh, và những hàng chậu hoa trà xếp ngay ngắn ngoài hiên lầu, tất cả đều toát lên vẻ vững chãi, thịnh vượng của một cơ nghiệp được gầy dựng từ hai bàn tay trắng.
Hàn Thụy khẽ nghiêng đầu nhìn sang người phụ nữ bên cạnh. Dưới ánh hoàng hôn vàng ươm, gương mặt Thanh Hà như được phủ một lớp ánh sáng dịu dàng, đôi mắt nàng nhìn về phía quán trà của mình với tất cả niềm kiêu hãnh kín đáo. Ánh mắt Hàn Thụy tràn ngập vẻ kính trọng chân thành, anh cất giọng trầm ấm, phá tan bầu không khí tĩnh lặng:
“Thanh Hà, hai năm trước, vào đúng buổi chiều gió bấc cắt da cắt thịt, ta lần đầu ghé vào túp lều rách dột nát mé đông của nàng. Khi ấy, sông Vọng Giang đóng một lớp băng mỏng ven bờ, nàng gầy guộc đến xót xa, hai bàn tay nứt nẻ buốt đỏ vì phải ngâm trong chậu nước lạnh buốt để rửa từng chiếc bát sứt mẻ. Thế nhưng, đôi mắt nàng khi bưng bát chè xanh hai văn mời ta lại kiên định và thanh sạch đến lạ lùng. Suốt hai năm qua, ta đã đứng bên cạnh nhìn nàng. Ta nhìn nàng thức trắng những đêm mưa bão chống chọi với lũ dữ tràn bờ kè, nhìn nàng kiên cường đối diện với đám cò bến nhũng nhiễu hung hăng, vượt qua định kiến nghiệt ngã của miệng đời dành cho một người đàn bà góa bụa đơn độc buôn bán nơi bến đò. Nàng tự mình chuộc lại em trai thoát khỏi kiếp tôi đòi, dang tay cưu mang một đứa trẻ côi cút giữa dòng đời trôi dạt. Từng viên đá hộc dưới chân móng kia, từng viên ngói son trên mái lầu hai tầng kia, đều được dựng nên bằng chính mồ hôi, trí tuệ và sự liêm chính không một vết nhơ của nàng.”
Thanh Hà khẽ mỉm cười. Đôi gò má nàng phảng phất chút ửng hồng dưới ánh ráng chiều rực rỡ, nhưng giọng nàng cất lên vẫn mềm mỏng, khiêm nhường như chính bản tính vốn có:
“Hàn gia quá khen rồi. Nếu năm xưa không có chén trà thẩm định đầu tiên của ngài mở đường cho ta bán trà khô, không có sự công bằng sòng phẳng trong từng chuyến hàng vận chuyển của Thương đoàn Tây Lĩnh và những lời khuyên tỉnh táo đúng lúc của ngài giữa những cơn phong ba, một người đàn bà tay trắng trôi dạt như ta e rằng đã sớm bị sóng dữ bến sông này vùi dập không còn manh chiếu rách. Ân tình và sự tôn trọng của ngài dành cho quán trà, Thanh Hà này khắc cốt ghi tâm, cả đời không dám quên.”
“Không, Thanh Hà, đó không phải là ân tình ban phát,” Hàn Thụy lắc đầu, giọng nói trở nên dứt khoát và nghiêm túc lạ thường. Anh nhìn thẳng vào dòng nước đang trôi êm đềm dưới chân đê, ký ức xưa cũ dường như lại hiện về trong đáy mắt: “Ta từng nếm trải cảnh gia đình tan nát, tán gia bại sản năm mười bốn tuổi chỉ vì cha ta nhẹ dạ bảo lãnh nợ miệng cho một người bạn buôn. Cha mất, mẹ bệnh, ta từng phải cắn răng làm phu kéo thuyền rách rưới suốt mười năm ròng rã trên khúc sông Vọng Giang hiểm trở này, từng bị người ta khinh bỉ, chà đạp, dẫm lên phẩm giá. Ta hiểu rõ hơn ai hết thế nào là sự tàn nhẫn của bạc tiền và sự trói buộc nhục nhã của thân phận phụ thuộc kẻ khác. Chính sự kiên định đòi sòng phẳng từng văn tiền, rạch ròi từng điều khoản khế ước của nàng suốt hai năm qua đã dạy cho ta hiểu một điều: sự giúp đỡ chân chính của một người quân tử không phải là che chở bao bọc như nuôi một con chim trong lồng, mà là tôn trọng phẩm giá và nâng đỡ sự tự lập của đối phương.”
Nói đoạn, Hàn Thụy xoay hẳn người lại đối diện với nàng. Gió sông bỗng thổi mạnh, tung bay những lọn tóc mai lòa xòa bên trán người thương nhân phong trần, để lộ ánh nhìn chân thành, tha thiết và nồng nàn nhất mà suốt hai năm qua anh luôn phải dè dặt kìm nén tận đáy lòng:
“Hôm nay, nợ nần đã dứt, tiền bạc đã phân minh rõ ràng. Ta đứng trước mặt nàng lúc này không phải với tư cách một chủ nợ đòi hỏi quyền lợi, cũng không phải một chưởng quỹ thương đoàn tìm kiếm bạn hàng ăn chia lợi nhuận. Ta đứng đây như một người đàn ông thành kính ngưỡng mộ một người phụ nữ phi thường, như một người tri kỷ mong muốn được cùng nàng đồng hành trên suốt chặng đường đời còn lại. Thanh Hà, nàng có bằng lòng để ta trở thành bạn đời, cùng nàng san sẻ những sớm hôm mưa nắng, cùng nàng chia ngọt sẻ bùi bên bến sông này không?”
Trái tim Thanh Hà khẽ run lên một nhịp mạnh mẽ. Lồng ngực nàng như nghẹn lại, một luồng nhiệt ấm áp dâng trào lan tỏa khắp châu thân. Dẫu rằng suốt thời gian qua, nàng đã lờ mờ cảm nhận được tình cảm sâu kín của anh qua từng cử chỉ săn sóc kín đáo—từ việc anh âm thầm điều thuyền chở đá hộc đến gia cố bờ kè trước mùa lũ, chiếc áo choàng len anh lặng lẽ gửi qua tay Tiểu Mãn trong đêm sương giá, cho đến cái nhìn lặng lẽ, bao dung dõi theo bóng lưng nàng bên bếp lửa bốc khói—nhưng khi nghe lời ngỏ thẳng thắn, trang trọng và tôn nghiêm thốt ra từ chính miệng người đàn ông ấy, nàng vẫn không khỏi xúc động đến nghẹn ngào. Hai năm qua, nàng đã phải gồng mình lên làm một cây tùng cây bách đứng mũi chịu sào trước mọi giông bão cuộc đời, chưa từng một lần dám buông lỏng lòng mình hay dựa dẫm vào bờ vai của bất kỳ ai.
Nhưng Hàn Thụy không để nàng phải lúng túng trong sự bối rối của cảm xúc. Anh hiểu rõ nàng, hiểu đến từng vết sẹo vô hình hằn sâu trong tâm can người phụ nữ từng bước qua đổ vỡ. Anh thong thả đưa tay vào trong vạt áo dài, cẩn trọng rút ra một phong thư màu đỏ thắm mà lúc hoàng hôn buông xuống, nàng đã thoáng trông thấy anh cầm trên tay dưới giàn hoa hòe bên bến.
Phong thư ấy được làm bằng loại giấy hoa tiên đỏ dày dặn, loại giấy chuyên dùng cho những việc đại sự trang trọng nhất của chốn danh gia. Nó không cài then khóa bằng vàng bạc châu báu, cũng chẳng kèm theo sính lễ gấm vóc lụa là phô trương để làm lóa mắt người đời. Hàn Thụy cung kính nâng phong thư bằng cả hai bàn tay, đưa về phía nàng với tư thế của một người trao gửi trọn vẹn sự tín nhiệm và tôn nghiêm:
“Ta biết nàng sợ điều gì. Nàng từng chịu nỗi đau bị gia tộc nhà chồng cũ xem như một món đồ phụ thuộc không có tiếng nói, bị tước đoạt toàn bộ tài sản riêng rồi tống cổ ra đường trong một đêm đông tuyết lạnh cắt da cắt thịt. Cho nên, lời cầu hôn hôm nay của ta tuyệt đối không đi kèm những lời thề non hẹn biển sáo rỗng hay những hứa hẹn viển vông nơi đầu môi chót lưỡi. Tất cả những gì ta có thể làm, tất cả những gì ta hứa với nàng trước trời đất, ta đã tự tay viết thành từng điều khoản rõ ràng, minh bạch trong bản thảo hôn thư này.”
Thanh Hà ngước mắt nhìn anh, rồi run run đưa hai bàn tay đón lấy phong bì đỏ thắm. Bề mặt giấy mịn màng, ấm nóng như mang theo hơi ấm từ lồng ngực người đàn ông đối diện. Nàng khẽ mở nắp phong bì, rút từ bên trong ra một tờ hoa tiên lụa lớn gấp làm tư. Mùi mực nho mới quyện lẫn hương trầm nhàn nhạt lập tức tỏa ra ngào ngạt trong làn gió thu.
Dưới ánh hoàng hôn vàng rực đang dát một lớp hào quang rực rỡ lên bến sông, từng hàng chữ Nôm chân phương, cứng cáp và sắc sảo theo lối khải thư chuẩn mực hiện lên rành rọt, đanh thép trước mắt nàng.
Bản thảo hôn thư ấy không hề mở đầu bằng những lời chúc tụng hoa mỹ về gia môn hòa hợp, loan phụng hòa minh sáo rỗng thường thấy, mà mở đầu bằng sự xác lập pháp lý đanh thép và dứt khoát:
*Điều thứ nhất: Cơ nghiệp Trà lâu Thanh Hà tọa lạc tại mé đông bến đò Vọng Giang, bao gồm toàn bộ khế ước thuê đất dài hạn đã đóng dấu nha môn, bờ kè móng đá hộc, nhà lầu hai tầng khung gỗ lim, xưởng làm bánh nướng, kho chứa hàng lót ván chống ẩm cùng toàn bộ trà cụ, công thức ướp trà gia truyền và tiền tài tích lũy, vĩnh viễn là tư sản riêng bất khả xâm phạm của Liễu Thanh Hà. Sau khi kết hôn, người chồng là Hàn Thụy tuyệt đối không có quyền can thiệp, chiếm hữu, định đoạt hoặc sử dụng cơ nghiệp này để thế chấp, gán nợ hay chia chác dưới bất kỳ hình thức nào, dù trong bất kỳ hoàn cảnh gia đình hay biến cố thương trường nào.*
*Điều thứ hai: Toàn quyền kinh doanh buôn bán, thu chi tài chính hàng ngày hàng tháng, ký kết khế ước với bạn hàng và định đoạt nhân sự của Trà lâu Thanh Hà vĩnh viễn thuộc về một mình Liễu Thanh Hà. Hàn Thụy tuyệt đối không được lấy danh nghĩa người đứng đầu gia đình hay tư cách người chồng để can dự, áp đặt ý chí, hoặc làm thay đổi phương thức vận hành độc lập của quán trà.*
*Điều thứ ba: Liễu Thanh Du và Liễu Tiểu Mãn là những người thân ruột thịt, bình đẳng của Liễu Thanh Hà. Hàn Thụy cam kết trước pháp luật triều đình và anh linh tổ tiên, xem hai người em và con gái nuôi như ruột thịt của chính mình; Liễu Thanh Du được toàn quyền học tập, thi cử và hưởng quyền lợi gia đình theo đúng ý nguyện cá nhân; Liễu Tiểu Mãn giữ nguyên tư cách nghĩa nữ hợp pháp, sổ tiết kiệm hồi môn lập thân trích từ mười phần trăm tiền lời mỗi tháng của quán trà được pháp luật bảo hộ nguyên vẹn, không một ai—kể cả con cái chung sau này nếu có—được phép xâm phạm hay tước đoạt.*
Đọc đến dòng chữ cuối cùng, từng ngón tay thon thả của Thanh Hà run rẩy siết chặt lấy mép giấy hoa tiên mỏng manh. Khóe mắt nàng cay xè, một giọt nước mắt nóng hổi tích tụ bấy lâu bất giác lăn dài trên gò má, rơi xuống mép giấy đỏ thắm làm nhòe đi một vệt mực nhỏ xíu.
Một bản hôn thư như thế này, ở khắp huyện Thanh Lâm nghèo khó này, hay thậm chí cả khắp phủ Đông Giang trù phú, có lẽ từ thuở khai hoang lập ấp đến nay chưa từng có tiền lệ.
Người đàn ông đang đứng trước mặt nàng là một nhân vật có tiếng tăm, nắm giữ một phần ba huyết mạch của một thương đoàn lớn, phong độ đĩnh đạc, bao kẻ muốn gả con gái khuê các cho anh. Vậy mà anh lại tự nguyện hạ mình, đặt bút viết những dòng chữ tước bỏ hoàn toàn quyền tài sản của người chồng—thứ đặc quyền gia trưởng tuyệt đối mà biết bao kẻ đàn ông thời này coi là đạo lý hiển nhiên của tạo hóa—chỉ để trao trọn sự độc lập, sự tôn nghiêm và an toàn tuyệt đối cho nàng cùng những người thân yêu nhất của nàng.
Vết thương sâu hoắm của quá khứ—nơi người chồng cũ bạc nhược cắn ngón tay viết huyết thư thề non hẹn biển nhưng rồi bức thư ấy vẫn bị mẹ chồng phong tỏa, giấu kín để cướp trắng chiếc trâm vàng hồi môn rồi đuổi nàng ra đường trong đêm tuyết lạnh—dường như lúc này mới thực sự được xoa dịu. Nó được chữa lành hoàn toàn không phải bằng những lời thề thốt ngọt ngào nơi đầu lưỡi, mà bằng sự chân thành, minh bạch và sòng phẳng đến tột cùng của Hàn Thụy.
Một thoáng men say của niềm xúc động và lòng biết ơn dâng trào mãnh liệt trong lồng ngực, khiến Thanh Hà chỉ muốn gật đầu nhận lời ngay tức khắc, muốn buông bỏ tất cả sự phòng bị để ngả vào bờ vai vững chãi kia. Thế nhưng, giữa dòng cảm xúc cuộn trào tưởng như có thể cuốn phăng mọi thứ ấy, lý trí và sự tỉnh táo được tôi rèn qua hai năm giông bão nơi bến đò đã kịp thời kéo nàng lại.
Nàng hít một hơi thật sâu làn gió thu mằn mặn mùi nước sông và bùn đất phù sa, ép cho nhịp tim mình đập chậm lại. Nàng cẩn thận gập bản hôn thư lại theo đúng từng nếp gấp ban đầu, vuốt phẳng phiu rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Hàn Thụy. Ánh mắt nàng ngập tràn lòng biết ơn sâu sắc, nhưng giọng nói vẫn giữ được sự bình tĩnh, chừng mực và kiên định đến kinh ngạc:
“Hàn gia... tấm lòng, sự bao dung và sự tôn trọng của ngài đối với ta, trời đất cao xanh và dòng sông Vọng Giang này đều có thể làm chứng. Đời một người phụ nữ buôn bán trôi dạt, mang danh góa phụ bị đuổi đi như ta, gặp được một người tri kỷ thấu hiểu và trân trọng mình đến nhường này, quả thực là phúc phận lớn lao mà ta chưa từng dám mơ tới. Thế nhưng...” Nàng dừng lại một nhịp, mỉm cười nhẹ nhàng mà cương quyết, “như chính ngài đã nói, ta là kẻ đã quen sống bằng giấy trắng mực đen, bằng sự minh bạch và cẩn trọng trong từng bước đi. Hôn nhân là việc hệ trọng cả một đời người, không chỉ liên quan đến riêng ta và ngài, mà còn liên quan mật thiết đến tương lai của Thanh Du và con bé Tiểu Mãn. Ta không muốn nhận lời ngài trong lúc tâm can đang xao động mãnh liệt bởi men say cảm xúc. Xin phép ngài cho ta được mang bản thảo hôn thư này về nhà, đọc lại thật kỹ từng chữ, từng dấu chấm phẩy, và bàn bạc công khai cùng người nhà của ta. Khi tâm trí ta hoàn toàn sáng rõ, ta sẽ chính thức trao lại câu trả lời cho ngài.”
Nghe những lời từ chối khéo léo nhưng vô cùng tỉnh táo ấy, Hàn Thụy không hề lộ ra một mảy may thất vọng hay tự ái của một người đàn ông bị trì hoãn. Ngược lại, nụ cười trên môi anh càng thêm rạng rỡ, ánh mắt nhìn nàng lại càng thêm phần thán phục và ấm áp. Anh khẽ gật đầu, vòng hai tay chắp lại thi lễ một cách nghiêm cẩn:
“Nàng nói rất đúng. Nếu nàng vội vã gật đầu nhận lời ngay trong lúc xúc động nhất thời, đó đã chẳng phải là Liễu Thanh Hà mà ta hằng kính trọng và yêu thương suốt hai năm qua. Nàng cứ mang về, cùng Thanh Du xem xét cẩn thận từng điều khoản. Ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi câu trả lời của nàng, bao lâu cũng được.”
***
Đêm đó, bến đò Vọng Giang chìm sâu vào sự tĩnh lặng sau một ngày dài ồn ã, tấp nập. Tiếng ếch nhái râm ran ngoài bãi ngô hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp vào bờ kè đá tạo nên một thanh âm trầm buồn, êm ả của màn đêm thôn dã.
Dưới ánh ngọn đèn dầu lạc bập bùng nơi gian phòng nhỏ ở tầng hai Trà lâu Thanh Hà, gió thu lùa qua khe cửa sổ mang theo hơi sương lạnh ngắt. Thanh Hà ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc nhẵn bóng, đặt bản hôn thư đỏ thắm ngay ngắn ở chính giữa. Ngồi đối diện với nàng là Liễu Thanh Du. Cậu thiếu niên mười lăm tuổi nay đã chững chạc hơn trước rất nhiều, vóc dáng cao ráo, gương mặt đã bớt đi nét non nớt, đôi mắt sáng thông minh chăm chú lướt qua từng nét chữ khải thư của Hàn Thụy. Ngón tay trỏ của cậu khẽ gõ nhẹ từng nhịp đều đặn lên mặt bàn gỗ theo thói quen tính toán sổ sách mà cậu rèn luyện được ở trường huyện.
Ở góc phòng bên kia, trên tấm phản gỗ sát chân tường, Tiểu Mãn đang ngồi bệt dưới sàn đất cạnh chân giường. Con bé cúi gập người, hai bàn tay nhỏ nhắn cẩn thận ôm chặt lấy một chiếc hộp gỗ nhỏ có then cài bằng đồng—chiếc hộp báu vật đựng số tiền công ba mươi văn mỗi tháng và những đồng tiền thưởng khách cho mà Thanh Hà cho phép em giữ riêng làm vốn riêng. Con bé lén lút ngó nghiêng nhìn chị và anh, thấy hai người đang mải mê bàn việc lớn thì lại lúi húi nhét chiếc hộp sâu hơn vào gầm giường, lấy một mảnh chiếu rách che chắn cẩn thận, gương mặt nhỏ nhắn vừa hồi hộp vừa giấu giếm một bí mật ngọt ngào. Nàng biết con bé đang âm thầm chuẩn bị món quà gì đó bằng số tiền mồ hôi nước mắt của mình, nhưng Thanh Hà chỉ mỉm cười nhìn lướt qua, không vội gặng hỏi để giữ trọn niềm vui trong trẻo cho con trẻ.
Nàng quay lại nhìn em trai, khẽ cất tiếng hỏi, giọng thì thầm vừa đủ nghe trong đêm vắng:
“Đệ thấy bản văn tự này thế nào, Thanh Du?”
Thanh Du thở dài một hơi thật nhẹ, ngước nhìn chị gái, ánh mắt cậu lộ rõ sự kinh ngạc lẫn thán phục không hề che giấu:
“Tỷ, suốt nửa năm qua học chữ và luật lệ ở trường huyện, đệ đã đọc qua không ít điều luật của triều đình về hôn nhân, gia sản và hộ tịch. Đàn ông thế gian này đi lấy vợ, từ kẻ áo rách đến bậc phú gia, ai nấy đều xem của cải nhà vợ đương nhiên là đồ trong túi mình. Khế ước tài sản riêng của phụ nữ buôn bán hầu như không có đất dung thân trong chốn công đường phong kiến, người ta thường cho rằng vợ là phụ thuộc vào chồng, của cải của vợ đều do chồng cai quản. Hàn đại ca... huynh ấy tự tay viết bản văn tự này, thực sự đã nhường nhịn, tôn trọng và bảo vệ tỷ đến mức không thể nào tốt hơn được nữa. Từng chữ từng câu đều chặt chẽ, khẳng định quán trà và toàn bộ đất đai bến bãi này vĩnh viễn là của riêng tỷ, lại còn bảo đảm quyền lợi học tập, thi cử cho đệ, và danh phận thừa kế, của hồi môn cho Tiểu Mãn.”
Cậu bé khựng lại một chút, hàng lông mày hơi nhíu lại, nét mặt lộ vẻ đăm chiêu của một người đã sớm va vấp với thực tế cuộc đời:
“Tuy nhiên, tỷ à, chữ nghĩa của người ngoài dẫu có hay, có đẹp đến đâu, thì luật pháp của nha môn mới là thước đo cuối cùng để định đoạt sinh tử. Người ta khi yêu thương nhau thì viết gì cũng được, nhưng khi có biến cố, lòng người khó lường. Đệ nghĩ, sáng mai hai chị em mình nên mang bản thảo này lên nha môn huyện, nhờ Vũ thư lại rà soát lại một lượt dưới góc độ luật pháp hiện hành. Vũ thư lại là người công minh, phụ trách thương vụ và hộ tịch ở huyện nha suốt mấy chục năm, thông thạo từng kẽ hở của luật lệ triều đình. Có ông ấy xem qua và cho ý kiến, chúng ta mới thực sự bảo đảm không có kẽ hở nào sót lại gây họa về sau.”
Thanh Hà nhìn em trai, trong lòng dâng lên một niềm an ủi và tự hào vô hạn. Đứa em trai nhỏ dại ngày nào bị chủ nợ lôi đi đánh đập, nay đã trở thành một trụ cột thực sự của gia đình, biết suy nghĩ chín chắn, cẩn trọng và thấu đáo đến nhường này. Nàng gật đầu tán thành:
“Ý đệ rất hợp với lòng ta. Việc hệ trọng cả đời, cẩn trọng bao nhiêu cũng không thừa. Sáng mai quán chưa mở cửa sớm, chị em mình sẽ lên huyện một chuyến.”
***
Sáng sớm hôm sau, khi màn sương thu còn bảng lảng như khói phủ kín mặt sông Vọng Giang, tiếng gà gáy le te bên xóm chài còn chưa dứt, Thanh Hà và Thanh Du đã rời bến đò, rảo bước trên con đường đá dẫn lên huyện nha Thanh Lâm.
Đi qua dãy hành lang đá thênh thang lạnh lẽo của chốn công đường, hai chị em bước vào phòng làm việc của Thư lại phụ trách thương vụ và lệ phí Vũ Chính An.
Căn phòng quen thuộc ngập tràn mùi giấy bổi ẩm mốc quyện lẫn mùi mực tàu lưu cữu lâu năm. Trên các kệ gỗ sát tường, hàng trăm cuốn sổ bạ, địa bạ và hồ sơ thuế vụ được xếp ngay ngắn, bụi phủ mờ mờ trên các mép gáy sách. Vũ Chính An vẫn ngồi sau chiếc bàn gỗ lim lớn chất đầy công văn, mái tóc hoa râm điểm sương búi gọn gàng sau chiếc mũ the đen đã sờn mép. Thấy tiếng bước chân nhẹ nhàng bước vào, vị thư lại già nghiêm cẩn ngẩng đầu lên, nét mặt lộ vẻ ngạc nhiên hiếm thấy qua cặp kính gọng đồng:
“Thanh Hà, Thanh Du, hai chị em ngươi đến đây sớm thế này là có việc gì khẩn cấp sao? Tiền thuế bến bãi và thuế môn bài quý này của Trà lâu các ngươi đã hoàn tất đầy đủ, không thiếu một văn từ phiên chợ trước rồi cơ mà?”
Thanh Hà cung kính tiến lên phía trước hai bước, hai tay nâng bản thảo hôn thư đỏ thắm đặt nhẹ nhàng lên chiếc bàn giấy trước mặt ông:
“Bẩm Vũ đại nhân, hôm nay Thanh Hà mạo muội đến đây không phải vì việc thuế khóa của quán trà, mà có việc riêng tư trọng đại của đời mình, muốn phiền đại nhân dùng con mắt công tâm và sự am hiểu luật lệ sâu sắc của bậc tiền bối soi xét giúp kẻ hậu bối này.”
Vũ Chính An khẽ nhướn đôi lông mày bạc, đưa bàn tay gầy guộc cầm lấy tờ hoa tiên đỏ. Đôi mắt sắc sảo của vị thư lại già bắt đầu rà soát từng dòng chữ Nôm mực đen nhánh. Ban đầu, nét mặt ông vẫn giữ vẻ lạnh lùng, nghiêm nghị quen thuộc của một công chức nha môn đã nhìn quen sự đời; nhưng càng đọc sâu xuống dưới, hai hàng lông mày của ông càng giãn ra, đôi mắt mở to đầy vẻ kinh ngạc.
Ông tháo cặp kính gọng đồng xuống, lấy vạt áo lau nhẹ tròng kính rồi đeo lại cẩn thận, sau đó cúi đầu đọc lại một lần nữa từ đầu chí cuối, ngón tay khẽ miết lên từng nét chữ khải thư cứng cáp.
“Kỳ lạ... quả là chuyện xưa nay hiếm thấy trên đời!” Vũ Chính An ngẩng đầu lên, buông một tiếng cảm thán sâu sắc tự đáy lòng. “Lão già này làm thư lại ở huyện nha Thanh Lâm này ngót nghét ba mươi năm, phê duyệt không biết bao nhiêu tờ hôn thú, xử lý hàng trăm vụ tranh chấp của nả gia đình sau khi cưới gả, thậm chí chứng kiến không ít cảnh vợ chồng lôi nhau ra công đường xâu xé từng tấc đất, từng manh áo. Đàn ông giàu có chịu nạp sính lễ ngàn lượng để cưới vợ thì ta thấy nhiều, nhưng một kẻ quyền thế, nắm giữ tiền tài lớn mà lại chủ động lập văn bản từ bỏ toàn bộ quyền tài sản đối với cơ nghiệp của thê tử, lại viết rành rọt công nhận quyền kinh doanh độc lập của một người đàn bà buôn bán thế này... Hàn Thụy là người đầu tiên ta gặp. Người này đối với nàng không đơn thuần là sự si mê sắc dục hay tình cảm lứa đôi thông thường, mà là sự tôn trọng đến mức tuyệt đối.”
Thanh Hà khẽ cúi đầu, giọng nói khiêm cẩn:
“Đội ơn đại nhân đã thấu hiểu nỗi lòng của chúng con. Vậy theo con mắt nhà nghề của đại nhân, các điều khoản này đã thực sự chặt chẽ theo luật pháp triều đình hiện hành chưa? Có còn kẽ hở nào có thể bị kẻ xấu lợi dụng sau này không?”
Vũ Chính An trầm ngâm không đáp ngay. Ông gõ nhẹ đầu ngón tay trỏ lên mặt bàn gỗ lim, phát ra những tiếng cộc cộc khô khốc giữa căn phòng tĩnh mịch. Ánh mắt ông nhìn thẳng vào Thanh Hà, nét mặt bỗng trở nên nghiêm nghị, sắc bén mang tính nghiệp vụ chuyên môn:
“Xét về mặt bảo vệ tài sản riêng của nàng khỏi lòng tham cá nhân và danh phận của hai đứa nhỏ trong gia đình, bản thảo này viết rất kín kẽ, câu chữ đanh thép, không ai có thể bắt bẻ được nửa lời. Thế nhưng, Thanh Hà à, các ngươi là những kẻ lương thiện, chỉ nghĩ đến việc bảo vệ quán trà khỏi sự phản trắc của lòng người trong nhà, mà chưa tính đến những cơn sóng ngầm dữ dội của thương trường bên ngoài.”
Thanh Du nghe vậy vội vàng bước lên một bước, chắp tay khẩn thiết:
“Xin đại nhân chỉ bảo rõ hơn cho chúng con được thông suốt!”
“Hàn Thụy không phải là một anh nông dân quanh quẩn sau lũy tre làng, anh ta là một đại thương nhân, người nắm giữ tới ba phần mười cổ phần trong Thương đoàn Tây Lĩnh hùng mạnh,” Vũ Chính An chậm rãi phân tích, từng lời từng chữ chắc nịch như đinh đóng cột vang vọng trong căn phòng. “Thương trường như chiến trường, thuyền bè ngược xuôi buôn bán trên dòng sông nước Tây Lĩnh hiểm trở khôn lường. Nếu chẳng may sau này Thương đoàn gặp biến cố lớn—thuyền bè bị bão đánh chìm làm mất trắng những lô hàng vạn lượng, bạn buôn lớn quỵt nợ quy mô lớn khiến thương đoàn vỡ nợ, hoặc vướng vào những vụ kiện tụng công nợ lớn tại nha môn kinh kỳ—khi đó, các chủ nợ của Thương đoàn Tây Lĩnh hoàn toàn có quyền vin vào danh nghĩa phu thê đồng tịch để yêu cầu quan nha huyện sở tại niêm phong, kê biên và phát mại Trà lâu Thanh Hà nhằm siết nợ liên đới! Bản thảo này của các ngươi mới chỉ bảo vệ quán trà khỏi bàn tay của cá nhân Hàn Thụy, chứ chưa hề khoanh vùng được rủi ro công nợ từ bên ngoài ập vào!”
Nghe đến đây, cả Thanh Hà và Thanh Du đều giật mình thảng thốt. Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng nàng. Quả thực, nàng mở quán trà buôn bán lương thiện, chỉ ngày đêm lo lắng bảo vệ giọt mồ hôi của mình khỏi sự dòm ngó của những kẻ xung quanh, chứ làm sao có đủ tầm nhìn để lường hết được những cạm bẫy pháp lý liên đới phức tạp của giới đại thương gia buôn tàu bán bè.
“Vậy... thưa đại nhân, phải sửa đổi, thêm thắt thế nào mới có thể an toàn tuyệt đối trước pháp luật?” Thanh Hà khẽ hỏi, ánh mắt đầy vẻ âu lo.
Vũ Chính An với tay cầm lấy chiếc bút lông trên nghiên mực, chấm nhẹ một giọt mực son đỏ tươi, chỉ đầu bút vào khoảng trống nằm ngay bên dưới điều khoản thứ nhất:
“Cần phải bổ sung ngay một điều khoản khoanh vùng rủi ro công nợ thật rành mạch: *'Mọi khoản vay nợ, nghĩa vụ tài chính, tranh chấp thương mại hoặc trách nhiệm bồi hoàn phát sinh từ các hoạt động kinh doanh buôn bán của Hàn Thụy và Thương đoàn Tây Lĩnh vĩnh viễn thuộc về tư cách cá nhân của Hàn Thụy; Trà lâu Thanh Hà cùng toàn bộ tư sản của Liễu Thanh Hà tuyệt đối không chịu bất kỳ trách nhiệm liên đới hay nghĩa vụ bảo lãnh nào trước pháp luật triều đình.'* Có thêm điều khoản đanh thép này, dù sau này Thương đoàn Tây Lĩnh có phá sản sụp đổ, thuyền bè có chìm nghỉm dưới đáy sông, thì mái lầu hai tầng và chén trà của nàng bên bến Vọng Giang vẫn sừng sững bình yên, không một tên nha sai nào có quyền dán niêm phong lên cửa quán của nàng!”
“Ý kiến của Vũ đại nhân thực sự là lời vàng ngọc, Hàn mỗ xin đa tạ!”
Một giọng nói trầm hùng, sang sảng và vô cùng quen thuộc bất ngờ vang lên từ phía ngách cửa hành lang đá ngoài phòng nha môn.
Thanh Hà và Thanh Du giật mình quay đầu lại. Nàng ngỡ ngàng khi thấy Hàn Thụy đã đứng ở ngưỡng cửa tự bao giờ. Anh bước vào phòng với phong thái ung dung, đĩnh đạc, tà áo chàm sẫm khẽ bay theo nhịp bước. Anh tiến đến trước bàn làm việc, vòng hai tay chắp lại cúi đầu thi lễ trang trọng với vị thư lại già.
Thanh Du thoáng chút bối rối và e ngại. Cậu thiếu niên sợ rằng việc hai chị em lén lút mang hôn thư đi thẩm định sau lưng anh, lại còn đề xuất thêm những điều khoản ngặt nghèo nhằm loại trừ trách nhiệm công nợ, sẽ khiến một người đàn ông kiêu hãnh và có vị thế như Hàn Thụy cảm thấy bị nghi ngờ, xúc phạm hoặc tự ái. Cậu bé nín thở, đôi mắt chăm chú quan sát từng biến chuyển nhỏ nhất trên nét mặt của người chưởng quỹ Tây Lĩnh.
Thế nhưng, trên gương mặt phong trần dạn dày sương gió của Hàn Thụy tuyệt nhiên không có lấy một nét giận dữ hay khó chịu. Ngược lại, đôi mắt anh sáng bừng lên vẻ khâm phục sâu sắc và lòng biết ơn chân thành. Anh nhìn thẳng vào Vũ Chính An, cất giọng rành rọt, dứt khoát:
“Đại nhân nói rất chí lý! Cha ta năm xưa tán gia bại sản, mẹ con ta phải lưu lạc đầu đường xó chợ cũng chính vì vướng vào việc bảo lãnh nợ miệng liên đới cho kẻ khác. Ta cứ mải mê nghĩ đến việc bảo vệ cơ nghiệp của Thanh Hà khỏi sự can thiệp của chính bản thân mình, mà sơ suất quên mất những rủi ro bất trắc khôn lường từ việc buôn bán sóng gió của thương đoàn có thể làm vướng bận, liên lụy đến nàng. Sự sơ suất vô tâm này suýt nữa đã để lại một lỗ hổng nguy hiểm cho cơ nghiệp mồ hôi nước mắt của nàng.”
Nói đoạn, Hàn Thụy không một chút do dự hay đắn đo suy tính. Anh tiến thẳng đến trước bàn làm việc, tự tay cầm chiếc bút lông đặt trên nghiên mực đá của Vũ Chính An, nhúng đẫm mực đen nhánh. Trước ánh mắt kinh ngạc của vị thư lại già và ánh nhìn rưng rưng xúc động của hai chị em Thanh Hà, anh đứng thẳng người, cổ tay đưa đều đặn, nắn nót viết thêm toàn bộ điều khoản khoanh vùng rủi ro công nợ liên đới vào ngay khoảng trống dưới điều thứ nhất của bản hôn thư.
Từng nét chữ viết thêm đều tăm tắp, mạnh mẽ và dứt khoát. Viết xong, anh không ngần ngại ký tên “Hàn Thụy” ngay bên dưới phần bổ sung ấy.
Đặt chiếc bút lông xuống giá gỗ, Hàn Thụy quay người sang nhìn Thanh Du, trên môi nở một nụ cười ấm áp, bao dung:
“Thanh Du, đệ thấy bản điều khoản bổ sung này của ta đã đủ kín kẽ, chặt chẽ để bảo vệ an toàn tuyệt đối cho chị gái đệ chưa?”
Thanh Du nhìn dòng mực đen còn chưa kịp ráo trên nền giấy hoa tiên đỏ, rồi ngước nhìn ánh mắt kiên định, bao dung và thẳng thắn của người đàn ông trước mặt. Mẩu nghi ngại cuối cùng—nỗi sợ mơ hồ của một đứa em trai từng nếm trải cảnh nghèo hèn cay đắng, luôn nơm nớp lo sợ chị gái mình lại một lần nữa rơi vào cái bẫy lệ thuộc nhục nhã của một kẻ có tiền của—lúc này đã hoàn toàn tan biến sạch sẽ như làn sương sớm gặp ánh nắng ban mai.
Cậu bé lùi lại nửa bước, cúi gập người, hai tay vòng lại thi lễ thật sâu trước Hàn Thụy bằng tất cả sự kính trọng từ đáy lòng:
“Hàn đại ca... hôm nay đệ đã hoàn toàn an tâm trao chị gái duy nhất của đệ cho huynh.”
Vũ Chính An nhìn chứng kiến trọn vẹn một màn này từ đầu đến cuối, khẽ vuốt chòm râu bạc dài, trên gương mặt nghiêm nghị nở một nụ cười hiếm hoi nơi chốn nha môn cửa quyền:
“Tốt lắm! Tốt lắm thay! Một người thì thấu tình đạt lý, bao dung độ lượng; một người thì cẩn trọng, nguyên tắc phân minh. Hai người các ngươi quả thực là trời sinh một cặp, xứng đôi vừa lứa vô cùng. Bản hôn thư đặc biệt này, đích thân lão già này sẽ lập sổ lưu trữ riêng tại huyện nha Thanh Lâm, và sẽ đóng dấu ấn triện chính thức công nhận ngay khi hai bên cử hành nghi lễ điểm chỉ!”
***
Chiều hôm ấy, bầu không khí tại Trà lâu Thanh Hà rộn ràng, ấm áp và trang nghiêm lạ thường. Khách khứa vãng lai qua đò đều được mời những chén chè xanh búp nõn thơm ngát miễn phí, ai nấy đều cảm nhận được niềm vui lan tỏa từ nụ cười rạng rỡ của những người trong quán.
Chiếc bàn gỗ mộc dài nhất đặt ở gian chính tầng một—nơi hằng ngày vẫn đón tiếp những người phu bến áo nâu sờn vai, những người lái đò xuôi ngược qua sông—nay đã được lau chùi sạch bóng, phủ lên một tấm khăn lụa màu đỏ thắm viền chỉ vàng tinh xảo. Trên mặt bàn trang trọng đặt sẵn một nghiên mực đá đen bóng đầy ắp mực tàu thơm mùi xạ, chiếc bút lông đầu nhọn cắm trên giá đồng, và một chiếc đĩa sứ nhỏ đựng mực chu sa đỏ tươi rực rỡ.
Những người chứng kiến quan trọng nhất, gắn bó mật thiết nhất với từng bước thăng trầm trong cuộc đời của Thanh Hà suốt hai năm qua đều đã tề tựu đông đủ quanh chiếc bàn dài.
Lão lái đò Từ Bá hôm nay mặc bộ quần áo vải thô màu nâu mới tinh tươm mà Thanh Hà may tặng đầu mùa thu, chòm râu bạc được chải chuốt gọn gàng, đầu gối đã bớt đau nhức nhờ bài thuốc ngải cứu đắp gừng của nàng. Lão ngồi nghiêm trang ở chiếc ghế chủ tọa bên trái với tư cách bậc trưởng bối đức cao vọng trọng bảo chứng danh dự cho buổi lễ.
Đỗ Nguyệt Nương xúng xính trong chiếc áo cánh sen tươm tất, mái tóc cài chiếc lược bí bằng sừng bóng loáng, đại diện cho Hội nữ thương Đông Tân và hàng trăm người phụ nữ buôn bán lam lũ khắp vùng bến sông, ngồi ở chiếc ghế bên phải. Đôi mắt chị lấp lánh niềm xúc động khôn tả, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo để kìm nén những giọt nước mắt vui mừng.
Thanh Du trong bộ áo dài vải xanh của học trò trường huyện đứng thẳng tắp bên cạnh chị gái, vẻ mặt đĩnh đạc, tự hào. Còn Tiểu Mãn, con bé được mặc chiếc áo hoa cúc mới tinh, đôi mắt tròn xoe ngập tràn yêu thương và hân hoan, đứng nép sát bên cạnh mẹ nuôi.
Ngoài sân quán, bên cạnh bờ rào đá hộc kiên cố ngăn sóng gió, cây hoa trà cổ thụ sau những ngày ngậm sương thu nay đã bắt đầu bung nở những đóa hoa đỏ thắm đầu tiên. Từng cánh hoa dày dặn, mượt mà như nhung kiêu hãnh vươn mình khoe sắc trong làn gió sông mát rượi, như một điềm lành rực rỡ báo hiệu mùa xuân mới ấm áp đang gõ cửa từng nhà.
Hàn Thụy đứng trang nghiêm bên cạnh bàn gỗ, phong thái đĩnh đạc trong bộ cẩm bào chàm sẫm. Anh cẩn thận trải bản hôn thư đã được Vũ Chính An thẩm định, bổ sung điều khoản khoanh vùng công nợ và đóng dấu giáp lai của nha môn lên mặt tấm khăn lụa đỏ.
Không gian trong quán bỗng chìm vào sự tĩnh lặng thiêng liêng, chỉ còn tiếng thở nhẹ của mọi người và tiếng sóng vỗ thì thầm ngoài bến.
Hàn Thụy cầm chiếc bút lông nhúng nhẹ vào nghiên mực đen, nắn nót ký tên “Hàn Thụy” vào phần người đứng hôn ước. Nét chữ của anh mạnh mẽ, dứt khoát như chính con người anh. Sau đó, anh đặt bút xuống, đưa ngón tay cái bên phải ấn mạnh vào đĩa mực chu sa đỏ thắm, rồi dứt khoát điểm chỉ một dấu vân tay đỏ tươi bên cạnh chữ ký của mình.
Anh ngẩng đầu lên, ánh mắt ngập tràn sự trìu mến, tôn trọng và yêu thương vô bờ, cung kính trao chiếc bút lông cho Thanh Hà.
Thanh Hà đứng thẳng người, lồng ngực khẽ phập phồng theo từng nhịp thở sâu. Nàng đưa mắt nhìn quanh gian trà lâu hai tầng khang trang ngát hương trà xanh búp nõn và thoang thoảng mùi bánh nướng hoa hòe mới ra lò. Nàng nhìn nụ cười đôn hậu, ấm áp của lão Từ Bá—người đã chở nàng qua sông trong buổi chiều đầu tiên trôi dạt; nhìn ánh mắt khích lệ, chở che của Đỗ Nguyệt Nương—người đã trao cho nàng niềm tin buôn bán; nhìn vẻ mặt rạng rỡ, tự hào của Thanh Du—đứa em trai nàng đã liều mình chuộc lại; và nhìn đôi mắt thơ ngây ngấn lệ của Tiểu Mãn—đứa trẻ đã sưởi ấm tâm hồn nàng những đêm đông lạnh giá.
Hai năm trước, nàng bước chân đến bến đò Vọng Giang này như một chiếc lá khô trôi dạt giữa dòng nước lũ, không nơi nương tựa, trong tay chỉ có chiếc trâm cưới bán vội để đổi lấy mấy văn tiền còm và nỗi sợ hãi tột cùng trước cuộc đời bão táp chực chờ nuốt chửng. Nàng từng bị gia tộc nhà chồng khinh rẻ, bị tước đoạt danh phận, bị coi như một thứ tài sản phụ thuộc không có quyền lên tiếng.
Thế nhưng giờ đây, nàng đứng ở nơi này, ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Nàng làm chủ cơ nghiệp Trà lâu vững chãi của chính mình, tự tay nuôi nấng, dạy dỗ những người thân yêu thành người, và hôm nay, nàng tự nguyện bước vào một cuộc hôn nhân hoàn toàn bình đẳng. Nơi đây, phẩm giá, quyền tự do và tài sản mồ hôi nước mắt của nàng được luật pháp triều đình công nhận, và quan trọng hơn cả, được chính người bạn đời nâng niu, trân trọng và bảo vệ bằng cả danh dự của anh.
Không một chút run rẩy, không một thoáng do dự hay đắn đo, bàn tay thon thả của Thanh Hà đón lấy chiếc bút lông. Nàng chấm mực, nắn nót viết từng nét chữ chân phương, thanh thoát tên mình: “Liễu Thanh Hà”.
Từng nét chữ hiện lên trên nền hoa tiên như khẳng định sự hiện diện kiên cường của một người phụ nữ đã tự mình làm chủ số phận.
Đặt chiếc bút lông xuống giá đồng, nàng nhẹ nhàng ấn đầu ngón tay trỏ vào đĩa mực chu sa, rồi dứt khoát ấn mạnh dấu vân tay của mình lên bên cạnh dấu điểm chỉ của Hàn Thụy.
Hai dấu vân tay đỏ thắm nằm sát bên nhau trên nền giấy hoa tiên rực rỡ. Chúng hòa quyện mà rạch ròi, gắn kết bền chặt mà độc lập tự chủ, như chính sự song hành vững chãi của hai con người đã bước qua muôn trùng sóng gió để thấu hiểu sâu sắc giá trị của tự do và sự tôn trọng lẫn nhau.
“Trời đất chứng giám! Dòng sông Vọng Giang này chứng giám!” Lão lái đò Từ Bá vỗ mạnh bàn tay thô ráp xuống mặt bàn, cất giọng cười sang sảng vang vọng khắp gian quán và lan ra tận mặt sông lộng gió. “Lão già chèo chống trên khúc sông này suốt bốn mươi năm ròng, hôm nay mới được tận mắt chứng kiến một tờ hôn thư đường hoàng, danh chính ngôn thuận và đáng mặt trượng phu đến thế này! Chúc cho quán trà Thanh Hà muôn năm vững chãi như bàn thạch, chúc cho hai đứa sớm tối thuận hòa, răng long đầu bạc, cùng nhau bước đi trên con đường dài rộng thênh thang phía trước!”
Đỗ Nguyệt Nương lúc này không kìm được nữa, nước mắt vui sướng tuôn trào trên đôi gò má sạm nắng gió. Chị bước tới, dang rộng hai tay ôm chầm lấy Thanh Hà vào lòng, nghẹn ngào thốt lên:
“Muội muội tốt của ta! Kể từ hôm nay, muội đã thực sự làm chủ hoàn toàn số phận của mình rồi. Hãy ngẩng cao đầu mà bước tiếp, chị em Hội nữ thương Đông Tân sẽ luôn luôn đứng vững vàng sau lưng muội!”
Tiểu Mãn lúc này mới lăng xăng chạy lại bên cạnh. Hai bàn tay nhỏ bé của con bé ôm chặt lấy chiếc hộp gỗ nhỏ có then cài bằng đồng mà em đã lén lút giấu kín bấy lâu nay dưới gầm giường. Miệng con bé cười toe toét để lộ hai chiếc răng sún, nhưng khóe mắt lại long lanh ngấn lệ. Con bé đứng nép sát vào lòng Thanh Hà, ngước khuôn mặt ngây thơ lên nhìn người mẹ nuôi đã cho em một mái ấm lương thiện giữa cuộc đời dông bão:
“Mẹ ơi... con mừng cho mẹ lắm!”
Tiếng chúc tụng rộn rã, tiếng cười nói giòn tan hòa cùng tiếng vỗ tay rầm rộ vang vọng khắp khúc sông bờ đông, át đi tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân kè đá. Xa xa trên đỉnh gò cao, tiếng chuông chiều thanh tịnh từ ngôi miếu cổ điểm từng nhịp ngân nga, trầm bổng lan tỏa khắp không gian tĩnh lặng của buổi hoàng hôn.
Mặt trời từ từ lặn hẳn sau những rặng núi điệp trùng của dãy Tây Lĩnh, để lại phía chân trời một dải mây rực rỡ như dát vàng dát ngọc trên nền trời thu lộng gió.
Khói trà xanh thơm ngát từ chiếc bếp lò mới nhóm quyện lấy làn gió sông mát rượi, bảng lảng bay lên mái ngói son hai tầng, lan tỏa khắp không gian bến nước.
Thanh Hà đứng bên cạnh Hàn Thụy dưới mái hiên lầu, vai kề vai, cùng phóng tầm mắt nhìn ra dòng sông Vọng Giang đang cuộn chảy êm đềm ra biển lớn. Nàng biết, những giông bão gian nan, những tủi nhục cay đắng nhất của đời mình nay đã vĩnh viễn lùi lại phía sau lưng. Và một chặng đường mới thênh thang, rực rỡ ánh sáng đang mở ra ngay dưới đôi chân vững vàng của chính nàng.
Mùa hoa trà bến Vọng Giang bung nở rực rỡ khắp hai bờ sông, báo hiệu ngày hội lớn nhất của bến đò sắp sửa bắt đầu.