Đò Qua Vô Danh — Phần 1: Bến Không Có Người ĐợiCh.4 / 38
Chapter 4

Ba Dấu Trên Dây Cũ

Mùi ẩm mốc của giấy bản cũ lưu niên quyện chặt với mùi dầu cá khét lẹt đặc quánh bao trùm lấy gian kho hẹp của Bến Lau Tàn ngay khi ngọn đèn kiểm kê được đánh lửa.

Đó là một thứ mùi không thể lẫn vào đâu được của những trạm trung chuyển nằm sát mép Dạ Thủy—thứ mùi sinh ra từ sự mục ruỗng chậm rãi của rơm rạ mục, chất tanh nồng của bùn non ngâm hàn khí, và thứ muội than dai dẳng bám trên những thanh xà gồ bằng gỗ nghiến xỉn màu. Ánh lửa vàng đục từ bấc bện bằng cỏ bấc nỏ chập chờn bung nở, nhảy múa trên những chồng sổ bến đóng bằng chỉ gai phủ bụi xám, những vồ gỗ chèn thuyền sứt sẹo vì va đập vào ghềnh đá, và những cuộn dây thừng bện bằng vỏ dừa cứng đờ như sắt nguội sau bao năm ngâm trong nước phù sa lưu cữu. Gió luồn qua những khe ván ghép hở hoác bên hông vách đá, mang theo hơi buốt buốt lạnh thấu xương của bãi lau đang rạp mình trong sương đêm dày đặc, kéo theo cả tiếng thở dài thăm thẳm, âm u của lòng sông Dạ Thủy đang từng tấc rút cạn đáy bùn khi con nước âm lui dần về phía hạ nguồn.

Trưởng bến Vũ Kính đứng sừng sững bên mép bàn gỗ kê giữa gian kho. Chiếc áo tơi bằng vỏ bổi khoác hờ trên đôi vai gầy guộc của ông đã sờn rách tả tơi ở phần gấu, để lộ một vóc dáng khẳng khiu như một thân cây lim khô bị sét đánh cháy sém qua nhiều mùa mưa bão. Râu cằm ông lởm chởm những sợi bạc sợi đen cứng quắc như rễ tre, bao quanh khuôn mặt chằng chịt những rãnh nhăn sâu hoắm—dấu vết không thể tẩy xóa của một tu sĩ Kết Danh đã suy vi, kẻ đã dùng gần trọn một đời người để đối mặt với những biến dịch khôn lường của ranh giới âm dương. Đôi mắt đục ngầu, vàng như mắt cá chết của ông nhìn trừng trừng vào khoảng không gian chật hẹp trước mặt, nơi Trình Dạ đang cẩn trọng, chậm rãi đặt từng món đồ nghề của chuyến đò vừa khép xuống mặt phản gỗ gụ nhẵn bóng.

Ngay bên cạnh chiếc bàn, Lâm Chiêu đứng thẳng tắp như một thân trúc mảnh mai giữa gió lạnh. Vạt áo lam tuyền của Huyền Đăng Môn buông rủ phẳng phiu, kỳ lạ thay không hề vướng dính lấy một hạt bụi đất hay một giọt bùn non nào dù nàng vừa sải bước qua suốt dọc triền đê ẩm ướt lầy lội. Chiếc trượng đồng Chiếu Hồn trên tay nàng dựng đứng sát mũi hài thêu chỉ bạc, phần đầu trượng chạm nhẹ xuống nền đất nện ẩm ướt phát ra những tiếng rung ngân u u cực kỳ nhỏ bé, tựa như một chiếc chuông ngầm giấu dưới lòng đất đang không ngừng đo đạc, tính toán từng gợn sóng biến động li ti của âm khí chung quanh gian phòng.

"Theo lệ giữ bến từ đời các bậc tiền bối lập đàn cắm mốc để lại," Vũ Kính cất tiếng, thanh âm khàn đục và thô ráp như hai mảnh đá sỏi cọ xát vào nhau giữa lòng suối cạn, "một chuyến qua sông chưa bao giờ và không bao giờ được phép chỉ dựa vào một lời tự bạch hay một tờ giấy mỏng manh. Lời người nói ra có thể đổi trắng thay đen, mực son viết xuống có thể phai nhòa theo con nước, giấy bản dẫu có ấn triện cũng vẫn có kẻ rắp tâm làm giả mạo. Nhưng Dạ Thủy thì khác. Dòng nước âm không nuốt trọn được sự thật nếu người cầm sào còn giữ đủ ba dấu vật lý độc lập. Quy tắc ba trăm năm của Hội Giữ Bến chưa từng vì bất kỳ ai mà thay đổi. Dạ, bày ra."

Trình Dạ khẽ gật đầu. Anh hít sâu một hơi buốt lạnh vào lồng ngực, cố gắng nén lại cảm giác nhói buốt âm ỉ nơi lòng bàn tay trái. Vết rạch lấy máu hồi rạng sáng—nhát dao tự anh cứa vào da thịt để lập huyết khế nhận nợ bảo chứng cho kẻ không tên—vẫn còn rịn ra chất nước vàng ngai ngái qua lớp băng vải thô quấn vội. Mỗi cử động co duỗi của ngón tay đều kéo theo một cơn đau giật thắt lên tận bả vai, nhưng nét mặt anh vẫn phẳng lặng như mặt nước giếng khơi không gợn sóng.

Trước mắt ba người, ba chứng tích vật chất của chuyến đò hồi canh ba đêm qua lần lượt được đặt ngay ngắn theo hình một thế trận tam giác cân trên mặt gỗ gụ xỉn màu.

Thứ nhất là cuốn sổ bến bọc da cá đuối nhám thô của Bến Lau Tàn. Trang giấy bản dầy dặn mở toang ở dòng cuối cùng của phiên đò vừa khép lại lúc tảng sáng. Mực nho ngâm mật trắm đen hãy còn chưa khô kiệt hoàn toàn, vẫn tỏa ra mùi ngai ngái đặc trưng của loài cá ăn rêu đáy vực. Nét bút lông nghiêng gấp gáp nhưng chuẩn xác ghi nhận việc đưa hai vong hồn Chu Thuận và Mai Nương sang Bờ Tịch Danh theo đúng nghi thức phân định của quan phòng. Thế nhưng, ngay bên dưới dòng kẻ chỉ son đỏ chót đánh dấu sự kết thúc của lượt chở, có một dòng ghi chú tạm được Dạ vạch vội bằng đầu quản bút đóm nhọn hoắt, cào sâu từng vết thô ráp lên thớ giấy lau: *Khách một thân, còn thở, vé bảo danh cũ mang dấu lau gãy, chưa tên, nợ chưa tất.* Dòng chữ cào vội ấy hoàn toàn trống trơn phần xác nhận bên dưới, không hề có dấu triện vuông màu chu sa quen thuộc của Hội Giữ Bến. Bởi lẽ lúc con đò gỗ đưa người trở về cập bến, tiếng gà trống bên triền đê đã cất lên eo sóc xé toạc màn đêm, luồng nước âm lập tức khép lại thành một dải bùn chết quánh đặc, Dạ chẳng còn kịp gõ chiếc chuông đồng trên chòi canh để xin mở hòm đóng triện theo lệ thường.

Thứ hai là cây đèn dẫn bằng đồng hun đúc hình đầu nghê ngậm ngọc, thứ khí cụ duy nhất được phép thắp sáng và ngự trị nơi mũi đò khi con thuyền rẽ sóng tiến vào cõi nước âm u. Đèn dùng một thứ dầu đặc biệt: mỡ cá trắm đen nấu kỹ ngâm với rễ ngải cứu mọc trên đất gò mả, phơi khô qua đúng bảy lượt nắng rát của tháng sáu—loại dầu nặng mùi đến mức chỉ cần mở nút nút bấc ra là cả gian phòng đã nồng nặc mùi hăng khét, nhưng khi cháy lên giữa sông đêm, nó sẽ tỏa ra một làn khói xám xanh đặc quánh, đủ sức xua đuổi những tàn niệm đói khát và những bóng ma rêu bám riết vào mạn thuyền. Lúc này, sợi bấc bện bằng xơ mướp đã cháy lụi tàn thành một mẩu than xám ngoét nằm bẹp dưới đáy cốc, nhưng trên thành đồng sứt mẻ của chiếc cốc đựng dầu, một ngấn cặn cháy đen sẫm, quánh lại như lớp nhựa đường đọng thành một đường gờ nổi cộm rõ rệt quanh miệng cốc.

Thứ ba là sợi dây đò hiện hành mà Trình Dạ luôn đeo ngang hông mỗi lần bước chân xuống thuyền cầm sào. Sợi dây bện bằng xơ gai nước ba tao, dài chừng một trượng rưỡi, thô ráp và ngả sang màu xám mốc vì đã ngấm qua biết bao mùa sương muối. Đoạn đuôi dây, nơi người giữ bến dùng những ngón tay chai sạn của mình để thắt nút đếm hành trình—thao tác cơ học bắt buộc nhằm ghi nhớ số lượng sinh linh thực tế được đưa qua sông mà không phụ thuộc vào trí nhớ hay thị giác—vẫn còn nguyên hai nút thắt vuông vức, chặt chẽ, biểu thị cho hai vong linh đã hoàn tất việc dứt bỏ cõi trần để sang bờ bên kia. Thế nhưng, chỉ cách nút thắt thứ hai chừng nửa tấc ngắn ngủi, có một nút thắt thứ ba dị thường. Đó là một nút thắt đôi quấn ngược ba vòng, siết vội vã bằng một bàn tay run rẩy trong lúc mạn thuyền đang chao đảo dữ dội giữa những xoáy nước ngầm cuộn xiết. Lực siết mạnh đến nỗi làm tao dây gai bị bóp bẹp dí, tước ra những sợi tơ trắng li ti bung xòe như mạng nhện quanh mối buộc.

Lâm Chiêu bước tới nửa bước. Chiếc hài thêu của nàng dừng lại ngay sát mép bàn gỗ. Nàng hơi cúi mình, ngọn đèn bão cầm nơi tay trái khẽ hạ thấp xuống, khiến luồng ánh sáng màu tím ma mị phát ra từ viên đá soi hồn gắn trong lồng đèn bao phủ trọn vẹn lấy ba món đồ vật. Đôi mày lá liễu của nàng khẽ nhíu lại, ánh mắt sắc bén lướt qua từng chi tiết nhỏ với sự tỉ mỉ, lạnh lùng của một người đã trải qua hàng trăm đợt sát hạch và tra cứu sai lệch danh tịch chốn quan môn.

"Khối lượng dầu cá tiêu hao trên cây đèn nghê này hoàn toàn không khớp với định mức hành trình đưa hai vong hồn thông thường," Lâm Chiêu cất giọng bình thản, ngón tay trỏ thon thả búp măng của nàng chỉ thẳng vào thành trong của chiếc cốc đồng. "Từ Bến Lau Tàn xuôi dòng sang Bờ Tịch Danh rồi quay trở lại mố đá này, theo tính toán của Ty Kiểm Tra, chỉ tiêu tốn đúng hai khắc rưỡi dầu ngải cứu. Ngấn dầu cháy dở đọng muội đen này cho thấy bấc đèn đã phải duy trì ngọn lửa thêm gần nửa khắc nữa—nhưng không phải cháy trong gió lặng. Nhìn vệt muội bám dạt nghiêng về mạn hữu và lớp váng cặn bị ép bẹp xuống sát mặt dầu mà xem: đó là hiện tượng ngọn lửa bị hàn khí cực mạnh của Dạ Thủy đè nén khi trên thuyền xuất hiện một luồng sinh tức còn ấm nóng. Một người còn sống bước lên đò âm sẽ tạo ra xung đột kịch liệt giữa dương khí nội thân và tử khí của dòng nước chết. Cây đèn nghê bằng đồng này mang linh tính hộ thuyền, nó buộc phải tự động tăng nhiệt lượng, bộc phát sinh hỏa để giữ cho con thuyền không bị lớp nước đen đặc nhấn chìm xuống đáy bùn."

Nàng ngước mắt lên, ánh nhìn băng lãnh quét qua gương mặt trầm ngâm của Vũ Kính, rồi dừng lại trừng trừng trên đôi mắt của Trình Dạ:

"Còn sợi dây gai ba tao này nữa. Nhìn kỹ những sợi tơ bị tước ra ở mối buộc: nút thắt thứ ba này được siết lại đúng vào lúc sợi dây đang ướt sũng nước âm dưới đáy sông. Khi ngâm trong nước Dạ Thủy, xơ gai nước nở to gấp rưỡi bình thường, mềm nhũn ra; nếu người ta kéo giật nó đột ngột với một lực cực lớn, các thớ sợi sẽ bị nén nghẽn lại, tạo thành những vết rạn hình mắt cá. Đây là nút đếm sinh mạng ngoài luồng, được lập tức thắt lại khi người kéo sào nhận thêm một mạng sống lên khoang thuyền. Nó tuyệt đối không phải là một nút thắt dùng để buộc sào neo thuyền hay chằng giữ hành lý."

Vũ Kính cúi gập người xuống thấp hơn. Đôi bàn tay thô kệch, chai sạn như vỏ cây xà cừ già nua của người trưởng bến run rẩy vươn ra. Ngón tay trỏ đầy những vết sẹo do dây tời cọ xát gõ nhẹ lên mặt tờ giấy da cá đuối, ngay tại vị trí có dòng cào tạm bằng đầu bút đóm của Dạ. Rồi ngón tay ấy lần sang nút thắt ngược kỳ dị trên sợi dây gai, cuối cùng cào nhẹ một mẩu muội than đen kịt bám trên vành miệng cây đèn nghê, đưa lên sát mũi ngửi một cách kỹ lưỡng.

"Ba dấu độc lập," Vũ Kính thở hắt ra một hơi nặng nhọc, mùi khói thuốc lào ngai ngái quyện với mùi ẩm mốc phả ra từ kẽ răng vàng ố. "Lời nói trên miệng có thể thêu dệt, chữ viết trên giấy có thể thêm thắt sau khi chân đã bước lên bờ đất khô ráo. Nhưng vệt muội than của dầu cá trắm đen ngâm ngải cứu cháy trong sương âm thì không một ai có thể đốt bù trong kho kín này được. Nếu thiếu đi hơi gió lốc từ những luồng nước xoáy dưới lòng Dạ Thủy, cặn dầu cháy thừa sẽ chỉ có màu vàng đất và mùi ngậy béo, chứ tuyệt đối không bao giờ kết tinh thành lớp muội đen chì bóng bẩy và mang vị chát đắng thế này. Còn nút thắt trên dây gai ngâm nước âm... khi đem lên phơi dưới không khí cõi sống, nó sẽ khô quắt lại và cứng như một hòn đá cuội. Kẻ nào nếu có dở trò gian trá, cố tình dùng tay thắt nút sau khi tiếng gà gáy rạng đông đã cất lên, thì tao dây gai khô khốc sẽ lập tức bị gãy giòn và tưa nát vụn ra từng mảnh ngay dưới móng tay."

Ông từ từ đứng thẳng dậy, khớp xương sống kêu lên những tiếng "rắc rắc" giòn tan dưới lớp áo tơi bằng vỏ bổi. Đôi mắt đục ngầu của người thợ chèo đò già nhìn xoáy sâu vào Trình Dạ, ánh mắt pha trộn giữa sự kinh ngạc, vẻ nghiêm khắc của luật lệ và một nỗi âu lo mơ hồ không thể giấu giếm:

"Ba dấu hoàn toàn trùng khớp. Đêm qua, thực sự đã có thêm một người—một người bằng xương bằng thịt, còn thở, mang theo hơi ấm của sinh mạng thực thụ—đã bước chân lên con đò gỗ của nhà họ Trình. Dẫu cho cuốn sổ bến này chưa kịp gõ chuông xin đóng triện son của Hội Giữ Bến, chuyến vượt sông cứu người của ngươi là việc có thật. Ngươi không bị tà niệm dưới đáy sông làm cho mê muội đầu óc, cũng không phải tự mình dựng chuyện xằng bậy để trốn tránh tội tự ý phá khóa mở tuyến đường cấm."

Trình Dạ khẽ thở phào một tiếng, cảm giác đè nặng nơi lồng ngực suốt từ canh ba dường như vơi bớt đi đôi chút. Thế nhưng, cơ mặt anh vẫn không hề giãn ra. Một thợ chèo đò sinh ra và lớn lên bên triền Dạ Thủy như anh hiểu quá rõ cái giá của sự thật nơi bến sông này. Chứng minh được chuyến đò có thật không có nghĩa là tai ương đã được gạt bỏ. Ngược lại, việc Hội Giữ Bến và Huyền Đăng Môn cùng nhau chính thức xác nhận sự tồn tại của một người sống không danh tính, không đổ bóng dưới trăng, bước qua dòng sông chết bằng một tấm vé xơ lau quá hạn mang dấu tích của một người đã biến mất tăm tích suốt mười hai năm trước... chỉ như châm thêm một mồi lửa vào đống rơm khô đã tích tụ sẵn tà khí. Bến Lau Tàn này, từ khoảnh khắc này trở đi, đã chính thức bị lôi tuột vào một vòng xoáy đầy rẫy hiểm họa ngập đầu.

"Biên bản kiểm kê nghiệp vụ bắt buộc phải ghi chép lại toàn bộ những điều này một cách chuẩn xác, không được sai sót dù chỉ nửa chữ," Lâm Chiêu cất giọng, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch nặng nề. Nàng đưa tay rút từ trong ống tay áo rộng ra một tờ giấy điệp bằng lụa vàng óng ả và một thỏi mực tím có khắc chìm hình hoa đăng bảy cánh của bản môn. "Ta sẽ ký tên và hạ ấn phù giám sát của Huyền Đăng Môn với tư cách người chứng kiến việc đối chiếu. Vũ trưởng bến sẽ dùng con dấu tạm thời của Hội Giữ Bến để niêm phong cả ba vật chứng vật lý này vào rương gỗ lim. Trong suốt thời gian chờ đợi phán quyết cuối cùng từ Ty Danh Tịch Lạc Châu, Bến Lau Tàn tuyệt đối không được phép tiêu hủy, di dời, hay để bất kỳ kẻ nào chạm tay vào bất kỳ thứ gì trong số ba dấu vết này."

Vũ Kính khẽ gật đầu đồng ý. Ông kéo lê chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp đóng tạm lại gần mép bàn, ngồi thụp xuống: "Được. Cô nương cứ chiếu theo đúng các điều lệ nghiêm ngặt của Ty Danh Tịch mà khởi thảo văn bản. Lão sẽ ký nhận và điểm chỉ."

Lâm Chiêu trải phẳng phiu tờ lụa vàng lên mặt gỗ gụ, tay cầm nghiên mực bắt đầu mài nhẹ nhàng, từng giọt nước suối nguồn nhỏ xuống hòa cùng bột mực tím tỏa ra một mùi hương thanh khiết như hoa sen đầu mùa, lấn át bớt cái mùi tanh tưởi của dầu cá trong kho. Vũ Kính móc từ trong túi áo bọc vải điều ra con dấu đồng đúc hình đôi mái chèo bắt chéo—biểu tượng quyền uy tối thượng của Hội Giữ Bến suốt mấy trăm năm qua—cẩn trọng đặt nó nằm ngay ngắn cạnh nghiên mực.

Cả hai người bọn họ lập tức dồn toàn bộ tâm trí vào từng nét chữ, từng dòng đối chiếu pháp lý tỉ mỉ để đảm bảo rằng bản biên bản này sẽ trở thành một văn bản sắt đá, không bên nào có thể bẻ cong hay bắt bẻ bên nào chiếu theo bản quy ước tự quản ba trăm năm giữa các môn phái tu chân và phường chèo đò bản địa.

Trình Dạ khẽ lùi lại nửa bước.

Tiếng ngòi bút lông cọ sột soạt, đều đặn trên mặt lụa vàng và tiếng lách cách khe khẽ của những vòng khoen đồng trên đỉnh cây trượng Chiếu Hồn mỗi khi Lâm Chiêu chuyển mình hòa vào nhau tạo thành một thứ nhịp điệu đơn điệu, đủ để che lấp đi tiếng thở dài kín đáo và những bước chân thăm dò của anh.

Ánh mắt Dạ lướt qua khoảng tối nhờ nhờ phía sau lưng Vũ Kính.

Ở góc khuất tăm tối nhất của gian kho hẹp, chiếc tủ gỗ dâu rừng cổ thụ—kỷ vật duy nhất còn sót lại từ thời cha anh còn làm trưởng bến—vẫn đang mở toang hoác hai cánh cửa bằng gỗ dày. Dấu tích của vụ đột nhập bí ẩn xảy ra vào lúc hoàng hôn chập choạng tối vẫn còn nguyên vẹn, trơ trẽn phơi bày ra đó. Kẻ gian rõ ràng đã xới tung toàn bộ những ngăn kéo chứa đầy những mớ dây neo cũ mục, lục lọi tận đáy các hộc tủ bí mật, hất tung những cuộn dây đò đã mốc thếch của cha anh vương vãi khắp mặt nền đất nện ẩm ướt.

Kẻ đó đã cất công đột nhập vào đây để tìm kiếm điều gì? Một tấm vé đò quá hạn chưa kịp tiêu hủy? Một danh sách hành khách bí mật bị giấu kín khỏi sổ bộ của quan phủ? Hay chính là những cuộn dây đếm nút mang dấu vết của những chuyến đi không tên chở những kẻ đào tẩu vào mười hai năm về trước?

Trái tim Dạ bỗng nhiên thắt lại nghẹn ứ khi một ký ức sâu kín bất chợt ùa về trong tâm trí—một bí mật mà cha anh, Trình Hoài, chỉ từng hé lộ cho một mình anh biết vào một đêm giông bão trước ngày ông biến mất.

Lợi dụng khoảnh khắc Vũ Kính đang cau mày nghiền ngẫm từng câu từ phức tạp trong bản văn và Lâm Chiêu đang chăm chú vạch từng dòng son đỏ chuẩn xác, Trình Dạ bước lùi dần, chìm sâu hơn vào bóng tối dày đặc nơi góc nhà kho. Đôi bàn chân trần quen lội bùn của người thợ chèo đò di chuyển trên nền đất nện êm ru như một cái bóng lướt đi, không phát ra dẫu chỉ là một tiếng lạo xạo nhỏ nhoi của cát sỏi.

Anh đi vòng qua chiếc giá gỗ chất đầy những vồ chèn thuyền nặng trịch, nép mình sát vào vách đá tự nhiên nằm ngay phía sau lưng chiếc tủ gỗ dâu rừng. Vách đá ở đoạn này quanh năm rỉ ra những giọt nước ngầm lạnh buốt từ lòng núi, phủ một lớp rêu xanh nhờn nháp trơn tuột. Thế nhưng, ngay tại điểm tiếp giáp kín đáo giữa vách đá tự nhiên và mép khung gỗ lim của gian kho, có một khe nứt hẹp dài chừng gang tay, vừa vặn cho một bàn tay người lớn luồn sâu vào bên trong. Khe nứt ấy từ lâu đã được che đậy một cách khéo léo bởi một tấm ván gỗ mục cắm hờ hai chiếc đinh sắt đã rỉ sét đỏ quạch.

Dạ nín thở, lồng ngực như ngừng đập. Ngón tay anh khẽ lách qua khe hở của tấm ván mục, mò mẫm đưa sâu vào khoảng rỗng lạnh lẽo, ẩm ướt bên trong lòng hốc đá.

Đầu ngón tay trỏ của anh chạm vào một bề mặt thô ráp, nham nhở, quánh đặc một lớp dầu mỡ khô cứng như sáp ong.

Nó vẫn còn nằm nguyên ở đó. Kẻ đột nhập lúc hoàng hôn dẫu có xới tung cả gian kho này cũng không thể nào ngờ được nơi cất giấu quái đản này.

Đó là một đoạn dây đò cũ kỹ—sợi dây bện bằng xơ gai nước cổ xưa của chính Trình Hoài. Đoạn dây mà mười hai năm về trước, vào cái buổi sáng định mệnh sau cái đêm cha anh chèo thuyền ra giữa dòng nước âm rồi vĩnh viễn không trở lại, Dạ đã run rẩy nhặt được khi nó nằm cuộn tròn dưới đáy con thuyền gỗ trống không trôi dạt vào bãi lau ven bờ. Khi ấy, trước ánh mắt soi mói đầy nghi kỵ của những kẻ cầm đầu Hội Giữ Bến và những cuộc lục soát gắt gao đến lạnh người của đám sai nha, tu sĩ lạ mặt từ Lạc Châu đổ về, cậu thiếu niên Trình Dạ vì quá đỗi kinh hãi đã lén giấu đoạn dây này vào khe nứt sau vách đá, chưa từng hé răng giao nộp hay kể lại cho bất kỳ một ai, kể cả mẹ mình.

Dạ cẩn thận, chậm rãi rút đoạn dây ra khỏi hốc tối.

Sợi dây chỉ dài chừng nửa trượng, toàn thân ngả sang một màu đen nhánh bóng loáng vì đã được ngâm tẩm qua dầu cá trắm đen suốt bao nhiêu năm ròng rã, cứng quắc và cong queo như một đoạn rễ cây khô bị chôn vùi dưới đáy bùn.

Dưới ánh sáng vàng đục lờ mờ hắt ra từ ngọn đèn kiểm kê trên chiếc bàn xa xa, Dạ kéo vạt áo tơi lên để che bớt ánh lửa phản chiếu, rồi dùng đầu ngón tay cái nhẹ nhàng lần giở theo từng tấc của thân dây.

Kỳ lạ thay, trên đoạn dây đò kỷ vật của cha, tuyệt nhiên không hề có những nút thắt đơn hình vuông thông thường vốn được dùng để đếm số lượng vong hồn sang sông theo lệ giữ bến. Thay vào đó, toàn bộ đoạn dây đều mang những nút thắt đôi—những nút thắt ngược quấn tréo ba vòng vô cùng hiểm hóc, được bố trí cách nhau bằng những khoảng cách kỳ dị, khi thì dài cả gang tay, khi thì ngắn ngủn chỉ bằng bề ngang hai ngón tay khép lại, hoàn toàn không tuân theo bất kỳ một quy luật đếm chuyến hay đo lường hải trình thông thường nào của phường thợ đò.

Dạ liếc mắt sang chiếc giá gỗ mục bên cạnh, nơi cuốn sổ bến cổ thời Trình Hoài còn đương chức trưởng bến đang nằm phủ một lớp bụi thời gian dày cộm.

Trong cuốn sổ bến bọc da cá đuối cũ kỹ ấy, mười hai năm trước, từng có một tệp hồ sơ gồm rất nhiều trang liên tiếp đã bị ai đó dùng một lưỡi dao cực sắc rạch đứt chỉ khâu, rút trọn vẹn ra ngoài không để lại dấu vết. Khi cha anh mất tích, Hội Giữ Bến sau khi thanh tra qua loa đã chỉ ghi chú vào biên bản một dòng lạnh lùng: "tai nạn mối mọt và mục nát do ẩm ướt sông nước". Những lỗ kim khâu bằng gân thú dọc theo phần gáy cuốn sổ cũ vẫn còn trơ khấc ra những khoảng trống đứt đoạn đầy khả nghi: cách ba trang giấy bình thường lại mất đi một trang, rồi liền mạch năm trang, rồi lại mất tiếp hai trang liên tiếp...

Bàn tay Trình Dạ bỗng nhiên run rẩy dữ dội. Một luồng ớn lạnh chạy dọc sống lưng anh.

Anh cẩn thận nâng đoạn dây cũ của cha lên, ướm thẳng hàng từng nút thắt sát vào phần gáy của cuốn sổ bến cổ trên giá gỗ.

Một sự thật kinh hoàng hiện ra trước mắt anh:

Từng nút thắt ngược trên đoạn dây gai của Trình Hoài... trùng khớp một cách hoàn hảo, chuẩn xác đến từng phân ly với vị trí của những lỗ chỉ khâu bị xé rách trên gáy sổ!

Khoảng cách từ đầu mút dây đến nút thắt ngược thứ nhất: vừa vặn bằng đúng bề dày của mười hai trang sổ ghi chép những chuyến đò thông thường. Nút thắt ngược thứ hai nằm cách nút thứ nhất một khoảng tương ứng chính xác với độ dày của ba trang giấy đã bị mất sạch chỉ khâu. Rồi đến một đoạn dây phẳng phiu trơn tru tương đương với độ dày của năm trang giấy còn nguyên vẹn ghi chép việc đưa người chết sang sông, tiếp theo đó là hai nút thắt ngược kép nằm sát sạt vào nhau—chính là vị trí của hai trang sổ đã biến mất hoàn toàn không để lại một chữ nào trong cái đêm định mệnh mà cha anh đẩy thuyền rời bến lần cuối cùng!

Cha anh không hề vô tình làm mất những trang sổ đó.

Ông không phải là nạn nhân của sự bất cẩn hay mối mọt sông nước!

Trình Hoài đã biết trước. Ông đã biết trước rằng cuốn sổ bến bằng giấy mực này sớm muộn gì cũng sẽ bị xé chỉ, chữ viết của ông sẽ bị cạo sạch, và tên tuổi của những kẻ ngồi trên thuyền sẽ bị quyền lực của ai đó xóa sổ vĩnh viễn khỏi hồ sơ lưu trữ của Hội Giữ Bến và Ty Danh Tịch! Chính vì thế, người thợ chèo đò già ấy đã dùng chính sợi dây đò ngang lưng mình—thứ vật chứng vật lý thô sơ nhưng trường tồn, thứ mà không một pháp thuật xóa danh hay quyền uy hành chính nào có thể can thiệp sửa chữa từ xa—để thắt lại từng vị trí bị tước đoạt!

Mỗi một nút thắt ngược trên sợi dây này không phải để đếm số người chết sang sông... mà là ký hiệu tuyệt mật của những người cầm sào kỳ cựu dành riêng cho những chuyến đò chở những kẻ bị tước danh!

Những kẻ bị tước đoạt tên họ trên trần thế, bị xóa sạch sự tồn tại trên từng trang giấy lụa... vẫn bị buộc chặt lại trên cõi đời này bằng những nút thắt xơ gai không bao giờ có thể tháo gỡ!

Một luồng khí lạnh buốt buốt từ vách đá ngầm dường như xuyên thấu qua da thịt, khiến toàn bộ chân lông trên người Trình Dạ dựng đứng lên. Cha anh đã âm thầm làm cái công việc nguy hiểm chết người này suốt bao nhiêu năm ròng rã trước khi biến mất? Ông đã liều mạng đưa bao nhiêu con người còn sống nhưng không tên tuổi vượt qua dòng Dạ Thủy? Và quan trọng nhất... người thanh niên đang nằm mê man sốt rẫy ngoài gian nhà chờ kia, kẻ mang trên mình tấm vé xơ lau có in dấu thủ ấn rỉ máu của Trình Hoài, rốt cuộc nằm ở nút thắt nào trên đoạn dây oan nghiệt này?

"Trình Dạ!"

Tiếng gọi sắc lạnh, sắc bén như một lưỡi dao cắt ngang không gian tĩnh mịch của gian kho, kéo giật Trình Dạ ra khỏi cơn chấn động tâm can tột cùng.

Đó là tiếng của Lâm Chiêu.

Dạ phản xạ cực nhanh. Anh lập tức nhét vội đoạn dây gai cũ kỹ của cha trở lại khe nứt sâu hoắm sau vách đá, kéo tấm ván mục che chắn cẩn thận như cũ, rồi hít sâu một hơi dài để trấn tĩnh lồng ngực đang đập loạn, điềm nhiên bước ra khỏi góc tối với vẻ mặt bình thản như một người vừa bước vào góc kho để tìm kiếm một chiếc giẻ lau chùi đồ nghề.

"Có chuyện gì vậy, Lâm cô nương?" Dạ cất giọng trầm thấp, cố ghìm các thớ cơ trên gương mặt không để lộ bất kỳ sự co giật hay biến sắc nào.

Lâm Chiêu không nhìn anh. Nàng đã đứng bật dậy khỏi bàn từ lúc nào, toàn bộ sự chú ý của nàng đang hướng trọn về phía cánh cửa gỗ thông giữa gian kho chứa đồ và căn phòng khách của nhà chờ phía trước. Đôi mày thanh tú của nàng nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp, đầu trượng Chiếu Hồn nắm trong tay nàng khẽ run lên bần bật, những chiếc vòng khoen nhỏ bằng đồng thau ở đỉnh trượng va đập vào nhau liên hồi phát ra những chuỗi âm thanh leng keng dồn dập, sắc nhọn như tiếng báo động.

"Khí tức ngoài kia đang biến động dữ dội," Lâm Chiêu hạ thấp giọng xuống, đôi mắt nàng lóe lên những tia sáng cảnh giác tột độ. "Sinh tức của kẻ vô danh kia đang dao động hỗn loạn. Không phải là chuyển biến xấu đi của một kẻ sắp chết... mà là một phản ứng bài xích kinh hồn! Thân thể hắn đang tự chống lại một thứ gì đó!"

Lời nàng còn chưa kịp dứt điểm, từ phía gian phòng khách ngoài kia đã vang lên một tiếng "choảng" chát chúa, chấn động cả gian nhà gỗ.

Đó là tiếng của một chiếc bát sành đựng nước cháo hoa bị một lực cực mạnh hất văng xuống nền đá nện, vỡ tan tành ra thành trăm mảnh vụn. Kèm theo tiếng sành sứ vỡ vụn là tiếng kêu thất thanh, kinh hãi tột cùng của bà Lê An:

"Dạ ơi! Mau ra đây xem... trời đất ơi... gã này... gã này phát điên rồi!"

Không một ai bảo ai, cả ba người trong gian kho lập tức bỏ dở bản biên bản còn ướt mực son trên bàn, đồng loạt lao nhanh ra gian phòng khách phía trước.

Ánh sáng vàng nhờ nhờ, lay lắt của ngọn đèn dầu lạc đặt nơi góc cột hắt lên chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách nhà. Người thanh niên vô danh—kẻ mà Dạ đã liều mạng vớt lên từ đáy bùn Dạ Thủy hồi canh ba đêm qua—lúc này đang ngồi bật dậy sừng sững giữa đống chăn chiếu xơ xác.

Toàn thân gã ướt đẫm mồ hôi, lớp mồ hôi lạnh toát túa ra như tắm làm bết dính những lọn tóc bù xù, dơ bẩn vào vầng trán nhăn nhúm. Đôi mắt trũng sâu hoắm của gã trợn trừng trừng, hai tròng mắt đỏ ngầu những tia máu chằng chịt, dại đi trong một cơn sốt mê man kinh hoàng tột độ. Hơi thở từ lồng ngực gầy giơ xương sườn của gã rít lên từng hồi khò khè, nặng nhọc và khô khốc tựa như chiếc bễ rèn rách bạt đang cố hút những ngụm khí cuối cùng.

Bà Lê An đứng nép chặt người vào góc cột nhà bằng gỗ lim, hai bàn tay gầy guộc ôm chặt lấy lồng ngực đang phập phồng vì sợ hãi, khuôn mặt già nua tái mét không còn một giọt máu. Dưới sàn đất nện ẩm ướt, những mảnh sành vỡ vương vãi tung tóe cùng thứ nước cháo trắng loãng nguội ngắt đang chảy lênh láng.

Thế nhưng, điều khiến tất cả mọi người có mặt trong căn phòng—từ một Trình Dạ trầm tĩnh, một Vũ Kính lão luyện cho đến một Lâm Chiêu cao ngạo của Huyền Đăng Môn—phải sững sờ chết lặng không phải là sự cuồng loạn điên dại của một kẻ vừa thoát khỏi cửa tử.

Mà là đôi bàn tay của gã.

Trên chiếc bàn gỗ con kê sát ngay đầu chõng tre, Lâm Chiêu trước đó khi bước vào nhà đã tùy tiện đặt lại một cuộn dây bện bằng sợi tơ tằm ngâm chu sa tím—loại dây pháp bảo chuyên dụng của Huyền Đăng Môn dùng để niêm phong các hòm chứa chứng tích tà đạo khả nghi, được bảo hiểm bằng một nút thắt niêm phong đặc thù mang tên "Khóa Cửu Khúc" của Ty Danh Tịch.

Nút thắt này là một trong những tuyệt kỹ phong ấn bí truyền, cấu tạo vô cùng phức tạp với chín vòng lồng tréo lượn sóng kết hợp cùng một nút thắt chết ẩn tàng ở tâm điểm. Nó đòi hỏi một tu sĩ phải vận dụng đúng khẩu quyết nội môn và một trình tự tháo gỡ cơ học cực kỳ chuẩn xác mới có thể mở ra; nếu một kẻ ngoại đạo cố tình dùng man lực để giật đứt hay tháo bừa, sợi dây chu sa sẽ lập tức tự động siết chặt lại thành một khối kim loại nung đỏ và thiêu cháy toàn bộ vật phẩm bên trong bằng ngọn lửa chân hỏa hủy diệt.

Thế nhưng ngay lúc này đây, bàn tay gầy gò chỉ còn da bọc lấy xương của Khách Vô Danh lại đang bấu chặt lấy sợi dây tơ ấy.

Những ngón tay của gã run rẩy bần bật vì cơn sốt rét rừng đang hành hạ, nhưng từng khớp ngón tay lại chuyển động với một sự chuẩn xác, thuần thục đến rợn người, tựa như cái hành động tháo gỡ phức tạp này đã từng được lặp đi lặp lại hàng vạn, hàng triệu lần trong tiềm thức sâu thẳm của gã!

Ngón tay cái xương xẩu của gã tì nhẹ một lực vừa đủ vào tâm nút thắt chết, hai ngón trỏ và ngón giữa khẽ xoay tròn một góc ba phần tư ngược chiều kim đồng hồ, móng tay nhọn cạy nhẹ một cách điêu luyện vào khe hở nhỏ xíu như sợi tóc nằm giữa tao tơ thứ tư và thứ năm.

*Tách.*

Một tiếng động khô khốc, thanh tao và êm ru vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch.

Nút thắt "Khóa Cửu Khúc"—thứ pháp ấn mà ngay cả những đệ tử ngoại môn xuất sắc của Huyền Đăng Môn phải mất ròng rã ba năm khổ luyện mới nắm vững được khẩu quyết tháo mở... đã tuột ra một cách trơn tru, nhẹ nhàng và gọn gàng tuyệt đối dưới những ngón tay gầy guộc của một kẻ thậm chí còn không nhớ nổi bản thân mình tên là gì!

Sợi tơ chu sa tím buông lơi ra thành một dải thẳng đuột, rơi lả tả xuống mặt bàn gỗ như một sợi chỉ vô hại.

"Không thể nào có chuyện này..." Lâm Chiêu buột miệng thốt lên, thanh âm của nàng run rẩy một cách hiếm hoi mà Trình Dạ từng được chứng kiến.

Nàng bước giật lùi lại một bước, cán cây trượng Chiếu Hồn va mạnh vào khung cửa gỗ phát ra một tiếng "cộp" nặng nề. Đôi mắt nàng mở to hết cỡ, nhìn chằm chằm vào những ngón tay trơ xương của người thanh niên nằm trên chõng như thể vừa nhìn thấy một điều nghịch lý điên rồ nhất của trời đất:

"Đó là thuật tháo niêm cấp ba của Ty Danh Tịch Lạc Châu... Thủ pháp 'Tam Phân Nghịch Chuyển' này... quy tắc tháo nút này chỉ có những giám sát viên chuyên trách kho lưu trữ hộ tịch cơ mật nhất mới được truyền thụ trực tiếp từ quan chưởng ấn! Ngươi... rốt cuộc ngươi là ai? Làm sao ngươi có thể biết được thủ pháp này?!"

Người thanh niên trên chõng tre hoàn toàn không đáp lại.

Gã dường như điếc đặc trước tiếng thét kinh ngạc của Lâm Chiêu, mù lòa trước ánh đèn chập chờn và bóng người vây quanh. Đôi mắt đỏ ngầu, đục ngầu vì sốt của gã vẫn nhìn trân trân vào khoảng không vô định phía trước mặt, không hề có tiêu cự, không có một tia nhận thức trần thế nào. Sau khi tháo tung nút thắt tinh vi kia, đôi bàn tay gã bỗng nhiên buông thõng xuống đệm rơm, những ngón tay co quắp lại một cách yếu ớt, như thể gã vừa cố nắm giữ lấy một mảnh ký ức vô hình nào đó nhưng nó đã vội vã tan biến thành mây khói.

Và rồi, như thể toàn bộ chút tàn lực cuối cùng vừa bị vắt kiệt hoàn toàn cho cái hành động vô thức mang tính bản năng ấy, người thanh niên ngã vật ra phía sau chõng tre. Đầu gã đập mạnh xuống chiếc gối rơm xơ xác, cả thân hình lại đổ sụp xuống, rơi tọt vào một trạng thái hôn mê sâu thẳm. Hơi thở của gã lại trở nên đứt quãng, yếu ớt như một ngọn đèn dầu sắp cạn bấc giữa cơn gió lộng.

Một sự im lặng ngột ngạt, đè nén đến tức thở bao trùm khắp căn phòng khách.

Vũ Kính đứng chết trân ngay nơi ngưỡng cửa ngăn cách. Ánh mắt già nua, đục ngầu của người trưởng bến chầm chậm chuyển từ sợi dây tơ chu sa đã bị tháo tung trên bàn sang gương mặt trắng bợt, hốc hác của Khách Vô Danh. Bàn tay đang nắm chặt con dấu mái chèo của ông siết mạnh đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, run lên từng hồi nhè nhẹ. Một biểu cảm vô cùng phức tạp—vừa là sự kinh hãi tột độ, vừa là nỗi cay đắng ngậm ngùi, lại pha lẫn một niềm ân hận sâu xa đã bị chôn giấu suốt nhiều năm tháng—chợt thoáng hiện qua trên những nếp nhăn khắc khổ của ông lão. Đôi môi thâm xì của ông mấp máy, khẽ lẩm bẩm điều gì đó sâu trong cuống họng, nhưng âm thanh quá nhỏ và đứt quãng khiến Dạ dù đứng ngay sát bên cũng không tài nào nghe rõ được nội dung.

"Lâm cô nương," Dạ phá vỡ sự im lặng ngột ngạt ấy, giọng anh trầm đục và đanh thép lại. "Người này... trước khi trôi dạt xuống Dạ Thủy, từng làm việc cho Ty Danh Tịch sao?"

Lâm Chiêu hít một hơi sâu buốt lạnh, lồng ngực phập phồng dưới lớp áo lam. Nàng cố gắng vận dụng định lực để lấy lại vẻ tự chủ sắc lạnh thường ngày, nhưng ánh mắt nàng nhìn về phía chiếc chõng tre ọp ẹp đã hoàn toàn thay đổi. Đó không còn là cái nhìn soi xét, đề phòng dành cho một vật chứng khả nghi hay một tà vật nguy hiểm trôi dạt từ dòng sông chết lên bờ, mà là ánh nhìn của một tín đồ vừa tận mắt chứng kiến vết nứt toác đầu tiên xuất hiện trên bức tường thành kiên cố của một hệ thống giáo điều mà mình hằng tôn sùng và cống hiến.

"Ta không dám chắc," Lâm Chiêu chậm rãi đáp, giọng nàng lạnh tanh nhưng ẩn sâu bên dưới là một sự chấn động không thể che giấu. "Hồ sơ nhân sự của Ty Danh Tịch Lạc Châu là cơ mật tối cao, do quan phủ triều đình và các trưởng lão môn phái cùng nhau quản lý, đóng dấu niêm phong ba lớp. Nếu người này thực sự từng là một giám sát viên nội các... thì việc hắn bị tước sạch toàn bộ danh tính, biến thành một kẻ sống không bóng trôi nổi giữa dòng Dạ Thủy với một tấm vé đò cũ kỹ từ mười hai năm trước... tuyệt đối không phải là một tội ác do một vài tên đạo tặc hay tà tu ngoài bờ cõi có thể làm được."

Nàng quay phắt người sang nhìn Trình Dạ, ánh mắt nặng trĩu một sức nặng ngàn cân:

"Có kẻ... đã dùng chính quyền lực tối cao của hệ thống danh tịch để xóa sổ hắn. Kẻ đó nắm giữ quyền sinh sát đối với danh tính của muôn dân. Kẻ đó muốn biến hắn thành hư vô, vĩnh viễn tước đoạt sự tồn tại của hắn, khiến hắn không thể để lại bất kỳ một dấu vết hay ký ức nào trên cõi trần thế này nữa."

Bà Lê An lúc này mới dám run rẩy bước từng bước rụt rè lại gần chiếc chõng tre. Đôi bàn tay già nua của người mẹ cẩn thận kéo lại tấm chăn thô ráp đắp lên trên lồng ngực đang phập phồng yếu ớt của người thanh niên xa lạ, rồi bà quay lại nhìn con trai mình bằng một ánh mắt van nài, sợ sệt:

"Dạ à... con mau vào trong kho mà hoàn tất nốt giấy tờ biên bản với bác Vũ trưởng bến đi con. Mùi dầu cá cháy, mùi mực son, mùi bùa chú... mẹ ngửi mà lạnh buốt cả ruột gan từ tối đến giờ. Chuyện này... chuyện này nó lớn quá rồi con ơi. Nhà mình chỉ là phường chèo đò kiếm miếng cơm qua ngày... gánh không nổi cái thứ nghiệp chướng này đâu con."

Dạ nhìn mẹ, lòng anh quặn thắt lại như có ai xát muối. Anh nhìn thấy từng nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt bà, thấy mái tóc hoa râm xơ xác đã bạc đi quá nửa vì những đêm dài thức trắng ngồi bên bậu cửa ngóng đợi con đò của cha mười hai năm trước, và giờ đây, người đàn bà khốn khổ ấy lại tiếp tục phải thức trắng những đêm dài vì những chuyến đò nguy hiểm của chính anh.

Ký ức về giọng nói trầm ấm của cha anh đã vĩnh viễn tan biến vào màn sương sông, cái giá phải trả để đổi lại sự sống cho một người xa lạ không tên họ, và giờ đây là cả một mớ bí mật chết người đang lơ lửng đè nặng lên mái nhà tranh xiêu vẹo của Bến Lau Tàn.

"Con biết rồi, mẹ," Dạ khẽ nói, giọng anh dịu dàng nhưng đầy kiên quyết. "Mọi việc đối chiếu vật chứng trong kho coi như đã xong xuôi cả rồi. Con xin phép ra ngoài bến rửa tay một chút cho sạch mùi dầu cá khét lẹt rồi sẽ vào ký tên đóng dấu vào biên bản ngay."

Nói rồi, anh khẽ cúi đầu chào Vũ Kính và Lâm Chiêu, quay người sải bước ra phía cửa ngoài, dứt khoát rời khỏi căn phòng khách đang ngột ngạt mùi thuốc nam, mùi cháo khê và hơi thở mê man đầy u uất của kẻ vô danh.

Gió đêm ngoài bến sông lập tức thổi thốc thẳng vào mặt Trình Dạ.

Cái lạnh buốt thấu xương của sương đêm vùng ngã ba sông như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào da thịt, làm Dạ khẽ rùng mình một cái, nhưng đồng thời nó cũng giúp cho đầu óc đang căng như dây đàn của anh tỉnh táo lại đôi chút.

Sương mù trên mặt sông Dạ Thủy lúc này đã dày đặc hơn rất nhiều so với hồi canh ba. Một màn sương trắng đục quánh như sữa phủ kín khắp mặt đê, trùm lên những rặng lau già rậm rạp và nuốt chửng cả những cọc tiêu xa xa ngoài bãi bồi. Luồng nước âm bên dưới lòng sông cạn vẫn chưa đến giờ mở nước trở lại, cả khúc sông rộng lớn giờ đây chỉ còn trơ lại những bãi bùn đen ngòm quánh đặc, nồng nặc mùi phù sa chết, và tiếng róc rách yếu ớt, ai oán của những lạch nước ngầm rỉ ra từ chân con đập đá tít tắp nơi thượng nguồn.

Dạ bước từng bước chậm rãi xuống con dốc đất thoai thoải, trơn trượt dẫn thẳng ra mép nước nơi chiếc cột chuông dẫn của bến đang đứng nghiêng nghiêng cô độc trong màn sương lạnh.

Anh quỳ một chân xuống bờ đất ẩm ướt, vục hai bàn tay vào chiếc ang sành đựng đầy nước sông cõi sống đặt cạnh mố đá để rửa sạch những vệt muội than đen sì của dầu cá ngải cứu và những vệt mực nho còn bám chặt trên các kẽ móng tay. Thứ nước sông ban ngày lạnh buốt như băng cắn sâu vào vết thương rạch máu nơi lòng bàn tay trái của anh, khiến từng đường gân thớ thịt nhói buốt lên từng cơn tê dại.

Dạ nghiến răng chịu đựng cơn đau, đưa hai bàn tay ướt sũng nước lên vuốt mạnh lên mặt, cố gắng xua đi sự mệt mỏi rã rời đang đè nặng lên hai mi mắt sau một đêm thức trắng cầm sào giữa lằn ranh sinh tử.

Đúng vào lúc những giọt nước lạnh buốt chảy ròng ròng từ cằm anh rớt xuống mặt đất bùn... khóe mắt của Trình Dạ bất chợt khựng lại.

Toàn thân anh đông cứng.

Cách mố đá của bến chừng mười lăm bước chân, nơi rặng lau rậm rạp mọc chen chúc nhau dọc theo triền đê trườn thoai thoải xuống bãi bồi ven sông... có những vệt lau đang bị rạp xuống một cách hoàn toàn bất thường.

Gió đêm mùa này thổi từ lòng sông Dạ Thủy thốc ngược lên theo hướng đông nam, khiến cho vạn ngọn bông lau trên bãi đều đồng loạt ngả rạp đầu về phía chân đê. Thế nhưng, ngay tại một khoảng lau rậm rạp sát mép nước kia, hàng chục thân lau bầm dập lại bị gãy gập ngược chiều gió thổi! Chúng bị đè bẹp dí, rạp hẳn sang một bên mạn hữu, tạo thành một lối mòn nhỏ hẹp, kín đáo, chỉ vừa vặn cho thân hình của một người đang khom lưng lách qua trong bóng tối.

Nguy hiểm hơn nữa, lớp bùn non ở ngay dưới chân những bụi lau bị gãy ấy vẫn còn đang ứa ra những vệt nước vàng sóng sánh men theo mép vết chân—đó là dấu vết cơ học mới tinh tươm, chỉ vừa mới được hình thành cách đây không quá nửa khắc đồng hồ!

Dạ nín thở hoàn toàn. Đôi vai anh khẽ chùng xuống, toàn bộ các nhóm cơ trên cơ thể lập tức căng cứng lại như một cánh cung đã giương sẵn tên.

Anh khẽ hạ thấp trọng tâm người xuống, nép trọn vẹn thân mình vào sau bóng tối của khối mố đá cổ thụ, đôi mắt tinh tường đã quá quen thuộc với bóng tối và sương mù của một người thợ chèo đò đêm bắt đầu quét chậm rãi, từng tấc một qua màn sương mù mịt phía trước.

Giữa những thân lau khẳng khiu xám xịt và làn sương đục quánh như khói lò than, một bóng người gầy guộc, khoác một tấm áo choàng đen tuyền trùm kín mít từ đỉnh đầu xuống tận gót chân bỗng nhiên lướt qua cực nhanh.

Bóng người ấy di chuyển với một thân pháp kỳ dị đến rợn người—hắn bước đi trên nền bùn lầy thụt lội của Dạ Thủy mà không hề phát ra một tiếng lép nhép hay một tiếng động nhỏ nào, nhẹ bẫng tựa như một chiếc lá khô bị ngọn gió cuốn đi là là trên mặt đất.

Thế nhưng, kẻ đó không hề hướng bước chân về phía mép sông để tìm thuyền trốn chạy.

Hắn cũng tuyệt đối không hề hướng mũi chân về phía gian phòng khách nhà chờ, nơi người thanh niên vô danh mang thuật tháo niêm đang nằm sốt mê man trên chõng tre.

Bóng đen ấy dừng lại chốc lát sau một bụi lau già rậm rạp nhất. Thân hình hắn hơi nghiêng đi trong làn gió buốt, và qua kẽ hở mong manh của những ngọn bông lau bạc trắng đang đung đưa, Trình Dạ nhìn thấy một tia sáng lạnh lẽo, buốt giá phát ra từ đôi mắt ẩn sâu dưới vành mũ trùm.

Ánh mắt sắc lẹm, mang theo sát khí đặc quánh ấy không nhìn vào con đò gỗ của anh, cũng chẳng thèm bận tâm đến gian nhà phía trước...

Mà nó đang hướng thẳng tắp, chăm chú và sắc lạnh như một mũi tên tẩm kịch độc, găm thẳng về phía chái kho hẹp phía sau nhà—chính là nơi chiếc đèn dẫn bằng đồng hun hình đầu nghê vừa dùng đêm qua đang được đặt trang trọng trên chiếc bàn kiểm kê, bên cạnh ngấn dầu cá ngải cứu cháy dở vẫn còn đang bốc lên những làn khói khét lẹt nồng nặc mùi tử khí!

Trái tim Trình Dạ đập thình thịch liên hồi, từng nhịp đập dội thẳng lên tận màng tang như tiếng trống trận.

Kẻ đã đột nhập chiếc tủ gỗ dâu rừng lúc hoàng hôn... hắn chưa từng rời khỏi Bến Lau Tàn!

Hắn vẫn luôn ẩn nấp ngay tại bãi lau này suốt từ chập tối đến giờ, kiên nhẫn rình rập trong màn sương buốt giá của dòng sông chết. Và mục tiêu tối hậu, tàn độc tiếp theo của hắn không phải là giết người diệt khẩu ngoài nhà chờ... mà chính là muốn ra tay thiêu hủy toàn bộ những chứng tích vật chất độc lập cuối cùng vừa mới được Vũ Kính và Lâm Chiêu đối chiếu xác nhận! Hắn muốn xóa sạch ngấn dầu cháy dở, cắt nát nút thắt trên sợi dây gai, và thiêu rụi cuốn sổ bến bọc da cá đuối trước khi bản biên bản kiểm kê kịp thời được đóng dấu đưa về Lạc Châu!

Một cơn gió chướng bỗng nhiên rít lên từng hồi ghê rợn qua triền đê vắng, luồn qua những khe nứt của chiếc cột chuông dẫn nghiêng nghiêng bên mép nước, làm chiếc chuông đồng cổ xưa khẽ lắc lư, phát ra một tiếng "coong" lẻ loi, khô khốc và buốt giá, ngân dài tan tác vào giữa đêm đen quánh đặc của Bến Lau Tàn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories