Mùa đông giữ lửa
Tiết trời vừa bước sang đầu đông, sương muối đã từ mạn bắc theo những ngọn gió lạnh buốt tràn về, giăng một lớp màng trắng đục như rắc vôi bột lên khắp những dải lau sậy xác xơ mọc dọc mép nước sông Vọng Giang. Gió bấc thổi thốc từng cơn ràn rạt qua mặt sông phẳng lặng, cuốn theo hơi nước lạnh buốt đến thấu xương, táp thẳng vào mặt những kẻ bộ hành khiến da thịt tê rần rát bỏng. Con đường đất nện chạy men theo triền đê quai dẫn xuống bến đò sau bao ngày hanh khô đã đóng cứng lại như đá tảng, từng vệt bánh xe bò lún sâu từ mùa mưa trước nay trơ khấc những gờ sắc nhọn, gõ lộc cộc dưới từng bước chân người qua lại. Cỏ may ven bờ úa vàng, khô giòn xao xác dưới làn sương lạnh. Cả khúc sông rộng lớn chìm trong một màu xám xịt, ảm đạm của buổi sớm mù trời, thưa thớt bóng đò giang xuôi ngược.
Thế nhưng, ngay giữa cái hoang lạnh ngắt nghẽo của bến nước đầu đông, mé đông bến đò Vọng Giang lại bừng lên một vệt sáng đỏ rực, ấm áp và sống động lạ thường. Túp lều quán của Liễu Thanh Hà sau đợt gia cố hồi cuối thu—với móng kè bằng đá hộc xếp chồng khít khao, chân cột chôn sâu kê trên tảng đá tảng vững chãi và mái tranh được lợp dặm thêm ba tầng rơm nếp dày dặn—nay sừng sững đứng vững vàng trước từng cơn gió mùa rít từng chập qua khe nứa. Tấm mành tre bện dày buông kín ba bề, chỉ chừa lại một khoảng cửa nhỏ đón khách, đủ để ngăn gió lùa mà không làm khuất lấp ánh than hồng ấm áp bên trong.
Từ ba chiếc lò đất nện đặt thẳng hàng trước bậc cửa, than hoa củi nghiến đỏ rực không một gợn khói đen, tỏa ra một luồng hơi nóng hầm hập, xua tan cái giá buốt ngưng đọng trong không gian. Mùi khói rơm nồng đượm, hòa cùng hương thơm béo ngậy của gạo nếp mới nướng trên vỉ sắt và vị cay ngọt, ấm nồng của tinh dầu gừng già, quyện chặt lấy nhau rồi theo gió lan tỏa khắp một dải bến sông, đánh thức khứu giác của bất kỳ ai vừa đặt chân lên bờ đê lộng gió.
Trời đông rét mướt cắt da cắt thịt, khách bộ hành qua sông chẳng còn màng đến những bát nước chè xanh búp non tươi mát của mùa hè oi ả, cũng chẳng thiết tha thứ trà tâm sen thanh đạm giải nhiệt của cành thu. Thanh Hà vốn là người nhạy bén với từng chuyển dời của tiết trời và lòng người. Nàng đã sớm tháo những thẻ tre cũ xuống, thay vào đó là những thẻ tre mới khắc chữ đỏ tươi, ghi rõ những thức uống, thức bánh chuyên biệt để dưỡng sinh, trừ hàn cho mùa đông lạnh giá.
Từ sáng sớm tinh sương, khi sao mai còn chưa lặn, nàng đã bắc chiếc thang tre nhỏ, trèo lên gác bếp cao ráo được bọc rơm khô chống ẩm để lấy xuống những bánh trà ép lên men chặt chẽ. Đó là thứ trà được nàng lựa chọn kỹ lưỡng từ mạn ngược gửi về, lá trà già được đồ chín, vò nát rồi ủ men kỹ trong chum sành trước khi ép thành từng bánh tròn dày dặn, màu nâu đen bóng bẩy như đá huyền, bên ngoài bọc kín bằng ba lớp lá chuối khô và vỏ bương già hong khói bếp. Thứ trà bánh này có tính ấm sâu, chịu được nhiệt độ của nước sôi già sùng sục, càng đun lâu trên than hồng đỏ lửa lại càng thôi ra chất nước đỏ tươi như hổ phách, sánh đậm như mật loãng. Nhấp một ngụm, vị chát đằm sâu nơi cuống họng lập tức chuyển hóa thành vị ngọt bùi hậu vị, mang theo một luồng nhiệt khí ấm sực chạy râm ran khắp tứ chi, xua tan ngay cảm giác cóng buốt trong từng thớ thịt.
Ngay bên cạnh hai chiếc ấm đồng da cóc to bản đang reo lên những tiếng ùng ục vui tai, trên chiếc vỉ sắt đan dày đặt ngang miệng lò than giữa, những chiếc bánh nếp nướng gừng đỏ đang từ từ phồng rộp, lấm tấm những đốm cháy xém vàng ruộm. Nếp hoa vàng vụ mùa vừa gặt, hạt tròn mẩy, thơm nức mũi, được nàng đem ngâm nước giếng trong vắt suốt một đêm rồi cho vào cối đá giã thật nhuyễn đến khi dẻo quánh, mịn màng không còn một hạt gợn. Khi nhào bột, Thanh Hà cẩn thận hòa thêm nước cốt gừng già cay nồng đã được giã nát, vắt kiệt bã, cùng một chút bột củ nâu giã mịn để tạo cho vỏ bánh một sắc đỏ gạch mộc mạc mà đầm ấm.
Bánh được nặn khéo léo, dẹp tròn như hình vầng trăng khuyết, dày chừng nửa đốt ngón tay. Nàng đặt bánh lên vỉ than hoa đượm lửa, trở đều thoăn thoắt hai mặt. Hơi nóng khiến lớp vỏ ngoài se lại, phồng căng, nứt ra những đường rạn chân chim li ti, tỏa ngào ngạt mùi thơm ngậy của cám nếp quyện với vị cay nồng đặc trưng của gừng già. Đúng lúc bánh vừa chín tới độ giòn xốp bên ngoài mà bên trong vẫn giữ được độ mềm dẻo, Thanh Hà liền dùng mũi dao bài mỏng bén ngót, nhanh tay rạch một đường ngang thân bánh, khéo léo kẹp vào giữa một phiến đường phèn cán mỏng tang. Hơi nóng hầm hập giam kín trong ruột bánh lập tức làm tan chảy phiến đường phèn, biến nó thành một dòng mật óng ánh, sóng sánh như hổ phách. Cắn nhẹ một miếng, lớp vỏ bánh giòn rụm vỡ tan trong miệng, kế đến là lớp bột nếp dẻo thơm quấn quýt lấy đầu lưỡi, hòa quyện tuyệt vời với vị ngọt thanh tao, không chút gắt cổ của đường phèn và cái cay ấm, râm ran của gừng già, khiến người ăn bất giác phải thở phào một hơi khoan khoái, tưởng như bao nhiêu hàn khí tích tụ suốt dọc đường gió rét đều theo hơi thở ấy mà tan biến sạch trơn.
"Bác A Sinh ơi! Gánh sọt than vào đây sưởi chút than hoa cho ấm người đã bác! Uống bát trà bánh già lửa cho giãn gân cốt nào!"
Tiểu Mãn đứng lấp ló sau tấm mành nứa chắn gió, hai bím tóc nhỏ lúc lắc theo từng nhịp chân, đôi mắt tròn xoe lấp lánh cất tiếng gọi giòn giã át cả tiếng gió rít ngoài bến.
Bác phu than A Sinh hai vai trĩu nặng đôi sọt than đen nhánh, chiếc đòn gánh tre già uốn cong hình cánh cung theo từng bước đi nặng nhọc. Chóp mũi bác đỏ ửng vì sương muối bám chặt, đôi môi thâm tím run rẩy vì lạnh, nghe tiếng gọi thân tình liền vội vã chuyển hướng, bước nhanh chân qua bậc cửa đất nện bước vào hiên quán. Bác hạ đôi sọt than nặng trịch xuống góc hiên, khẽ rùng mình một cái rồi bước lại gần lò than, xoa xoa hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ chằng chịt những vết nẻ ngang dọc trên miệng lò than hực hồng. Bác thở ra từng làn khói trắng mờ mịt, chép miệng trầm trồ:
"Chao ôi là ấm! Vừa bước chân lên khỏi dốc đò lộng gió, sương muối phả vào mặt buốt đến tận mang tai, tưởng chừng đông cứng cả sống lưng, thế mà ngửi thấy mùi gừng nướng với mùi trà bánh của quán cô Liễu là cái chân tự khắc muốn rẽ vào ngay. Cho tôi một bát trà bánh lên men thật già lửa với hai cái bánh nếp gừng đỏ kẹp đường phèn nhé cô Liễu! Đói cồn cào cả ruột gan rồi!"
"Dạ, có ngay đây bác A Sinh!"
Thanh Du lúc này đang đứng túc trực bên chiếc bàn gỗ thấp, tay cầm đôi kẹp tre thoăn thoắt gắp hai chiếc bánh nếp nướng vừa chín tới, lớp mật đường phèn bên trong đang sôi lăn tăn qua khe nứt, đặt ngay ngắn vào chiếc đĩa sành mộc màu da lươn. Đoạn, cậu nghiêng chiếc ấm đồng nặng trịch, rót một dòng nước trà đỏ sánh, bốc khói ngùn ngụt từ trên cao xuống chiếc bát đất nung thô mộc. Nước trà chảy xuống tạo thành một lớp bọt mịn li ti màu vàng nhạt trên bề mặt. Cậu bé hai tay bưng bát trà đặt nhẹ nhàng trước mặt người phu than, miệng lễ phép thưa:
"Trà bánh này chị cháu hãm từ lúc sớm tinh sương đấy bác ạ. Nước giếng đá ong trên gò Thanh Khê gánh về từ chiều qua, đun trên lửa than hoa cho sôi già ba dạo mới rót vào ấm ủ. Bác uống chậm kẻo bỏng môi, nhấp từng ngụm nhỏ để hơi trà ấm dẫn từ từ xuống dạ dày là khỏe khoắn ngay."
Bác A Sinh bưng bát trà bằng cả hai bàn tay chai sần, đen nhẻm bụi than. Bác áp chặt lòng bàn tay vào thành bát sành dày dặn để hút lấy từng đợt hơi ấm truyền qua lớp gốm nung, đoạn khẽ thổi bạt lớp khói mỏng rồi nhấp một ngụm sâu. Vị chát đậm đà, trầm ấm lan tỏa khắp vòm họng, kích thích từng gai vị giác rồi nhanh chóng lắng đọng thành vị ngọt bùi sâu lắng nơi cổ họng. Luồng nhiệt ấm nóng râm ran từ ngực truyền thẳng xuống bụng dưới, men theo các đường kinh lạc lan ra tận mười đầu ngón tay ngón chân đang tê cóng. Đôi vai còng của người phu than từ từ giãn ra, khuôn mặt khắc khổ rạng rỡ hẳn lên trong nỗi khoan khoái tột cùng. Bác cầm chiếc bánh nếp nướng gừng đỏ lên, cắn một miếng thật lớn. Tiếng vỏ bánh giòn tan vang lên rôm rốp, mật đường phèn tươm ra ngọt lịm quyện chặt lấy vị cay nồng của gừng già:
"Trời đất rét mướt thế này mà có miếng bánh cay nồng kẹp đường ngọt lịm thế này lót dạ thì kéo thuyền hay vác than suốt cả buổi sáng cũng chẳng sợ gió bấc cắn vào xương tủy nữa. Bát nước sực nức mùi thơm thảo mộc, cái bánh chắc nịch ngọt ngào, thật đáng đồng tiền bát gạo lắm cô Liễu à!"
Khách đợi đò mỗi lúc một lục tục kéo vào đông hơn. Cánh lái buôn chở vải vóc, đồ gốm sứ sang bờ tây huyện Thanh Lâm họp chợ, những phu đẩy xe cút kít chở rau củ, củi khô hay người đi chợ sớm đều lũ lượt ghé vào tìm chỗ trú chân. Không gian quán trà nhỏ hẹp chẳng mấy chốc đã chật kín người ngồi chen chúc quanh ba chiếc lò than hồng ấm áp. Tiếng xì xụp húp nước trà nóng, tiếng nhai bánh giòn tan rôm rốp, tiếng cười nói râm ran cùng những câu chuyện bàn tán về mùa màng, giá cả chợ bến vang lên rộn rã, xua bớt đi vẻ hoang lạnh, tịch mịch vốn có của bến sông mùa đông.
Đến gần giờ Tỵ, khi chuyến đò ngang thứ ba vừa tách bến rẽ màn sương trắng đục ra giữa dòng Vọng Giang, một bóng người quen thuộc quẩy đôi quang gánh bước thoăn thoắt qua bãi cát bồi tiến về phía quán trà. Đỗ Nguyệt Nương khoác chiếc áo bông chần vải chàm sẫm màu, cổ quấn chiếc khăn vuông bằng vải thô ấm áp, theo sau gót nàng là hai người phụ nữ trạc ngoài ba mươi tuổi. Cả hai đều ăn mặc lam lũ, áo vá chằng vá đụp bằng nhiều mảnh vải khác màu, bước đi rụt rè, bẽn lẽn, thỉnh thoảng lại đưa mắt e dè nhìn dáo dác xung quanh bến đò.
"Thanh Hà ơi! Có người sang theo đúng lời hẹn hôm trước đây này!"
Nguyệt Nương vừa gạt tấm mành tre bước vào quán đã cất tiếng gọi xởi lởi. Khuôn mặt tròn trịa, hồng hào của nàng bừng lên nét tươi tắn, rạng rỡ bất chấp những cơn gió bấc thổi buốt mặt ngoài kia.
Thanh Hà vội lau sạch hai bàn tay vào chiếc tạp dề bằng vải thô trắng muốt đeo trước ngực, bước nhanh ra đón bạn:
"Chị Nguyệt Nương sang sớm thế! Gió sông hôm nay lộng và lạnh buốt xương. Chị mau vào đây ngồi sát bên bếp lò than hoa này sưởi ấm cho lại sức đã."
Nguyệt Nương đặt đôi quang gánh đựng vài bọc đường phèn hạt lớn và hai thúng bột nếp mới mang sang giao cho quán vào góc tường, đoạn quay lại kéo tay hai người phụ nữ đi cùng bước lên phía trước. Nàng chỉ vào người phụ nữ dong dỏng cao, gầy gò với khuôn mặt chữ điền hằn sâu những nếp nhăn khắc khổ, rồi lại chỉ sang người phụ nữ nhỏ nhắn có đôi mắt u buồn, hoe đỏ, giọng trở nên nghiêm túc và chân thành:
"Đây là chị Thục và thím Mộc. Cả hai người đều nằm trong danh sách cưu mang, bảo trợ đặc biệt của Hội nữ thương Đông Tân bọn chị từ dạo đầu đông. Chị Thục thì góa chồng ba năm nay, một mình nuôi hai đứa con thơ dại dặt dẹo ốm đau triền miên, trong tay lại chẳng có lấy một tấc đất cắm dùi; còn thím Mộc thì chồng theo thuyền buôn ra khơi rồi mất tích ngoài cửa bể từ mùa bão năm ngoái, không nương tựa vào đâu được, đành một thân một mình gánh cá thuê, nhặt tôm rơi vãi kiếm từng bát cháo qua ngày ở góc chợ cá. Hôm trước nghe em nói quán trà mùa đông lượng khách tăng gấp đôi, công việc bận rộn từ sáng sớm đến tối mịt, cần thêm người phụ việc nhào bột, hấp bánh và giữ gìn vệ sinh bếp núc, chị liền dắt hai người họ sang đây ngay. Cả hai đều là người cùng cảnh ngộ cơ hàn, tính tình chịu thương chịu khó, thật thà chất phác lắm, em cứ xem xét tận mắt xem có ưng bụng không."
Chị Thục và thím Mộc nghe lời giới thiệu liền rụt rè cúi đầu chào Thanh Hà. Hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì ngâm nước lạnh lâu ngày đan chặt vào nhau trước bụng, nét mặt lộ rõ vẻ lo lắng, bồn chồn khôn xiết. Họ ngước nhìn cơ ngơi quán trà khang trang, sạch sẽ nức tiếng bến sông này mà lòng không khỏi thấp thỏm, sợ người chủ quán trẻ tuổi, đoan trang kia sẽ chê mình vụng về, chậm chạp, hay sợ hãi cái dớp xui xẻo của phận đàn bà góa bụa—thứ định kiến cay nghiệt, tàn nhẫn mà suốt bao năm qua miệng lưỡi thế gian nơi đầu đường xó chợ đã không ngừng trút xuống đầu họ.
Nhìn ánh mắt rụt rè, bối rối và dáng vẻ co ro vì sợ bị từ chối của hai người phụ nữ, trong lòng Thanh Hà bỗng dâng lên một nỗi niềm trắc ẩn sâu sắc. Nàng như nhìn thấy lại chính hình ảnh đơn độc, bơ vơ của mình vào cái đêm đông nghiệt ngã hai năm về trước—khi bị gia đình chồng nhẫn tâm ruồng bỏ, xua đuổi ra khỏi cửa lớn với hai bàn tay trắng giữa trời đông giá rét. Nàng hiểu tường tận cái cảm giác bị cuộc đời đẩy vào bước đường cùng, bị người đời khinh khi, ghẻ lạnh nó đau đớn và tủi nhục đến nhường nào. Thế nhưng, nét mặt nàng vẫn giữ trọn vẻ điềm đạm, mực thước của một người chủ quán biết nhìn xa trông rộng, biết cách gầy dựng một cơ nghiệp bền vững. Nàng mỉm cười dịu dàng, tự tay kéo hai chiếc ghế tre mộc lại gần lò than ấm áp:
"Chị Thục, thím Mộc, hai người đừng đứng nép ở cửa gió nữa, mau ngồi xuống đây uống bát nước trà nóng cho ấm người đã. Ở quán của em, chỉ cần người chịu thương chịu khó làm ăn lương thiện thì không bao giờ sợ chết đói. Nhưng trước khi bắt tay vào việc, em muốn mọi điều khoản công xá, trách nhiệm phải được nói rõ ràng, minh bạch ngay từ đầu, để sau này đôi bên cùng thoải mái làm việc."
Thanh Hà quay sang đưa mắt gật đầu với Thanh Du. Cậu bé hiểu ý chị gái ngay tắp lự, liền nhanh nhẹn lấy nghiên mực đá mài sẵn từ sáng, mở chiếc tráp tre nhỏ lấy ra hai tờ giấy bản trắng tinh cùng ngọn bút lông thỏ, đặt ngay ngắn trên mặt bàn gỗ.
Thanh Hà ngồi xuống chiếc ghế đối diện hai người, giọng nói của nàng cất lên trong trẻo, nhẹ nhàng nhưng từng câu từng chữ đều rành rọt, đanh thép:
"Chị Nguyệt Nương và Hội nữ thương Đông Tân đã đứng ra bảo chứng, em hoàn toàn tin tưởng vào nhân phẩm và đức tính lương thiện của hai người. Quán trà của em tuy nằm nơi bến nước nghèo, quy mô chưa lớn nhưng làm ăn buôn bán có tôn ti trật tự, theo khuôn phép đàng hoàng, tuyệt đối không dựa vào sự thương hại hay ban ơn bố thí cảm tính, mà dựa trên sự sòng phẳng của sức lao động. Em xin nói rõ giao ước để hai người cùng cân nhắc cho kỹ."
Nàng khẽ chỉ tay vào tờ giấy bản mà Thanh Du đang chuẩn bị đặt bút viết:
"Thời gian thử việc và học nghề làm bánh, hãm trà là nửa tháng. Trong nửa tháng này, quán bao trọn hai bữa cơm trưa và chiều thật no ấm, mỗi ngày tiền công nhật là mười lăm văn tiền kẽm. Sau nửa tháng thử việc, nếu hai người thạo việc, làm bánh đạt yêu cầu và giữ đúng nề nếp vệ sinh của quán, tiền công nhật sẽ được nâng lên hai mươi văn một ngày, trả đủ một lần vào cuối mỗi tuần bằng tiền đúc rõ ràng, tuyệt đối không giam tiền hay bớt xén dù chỉ một đồng trinh. Giờ làm việc bắt đầu từ giờ Mão sớm khi chuyến đò đầu tiên rục rịch sang sông, kéo dài đến giờ Thân chiều khi vãn khách chợ. Ngày nào bến có thuyền chở hàng than, hàng gốm gấp cập bến hay phiên chợ đông, nếu phải làm thêm đến giờ Tuất, quán sẽ trả thêm tiền công phụ trội năm văn mỗi buổi tối và kèm thêm một phần bánh nếp nướng hoặc bánh hấp nóng hổi mang về cho các cháu nhỏ ở nhà lót dạ."
Nghe đến mức tiền công rõ ràng, cao hơn hẳn mặt bằng chung nơi bến chợ lại còn được bao cơm no ấm và có phần bánh mang về cho con, đôi mắt trũng sâu vì mất ngủ của chị Thục bỗng chốc hoe đỏ, bờ môi run run. Còn thím Mộc thì nghẹn ngào, hai bàn tay chắp chặt lại trước ngực, cúi gập người xuống:
"Liễu nương tử... cô đối đãi với bọn tôi hậu hĩnh, chu toàn quá đỗi... Phận đàn bà góa bụa, bơ vơ không nơi nương tựa như bọn tôi đi làm thuê làm mướn ở chợ cá, chợ rau, người ta sai bảo quần quật suốt ngày đêm mà chỉ trả có bảy, tám văn tiền kẽm rỉ sét, lại còn bị mắng chửi, hắt hủi cay nghiệt chẳng khác nào con sâu cái kiến..."
"Em không bao giờ coi ai làm việc cho mình là đầy tớ cả," Thanh Hà khẽ lắc đầu, ánh mắt nghiêm cẩn nhìn thẳng vào hai người phụ nữ. "Đã nhận thù lao xứng đáng thì phải gánh vác trách nhiệm tương xứng với đồng tiền bát gạo. Đổi lại với những đãi ngộ ấy, em có ba điều cấm kỵ nghiêm ngặt, bắt buộc hai người phải tuân thủ tuyệt đối, không được phép vi phạm dù chỉ một lần."
Nàng dõng dạc nói từng điều một để Thanh Du cẩn thận hạ ngọn bút lông ghi chép mạch lạc lên trang giấy bản:
"Thứ nhất, tiền nong thu chi và sổ sách nhập hàng của quán đều do em và Thanh Du trực tiếp quản lý, tuyệt đối cấm hành vi táy máy, giấu giếm tiền lẻ của khách hay bớt xén nguyên liệu làm bánh mang ra ngoài. Thứ hai, bánh trái và trà nước là thứ người ta đưa trực tiếp vào miệng, liên quan đến sức khỏe và tính mạng của thực khách, chữ 'sạch' phải được đặt lên hàng đầu. Khách vào quán em có thể là kẻ bần hàn áo rách, phu vác than lấm lem hay lái buôn giàu có, tất cả đều được đối đãi bình đẳng như nhau; bát sành uống trà phải tinh tươm không một vết cặn, bánh nướng bánh hấp phải sạch sẽ tuyệt đối, không được để vương một hạt sạn hay sợi rác. Thứ ba, cùng làm việc dưới một mái hiên thì phải giữ đạo thuận hòa, có điều gì thắc mắc, ấm ức hay chưa vừa lòng thì phải nói thẳng thắn trước mặt em để cùng tháo gỡ, tuyệt đối cấm đặt điều bịa đặt, nói xấu gièm pha sau lưng làm hỏng hòa khí chung."
"Bọn tôi xin thề trước trời đất sẽ làm đúng y như lời nương tử đã căn dặn! Nếu có nửa lời sai trái, lười biếng hay tơ hào dù chỉ một hạt gạo, một hạt đường của quán, xin để trời tru đất diệt, để Hội nữ thương Đông Tân đuổi cổ ra đường, không bao giờ nhìn mặt nữa!"
Chị Thục nghẹn ngào quả quyết, từng lời nói run lên vì xúc động nhưng ánh mắt chứa chan sự kiên định. Thím Mộc đứng bên cạnh cũng liên tục gật đầu, lau nước mắt trên gò má xạm đen vì sương gió.
"Tốt lắm. Bây giờ em sẽ chỉ dẫn cho hai người phương pháp và quy tắc vệ sinh dụng cụ làm bánh của quán," Thanh Hà đứng dậy, nhẹ nhàng ra hiệu cho hai người thợ mới bước theo mình vào gian bếp phía sau tấm mành nứa.
Nàng dừng lại trước dãy chõ hấp bằng gỗ nghiến dày dặn và những chiếc xửng tre đan khít đang được xếp cẩn thận bên cạnh vại nước giếng đá ong trong vắt:
"Làm bánh nếp vào mùa đông, tinh bột nếp dẻo rất dễ bám chặt vào từng nan tre và các khe nẹp gỗ. Nếu chúng ta lười biếng, chỉ rửa qua loa bằng vài gáo nước lạnh thông thường, cặn bột đọng lại sẽ lên men chua rất nhanh, sinh ra nấm mốc li ti mắt thường khó thấy. Đến sáng hôm sau, chỉ cần hơi nóng bốc lên, thứ men chua ấy sẽ ám vào toàn bộ mẻ bánh mới, khiến vỏ bánh bị nhớt dính và có mùi thiu chỉ sau nửa buổi bày bán ngoài gió."
Nàng thoăn thoắt xắn hai ống tay áo lên cao, dùng gáo dừa múc một gáo nước sôi già sùng sục từ chiếc nồi gang lớn đang đỏ lửa trên bếp lò dội đều khắp lòng chõ hấp bằng gỗ nghiến:
"Quy tắc vệ sinh chõ hấp của quán chúng ta bắt buộc phải làm hai lần mỗi ngày: mỗi sáng sớm trước khi đồ mẻ bánh đầu tiên và mỗi buổi chiều muộn sau khi dọn hàng đóng cửa. Toàn bộ chõ hấp và vỉ tre đều phải được cọ rửa kỹ lưỡng bằng nước tro bếp ấm pha loãng cùng với xơ mướp già sạch sẽ. Nước tro bếp có tính kiềm tự nhiên, vừa tẩy sạch bong chất dính của tinh bột nếp, vừa khử sạch mùi tanh của mỡ lợn hay dầu vừng. Sau khi cọ kỹ từng kẽ nan tre, phải dùng gáo múc nước sôi già dội lại đúng hai lượt để tiệt trùng hoàn toàn. Cuối cùng, đặt chõ lên giàn giá cao ráo kê nghiêng về phía miệng lò than để hơi ấm hong khô cong từ trong ra ngoài, tuyệt đối không được để chõ còn ẩm ướt úp bệt xuống nền đất bùn."
Chị Thục và thím Mộc mở to đôi mắt, chăm chú theo dõi từng động tác thuần thục, chuẩn xác và dứt khoát của Thanh Hà, trong lòng không khỏi thầm thán phục sự tỉ mỉ, chu đáo và hiểu biết sâu sắc của người con gái trẻ tuổi này. Không đợi nàng nhắc nhở, hai người phụ nữ lập tức xắn tay áo, cầm lấy miếng xơ mướp khô và gáo dừa, bước lại vại nước bắt tay vào thực hành ngay dưới sự quan sát cặn kẽ của nàng. Từng nhát cọ tỉ mỉ miết dọc theo từng nan nứa, từng động tác dội nước sôi già tráng lại đều được hai người thực hiện một cách cẩn trọng, nghiêm túc, không hề dám lơ là nửa phần.
Đỗ Nguyệt Nương khoanh tay đứng tựa bên khung cửa bếp, chứng kiến cảnh tượng ấy liền khẽ mỉm cười, bước lại gần vỗ nhẹ lên vai Thanh Hà:
"Em thu xếp công việc đâu ra đấy, rành mạch và cẩn trọng thế này thì chị hoàn toàn yên tâm rồi. Hai tờ văn tự nhận việc kia để Thanh Du viết xong xuôi, chị sẽ ký tên và đóng dấu triện với tư cách đại diện Hội nữ thương Đông Tân đứng ra bảo chứng. Từ nay, những người phụ nữ khốn khó, cô độc nơi bến sông này đã có thêm một chỗ nương tựa vững chãi, kiếm được bát cơm manh áo ấm áp bằng chính đôi bàn tay lao động lương thiện của mình rồi."
Hai tờ văn tự được hoàn tất rất nhanh sau đó. Dưới ánh lửa bập bùng của gian bếp ấm, chị Thục và thím Mộc run run ấn ngón tay trỏ dính chu sa đỏ thắm vào cạnh chữ ký ngay ngắn, rắn rỏi của Thanh Hà cùng chữ ký bảo chứng mực đen của Nguyệt Nương. Cầm tờ giấy bản còn thơm mùi mực mới trong tay, hai người phụ nữ lam lũ rơm rớm nước mắt. Đó không đơn thuần chỉ là một tờ giao kèo làm thuê làm mướn, mà nó chính là sự công nhận, là danh dự và lòng tự trọng mà bấy lâu nay cuộc đời xô đẩy, nghiệt ngã đã cướp đoạt mất của họ.
Giữa lúc trong quán đang rộn ràng không khí phân công công việc nhào bột, đun nước cho buổi chiều, thì đột nhiên, tấm mành nứa chắn gió ngoài cửa bị hất tung sang một bên. Tiểu Mãn hớt hải từ mép bờ đò chạy vụt vào, đôi guốc mộc gõ lộp cộp trên nền đất nện. Khuôn mặt nhỏ nhắn của con bé tái mét đi vì lạnh và hoảng sợ, hơi thở đứt quãng phập phồng nơi lồng ngực. Con bé lao thẳng tới, túm chặt lấy vạt áo thô của Thanh Hà, lắp bắp không thành tiếng:
"Chị... chị Thanh Hà ơi! Nguy to rồi... Chị mau ra bến mà xem... Bá Từ... Bá Từ gặp chuyện chẳng lành rồi!"
Thanh Hà thót tim một cái, bàn tay đang cầm chiếc muôi gỗ vội buông rơi xuống mặt bàn, nàng cúi xuống giữ chặt lấy hai vai con bé:
"Tiểu Mãn, bình tĩnh lại nào! Bá Từ làm sao? Em nói rõ ràng cho chị nghe xem nào!"
"Hồi nãy... hồi nãy chị sai em mang ấm nước sôi già ra thuyền chêm thêm vào ấm tích trà cho bác," Tiểu Mãn quệt vội giọt mồ hôi lạnh toát trên trán, giọng run rẩy kể dồn dập. "Em bước xuống khoang thì thấy bác đang ngồi thụp dưới đáy thuyền, hai hàm răng cắn chặt vào gấu áo rên rỉ đau đớn. Bác giấu một bọc thuốc lá lốt giã nát hôi nồng dưới tấm ván sàn... Đầu gối bên phải của bác... trời ơi nó sưng to tướng, tím bầm như củ chuối tây, da nứt toác ra từng vệt rớm máu tươi! Bác đau đớn đến mức hai chân run bần bật, không gượng đứng dậy nổi. Thế mà nghe tiếng chuông lệnh đò bên điếm sở gióng lên báo có chuyến hàng than cập bến, bác lại vội vàng lấy mảnh giẻ rách quấn chặt lấy đầu gối rồi cắn răng vịn mạn thuyền đứng lên cầm chèo... Bác nghiêm giọng dặn em cấm tuyệt đối không được nói cho ai biết, bác sợ... bác sợ hội đồng đò biết bác tàn phế sẽ tước mất thẻ lệnh đò, bắt nghỉ việc rồi đuổi về quê chết đói mất thôi!"
Từng lời từng chữ của con bé thốt ra như những nhát dao khía thẳng vào ngực Thanh Hà. Nàng bàng hoàng nhớ lại dáng lưng còng gập xuống và bước chân tập tễnh nặng nhọc của lão lái đò già trong những đêm gió bấc gầm gào gần đây. Lão Từ Bá đã gắn bó gần trọn một đời người với khúc sông Vọng Giang cuộn sóng này, chiếc thuyền tam bản cũ kỹ với mái chèo gỗ nghiến mòn vẹt chính là mạng sống, là cần câu cơm duy nhất nuôi sống tấm thân già nua. Ở cái tuổi gần đất xa trời, một thân một mình cô độc không vợ con, không người thân thích, nỗi sợ hãi bị người ta tước mất mái chèo, bị coi là một kẻ tàn phế vô dụng bị gạt ra bên lề cuộc đời đối với lão còn đáng sợ và cay đắng hơn cả cái chết.
"Thanh Du! Ở lại quán cùng chị Nguyệt Nương, chị Thục và thím Mộc trông nom bếp núc, hãm trà cho khách!"
Thanh Hà dặn với lại một câu thật dứt khoát rồi lập tức xoay người bước nhanh về phía góc bếp. Nàng với tay lấy chiếc liễn sành nhỏ tráng men da lươn trên giá cao, múc đầy một liễn thứ cao thuốc màu nâu đen sền sệt, bốc khói nghi ngút mà nàng đã cẩn thận sao nấu từ chiều hôm qua. Nàng vơ thêm hai tấm vải xô trắng sạch gấp gọn và một bình rượu gừng hạ thổ đã ngâm tròn ba năm giấu kỹ dưới gầm chạn, rồi khoác vội chiếc áo tơi lá, kéo Tiểu Mãn rảo bước thật nhanh xuống mép bến đò.
Gió mùa đông hun hút thổi từ lòng sông lên, mang theo hơi nước buốt giá táp rát cả mặt mày. Dưới mé nước sông Vọng Giang đang cuộn sóng xám ngắt phù sa, chiếc thuyền tam bản bằng gỗ táu của Từ Bá đang neo chao đảo bên chiếc cọc gỗ nghiêng ngả. Lão lái đò già đang gập rạp người xuống khoang, run rẩy cầm chiếc gàu sòng bằng nan tre múc từng gàu nước đọng tát ra ngoài sông. Mỗi một lần cúi gập người xuống hay rướn người lên, toàn thân lão lại giật nảy lên bần bật, từng giọt mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm cả vầng trán nhăn nheo dù ngoài trời gió bấc đang gầm rít liên hồi.
"Bá Từ!"
Thanh Hà cất tiếng gọi nhẹ nhàng nhưng rõ ràng khi bước những bước chân cẩn trọng qua chiếc cầu ván bập bênh bắc xuống thuyền.
Từ Bá giật nảy mình, vội vàng buông chiếc gàu sòng trong tay xuống sàn gỗ, dùng bàn chân run rẩy gạt vội bọc bã lá lốt giã nát đang vương vãi dưới ván đáy vào góc khuất. Lão gượng gạo nở một nụ cười méo mó, nhăn nhó trên khuôn mặt sạm đen chằng chịt những nếp nhăn sương gió:
"Kìa... cô Liễu... Gió rét căm căm thế này cô chạy bổ ra bến làm gì cho lạnh buốt chân tay? Thuyền của lão... thuyền của lão vừa chở xong chuyến khách sáng, chuẩn bị chèo sang bờ tây đón đợt hàng than của nhà thuyền bên ấy đây..."
Nói chưa dứt câu, lão toan gượng vịn vào mái chèo đứng dậy bước lên mũi thuyền thì khớp gối bên phải bỗng khựng lại một cái rắc. Một cơn đau buốt nhức nhối xé toạc da thịt chạy dọc từ khớp xương lên tận đỉnh đầu khiến lão lảo đảo, hai mắt tối sầm lại, cả thân hình gầy guộc suýt ngã nhào xuống dòng nước sâu lạnh ngắt. May sao Thanh Hà đã nhanh nhẹn bước vội tới, hai tay nàng giơ ra đỡ chặt lấy cánh tay gầy guộc, chằng chịt những đường gân xanh nổi cộm của lão, lựa thế dìu lão ngồi tựa lưng xuống mép sạp gỗ giữa khoang thuyền.
"Bác đừng giấu cháu nữa," Thanh Hà nhẹ nhàng ngồi thụp xuống trước mặt lão lái đò, đôi mắt nàng ngân ngấn nước nhưng giọng nói đầy vẻ kiên quyết và tha thiết khôn cùng. "Cái khớp gối của bác sưng tấy đến mức này, làm sao mà bác có thể chống chèo vượt qua được những con sóng ngầm nguy hiểm giữa mùa nước lạnh giá này? Bác bấy lâu nay coi mấy chị em cháu như người thân ruột thịt trong nhà, sao lúc ốm đau bệnh tật thế này bác lại nỡ cắn răng chịu đựng một mình, giấu giếm cả cháu như thế?"
Từ Bá nhìn xuống liễn sành đựng cao thuốc bốc khói ấm nồng trên tay Thanh Hà, khóe mắt già nua đỏ hoe, bờ môi thâm tím run rẩy bần bật:
"Cô Liễu ơi... lão... lão không dám nghỉ, không thể nghỉ được cô à. Cả cuộc đời thằng già này từ thuở mười lăm đôi mươi đến nay chỉ biết bám vào chiếc mái chèo để kiếm từng miếng cơm manh áo qua ngày. Quy chế của hội đồng đò bến Vọng Giang xưa nay nghiêm ngặt lắm, người lái đò mà tay run chân yếu, tàn phế không kham nổi luồng lạch thì phải nộp lại thẻ lệnh đò cho điếm sở, nhường chân cho người khác. Lão mà bị tước mất mái chèo, mất cái thẻ đò này thì biết lấy gì bỏ vào mồm, biết lấy gì mà sống sót qua nổi cái mùa đông rét mướt này đây..."
"Cháu hiểu hết nỗi lòng và sự lo lắng của bác," Thanh Hà ôn tồn, nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của lão xoa nhẹ. "Nhưng nếu bác cứ cắn răng gượng ép bản thân thế này, lỡ chẳng may chèo ra giữa dòng sông gặp phải xoáy nước ngầm hay gió chướng thốc mạnh, chân bác khuỵu xuống không giữ nổi lái, thuyền lật thì tính mạng của bác và bao nhiêu sinh mạng hành khách trên đò sẽ ra sao? Bác có nghĩ đến hậu quả khôn lường ấy không?"
Những lời phân tích thấu tình đạt lý, vừa rắn rỏi vừa chan chứa ân tình của Thanh Hà khiến Từ Bá lặng người đi. Lão lái đò già cúi gằm mặt xuống khoang thuyền, hai giọt nước mắt đục ngầu ứa ra từ khóe mắt khô cằn, rơi lã chã xuống ván sàn.
Không để lão phải chối từ thêm nữa, Thanh Hà khẽ khàng cúi người xuống, cẩn thận gỡ từng vòng giẻ rách cáu bẩn, ẩm ướt đang quấn tạm bợ quanh đầu gối phải của lão ra. Dưới lớp vải thô, khớp gối của lão sưng vù, to gấp rưỡi khớp gối bình thường, da thịt căng bóng, đỏ ửng và nóng hầm hập dưới lòng bàn tay nàng. Thanh Hà mở nắp liễn sành, múc ra một lượng cao thuốc ngải cứu thảo mộc ấm nóng. Đó là bài thuốc quý chuyên trị phong hàn thấp khớp vào mùa đông mà mẹ nàng đã truyền dạy lại từ thuở nhỏ: ngải cứu già sao kỹ cùng gừng củ, vỏ quế chi nghiền mịn, hạt tiêu sọ và rượu nếp hạ thổ lâu năm. Mùi thơm nồng ấm, cay nhẹ của thảo mộc lập tức bay bổng khắp khoang thuyền hẹp.
Nàng thoa đều lớp cao thuốc ấm nóng lên khắp vùng khớp gối đang sưng đỏ của lão, dùng mười đầu ngón tay khéo léo dùng lực đạo vừa phải xoa bóp, day tròn dọc theo các đường kinh lạc, miết sâu vào các huyệt vị Độc Tỵ, Huyết Hải và Dương Lăng Tuyền đang bị khí lạnh ngưng trệ làm bế tắc. Luồng hơi ấm hừng hực từ cao ngải cứu và rượu gừng ngấm dần qua làn da nứt nẻ, len lỏi sâu vào từng thớ thịt, đánh tan cái cảm giác buốt giá, nhức nhối như hàng ngàn mũi kim châm trong tủy xương của người già. Đôi mày nhăn nhó vì đau đớn của Từ Bá từ từ giãn ra, lão thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm, cả thân hình chùng xuống trong sự khoan khoái:
"Kỳ diệu quá cô Liễu ơi... cái khớp xương như được ngâm vào chậu than hồng... ấm sực từ trong tủy ấm ra rồi..."
"Mỗi ngày cháu sẽ đun cao nóng xoa bóp cho bác hai lần, một lần sáng sớm và một lần chập tối," Thanh Hà vừa thoăn thoắt dùng dải vải xô sạch băng cố định lớp cao thuốc quanh khớp gối cho lão vừa nói, ánh mắt kiên định ngời sáng. "Còn chuyện thẻ lệnh đò và kế sinh nhai lâu dài của bác, xin bác hãy tin tưởng ở cháu. Cháu tuyệt đối sẽ không để bác phải chịu thiệt thòi, càng không để ai gạt bác ra khỏi bến sông này đâu!"
Buộc chặt dải băng thuốc xong xuôi, Thanh Hà đứng dậy dặn dò Tiểu Mãn ở lại trong khoang thuyền túc trực, đắp thêm chiếc áo tơi lá giữ ấm cho Từ Bá, còn nàng rảo bước dứt khoát thẳng về phía điếm sở bến đò nằm sừng sững ở đầu doi đất nhô ra mép nước.
Bên trong điếm sở, một chiếc lò sưởi bằng than quả bàng đang cháy đượm ở góc phòng. Phường bảo Đào Văn Kính đang ngồi sưởi than cùng hai vị kỳ lão đại diện cho Hội lái đò Vọng Giang, trên chiếc bàn gỗ lim kê giữa phòng bày la liệt những sổ bộ theo dõi thuyền bè cập bến và những thẻ lệnh đò bằng gỗ thị sơn son. Nhìn thấy Thanh Hà bước vào với vẻ mặt trang trọng, Đào Văn Kính vội đặt chén trà mạn xuống bàn, nở nụ cười đon đả:
"Kìa Liễu nương tử, quán trà hôm nay buôn bán đông khách chứ? Đợt này nhờ có bảng niêm yết lệ phí chuẩn hóa của quan huyện treo ngoài cửa điếm, đám phu bốc vác của Lại Tam làm ăn quy củ, trật tự hẳn ra, không còn cảnh tranh giành, chèn ép khách sang sông như trước nữa, bến bãi phong quang, yên bình lắm."
"Đa tạ Đào phường bảo và các bác trong hội đò đã luôn quan tâm, chiếu cố," Thanh Hà khẽ cúi đầu làm lễ theo đúng khuôn phép, đoạn nàng bước thẳng lại gần bàn trà, đi thẳng vào vấn đề cốt lõi: "Hôm nay cháu mạo muội sang điếm sở là muốn bàn một việc hết sức hệ trọng, liên quan trực tiếp đến an toàn tính mạng của khách sang sông và kế sinh nhai lâu dài của một người cả đời tận tụy với bến nước này—đó là lão lái đò Từ Bá."
Nghe nhắc đến tên Từ Bá, Đào Văn Kính và hai vị kỳ lão hội đò đưa mắt nhìn nhau. Một vị kỳ lão họ Trương khẽ vuốt chòm râu bạc, thở dài một tiếng đầy ngao ngán:
"Có phải cái khớp chân của lão Từ lại trở chứng sưng đau dữ dội không cô Liễu? Sáng nay chúng tôi cũng nghe mấy tay chèo trẻ xì xào bàn tán, bảo lão chèo chống khó nhọc, chân run rẩy suýt ngã xuống nước. Quy chế của hội đò bến Vọng Giang xưa nay nghiêm cẩn vô cùng, tuổi già sức yếu không kham nổi luồng lạch nước xiết thì bắt buộc phải thu hồi thẻ lệnh đò, cho lui về nghỉ ngơi. Chứ nếu để xảy ra tai nạn đắm đò, lật thuyền giữa mùa đông nước lạnh thì cả hội đò lẫn điếm sở đều mang tội tày đình với quan huyện. Nhưng nghĩ tình lão Từ gắn bó cả đời với bến nước, già nua cô độc không nơi nương tựa, nếu thu hồi thẻ đò thì lão biết lấy gì bỏ vào mồm... Chúng tôi cũng đang khó xử, bàn bạc suốt từ sáng tới giờ mà chưa tìm ra cách giải quyết thỏa đáng..."
"Cháu hoàn toàn thấu hiểu nỗi lo chính đáng của các bác và phường bến," Thanh Hà bình tĩnh cất lời, giọng điệu đanh thép, khúc chiết nhưng chan chứa tình nghĩa. "An toàn tính mạng của hành khách qua sông là trên hết, tuyệt đối không thể coi nhẹ hay xem như trò đùa. Khớp gối của Bá Từ hiện đang sưng đau rất nặng do phong hàn ngưng trệ, quả thực không thể để bác ấy một mình độc chèo chống chọi với những con sóng lớn giữa dòng mùa đông. Nhưng nếu chỉ vì một cơn bạo bệnh tuổi già mà điếm sở vội vàng tước mất thẻ lệnh đò, đẩy một lão tráng đã cống hiến trọn vẹn cả đời cho sự bình yên của bến sông vào bước đường cùng không chốn dung thân, thì e rằng sẽ làm nguội lạnh lòng người, khiến những tay chèo khác trông vào mà thêm phần chua xót, bất an."
Đào Văn Kính vuốt chòm râu ngắn, gật gù ra chiều suy ngẫm:
"Liễu nương tử nói rất có tình có lý. Nhưng nếu không thu hồi lệnh đò, ngộ nhỡ giữa dòng nước xiết chân lão khuỵu xuống gây ra tai nạn chìm thuyền thì ai sẽ đứng ra gánh vác trách nhiệm này?"
"Cháu xin mạn phép đề xuất một phương án vẹn cả đôi đường, bảo đảm trọn vẹn cả tình lẫn lý," Thanh Hà nhìn thẳng vào ánh mắt của Đào Văn Kính và các vị kỳ lão, rành rọt phân tích: "Hội lái đò hãy thu xếp cử một tay chèo trẻ khỏe, tháo vát—như anh A Lực chẳng hạn—sang làm 'phó chèo' trên thuyền tam bản của Bá Từ. A Lực sức dài vai rộng, chèo chống khỏe khoắn nhưng kinh nghiệm đọc con nước, nhìn hướng gió đổi chiều và kỹ thuật né tránh các bãi đá ngầm, xoáy nước nguy hiểm ở Vực Cá Lăng thì còn non nớt lắm. Hãy để A Lực cầm mái chèo chính phía sau để đỡ lực thể xác, còn Bá Từ ngồi ở mũi thuyền giữ vai trò 'chánh tiêu', vừa dùng kinh nghiệm cả đời để chỉ dẫn luồng lạch, vừa uốn nắn, rèn giũa thế hệ kế cận. Tiền công thu được từ mỗi chuyến đò sẽ phân chia hợp lý theo tỷ lệ công sức và vai trò của hai người."
Nàng dừng lại một nhịp, quan sát nét mặt đang giãn dần ra của các vị bô lão, rồi tiếp tục đưa ra giải pháp mang tính lâu dài:
"Đồng thời, cháu kiến nghị phường bến và hội đò lập thêm một chức vị mới tại bến sông: 'Giám sát lệnh đò và an toàn bến bãi'. Chức vị này xin giao trọn cho Bá Từ đảm nhiệm. Với uy tín mấy chục năm qua cùng con mắt tinh tường của bác, bác sẽ phụ trách kiểm tra dây neo, cọc đo mực nước, kiểm tra kỹ lưỡng các ván thuyền xem có dấu hiệu nứt vỡ hay rò rỉ nước trước khi xuất bến hay không, và có toàn quyền phất cờ dừng đò khi gặp sương mù quá dày đặc hoặc gió xoáy nguy hiểm vượt mức cho phép. Về phần tiền phụ cấp cho chức vị giám sát bến bãi này, quán trà Thanh Hà của cháu xin tự nguyện trích quỹ năm mươi văn mỗi tuần, kết hợp với phần trích từ quỹ bảo trợ an toàn bến bãi của điếm sở để chi trả đầy đủ, đều đặn cho bác!"
Lời đề xuất khúc chiết, mạch lạc của Thanh Hà vừa dứt, cả gian phòng điếm sở bỗng chốc im phăng phắc. Đào Văn Kính sững sờ nhìn người con gái trẻ tuổi trước mặt, rồi bất thần đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn gỗ lim, cất tiếng cười sảng khoái:
"Hay! Quá hay! Thật là một diệu kế vẹn toàn cả tình lẫn lý!"
Hai vị kỳ lão hội đò cũng nhìn nhau, liên tục gật đầu tấm tắc khen ngợi. Lão Trương vuốt chòm râu bạc, cười khà khà:
"Liễu nương tử quả thật là người có tấm lòng bồ tát mà trí tuệ lại sáng suốt như gương! Lão Từ mắt tinh tai thính, hiểu từng luồng nước, từng hòn đá ngầm dưới đáy sông Vọng Giang này như lòng bàn tay mình. Để lão làm chánh tiêu kèm cặp tay chèo trẻ A Lực, lại kiêm thêm việc giám sát an toàn bến bãi thì không còn gì yên tâm bằng! Hội lái đò chúng tôi hoàn toàn đồng ý! Ngay trưa nay, chúng tôi sẽ lập văn bản phân công A Lực sang thuyền phó chèo và làm thẻ giám sát an toàn bến bãi trao tận tay cho lão Từ!"
Cầm tờ giấy phân công chính thức có đóng dấu triện đỏ tươi của điếm sở bến đò trong tay, lòng Thanh Hà nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đè nặng trong lòng suốt mấy ngày qua. Khi nàng mang tờ giấy cùng tin vui ấy trở lại bến nước trao tận tay cho Từ Bá, lão lái đò già run rẩy đón lấy tờ giấy bản, hai hàng nước mắt già nua cứ thế tuôn rơi lã chã trên đôi gò má sạm đen, nhăn nheo. Lão nghẹn ngào không thốt nên lời, chỉ biết chắp đôi bàn tay thô ráp, chai sần run run vái tạ tấm lòng chu đáo, bao bọc và ân nghĩa sâu nặng của người con gái trẻ tuổi kiên cường.
Chiều muộn buông xuống bến sông Vọng Giang nhanh hơn thường lệ. Gió đông bắc bắt đầu rít lên từng hồi dữ dội qua những rặng phi lao ven bờ, mang theo cái rét mướt luồn lách qua từng ngóc ngách, từng kẽ lá. Mặt nước sông Vọng Giang cuộn lên những con sóng bạc đầu hung dữ, đập ầm ào vào chân kè đá hộc vững chãi mà quán trà đã dựng lên.
Bên trong quán trà Thanh Hà, cánh cửa liếp nứa dày dặn đã được cài then gỗ cẩn thận để chắn gió lùa. Toàn bộ không gian nhỏ bé bừng lên một thứ ánh sáng ấm áp, êm dịu từ ngọn đèn dầu lạc đặt trên chiếc đôn gỗ và ngọn lửa than hoa đượm hồng nơi góc bếp lò.
Một mâm cơm tối giản dị nhưng nóng hổi, bốc khói nghi ngút được dọn ra ngay ngắn giữa sàn gỗ kê cao sạch sẽ. Bát canh rau cải cúc nấu với gừng già đập dập cay ấm, đĩa cá mòi kho tương đậm đà màu cánh gián thơm nức mũi, một âu cơm gạo tám mới dẻo thơm ngạt ngào và chiếc đĩa sành đựng những chiếc bánh nếp nướng gừng đỏ kẹp đường phèn còn ấm nóng.
Năm người quây quần ấm cúng bên mâm cơm: ba chị em Thanh Hà, Thanh Du, Tiểu Mãn cùng hai người thợ mới là chị Thục và thím Mộc. Sự e dè, mặc cảm và tủi hổ ban đầu của hai người phụ nữ lam lũ đã hoàn toàn tan biến, thay vào đó là những nụ cười rạng rỡ, chân thành và ánh mắt lấp lánh niềm tin yêu vào cuộc sống mới.
"Chị Thục, thím Mộc, hai người ăn thêm miếng cá kho này đi, đừng giữ kẽ làm gì," Thanh Hà tươi cười gắp vào bát mỗi người một miếng cá mòi béo ngậy, giọng nàng dịu dàng như gió xuân. "Ăn một bữa thật no, thật ấm bụng rồi tối nay hai người cứ nghỉ lại gian chái bếp ấm áp này cùng Tiểu Mãn, có nệm rơm nếp dày và chăn bông ấm, sáng mai hẵng đón đò sớm về chợ."
Chị Thục bưng bát cơm trắng dẻo thơm trên tay, những giọt nước mắt xúc động lại lăn dài trên má:
"Cả đời tôi... từ ngày lấy chồng rồi góa bụa đến nay, chưa từng được ăn bữa cơm nào thanh thản, ấm áp và được tôn trọng như thế này cô Liễu à. Có được công việc ổn định ở quán, từ nay ba mẹ con tôi không còn phải nơm nớp lo chết đói, chết rét qua mùa đông nghiệt ngã này nữa rồi..."
"Chị cứ yên tâm mà làm việc," Thanh Du vừa xới thêm cơm vào bát cho mọi người vừa vui vẻ góp lời. "Chị cháu tính toán sổ sách đâu ra đấy, thưởng phạt phân minh, ai chịu thương chịu khó đều có phần đãi ngộ xứng đáng cả."
Tiểu Mãn vừa nhai mẩu bánh nếp giòn tan vừa cười tít mắt, khoe chiếc hộp gỗ nhỏ có then đồng mà con bé cất kỹ dưới chân lò than:
"Chị Thục với thím Mộc cứ chăm chỉ làm việc đi nhé! Cuối tháng được nhận tiền công đàng hoàng bỏ vào tráp riêng như em đây này! Chị Thanh Hà là người công bằng và tốt bụng nhất trần đời đấy!"
Tiếng cười nói ríu rít, ấm cúng của năm con người vang lên rộn rã trong gian quán nhỏ, át hẳn tiếng gió bấc đang gầm gào ngoài vách nứa. Đứng nhìn khung cảnh ấy, trong lòng Thanh Hà dâng lên một cảm giác bình yên, vững chãi chưa từng có. Nàng nhìn những người xung quanh—những mảnh đời từng chịu muôn vàn đắng cay, tổn thương và bị cuộc đời xô đẩy—nay đang cùng nhau nương tựa dưới một mái nhà chung, cùng nhau nhóm lên ngọn lửa sinh kế bền vững bằng chính sức lao động lương thiện và tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
Đúng lúc ấy, qua một khe hở nhỏ của tấm mành nứa hướng thẳng ra con đường mòn ven đê quai, ánh mắt sắc sảo của Thanh Hà bỗng bắt gặp một chuyển động bất thường trong màn đêm giá buốt.
Giữa bóng tối mịt mùng và những cơn gió bấc thổi rát mặt, một cỗ xe ngựa trùm kín rèm nhung đen tuyền, bốn góc thành xe treo bốn chiếc đèn lồng giấy dầu tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, mờ ảo đang lặng lẽ tiến lại gần. Tiếng vó ngựa gõ lộc cộc dè dặt và tiếng bánh xe nghiến trên sỏi đá khô khốc vang lên rợn người, rồi dừng hẳn lại ở một khúc quanh vắng vẻ, cách quán trà chỉ chừng vài chục bước chân.
Thanh Hà khẽ buông đôi đũa tre trên tay xuống mép bát, lòng dấy lên một nỗi nghi hoặc khôn tả. Giờ này bến sông đã gióng chuông cấm đò đêm, thuyền bè đều đã neo đậu kín mít, vắng tanh không một bóng người qua lại. Một cỗ xe ngựa sang trọng, kín cổng cao tường từ phía huyện thành xa xôi lại lén lút đỗ lại nơi bến sông hoang vắng, lạnh lẽo này vào đêm hôm khuya khoắt để làm gì?
Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của chiếc đèn lồng treo nơi đầu xe ngựa, tấm rèm nhung đen dày nặng nề từ từ được một bàn tay trắng trẻo, thon thả vén nhẹ sang một bên.
Dưới ánh đèn le lói, khuôn mặt hốc hác, nhợt nhạt và đôi mắt đầy vẻ do dự, giằng xé của người ngồi bên trong dần dần lộ rõ—đó chính là Phạm Minh Châu, người em gái của người chồng quá cố của nàng.