Lá thư của người đã mất
Cỗ xe ngựa phủ rèm nhung màu tro sẫm lẳng lặng dừng lại dưới bóng rặng liễu khẳng khiu, cách quán trà ven bến một quãng khá xa. Đôi bánh xe gỗ bọc sắt lún sâu vào lớp đất bùn ẩm ướt chưa kịp khô sau những ngày mưa dầm, che giấu người phụ nữ trẻ đang bồn chồn ngóng qua từng kẽ rèm trúc mỏng mảnh.
Gió đông bắc đầu mùa thổi qua mặt sông Vọng Giang mang theo cái lạnh thấu xương thấu tủy, làm những cành liễu trụi lá run rẩy va vào nhau thành từng chuỗi âm thanh khô khốc, lách cách tựa như tiếng răng va lập cập của người đi đêm. Mặt nước sông cuộn lên từng đợt sóng xám xịt như chì, vỗ ì oạp vào mép bờ kè đá mọc đầy rêu xanh. Khúc sông lúc xế trưa vắng lặng hơn thường lệ. Tiếng gõ mõ cấm đò giữa ngày của điếm sở tuần giang vừa dứt, âm vang nặng nề lan trên mặt nước rồi tan biến vào màn sương mù mờ đục. Phu phen bến bãi cùng cánh khách buôn đường dài phần lớn đã tản vào các quán cơm bình dân phía chợ Đông Tân, hoặc ngồi co ro quanh những đống trấu un khói cay sè mắt nơi góc bến để sưởi ấm đôi bàn tay nứt nẻ vì sương muối.
Bên trong quán trà nhỏ lợp lá mía kiên cố, không khí ấm cúng và thơm ngát lạ lùng, như tách biệt hẳn với sự hoang lạnh của bến đò ngoài kia. Ở chái bếp sau, chị Thục và thím Mộc đang cặm cụi cúi người bên bồn nước, dùng xơ mướp khô cùng nước tro rơm ấm cọ rửa từng kẽ chõ gỗ theo đúng quy chuẩn vệ sinh nghiêm ngặt mà Thanh Hà đã đặt ra từ ngày đầu dựng quán. Từng nan gỗ, từng vành đai tre đều phải được kỳ cọ trắng phau, hong khô ráo trên giá để không vương lại chút mùi chua hay cặn nấm mốc nào. Phía ngoài bờ kè, Tiểu Mãn thoăn thoắt đôi chân nhanh nhẹn, gánh hai xô tro bếp xốp nhẹ ra vun ủ vào gốc mấy luống cải non mới lên mầm xanh mướt, che chắn cho chúng khỏi những cơn gió bấc quất rát mặt.
Trong gian quán phía trước, chỉ còn lại Thanh Du ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát khung cửa sổ liếp mở hé. Cậu thiếu niên chăm chú mài thỏi mực tàu trên phiến đá đen tuyền, lắng nghe tiếng mài mực sàn sạt đều đặn, rồi cẩn thận nắn nót hạ từng nét chữ chân phương chép lại sổ chi tiêu củi than, bột nếp cùng đường mật của tuần trước vào cuốn sổ bọc giấy bản dày dặn.
Thanh Hà đang đứng bên bếp than đượm hồng giữa gian nhà. Ánh lửa đỏ phản chiếu lên gương mặt thanh tú, làm ửng hồng đôi gò má trắng nõn của nàng. Tay nàng cầm chiếc muôi đồng sáng bóng, nhẹ nhàng châm thêm từng gáo nước giếng Thanh Khê trong vắt vào chiếc ấm đất nung lớn đang sôi sùng sục. Mùi thơm nồng ấm, đậm đà của trà bánh lên men hòa quyện cùng vị cay cay ngọt dịu của mẻ bánh nếp gừng đỏ vừa vặn chín tới trong xửng hấp, từng làn khói mỏng mang theo hơi ấm lan tỏa khắp gian lều, xua tan cái buốt giá đang cố len lỏi qua từng khe liếp mỏng.
Tiếng bước chân ngập ngừng giẫm trên nền sỏi vụn ngoài hiên kéo Thanh Hà ra khỏi dòng suy nghĩ miên man. Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt trong trẻo hướng ra phía cửa.
Một bóng người mảnh khảnh khoác chiếc áo choàng bằng dạ dày màu lam sẫm khẽ khàng bước qua ngưỡng cửa gỗ. Chiếc mũ trùm đầu kéo xuống rất thấp, che khuất gần hết nửa trên khuôn mặt, nhưng đôi bàn tay trắng trẻo thon dài đang siết chặt lấy mép áo dạ cùng hơi thở run rẩy, dồn dập trong làn khói lạnh thì Thanh Hà không thể nào lầm lẫn được.
Người ấy đứng chôn chân nơi ngưỡng cửa một thoáng, dường như phải gom hết can đảm của cả đời mình mới dám đưa tay vén nhẹ vành mũ trùm ra sau.
Dưới ánh sáng vàng nhạt hắt ra từ bếp than hồng, gương mặt thanh tú nhưng hốc hác, tái nhợt không còn giọt máu lộ ra. Đôi mắt nàng quầng thâm sưng mọng, bờ mi đỏ hoe vì những đêm dài thức trắng và khóc thầm, hiện ra rõ mồn một trong không gian tĩnh lặng của quán trà.
"Minh Châu..." Thanh Hà khẽ thốt lên, chiếc muôi đồng trên tay nàng bất giác khựng lại giữa không trung.
"Chị dâu..."
Phạm Minh Châu nghẹn ngào gọi một tiếng, rồi như không kìm nén nổi nỗi sợ hãi, tủi hờn và thống khổ đã dồn ứ trong lồng ngực suốt bao tháng ngày qua, đầu gối nàng mềm nhũn, sụp ngồi xuống chiếc ghế tre đầu tiên kê gần lối đi.
Thanh Du bên bàn sổ sách giật nảy mình ngước mắt khỏi trang giấy bổi. Bàn tay đang cầm quản bút tre của cậu bất giác siết chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra khi nhận rõ người vừa bước vào chính là cô con gái cưng của nhà họ Phạm—dòng họ danh giá chốn huyện thành, nơi đã từng nhẫn tâm hắt hủi, vứt bỏ chị gái cậu ra khỏi cửa lớn trong một đêm mưa gió lạnh lùng không một mảnh áo ấm che thân. Đôi mắt thiếu niên lóe lên ngọn lửa căm phẫn và cảnh giác, cậu toan đứng bật dậy nhưng Thanh Hà đã kịp thời đặt chiếc muôi đồng xuống kệ gỗ, khẽ đưa tay ra hiệu cho em trai giữ bình tĩnh.
Thanh Hà bước tới chiếc bàn tre, nàng không vội hỏi han dồn dập mà lặng lẽ rót một bát nước trà gừng đỏ còn nghi ngút khói, nhẹ nhàng đặt vào đôi bàn tay đang lạnh ngắt như băng của Minh Châu. Hơi ấm từ lớp gốm mộc mạc tỏa ra, xua bớt phần nào sự đông cứng trên mười đầu ngón tay mềm mại của tiểu thư khuê các.
"Uống ngụm nước ấm cho nhuận giọng đã." Thanh Hà cất giọng trầm tĩnh, thanh âm êm ả như dòng suối nhỏ chảy dưới lớp băng mùa đông. "Trời đông lạnh buốt thế này, đường sá từ huyện thành xuống bến sông gập ghềnh trơn trượt, em lén đi xe ngựa về đây, trong phủ có ai hay biết không?"
Minh Châu run rẩy bưng lấy bát trà gừng, bờ môi nứt nẻ chạm vào làn nước ấm nhưng nàng không thể nuốt trôi một ngụm nào. Nàng run bắn cả người, vội vàng buông bát xuống bàn làm nước trà sánh ra ngoài vài giọt, rồi hấp tấp thò tay vào lớp áo kép trong cùng sát ngực, rút ra một phong bao bằng vải điều đã sờn rách mép chỉ. Những ngón tay mảnh dẻ của nàng run rẩy gỡ từng nếp gấp của mảnh vải điều, để lộ ra một tờ giấy bản ngả màu vàng ố vì thời gian, các góc mép giấy đã có dấu hiệu sờn mục do được cất giấu kỹ lưỡng và mở ra gấp lại quá nhiều lần qua năm tháng.
"Em... em đến đây hôm nay không phải để làm phiền cuộc sống của chị," Minh Châu nấc lên từng tiếng ngắt quãng, hai mắt đỏ hoe nhìn trừng trừng vào Thanh Hà, trong ánh nhìn tràn ngập nỗi day dứt khôn nguôi. "Chị dâu, đây là... giấy bán đoan chiếc trâm vàng năm xưa. Có cả chữ ký chân phương cùng vết điểm chỉ bằng mực chu sa đỏ thẫm của thợ kim hoàn họ Kim tiệm Vạn Bảo nơi phố huyện. Em... em trao lại tận tay cho chị."
Thanh Hà sững sờ. Đôi mắt nàng khẽ mở to, bàn tay đón lấy tờ giấy bản mỏng manh mà nặng trĩu tựa nghìn cân. Đầu ngón tay nàng khẽ chạm vào vết chu sa đỏ thẫm đã khô khốc theo năm tháng, cảm nhận từng thớ giấy thô ráp cọ vào da thịt mình.
Trên mặt giấy bản, nét chữ ngay ngắn, rành mạch của người thợ kim hoàn già ghi rõ từng chữ: Một chiếc trâm cài tóc bằng vàng ròng chạm hoa đào tinh xảo, trọng lượng đúng ba chỉ hai phân, nơi cuống trâm có khắc chìm một chữ 'Liễu' nhỏ như hạt vừng, do Liễu thị Thanh Hà mang đến bán đoan để đổi lấy số bạc vụn làm lộ phí độ nhật. Tờ giấy biên nhận này chứng thực rõ ràng, rành rọt không một kẽ hở rằng chiếc trâm ấy là của hồi môn mang họ Liễu do chính mẹ ruột trao cho nàng trước ngày xuất giá tòng phu, hoàn toàn là tài sản riêng hợp pháp của nàng mang theo về nhà chồng, không dính líu dẫu chỉ một ly một hào đến sản nghiệp hay tiền của của dòng họ Phạm.
Ký ức cay đắng, xót xa của một buổi sáng mùa đông năm ngoái bỗng chốc ùa về như một cơn gió lốc buốt xé cõi lòng nàng.
Ngày ấy, chồng nàng trút hơi thở cuối cùng sau chuỗi ngày dài kiệt quệ vì bạo bệnh. Khi nấm đất đắp trên nấm mồ chàng ngoài sườn đồi còn chưa kịp bén rễ xanh cỏ, Phạm lão phu nhân đã lạnh lùng quy kết cho nàng cái tội danh tày trời: mệnh mang sát khí, khắc chết con trai độc nhất của bà. Bà ta cho người khóa chặt rương hòm, đuổi nàng ra khỏi cổng lớn chỉ với hai bàn tay trắng và bộ quần áo xơ xác trên người, thậm chí còn độc địa bóng gió rêu rao với họ hàng thân tộc khắp vùng rằng nàng lén lút ăn cắp chiếc trâm vàng gia bảo truyền đời của nhà chồng để trốn đi.
Để có được vài lạng bạc vụn thuê lại túp lều rách nát mé đông bến sông Vọng Giang này, để tích cóp từng đồng mua thuốc thang cứu vãn mạng sống của Thanh Du qua cơn bạo bệnh, nàng đã phải cắn răng nuốt nước mắt vào trong, mang kỷ vật cuối cùng mà người mẹ quá cố để lại ra tiệm kim hoàn nơi phố huyện bán đứt. Nỗi oan khiên phải gánh vác danh phận kẻ trộm trâm cưới suốt bao tháng ngày qua như một chiếc dằm sắc nhọn cắm sâu vào da thịt nàng. Dù nàng chưa từng mở miệng thanh minh hay phân bua với miệng đời thế gian, vết thương ấy vẫn âm ỉ nhức nhối mỗi độ gió mùa đông bắc tràn về phủ kín mặt sông.
"Lúc mẹ dọn dẹp lại đồ đạc trong gian phòng cũ của chị để chuẩn bị làm lễ đoạn tuyệt," Minh Châu gạt nước mắt lã chã rơi trên má, giọng run run đầy vẻ hổ thẹn và đắng cay, "mẹ đã tìm thấy tờ giấy biên nhận bán đoan này bị kẹp sâu trong cuốn sổ chép kinh Địa Tạng mà chị để lại trên bàn thờ... Mẹ cầm lấy nó, mẹ nhìn thấy rõ mồn một chiếc trâm ấy mang dấu ấn khắc chữ họ Liễu, biết rõ mười mươi đó là của hồi môn riêng của chị mang từ nhà mẹ đẻ sang... Nhưng mẹ đã cố tình giấu nhẹm đi! Mẹ giấu kín tờ giấy này dưới đáy rương, rồi cố tình buông những lời nói lấp lửng, nhập nhằng trước mặt các bậc cao niên trong tộc để biến chị thành kẻ trắc nết, dối trá, tham lam hám của, tước đoạt đi chút danh dự cuối cùng khi chị bước chân ra khỏi ngưỡng cửa nhà họ Phạm!"
Thanh Hà siết chặt tờ giấy bán đoan trong lòng bàn tay. Từng thớ giấy thô ráp cọ vào lòng bàn tay nàng, nhưng kỳ lạ thay, cõi lòng nàng lúc này lại phẳng lặng đến bất ngờ. Không có sự phẫn nộ gầm thét, không có sự uất nghẹn muốn xé toạc đất trời, mà chỉ có một nỗi chua xót mênh mông như dòng nước sông Vọng Giang cuộn trào trước thói đời tráo trở, bạc bẽo.
"Minh Châu, em tìm cách lấy được tờ giấy này mang ra khỏi phủ, chắc chắn đã phải chịu không ít khổ sở và dằn vặt." Thanh Hà khẽ thở dài một tiếng thật sâu, ánh mắt nàng nhìn cô gái trẻ đối diện dịu đi vài phần ấm áp. "Em mang nó đến đây trao lại cho chị, nếu mẹ em phát giác ra, bà ấy sẽ xử phạt em thế nào?"
Nghe Thanh Hà nhắc đến mẹ ruột của mình, Minh Châu bỗng ôm lấy mặt, bật khóc nức nở thành tiếng. Đôi vai gầy guộc của nàng rung lên bần bật dưới lớp áo dạ dày cộm, tiếng khóc nghẹn ngào như vỡ ra từ một vết thương đã mưng mủ quá lâu trong tâm can.
"Chị dâu ơi... không chỉ có mỗi tờ giấy bán trâm này đâu..." Minh Châu ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên, trong đôi mắt mở to ngập tràn sự giằng xé, hối hận và thống khổ cùng cực. "Còn một chuyện nữa... một chuyện tày đình, táng tận lương tâm mà mẹ và cả tộc họ Phạm đã đồng mưu chôn giấu suốt hai năm qua. Em... em không thể tiếp tục ngậm miệng câm nín được nữa! Mỗi đêm nhắm mắt lại nằm trong gian phòng kín, em đều nghe thấy tiếng thở dài ai oán của anh trai em dưới chín suối vọng về..."
Thanh Du ngồi bên bàn sổ sách cũng phải dừng hẳn ngọn bút tre trên tay. Cậu thiếu niên mở to đôi mắt ngơ ngác nhìn Minh Châu, bờ môi mím chặt. Gian quán trà ven sông bỗng chốc rơi vào một khoảng im lặng chết chóc, ngột ngạt đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng nổ lách tách khe khẽ của than hồng đang tàn dần trong lòng bếp đất và tiếng gió rít qua rèm liếp.
"Chuyện gì?" Thanh Hà hỏi, giọng nàng trầm hẳn xuống, từng âm tiết thốt ra rõ ràng, đanh gọn và vững chãi như một tảng đá ngầm giữa lòng sông.
Minh Châu cắn chặt bờ môi dưới đến ứa cả máu tươi, hai bàn tay nàng bấu chặt vào mép bàn gỗ mộc mạc đến mức đầu móng tay trắng bệch ra:
"Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh, anh trai em... anh ấy hoàn toàn tỉnh táo và minh mẫn. Anh ấy hiểu rõ mẹ em hơn bất kỳ ai trên đời này, anh ấy biết mẹ là người chấp nhặt lễ giáo cay nghiệt đến tàn nhẫn, biết tính khí khắt khe, cổ hủ của dòng tộc họ Phạm sẽ không bao giờ để cho chị được sống yên ổn một ngày nào sau khi anh ấy nằm xuống. Đêm cuối cùng ấy, khi người làm đều bị đuổi ra ngoài, anh ấy đã gắng gượng dùng chút tàn lực còn lại trong cơ thể suy kiệt, cắn nát đầu ngón tay trỏ rỏ máu điểm chỉ vào một phong thư trăn trối do chính tay anh ấy run rẩy viết ra!"
Thanh Hà mở to mắt, lồng ngực nàng như có một bàn tay vô hình bóp nghẹt, hơi thở nàng ngưng bặt giữa chừng.
"Trong bức thư ấy..." Giọng Minh Châu nghẹn lại trong từng cơn nấc xé ruột xé gan, "anh trai em đã viết rành rọt từng dòng, từng chữ: Chị là người vợ hiền thảo, nết na, đã tận tâm tận lực chăm sóc, hầu hạ anh suốt những năm tháng dài bệnh tật liệt giường, nhà họ Phạm nợ chị một ân tình sâu nặng tựa thái sơn. Anh trăn trối dặn dò rằng sau khi anh mất, nếu chị muốn rời đi tìm con đường sống khác, thân tộc tuyệt đối không ai được quyền ngăn cản hay làm khó; chiếc trâm vàng cùng toàn bộ tư trang, của cải nàng mang theo từ nhà mẹ đẻ thuộc về toàn quyền định đoạt của chị. Và... và điều quan trọng nhất, anh ấy tha thiết mong mỏi chị được tự do tái giá, tìm kiếm một tấm chồng xứng đáng để có được hạnh phúc trọn vẹn của một đời người phụ nữ, tuyệt đối không được ép uổng chị phải thủ tiết trọn đời để thờ phụng một nấm mồ hoang lạnh!"
Những lời nói của Minh Châu như một tiếng sét giữa trời quang, đánh thẳng vào tâm can Thanh Hà, xé toạc không gian tĩnh mịch của khúc sông Vọng Giang đầu đông.
Thanh Hà lảo đảo lùi lại nửa bước, tấm lưng mảnh khảnh tựa hẳn vào chiếc cột tre vững chãi giữa gian quán để giữ cho mình không ngã quỵ. Đôi mắt nàng cay xè, một tầng sương mờ dâng lên che khuất bóng dáng người em gái đang run rẩy trước mặt nàng.
Người chồng đoản mệnh của nàng... chàng thư sinh gầy gò, ốm yếu năm ấy, người từng ho rũ rượi từng cơn trong đêm vắng, dẫu sinh ra trong một gia đình phong kiến hà khắc, dẫu cả đời chưa từng mang lại cho nàng được một ngày sống nhung lụa vinh hoa, dẫu không đủ sức mạnh để dang tay che chở cho nàng trước sự cay nghiệt, soi mói của người mẹ đẻ, nhưng cho đến tận giây phút cuối cùng của cuộc đời, khi đối diện với cái chết cận kề, chàng vẫn giữ trọn một tấm lòng tử tế, một sự xót thương chân thành và cao thượng nhất dành cho người phụ nữ đã đồng cam cộng khổ, nếm trải cay đắng cùng mình. Chàng không hề muốn dùng những giáo điều hủ bại để giam cầm thanh xuân của nàng trong bóng tối mịt mùng của gia quy họ Phạm.
"Nhưng... mẹ em đã làm gì với bức thư ấy?" Thanh Hà nén giọt nước mắt nóng hổi chực trào nơi khóe mi, cất giọng khàn đặc, nghẹn ngào.
"Đêm định mệnh đó, ngay khi anh trai em vừa nhắm mắt xuôi tay trút hơi thở cuối cùng, mẹ đã lập tức giật phăng phong thư đẫm máu ấy từ dưới gối nằm của anh," Minh Châu vừa khóc vừa lắc đầu trong nỗi cay đắng tột cùng của một người con chứng kiến sự tàn nhẫn của mẹ mình. "Mẹ nghiến răng bảo rằng dòng họ Phạm là gia đình có nề nếp gia phong ba đời đỗ đạt, trên dưới huyện thành này ai ai cũng biết tiếng thơm. Nếu để lộ ra chuyện con dâu cả mang theo thư trăn trối của chồng đàng hoàng tái giá bước ra khỏi cửa lớn, thiên hạ chung quanh sẽ cười chê nhà họ Phạm là nhu nhược, bạc bẽo, bất lực không biết dạy dâu! Mẹ đã tự tay lấy sáp đỏ phong ấn phong thư ấy lại, cất giấu kỹ lưỡng dưới đáy chiếc tráp sắt khóa ba lớp kiên cố, đặt sâu phía sau bài vị tổ tiên nơi từ đường trang nghiêm. Mẹ dọa sẽ đánh gãy chân em, đuổi em ra đường nếu em dám hé răng nửa lời với bất kỳ ai... Rồi sau đó, mẹ viện cớ lá số tử vi xung khắc, mệnh mang điềm gở để tống khứ chị ra khỏi nhà trong cảnh trắng tay, biến chị thành kẻ bị ruồng bỏ, cô độc không nơi nương tựa giữa dòng đời trôi dạt. Mẹ làm tất cả những điều nhẫn tâm ấy chỉ nhằm ép chị phải sống cả đời trong cảnh bần hàn, góa bụa, để giữ trọn cái danh hão 'tiết phụ thờ chồng' cho dòng họ Phạm mà thôi!"
Một cơn gió bấc thổi mạnh từ ngoài mặt sông thốc thẳng vào cửa quán, làm ngọn đèn dầu lạc đặt trên chiếc đôn gỗ chao đảo dữ dội, tim đèn bốc lên một làn khói đen khét lẹt.
Thanh Du không kìm nén nổi cơn thịnh nộ đang sôi sục trong lồng ngực nữa. Cậu thiếu niên đập mạnh quản bút tre xuống mặt bàn gỗ làm mực đen văng tung tóe lên trang giấy bổi, đứng bật dậy, gương mặt đỏ bừng vì uất ức tột cùng:
"Quá quắt! Thật là lũ người vô liêm sỉ, lòng lang dạ thú! Họ nhẫn tâm đuổi chị cháu đi trong cảnh cơ hàn, rách rưới giữa đêm mưa gió, vậy mà sau lưng lại đê hèn giấu kín lời trăn trối thiêng liêng của người đã khuất để bôi nhọ thanh danh, đày đọa chị cháu suốt bao năm trời qua! Lòng dạ của Phạm lão phu nhân độc ác, tàn nhẫn đến thế là cùng!"
"Thanh Du, ngồi xuống!" Thanh Hà cất tiếng, giọng nàng tuy nhỏ nhưng chứa đựng một uy lực trầm tĩnh lạ lùng khiến cậu thiếu niên đang bừng bừng tức giận cũng phải khựng lại, ngực phập phồng nghẹn ngào.
Thanh Hà hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng gió lạnh buốt từ mặt sông thốc vào mặt để làm dịu đi lồng ngực đang đập liên hồi vì những chấn động dữ dội. Nàng bước tới, đưa đôi bàn tay ấm áp đỡ lấy Minh Châu đang quỳ sụp dưới đất đứng dậy, rút chiếc khăn tay bằng vải thô nhẹ nhàng lau đi những giọt nước mắt lã chã, đầm đìa trên gương mặt tái nhợt của người em gái.
"Minh Châu, em gom hết can đảm đến đây nói cho chị biết những điều này, chị ghi nhận tấm lòng trong sạch của em. Anh trai em... nơi chín suối ngậm cười có thể thanh thản được rồi. Ít nhất, chàng không hề phụ nghĩa tào khang, không phụ tấm lòng của ta những năm tháng ấy."
Đúng lúc đó, từ ngoài mép bến sông bỗng vang lên tiếng bước chân huỳnh huỵch nện mạnh trên những tấm cầu ván gỗ bắc ngang lạch nước. Tiếng quát tháo hách dịch, the thé xé toang bầu không khí trầm mặc, u hoài của buổi trưa mùa đông:
"Cô út! Cô út có ở trong cái xó lều này không? Mau bước chân ra ngoài ngay cho tôi!"
Rèm liếp che cửa quán trà bị một bàn tay thô bạo gạt phăng sang một bên, va vào vách tre nghe đánh "xoạch" một tiếng chói tai. Một gã đàn ông trung niên mặc áo chẽn bằng lụa màu hạt dẻ sang trọng, bên ngoài khoác chiếc áo tơi bằng nỉ mỏng chống gió, đầu đội mũ chóp nhọn bằng dạ đen nghênh ngang xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Đó chính là Phạm Phúc—tên quản gia thân tín cậy thế lộng quyền, chuyên lo việc đối ngoại và giám sát đám tôi tớ, người làm trong phủ họ Phạm.
Đôi mắt ti hí, gian xảo của gã đảo quanh một vòng khắp gian quán mộc mạc, vừa nhìn thấy Minh Châu đang đứng nép bên cạnh Thanh Hà, khóe miệng gã liền trễ xuống, lộ rõ vẻ khinh khỉnh, hậm hực tột cùng.
"Thật là mất hết thể thống gia phong dòng dõi!" Phạm Phúc chống một tay vào hông, một tay giơ ngón trỏ dài ngoằng hướng thẳng vào mặt Thanh Hà, cất giọng the thé chói tai như dùi đục chấm mắm tôm: "Cô út dám cả gan trốn khỏi phủ lớn, lén lút đón xe ngựa của người ngoài chạy một mạch xuống cái chốn bến đò xú uế, hỗn tạp đầy rẫy phu phen này để tìm gặp một ả góa phụ bị dòng họ đuổi cổ đi hay sao? Liễu thị! Lão phu nhân có lời cảnh cáo nghiêm khắc nhất chuyển tới cô đây!"
Thanh Du nghiến răng ken két, hai mắt đỏ ngầu toan lao bổ lên phía trước để chắn cho chị gái mình, nhưng bàn tay mềm mại nhưng vô cùng vững chãi của Thanh Hà đã kịp thời đặt lên vai cậu, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát kéo em trai lùi ra phía sau lưng nàng.
Nàng điềm tĩnh bước lên một bước dài, tà áo thô màu xanh nhạt khẽ lay động theo từng nhịp chân. Ánh mắt nàng lạnh như băng tuyết ngàn năm, nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của tên quản gia họ Phạm, không hề có lấy nửa phần sợ sệt, nao núng hay luồn cúi.
"Phạm quản gia, quán trà nhỏ này của ta mở cửa đàng hoàng đón khách qua sông, có khế ước thuê đất ký kết rõ ràng với phường bến sở tại, có bài vị đóng thuế môn bài hàng năm của nha môn huyện treo ngay ngắn trên vách kia, tuyệt đối không phải chốn vô phép tắc để ngươi muốn xông vào mắng nhiếc ai thì mắng. Lão phu nhân nhà ngươi có lời gì truyền bảo, cứ đứng thẳng lưng nói cho rõ ràng trước thanh thiên bạch nhật, chớ có đứng nơi ngưỡng cửa buông lời xằng bậy."
Tên quản gia nhếch mép cười khẩy một tiếng đầy vẻ xấc xược, gã cố tình hắng giọng thật to, cất cao giọng lưỡi the thé cốt để mấy người phu bến cùng đám khách đi đò đang tò mò đứng ngóng bên ngoài bờ kè nghe thấy tường tận:
"Lão phu nhân nhà ta bảo: Dù cô đã bị đuổi khỏi cửa lớn, mang thân phận bị phế bỏ, nhưng trên danh nghĩa tông tộc, cô vẫn từng là con dâu bước qua ngạch cửa nhà họ Phạm, từng mang họ Phạm trên đầu! Mấy tháng nay, tin đồn nhảm nhí bay về tận ngõ phố huyện rằng cô ở cái xó bến đò này buôn bán lả lơi, liếc mắt đưa tình với cánh thương nhân buôn bè Tây Lĩnh, thân mật cười cợt không biết ngượng ngùng với đàn ông lạ qua bến, làm bại hoại gia phong nề nếp, bôi tro trát trấu vào mặt mũi người đã khuất dưới suối vàng! Lão phu nhân hạ lệnh: Nếu cô còn chút lương tri biết điều giữ nếp góa phụ kín cổng cao tường, thì lập tức dẹp bỏ ngay cái quán trà nhăng nhố ô uế này, một là quyên sinh theo chồng, hai là cạo đầu vào am tu niệm trọn đời để giữ cho tròn tấm gương tiết hạnh. Bằng không, nếu còn ngoan cố buôn bán bêu riếu cái thân góa bụa nơi đầu sóng ngọn gió, thì nội trong tháng này, tộc họ Phạm sẽ đệ đơn lên tận nha
môn huyện Thanh Lâm, kiện cô tội thất tiết, làm nhục gia phong, tước đoạt toàn bộ tài sản và đuổi cổ cô khỏi đất này!"
Từng lời nói cay nghiệt tựa như những nhát roi da tẩm dầu quất thẳng vào không khí giá buốt của buổi trưa đông, rít lên từng hồi chát chúa. Gió bến sông thổi thốc qua khe liếp, cuộn theo chút bụi cát phù sa khô ráp quẩn quanh dưới chân bàn, khiến bầu không khí trong chái quán vốn dĩ nồng đượm mùi gừng ấm bỗng chốc đông cứng lại như một tảng băng trôi giữa dòng nước xiết.
Minh Châu đứng nép bên cạnh mép phản, đôi vai gầy guộc run rẩy đến mức tà áo lụa màu cánh đào dập dờn như cánh bướm gặp mưa rào. Gương mặt nàng trắng bệch không còn lấy một giọt máu, hai bàn tay thon dài đan chặt vào nhau đến mức các khớp ngón tay hằn lên từng vệt trắng bợt. Nàng nhìn tên quản gia họ Phạm với ánh mắt hoảng loạn tột cùng, bờ môi run rẩy hé mở, lắp bắp không nên lời:
"Phúc thúc... thúc không được ăn nói càn rỡ như thế... Chị dâu tôi... chị dâu tôi trước sau đều buôn bán lương thiện, ngày ngày một nắng hai sương... Thúc làm vậy là ngậm máu phun người..."
"Cô út câm miệng lại ngay!" Phạm Phúc trợn ngược đôi mắt lươn ti hí, gắt gỏng ngắt phăng lời nàng bằng một giọng điệu trịch thượng, chát chúa. Khóe môi gã giật giật, lộ ra mấy chiếc răng ám khói thuốc lào vàng ệch, tay áo thụng vung lên xua xua xua đầy vẻ xua đuổi: "Chuyện tôn ti trật tự trong vọng tộc, chưa đến lượt một đứa con gái chưa xuất giá như cô xen mồm vào phân định đúng sai! Cô lập tức theo tôi về phủ ngay, lão phu nhân đang nổi trận lôi đình trên thượng đường, gia pháp đã bày sẵn ra đấy để xử phạt cô tội tự tiện trốn ra chốn đầu đường xó chợ này đấy!"
"Đồ ngậm máu phun người!" Thanh Du không thể kìm nén thêm được nữa. Cậu thiếu niên mười sáu tuổi bước xéo lên nửa bước, cả người run lên bần bật vì phẫn uất, hai nắm đấm siết chặt đến mức gân xanh nổi chằng chịt trên mu bàn tay. Đôi mắt trong veo thường ngày của cậu giờ đây đỏ ngầu những tia máu giận dữ: "Các người ỷ thế nhà giàu hiếp đáp kẻ cô thế quen thói! Chị ta đổ mồ hôi, sôi nước mắt, bàn tay phồng rộp vì tro than nước sôi để kiếm từng đồng tiền kẽm sạch sẽ nuôi ta ăn học, có nửa điểm nào làm nhục gia phong nhà các người? Có chỗ nào trái với luân thường đạo lý? Nếu các người tự thấy mình quang minh chính đại, có giỏi thì cùng chị em ta bước lên công đường huyện nha mà nói lý trước mặt bàn dân thiên hạ!"
"Thanh Du, dừng lại."
Một thanh âm trong trẻo cất lên, cắt ngang cơn giận dữ đang bốc hỏa của cậu thiếu niên. Giọng nàng không hề cao, chẳng hề gắt gỏng, nhưng lại mang theo một sức nặng dứt khoát lạ thường, chặt chẽ, trầm lắng và tĩnh lặng tựa hồ như mặt nước đáy giếng sâu giữa mùa đông giá rét, không gợn lấy một tia sóng xao động.
Thanh Du cắn chặt môi đến suýt bật máu. Nghe lời chị dặn, cậu hít sâu một hơi lạnh buốt, gượng gạo lùi lại phía sau một bước, nhưng lồng ngực non trẻ vẫn phập phồng kịch liệt, đôi mắt rực lửa vẫn găm thẳng vào tên quản gia mặt dơi tai chuột của nhà họ Phạm như muốn thiêu đốt kẻ đối diện.
Liễu Thanh Hà chậm rãi nâng tà áo vải thô màu cỏ úa, từng bước khoan thai bước ra giữa gian quán. Những ngọn gió lạnh từ cửa sông lùa qua khung cửa liếp, khẽ làm bay bay những sợi tóc mai mềm mại vương trên vầng trán thanh tú của nàng. Dưới ánh sáng ban trưa nhạt nhòa của mùa đông, gương mặt nàng không hề có một nét hoảng loạn, sợ sệt hay nhục nhã; ngược lại, đôi mắt đen láy thăm thẳm ấy sáng ngời một thứ ý chí kiên định đến sắt đá. Nàng đứng thẳng lưng, đối diện trực tiếp với ánh nhìn soi mói, trâng tráo của Phạm Phúc. Khóe môi nàng khẽ nhếch lên, điểm xuyết một nụ cười nhạt thếch, lạnh lẽo tựa sương mai, chan chứa vẻ khinh miệt khôn cùng.
"Phạm quản gia, ngươi hãy mang đôi tai trần của ngươi nghe cho thật rõ, rồi về chuyển nguyên văn từng lời từng chữ của ta tới trước mặt Phạm lão phu nhân."
Nàng hơi ngừng lại một nhịp thở, đưa mắt quét qua gương mặt bẽ bàng của đám đao phủ miệng lưỡi bên ngoài bờ kè, rồi cất giọng rành rọt, từng âm sắc vang lên sang sảng giữa bốn bề tĩnh lặng:
"Thứ nhất, ngày trước ta bước chân vào ngạch cửa nhà họ Phạm là bằng kiệu hoa tám người khiêng, danh chính ngôn thuận, có mai mối đàng hoàng, có sính lễ đủ đầy qua cổng lớn. Và đến ngày bước ra, ta rời đi trong sự ruồng bỏ bất công, tàn nhẫn của mẹ con bà ấy khi nấm mồ của chồng ta cỏ còn chưa kịp bén rễ xanh! Suốt ba năm làm dâu dưới mái nhà ấy, ta sớm khuya tận tâm phụng dưỡng mẹ chồng cay nghiệt, chăm sóc người chồng ốm đau liệt giường từng chén thuốc miếng cháo, tận tụy đến mức hao mòn thân xác, chưa từng sai sót nửa ly, chưa từng hổ thẹn với lương tâm trời đất. Ký ức về người chồng vắn số đã khuất, Liễu Thanh Hà ta trân trọng, giữ trọn đạo nghĩa nơi đáy lòng mình và sẽ mang theo xuống mồ. Nhưng thân xác bằng xương bằng thịt này, hơi thở này, sinh mạng này và cả quãng đời còn lại này là do cha mẹ ruột của ta ban cho! Nó thuộc về chính ta, do ta làm chủ, chứ tuyệt đối không thuộc về bất kỳ một nấm mồ lạnh lẽo nào, cũng không bao giờ thuộc về một dòng họ ích kỷ, bạc bẽo như nhà họ Phạm các ngươi!"
Phạm Phúc nghe từng lời sắc bén như dao chém đá thì mặt mày thoạt xanh thoạt đỏ, gã run rẩy chỉ ngón tay khẳng khiu vào mặt nàng, lắp bắp mãi mới thốt nên lời:
"Cô... cô to gan... dám ăn nói ngỗ nghịch, bất kính với tổ tiên tông tộc..."
"Ngươi mở to hai mắt ra mà nhìn, vểnh tai lên mà nghe cho rõ đây!" Thanh Hà đột ngột cao giọng thêm một bậc, khí thế bừng bừng toát ra từ vóc dáng mảnh dẻ khiến tên gia nhân lão luyện nơi chốn hào môn phải bất giác rùng mình, lùi lại nửa bước chân. "Thời buổi này trời đất quang minh, nhật nguyệt rạng rỡ, luật pháp của triều đình Đại Việt nghiêm minh rành rọt từng thiên điều, chương mục! Không có bất kỳ điều luật nào của vương triều, cũng chẳng có thứ đạo lý thánh hiền nào ép buộc một người phụ nữ trẻ tuổi mất chồng phải cam chịu chết đói, chết rét trong cảnh bần hàn cùng quẫn chỉ để đổi lấy một tấm biển tiết phụ giả tạo, tô vẽ cho cái thói danh giá hão huyền của một gia tộc bạc tình! Ta dựng cái quán tranh này bằng từng giọt mồ hôi công sức, kiếm từng đồng tiền kẽm chân chính bằng đôi bàn tay lao động lương thiện, thức khuya dậy sớm cùng lửa đỏ than hồng. Ta không trộm cắp, không lừa gạt, không cúi lạy xin xỏ, và càng không dựa dẫm vào sự bố thí của bất kỳ ai! Cái danh phận con dâu hư vô của nhà họ Phạm các ngươi, kể từ cái ngày các ngươi vứt bỏ ta nơi đầu ngõ giữa cơn mưa gió rét, đã vĩnh viễn không còn chút tư cách nào để giam hãm hay định đoạt cuộc đời của Liễu Thanh Hà này nữa rồi!"
Nàng hít một hơi sâu, ánh mắt rực sáng nhìn thẳng vào bộ mặt xám ngoét của gã quản gia, tiếp tục cất giọng đanh thép:
"Nếu Phạm lão phu nhân các ngươi thực sự muốn kiện, cứ việc mang đơn lên tận nha môn huyện Thanh Lâm mà đánh trống kêu oan! Ta đây phụng bồi tới cùng!"
Nói đoạn, Thanh Hà giơ cao tờ giấy bán đoan chiếc trâm vàng có dấu điểm chỉ chu sa đỏ thẫm của chưởng quầy tiệm vàng bạc Vạn Bảo lên giữa không trung, cho toàn bộ đám phu đò, tiểu thương và khách bộ hành đang đứng chen chúc ngoài bến nhìn thấy rõ ràng:
"Ta có khế ước làm ăn minh bạch có triện son của lý trưởng sở tại, có bảng sổ sách thu chi mua bán phân minh từng đồng cân lượng, có chữ ký xác nhận của phường bến và sự làm chứng rành rành của hàng trăm bà con tiểu thương, phu thuyền nơi bến Vọng Giang này! Đến lúc bước ra trước công đường huyện nha uy nghiêm, để xem phụ mẫu chi dân xử xem ai mới là kẻ ngậm máu phun người, ai là kẻ vu cáo đặt điều hòng bôi nhọ thanh danh của một người đàn bà góa bụa tự lực cánh sinh!"
Từng lời đối đáp đanh thép, khúc chiết, chém đinh chặt sắt và tràn đầy nghĩa khí quang minh của Thanh Hà như những hồi chuông đồng ngân vang, khiến Phạm Phúc hoàn toàn cứng họng. Gã trơ mắt nhìn người con dâu cũ từng một thời cúi đầu nhẫn nhục, chịu đựng mọi sự cay đắng đay nghiến trong xó bếp phủ họ Phạm, nay lại đứng sừng sững giữa thanh thiên bạch nhật với một tư thế hiên ngang không gì lay chuyển nổi. Nhìn tờ giấy bán đoan trâm cưới có dấu son đỏ chói rành rành trên tay nàng, rồi lại nghe thấy những tiếng xì xào đồng tình, những ánh mắt nảy lửa của đám phu khuân vác vạm vỡ chung quanh đang gườm gườm nhìn mình, gã quản gia ranh ma không khỏi chột dạ, sống lưng toát ra một lớp mồ hôi lạnh ngắt.
"Được... được lắm! Liễu thị, cô cứ đợi đấy mà xem!" Phạm Phúc nghiến chặt quai hàm, cố vớt vát chút thể diện bằng giọng đe dọa the thé trong cơn giận tím tái mặt mày, rồi bất ngờ quay ngoắt sang, chộp lấy cổ tay Minh Châu giật mạnh một cái: "Cô út, đi về ngay! Đừng có đứng đây vạch áo cho người xem lưng, bêu xấu thêm cái mặt mũi gia đình nữa!"
Nhưng lần này, Minh Châu không còn là con chim cút sợ hãi co rúm lại như trước. Nàng nghiến răng, dùng hết sức bình sinh giằng mạnh cánh tay mình ra khỏi những ngón tay gầy guộc như gọng kìm của tên quản gia. Nàng lùi lại một bước, ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào mắt Thanh Hà. Trong khóe mắt ngấn lệ rưng rưng của người thiếu nữ khuê các lúc này, nỗi sợ hãi yếu đuối thường nhật đã hoàn toàn tan biến, thay vào đó là một tia sáng kỳ lạ bừng lên—tia sáng của sự ngưỡng mộ vô bờ và niềm thức tỉnh sâu xa sau một giấc ngủ mê dài dằng dặc.
"Chị dâu... em về trước." Minh Châu khẽ nói, thanh âm tuy nhỏ nhẹ nhưng nhịp điệu lại trở nên vững vàng, kiên định lạ kỳ. "Chị ở lại giữ gìn sức khỏe, bảo trọng thân mình. Từng lời chị nói hôm nay... từng câu từng chữ, em đều khắc sâu vào tận xương tủy."
Dưới cái nhìn hầm hố và những lời thúc giục gắt gao như thúc giặc của Phạm Phúc, Minh Châu xoay người bước ra khỏi quán trà. Từng bước chân của nàng trên nền đất đá dăm của bờ kè không còn vẻ run rẩy, lảo đảo như khi mới bước chân vào, mà trở nên dứt khoát, chậm rãi tiến thẳng về phía cỗ xe ngựa mui bạt đang đỗ chờ dưới rặng liễu khẳng khiu.
Chát!
Tiếng roi da ngựa vụt mạnh vào tầng không khí khô khốc làm mấy con chim sẻ giật mình vỗ cánh bay vụt lên nền trời xám. Bánh xe gỗ bọc sắt nghiến ken két trên mặt đường đê gập ghềnh, cuốn theo một làn bụi mờ xám xịt tan dần vào trong cơn gió đông lạnh buốt.
Không gian bên trong quán trà ven sông từ từ chìm vào sự yên tĩnh thanh bình vốn có. Khói thơm từ nồi nước đường phèn luộc gừng đỏ lại lãng đãng bay lên, sưởi ấm những góc bàn mộc mạc.
"Chị..."
Thanh Du bước lại gần bên cạnh Thanh Hà, khẽ gọi một tiếng. Đôi bàn tay thiếu niên nới lỏng ra, trong ánh mắt sáng ngời lấp lánh niềm kiêu hãnh và kính phục khôn xiết dành cho người chị ruột thịt duy nhất của mình.
"Chị đối đáp hay lắm. Bọn họ cậy có tiền có thế, quen thói ức hiếp những người thân cô thế cô. Nếu hôm nay chị không cứng rắn đập tan cái thói ngông cuồng ấy, bọn họ sẽ mãi mãi nghĩ rằng chị em mình là cỏ rác ven đường, muốn chà đạp thế nào cũng được."
Thanh Hà quay đầu lại, nhìn gương mặt trẻ trung còn vương nét đỏ bừng vì giận dữ của em trai. Nàng khẽ nở một nụ cười hiền hậu, đưa bàn tay ấm áp vỗ nhẹ lên bờ vai gầy nhưng đã bắt đầu vuông vức của cậu:
"Chính vì chúng ta không làm bất cứ điều gì khuất tất với trời đất, nên chúng ta không có lý do gì phải cúi đầu sợ hãi. Cây ngay thì không sợ chết đứng, lòng mình có thẳng thắn, thanh sạch thì tiếng nói thốt ra mới có sức nặng ngàn cân, Du à."
Nàng cúi xuống nhìn tờ giấy bán đoan chiếc trâm vàng của hiệu Vạn Bảo vẫn còn vương hơi ấm của lòng bàn tay mình. Từng nếp gấp cũ kỹ, vết mực son của chủ tiệm kim hoàn như minh chứng sống động cho những ngày tháng khốn cùng nhất, khi nàng phải gạt nước mắt đánh đổi kỷ vật cuối cùng để mua gạo nuôi sống hai chị em. Thanh Hà cẩn thận miết phẳng từng mép giấy, gấp lại thành một hình vuông vức nhỏ nhắn. Nàng bước vào gian buồng trong, mở chiếc rương gỗ xoan đào nhỏ đã sờn màu vec-ni đặt ở góc giường, nhẹ nhàng đặt tờ biên nhận xuống tận đáy rương—nằm ngay ngắn bên cạnh cuốn sổ tay chép lại các công thức ủ men làm bánh gia truyền của người mẹ quá cố và bản khế ước thuê đất có dấu triện của phường bến Vọng Giang.
Tờ giấy này không đơn thuần chỉ là một chứng cứ phòng thân để đối phó với những mưu hèn kế bẩn của gia tộc họ Phạm, mà nó chính là một lằn ranh dứt khoát, một mắt xích then chốt khẳng định sự tự chủ tuyệt đối của nàng, đoạn tuyệt hoàn toàn với những đắng cay, tủi nhục của chuỗi ngày làm dâu phong kiến đã chìm sâu vào quá khứ.
Thế nhưng, những biến động của buổi trưa hôm ấy vẫn chưa dừng lại ở đó.
Khoảng nửa canh giờ sau, khi bóng dáng cỗ xe ngựa đồ sộ của nhà họ Phạm đã khuất dạng hoàn toàn sau khúc quanh của con lộ lớn dẫn về trung tâm huyện lỵ, một bóng người nhỏ bé, thanh mảnh lại lặng lẽ xuất hiện nơi bờ kè đá rêu phong phía sau chái quán trà.
Đó chính là Minh Châu. Nàng đã viện cớ đánh rơi chiếc khăn tay lụa thêu hoa hải đường quý giá của mẹ để nằng nặc đòi xuống xe đi bộ tìm kiếm dọc theo đê, rồi nhân lúc tên xà ích và bọn gia nhân không để ý, nàng đã lén men theo con đường mòn ngập cỏ may chạy dọc bờ sông để quay trở lại quán một mình. Lần này, trút bỏ hoàn toàn vẻ e ấp, rụt rè và thụ động của một thiên kim tiểu thư chốn khuê phòng, Minh Châu bước những bước chân dứt khoát vào thẳng chái bếp phía sau—nơi Thanh Hà đang cùng chị Thục và thím Mộc cặm cụi nhào nặn mẻ bột nếp dẻo quánh để chuẩn bị cho buổi bán hàng chiều muộn.
"Minh Châu? Sao em lại quay lại đây một mình thế này?" Thanh Hà tròn mắt ngạc nhiên, vội buông nắm bột nếp trắng mịn trong tay xuống chiếc mâm đồng.
Minh Châu bước nhanh tới, đôi môi cắn chặt, rồi bất ngờ quỳ sụp hai gối xuống nền đất nện ẩm lạnh ngay trước mặt Thanh Hà.
Hành động đột ngột ấy khiến chị Thục và thím Mộc đang ngồi bên bàn cán bột hốt hoảng kêu lên một tiếng, lúng túng lùi vội ra mép cửa sổ. Nhưng Thanh Hà đã nhanh như cắt bước tới, đưa hai bàn tay còn vương bụi bột trắng đỡ lấy hai cánh tay mềm yếu của cô em chồng cũ, kéo nàng đứng dậy.
"Đừng làm thế, Minh Châu! Có chuyện gì uẩn ức, em cứ đứng thẳng lưng lên mà nói đàng hoàng với chị."
Minh Châu ngẩng gương mặt đẫm lệ lên nhìn Thanh Hà. Đôi mắt nàng đỏ hoe vì những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu nay tuôn rơi lã chã, nhưng ẩn sâu dưới làn mi ướt đẫm ấy lại là một ngọn lửa kiên định, quật cường mà trước đây chưa từng bao giờ xuất hiện trên dung mạo của cô tiểu thư họ Phạm.
"Chị dâu... em quay lại đây, là để dập đầu van xin chị một việc." Giọng Minh Châu nấc nghẹn, từng tiếng run rẩy như xé rách cõi lòng: "Em... em không thể tiếp tục sống một cuộc đời vô nghĩa như một con rối gỗ bị giật dây trong căn nhà ấy nữa rồi!"
Trong tiếng sụt sùi đứt quãng, Minh Châu dốc hết ruột gan kể lại nỗi cùng cực tăm tối đang bủa vây lấy số phận nàng: Phạm lão phu nhân cùng các bậc chú bác bề trên trong họ tộc đang ráo riết định đoạt mối hôn sự cho nàng. Họ muốn gả nàng làm kế thất cho một viên tri huyện góa vợ đã ngoài năm mươi tuổi ở tận châu bên cạnh, một kẻ nổi tiếng bạo tàn nhưng lại nắm giữ quyền lực nâng đỡ cho con đường khoa cử hoạn lộ của người em họ trong tộc. Bọn họ coi tấm thân trinh bạch và tuổi xuân của nàng như một món hàng trao đổi bổng lộc, giam cầm nàng trong bốn bức tường hoa râm bụt ngột ngạt, tước đoạt mọi quyền được cất lên tiếng nói của một con người.
"Em đã tận mắt nhìn thấy chị... Một mình chị trơ trọi giữa trời đất, bị người ta nhẫn tâm đuổi ra khỏi cửa lớn với hai bàn tay trắng trơn, không một tấc đất cắm dùi... Thế mà hôm nay, chị có thể đứng vững vàng giữa đất trời bến sông này, tự tay làm ra đồng tiền nuôi sống bản thân, nuôi sống cả Thanh Du ăn học thành người, ngẩng cao đầu đối đáp đanh thép với bọn họ mà không cần phải luồn cúi van xin..." Minh Châu vươn đôi bàn tay run rẩy nắm chặt lấy vạt áo thô của Thanh Hà, ánh mắt van lơn đến xé lòng: "Em khát khao được sống như chị! Chị dâu, xin chị hãy rủ lòng thương xót mà dạy nghề cho em! Dạy em cách nhào bột, nướng bánh, dạy em cách tính toán sổ sách, gom góp từng đồng tiền kẽm... Dạy cho em một cái nghề chân chính để em có thể tự nuôi sống lấy thân mình! Chỉ khi nào tự nắm trong tay manh áo bát cơm, em mới có đủ dũng khí, đủ tư cách để đứng thẳng lưng từ chối cuộc hôn nhân ép buộc nghiệt ngã ấy!"
Đứng nhìn người con gái trẻ tuổi đang run rẩy trong cơn giông bão của cuộc đời, Thanh Hà như nhìn thấy lại chính hình bóng cô độc, chới với của bản thân mình trong những đêm mưa lạnh giá đầu tiên khi mới bước chân ra bờ sông Vọng Giang. Lòng trắc ẩn và tình thương sâu sắc dâng trào nơi đáy ngực nàng, xót xa cho một kiếp hồng nhan suýt bị vùi dập chốn hào môn. Thế nhưng, bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu va vấp sóng gió nơi thương trường bến đò trong suốt thời gian qua đã tôi luyện cho Thanh Hà một cái đầu lạnh và một sự tỉnh táo sâu sắc. Nàng hiểu rõ, thương hại mù quáng đôi khi lại là liều thuốc độc giết chết một con người.
Thanh Hà nắm lấy đôi bàn tay mềm mại, trắng muốt, chưa từng một lần phải cầm đòn gánh hay chạm vào tro than khói bếp của Minh Châu. Nàng giữ chặt lấy tay nàng ấy, cất giọng ôn tồn nhưng âm sắc lại vô cùng nghiêm nghị, từng lời rành mạch:
"Minh Châu, em hãy nhìn thẳng vào mắt chị mà nghe cho thật kỹ đây. Học nghề buôn bán, lăn lộn mưu sinh nơi đầu sóng ngọn gió này không phải là một trò chơi bốc đồng của những tiểu thư khuê các muốn tìm chốn trốn chạy thực tại ngột ngạt. Nó là chuỗi ngày thức khuya dậy sớm từ lúc gà gáy canh tư, là đôi bàn tay này sẽ phải phồng rộp, nứt nẻ vì bỏng hơi nước sôi và tro than nóng giãy, là lưng áo sẽ ướt sũng mồ hôi chua chát bên lò lửa hừng hực giữa trưa hè đổ lửa, và là đôi bàn chân buốt cóng tê dại vì phải đứng hàng giờ liền trên nền đất ẩm mốc của mùa đông giá rét. Em từ thuở lọt lòng đã sống trong lầu son gác tía, cơm bưng nước rót, liệu em có đủ bền gan để nuốt trôi những đắng cay nhọc nhằn ấy hay không?"
Minh Châu cắn chặt môi dưới đến rướm máu, đôi mắt ngấn lệ nhưng không hề chớp lấy một lần. Nàng gật đầu một cách dứt khoát, thanh âm đanh lại:
"Em chịu được! Dù có phải phỏng tay, tróc da, chịu khổ cực gấp trăm lần thế này em cũng cam lòng chịu đựng, miễn sao em được tự tay nắm giữ lấy cuộc đời của chính mình!"
"Tốt lắm." Thanh Hà nhìn sâu vào đôi mắt kiên định ấy, khẽ gật đầu, đưa ra lời hứa vững chắc như bàn thạch: "Chị hứa trước trời đất sẽ dạy nghề cho em. Chị sẽ dốc hết lòng truyền dạy cho em từng bí quyết ủ men, chọn gạo, nướng bánh, cách cân đo đong đếm sổ sách để em có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình mà không cần phải phụ thuộc vào bất kỳ ai. Thế nhưng, chị có một điều kiện tiên quyết, em phải khắc ghi: Mọi sự em làm phải hoàn toàn đường hoàng, minh bạch dưới ánh sáng mặt trời. Chị tuyệt đối không bao giờ lén lút dung túng cho em bỏ trốn trong đêm tối hay hành động bồng bột dại dột để người đời có cớ gán cho chị cái tội xúi giục con gái nhà lành rời bỏ gia tộc. Em phải tự mình quay về đối diện với họ, dùng lý lẽ, sự cứng cỏi và lòng tự trọng của bản thân để kiên quyết từ chối mối hôn sự áp đặt kia. Cho đến cái ngày em có thể đàng hoàng bước chân ra khỏi cánh cổng đó với tư cách một con người tự do, cánh cửa của quán trà Thanh Hà này sẽ luôn rộng mở đón nhận em như một người thợ học việc chân chính, có giao kèo làm việc rõ ràng và được trả công phân minh từng đồng từng cắc."
Từng lời, từng chữ của Thanh Hà như một điểm tựa tinh thần vững chãi ngàn cân, xua tan đi màn đêm tăm tối đang bao phủ tâm hồn non nớt của Minh Châu. Nàng hít một hơi sâu, đưa mu bàn tay áo gạt phăng đi những giọt nước mắt yếu mềm còn đọng lại trên gò má, rồi cúi rạp người xuống vái tạ Thanh Hà một lạy thật sâu:
"Chị dâu, em hiểu rồi. Lời chị dạy bảo, em xin ghi lòng tạc dạ. Em nhất định sẽ không làm chị phải thất vọng. Em sẽ quay về, chuẩn bị cho ngày mình được ngẩng cao đầu bước ra!"
Dứt lời, Minh Châu vội vã xoay người, bước thoăn thoắt ra lối ngõ sau rồi men theo rặng sậy ven sông rời đi. Dáng hình mảnh khảnh của nàng thoắt ẩn thoắt hiện trong làn gió lạnh, nhưng bước chân đã không còn vẻ chênh vênh của kẻ lạc đường, mà vững vàng tiến về phía con đường đê lớn.
Đứng nhìn theo bóng lưng khuất dần của người thiếu nữ, Thanh Hà đứng lặng hồi lâu bên khung cửa liếp, khẽ thở phào một hơi dài nhẹ nhõm. Làn khói trắng mỏng manh từ hơi thở nàng tan biến vào không gian buốt giá. Sóng gió bắt nguồn từ quá khứ cay nghiệt của gia tộc họ Phạm tưởng như đã được phong kín sau cánh cổng sơn then cài ngày ấy, nào ngờ nay lại dội ngược về bến sông này theo một cách thức chẳng ai có thể lường trước. Thế nhưng, nàng của ngày hôm nay đã không còn là người phụ nữ cô độc, yếu hèn chịu trận năm xưa. Nàng đã tự tay gầy dựng nên một bến đỗ vững chãi cho cuộc đời mình, có một mái quán ấm áp khói lửa, có những người thân yêu cùng kề vai sát cánh, và quan trọng nhất, nàng đã xác lập được một vị thế vững vàng mà không một thế lực quyền quý nào có thể tùy tiện chà đạp hay bức hiếp.
Buổi chiều muộn dần dần buông xuống trên dòng sông Vọng Giang cuộn sóng. Mặt trời mùa đông đỏ ối như một hòn than khổng lồ đang lụi tàn, chầm chậm chìm dần sau những rặng núi lam thẫm phía chân trời tây, dát một lớp ánh sáng màu vàng đồng rực rỡ nhưng lạnh lẽo lên từng đợt sóng nước dập dềnh. Khói lam chiều từ những mái nhà tranh của xóm chài nghèo ven bờ bắt đầu lãng đãng bay lên, hòa quyện với mùi thơm ngọt ngào, ấm sực của mẻ bánh nếp nướng gừng đỏ vừa chín tới trên bếp than hoa rực hồng trong quán.
Tiểu Mãn lanh lợi xắn cao tay áo, cầm chiếc khăn vải sạch thoăn thoắt lau dọn từng mặt bàn gỗ mộc đã bóng loáng nước thời gian. Ở góc bếp bên kia, chị Thục cùng thím Mộc cẩn thận xếp từng xâu bánh nếp còn bốc khói nghi ngút vào hai chiếc thúng tre sâu lòng lót đầy lá chuối khô hong khói, chuẩn bị sẵn sàng để đón chuyến đò ngang đông đúc cuối cùng trong ngày từ bờ tây chuẩn bị cập bến.
Bỗng nhiên, từ phía con đường cái lát đá dăm dẫn từ điếm sở tuần kiểm của bến đò sang, bóng dáng thấp đậm quen thuộc của Phường bảo Đào Văn Kính chầm chậm rảo bước tiến lại. Khác hẳn với vẻ tất bật, vội vã hay dáng điệu khúm núm thường ngày mỗi khi phải lo toan việc phu bến, hôm nay từng bước chân của ông lão lại có phần trang trọng, đĩnh đạc lạ thường. Trên hai bàn tay thô ráp của ông nâng niu một vật phẩm được bọc cẩn thận trong tấm gấm điều đỏ thắm, thêu viền chỉ ngũ sắc vô cùng bắt mắt.
"Bác Kính, trời rét mướt thế này, mời bác vào quán uống bát trà gừng nóng cho ấm giọng đã ạ," Thanh Hà niềm nở cất tiếng chào khi nhìn thấy người quản lý bến bước lên hiên quán.
Đào Văn Kính bước qua bậu cửa gỗ, tháo chiếc nón lá cũ kỹ đặt ngay ngắn lên mặt bàn, thở phào một hơi dài khoan khoái khiến một làn khói trắng phả ra giữa không khí lạnh giá. Ông nhìn người phụ nữ trẻ trước mặt bằng ánh mắt chan chứa sự khâm phục và nể trọng sâu sắc—thứ tình cảm chân thành không hề vương chút giả tạo, được tôi luyện và bồi đắp qua biết bao biến cố cam go, từ mùa lũ dữ lịch sử cho đến phiên phân xử lệ phí công khai chấn động nơi bến sông vừa qua.
"Cô Liễu à, lão không ngồi lâu được đâu," Đào Văn Kính mỉm cười, giọng nói hào sảng mang theo một niềm phấn khởi hân hoan khó bề che giấu. "Lão vừa mới từ trên huyện nha Thanh Lâm hớt hải chạy ngựa trở về bến đây. Có một việc đại sự hệ trọng từ chính tay quan Huyện lệnh giao phó xuống, đích thân Thư lại Vũ Chính An dặn đi dặn lại lão là phải mang tận tay trao cho cô ngay trong buổi chiều tà hôm nay, tuyệt đối không được để chậm trễ nửa khắc!"
Nghe thấy lời nói trang trọng ấy, Thanh Du đang lúi húi xếp củi và Tiểu Mãn đang lau bàn đều tò mò buông tay, cùng bước nhanh lại vây quanh chiếc bàn mộc giữa gian quán.
Đào Văn Kính cung kính đặt chiếc bọc lên mặt bàn, cẩn thận gỡ từng nếp gấp của tấm gấm điều đỏ tươi. Bên trong lớp lụa mềm mại lộ ra một tấm thiệp lớn làm bằng giấy tiên xuyến hoa màu đỏ thắm, chất giấy dày dặn và mịn màng như lụa thượng hảo hạng. Bốn góc cùng toàn bộ đường viền xung quanh tấm thiệp được dập nổi hoa văn mây cuộn thủy ba bằng nhũ vàng lấp lánh vô cùng tinh xảo. Ngay chính giữa mặt ngoài của tấm thiệp là con dấu triện vuông vức màu chu sa đỏ rực của nha môn huyện Thanh Lâm, tỏa ra một mùi hương thanh khiết, tao nhã hòa quyện giữa mực nho thượng hạng và bột xạ hương ngào ngạt.
"Đây là..." Thanh Hà khẽ thốt lên vẻ ngạc nhiên, ánh mắt nàng dừng lại trên con dấu quyền uy của quan phủ, rồi hai tay trân trọng đón lấy tấm thiệp danh dự.
Đào Văn Kính đưa tay vuốt chòm râu ngắn hoa râm, cất giọng dõng dạc, từng lời vang lên đầy vẻ tự hào như thể chính bản thân ông cũng được thơm lây từ vinh dự này:
"Mùa xuân Ất Dậu tới đây, quan Huyện lệnh đại nhân sau khi bàn bạc cùng các vị bô lão và nha môn đã quyết định mở lại đại hội trà truyền thống ven sông sau nhiều năm gián đoạn vì binh đao bão lũ, cốt là để chấn hưng lại việc giao thương buôn bán đường thủy, tạo sinh kế lâu bền cho trăm họ đôi bờ Vọng Giang. Toàn cõi huyện hạt Thanh Lâm rộng lớn này, với hàng trăm trà đình quán nước lớn nhỏ, chỉ có đúng mười cơ sở trà lâu danh tiếng và có phẩm cấp xuất sắc nhất mới được tuyển chọn kỹ lưỡng để nhận tấm thiệp mời danh dự này, trực tiếp tham gia tranh tài tại hội thi năm nay."
Thanh Hà khẽ nín thở, ngón tay thanh mảnh chầm chậm mở tấm thiệp thiếp đỏ dập nhũ vàng óng ánh ra.
Dưới ánh sáng ấm áp, vàng dịu của ngọn đèn dầu lạc vừa được thắp lên, những dòng chữ son nắn nót, phượng múa rồng bay từ ngọn bút lông của quan Huyện lệnh hiện lên vô cùng trang trọng. Lời văn tao nhã, đường hoàng kính mời Quán trà Thanh Hà tham dự 'Hội trà đầu xuân Vọng Giang' được cử hành trọng thể vào ngày rằm tháng Giêng tới tại công đài bên bờ sông huyện lỵ.
Và ở ngay trang danh sách các trà lâu danh giá nhất của hai bờ sông được nha môn chính thức xếp hạng thi thố phẩm cấp năm nay, hàng chữ son thẳng thớm, mực còn thơm ngát mùi xạ hương đã ghi rõ tên của hai đối thủ lớn nhất ven bến sông Vọng Giang nằm kề sát bên nhau:
Trà lâu Nghênh Xuân và Quán trà Thanh Hà.