Đò Qua Vô Danh — Phần 1: Bến Không Có Người ĐợiCh.26 / 38
Chapter 26

Tên Người Tìm Lại

Ánh rạng đông đầu tiên sau đêm nghi thức chiếu rọi xuống sàn gỗ nhà chờ Bến Lau Tàn, rọi rõ bóng một người phụ nữ in mờ nhạt nhưng chắc chắn dưới chân Tống Yên.

Tia nắng ban mai nhợt nhạt xuyên qua những khe vách gỗ dâu rừng nứt nẻ, mang theo hơi ẩm mằn mặn của bãi bồi ven sông Dạ Thủy. Dưới mặt sàn ván đã mòn nhẵn dấu chân phu đò qua nhiều thế hệ, chiếc bóng ấy nằm im lìm theo mỗi cử động khẽ khàng của vạt áo chàm. Rìa bóng vẫn còn những đường gãy răng cưa li ti, chưa thể liền mạch như bóng của một người trần thế bình thường — bởi vô số hồ sơ, bài vị và những trang danh tịch cá nhân của nàng suốt mười hai năm đằng đẵng vẫn còn bị phong kín trong ngục tối tổng viện Huyền Đăng Môn tại thành Lạc Châu. Nhưng đó không còn là khoảng không trống rỗng quỷ dị của một kẻ vô danh trôi dạt giữa cõi chết. Đó là hình hài của sự sống đã tìm lại được điểm neo giữa cõi trần ai.

Bà Lê An bưng ra một bát cháo hoa nghi ngút khói, rắc chút gừng già giã giập và hành hoa thái mỏng, đặt nhẹ xuống mép chiếc bàn gỗ lim thô mộc. Đôi mắt người mẹ già đỏ hoe vì thức trọn một đêm dài canh giữ ngọn lửa đèn tam hợp, từng nếp nhăn nơi khóe mắt dường như giãn ra trong nỗi nhẹ nhõm hiếm hoi sau bao phen thắt thỏm.

“Ăn chút cháo nóng cho lại sức đi con,” bà cất giọng run run, đưa bàn tay thô ráp đầy vết chai sần toan đỡ lấy bờ vai gầy nhẳng của Tống Yên. “Cứ nằm nghỉ trên chõng thêm vài canh giờ nữa. Mười hai năm chìm nổi dưới đáy nước sâu, chịu đựng thứ dầu quỷ quái ấy, gân cốt làm sao chịu nổi phong sương bến bãi lúc bình minh. Có chuyện gì, để bọn thằng Dạ với quan quân Tàng Danh Các gánh vác…”

Thế nhưng, Tống Yên khẽ nghiêng người, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát tránh khỏi bàn tay đang muốn dìu nàng ngả lưng. Nàng đứng thẳng dậy bên chiếc chõng tre ọp ẹp, hai bàn chân trần tái mét bám chặt xuống những thớ gỗ mát lạnh của sàn nhà. Sắc mặt nàng vẫn nhợt nhạt tựa như một tờ giấy dó ngâm nước lâu ngày, hai gò má hóp sâu hằn rõ dấu vết tàn khốc của những tháng năm bị cầm tù bởi Linh Tức Tỏa Hồn Dầu, song nơi đáy mắt nàng lại ánh lên một thứ ánh sáng sắc lạnh, tỉnh táo đến gai người. Đó là sự tỉnh thức của một người đã lội qua đáy vực lãng quên, gom nhặt từng mảnh hồn vỡ nát để ghép lại thành tên họ của chính mình.

“Bác An, lòng tốt của bác và Bến Lau Tàn, đời này kiếp này Tống Yên đã khắc cốt ghi tâm,” nàng cất lời, giọng khàn đặc nhưng rành rọt từng tiếng, không vương một gợn run rẩy. “Nhưng ta không thể trốn sau lưng một bát cháo hay tấm chăn ấm. Kẻ bị tước tên thì chỉ mong một xó ẩn náu để thở qua ngày; còn kẻ đã nhớ ra mình là ai, mang họ của ai, thì không có quyền thụ động chờ người khác che chở.”

Nàng quay sang nhìn Trình Dạ, ánh mắt chạm thẳng vào vẻ trầm mặc, kiên định của người chèo đò trẻ tuổi đang đứng tựa vào khung cửa sổ đón gió sông.

“Trình Dạ, lấy cho ta một phiến giấy bản lớn loại dày chuyên dùng để vẽ sơ đồ luồng lạch, một ngọn bút lông thỏ ngậm mực và nửa thỏi mực chu sa mài thật đặc. Đừng dùng mực tàu đen. Mực chu sa pha nước giếng thềm đá mới chịu được hơi ẩm từ sông xông lên, không bị nhòe nét khi gặp tử khí.”

Trình Dạ không hỏi thêm nửa lời. Anh hiểu ánh mắt ấy. Đó không phải là ánh mắt của một bệnh nhân cần thuốc thang tĩnh dưỡng, mà là ánh mắt của một chiến sĩ vừa đoạt lại vũ khí từ tay tử thần. Anh bước nhanh vào gian kho sau của nhà chờ, nơi cất giữ những vật dụng hành nghề sông nước của cha truyền lại, mang ra một cuộn giấy bản thô màu vàng ngà bản rộng ba thước, chiếc nghiên đá hoa cương sứt góc cùng một thỏi chu sa đỏ au nồng đượm mùi khoáng thạch.

Đỗ Từ Uyên khẽ gật đầu tán thành, đích thân bước tới bên án thư, dùng gáo dừa múc nước giếng thềm đá châm thêm vào lòng nghiên, rồi dùng ngón tay thon thả miết thỏi chu sa chậm rãi từng vòng tròn đều đặn. Mùi chu sa nồng gắt hòa quyện với mùi tanh nồng của bùn sông tạo nên một bầu không khí nghiêm cậy lạ thường.

Tống Yên quỳ một gối xuống sàn, trải rộng tấm giấy bản ra mặt bàn gỗ lim thô ráp, dùng bốn viên đá cuội chặn bốn góc mép giấy. Nàng hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại trong ba nhịp thở chậm. Trong khoảnh khắc câm lặng nghẹt thở ấy, ký ức nghề nghiệp của một cựu lại viên đối chiếu tại Ty Danh Tịch — thứ bản năng sao chép, phân loại và ghi nhớ cấu trúc hồ sơ đã ăn sâu vào tủy xương từ trước biến cố mười hai năm trước — cuộn trào trở lại như thác lũ trong tâm trí nàng. Cùng với đó là những hình ảnh vụn vỡ nhưng sắc như mảnh sành mà nàng từng lén nhìn thấy từ bản vẽ thiết kế thô sơ kẹp trong tay nải của cha mình, Tống Thợ Đá, người thợ cả lừng danh từng dùng đục thép đẽo từng tảng đá nền móng đầu tiên cho công trình ngăn dòng Dạ Thủy trước khi bị vùi lấp dưới chân mố đập.

Ngọn bút lông thỏ chấm đẫm thứ mực chu sa đỏ sẫm hạ xuống mặt giấy, phát ra tiếng sột soạt đanh gọn, dứt khoát.

Một đường trục dọc màu đỏ như máu xé toạc mặt giấy vàng: thân đập chính. Từ đường trục ấy, những đường nhánh ngoằn ngoèo, những ký hiệu ô vuông, chấm tròn định vị và các đường đứt khúc biểu thị mạch nước ngầm liên tục hiện ra dưới ngòi bút chuẩn xác đến rợn người. Tống Yên không hề run tay dù chỉ một phân, không cần thước đo hay địa bàn tầm phương. Nàng vẽ như thể những đường hầm ngầm tăm tối nghẹt thở kia đang nằm trọn vẹn trong lòng bàn tay mình, từng viên đá, từng kẽ nứt đều hiển hiện rõ mồn một trước mắt.

“Đập Khóa Mạch không đơn thuần là một công trình trị thủy bằng đá hộc như Thủy Sứ quán công bố trên các bản công văn bá cáo cho thứ dân Lạc Châu xem,” Tống Yên vừa vẽ vừa trầm giọng giải thích, ngọn bút lia thoăn thoắt qua từng khúc quanh co của địa tầng. “Phần nổi trên mặt nước mà thuyền bè qua lại trông thấy chỉ là tấm bình phong dày ba trượng để che mắt thiên hạ. Thực chất, toàn bộ cấu trúc nguy hiểm nhất, tàn độc nhất đều nằm chìm sâu mười lăm trượng dưới lòng bùn đáy sông, ăn thẳng vào vết đứt gãy của địa tầng cổ.”

Nàng chấm mạnh đầu bút lông tạo thành một vòng tròn lớn đặc quầng mực ở đáy đập:

“Đây là Cửa Xả Đáy số Ba, nơi dòng âm Dạ Thủy giao cắt với dòng nước ngọt cõi sống. Dưới chân cửa xả này là một hệ thống hành lang ngầm xây hoàn toàn bằng đá phiến xanh khai thác từ mỏ đá Lãnh Nham, gắn kết bằng vôi tôi chín năm trộn lẫn tro bùa trừ tà và máu súc vật. Cha ta từng kể, khi xây dựng tầng móng này, Thủy Sứ quán đã bí mật điều động hàng trăm tù nhân khổ sai đào khoét sâu vào lòng núi đá vôi suốt ba mùa nước cạn. Đường hầm chính chạy dọc theo hướng Bắc - Nam, chia làm ba nhánh rẽ ăn sâu vào lòng đất.”

Ngọn bút chu sa vạch ra ba ô vuông nằm so le nhau dưới tầng đáy, mỗi ô vuông đều được đánh dấu bằng một nét gạch chéo sắc lạnh tựa như vết chém:

“Ba buồng ngầm này chính là nơi Những Kẻ Cắt Danh dùng làm kho trung chuyển và cất giữ các vật trung gian đoạt mệnh. Kho thứ nhất nằm dưới mố đập phía Tây, được gọi là Buồng Tro. Toàn bộ bài vị thờ phụng, gia phả gỗ, văn tự khấn nguyền cướp đoạt được từ Làng Sau Miếu và mười bảy thôn xóm ven nhánh sông Chết đều bị đưa về đây. Chúng không vứt bỏ, mà thiêu tất cả thành tro mịn trong các lò nung khép kín, sau đó tro đó được nhào trộn trực tiếp vào vữa xây để trám kín các khe nứt địa mạch. Bằng cách ấy, chúng biến linh khí tổ tiên của những dòng họ bị xóa sổ thành chính thứ xiềng xích phong tỏa cõi âm, khiến hương hồn người đã khuất mãi mãi làm nô lệ giữ nền móng đập.”

Nét mực chu sa đỏ lòm tựa như vệt máu tươi rỉ ra từ vết thương chưa lành trên trang giấy bản. Lâm Chiêu đứng bên cạnh, đôi mày thanh tú nhíu chặt lại, ngón tay nàng bất giác siết chặt lấy chuôi kiếm Chiếu Hồn bên hông đến mức các khớp xương ngón tay trắng bệch ra.

“Kho thứ hai,” Tống Yên tiếp tục, ngọn bút lông không hề ngập ngừng dù chỉ nửa khắc, “nằm ngay dưới trục xoay của cống ngầm trung tâm: Buồng Giấy. Nơi đây cất giữ các bộ sổ hộ tịch gốc, địa bạ thôn làng, chứng từ sở hữu ruộng đất và cả những tờ khai sinh, khai tử bị bóc tách khỏi danh bộ chính thức của Lạc Châu. Bạch Huyền không đốt giấy ngay lập tức. Hắn là kẻ am tường thuật pháp, hắn biết chữ viết trên giấy có linh hồn của mực. Hắn dùng Linh Tức Tỏa Hồn Dầu ngâm tẩm các trang sổ ấy ngày đêm để bẻ gãy từ từ mối liên kết giữa tên họ trên giấy và ký ức của thân nhân ngoài đời thực. Chỉ khi nào mối liên kết tâm thức đó đứt hẳn, người sống ngoài kia hoàn toàn quên mất người thân dưới mộ, hắn mới cho hạ lệnh tiêu hủy vật lý.”

“Còn kho thứ ba?” Trình Dạ trầm giọng hỏi, đôi mắt anh dán chặt vào chấm mực chu sa cuối cùng đang run rẩy nhẹ dưới ngọn bút của Tống Yên.

“Kho thứ ba là Buồng Mẫu Thể,” Tống Yên cắn chặt môi dưới, vết mực đỏ rực loang ra một chấm tròn đậm đặc như giọt máu đọng. “Đó là nơi giam giữ những người sống bị chọn làm vật mồi duy trì sinh cơ cho đại trận — nơi chính ta đã bị xích bằng khóa chỉ suốt một trăm bốn mươi bốn kỳ trăng tròn khuyết. Nó nằm ngay sát vách ngăn chịu lực lớn nhất của đập, nơi áp lực dòng nước ngầm dồn về mạnh nhất mỗi khi con nước cường đỉnh điểm. Bạch Huyền dùng sinh tức dở sống dở chết của những kẻ bị tước danh như ta để làm bộ đệm giảm chấn tâm linh cho toàn bộ công trình. Hắn biến thân xác, hơi thở và nỗi đớn đau của con người thành chốt chặn điều tiết tà lực.”

Nàng buông bút lông xuống chiếc giá đỡ bằng sứ men lam, những ngón tay gầy guộc run lên bần bật vì đã dồn hết tâm lực vào từng nét vẽ. Trên mặt bàn gỗ lim thô ráp, bản đồ cấu trúc ngầm của Đập Khóa Mạch hiện lên rõ mồn một: một mê cung chết chóc bằng đá phiến, vôi tôi, tro tàn và xương máu đồng bào, được che đậy hoàn hảo dưới danh nghĩa hộ quốc an dân và điều hòa thủy lợi của Thủy Sứ quán.

Căn phòng rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở. Tiếng sóng vỗ ì oạp vào các cọc neo Bến Lau Tàn bên ngoài vọng vào càng làm tăng thêm vẻ ngột ngạt, đè nặng lên lồng ngực từng người.

Đúng lúc ấy, một tiếng “cạch” khô khốc vang lên trên mặt bàn gỗ.

Mọi ánh mắt lập tức dồn về phía Lâm Chiêu.

Nữ tu của Huyền Đăng Môn vừa dứt khoát tháo rời dải lụa tím thêu hoa văn mây cuộn buộc bên hông. Nằm trơ trọi trên mặt bàn, ngay cạnh vệt mực chu sa chưa ráo hẳn, là miếng ngọc bội chấp pháp bằng huyền ngọc biếc xanh, mặt trước chạm nổi hình hoa sen nâng ba ngọn lửa rực rỡ — biểu trưng quyền lực tối cao của Viện Nghiên Cứu Bảo Danh và do đích thân Trưởng viện Bạch Huyền ban cấp khi nàng đỗ đầu kỳ sát hạch chấp pháp năm năm trước.

Gương mặt Lâm Chiêu lạnh như băng tuyết đầu mùa, nhưng khóe mắt ửng đỏ một vẻ cương nghị không gì lay chuyển nổi. Nàng nhìn thẳng vào miếng ngọc bội từng là niềm kiêu hãnh của cả đời tu tập, rồi ngẩng đầu nhìn Trình Dạ, Tống Yên và Đỗ Từ Uyên.

“Từ khoảnh khắc này, ta không còn là Chấp pháp sứ của Huyền Đăng Môn,” thanh âm của nàng vang lên trong trẻo, dứt khoát như tiếng kiếm tuốt khỏi bao sắt. “Miếng ngọc này từng đại diện cho quy chế, cho sự bảo hộ danh tính và tôn ti trật tự của Lạc Châu. Nhưng khi quy chế bị biến thành lưỡi dao mổ xẻ linh hồn đồng bào, khi kẻ đứng đầu viện nghiên cứu dùng sinh mạng dân lành làm vật liệu đắp móng công trình ngầm, thì danh phận chấp pháp này chỉ là một nỗi sỉ nhục nhơ nhớp.”

Nàng đặt một bàn tay thon thả lên chuôi đoản kiếm Chiếu Hồn, ánh mắt trong veo không chút do dự hay hối tiếc:

“Thầy ta — Bạch Huyền — đã đi trệch khỏi lời thề giữ giới ban đầu. Ông ta chọn quyền lực, chọn sự ổn định giả tạo bằng cách giẫm đạp lên ký ức và quyền được tồn tại của những người yếu thế. Ta sẽ không quay về tổng viện để chịu sự thẩm vấn dối trá của môn phái hay cúi đầu trước những bản tấu trình ngụy tạo. Ta đứng về phía liên minh chứng cứ độc lập này. Thanh kiếm Chiếu Hồn của ta từ nay chỉ phục vụ cho một mục đích duy nhất: phơi bày sự thật và bảo vệ những nhân chứng còn thở.”

Đỗ Từ Uyên nhìn nữ tu trẻ tuổi, ánh mắt bà thoáng qua một tia thấu hiểu sâu sắc cùng nỗi xót xa của một người từng trải qua những biến thiên quyền lực chốn quan trường. Bà khẽ thở dài, giọng trầm xuống:

“Ngươi tháo ngọc bội xuống, nghĩa là tự tay cắt đứt con đường lui của mình. Huyền Đăng Môn sẽ coi ngươi là kẻ phản đồ; lệnh truy nã của Ty Phòng Vệ Nội Bộ sẽ không chừa cho ngươi một tấc đất cắm dùi trên khắp cõi Lạc Châu này.”

“Đỗ quản thủ,” Lâm Chiêu mỉm cười nhạt, nụ cười phảng phất sự thanh thản hiếm thấy của một kẻ đã trút bỏ được gông cùm tâm tưởng, “khi ta ký tên vào hồ sơ ca Ất-Tứ bốn năm trước mà không hề biết mình vừa đẩy một lão ngư phụ cả đời hiền lành vào chỗ mất danh mất họ, linh hồn ta đã mang nợ máu rồi. Nếu không đứng lại đây để chuộc lỗi, dù có làm đến bậc Trưởng lão hay Viện chủ của môn phái, ta cũng chỉ là một cái vỏ rỗng không danh phận trước trời đất mà thôi.”

Trình Dạ nhìn nàng, lặng lẽ gật đầu. Giữa hai người không cần thêm những lời thề thốt đao to búa lớn; sự đồng thuận và tin cậy đã được tôi luyện qua những đợt sóng ngầm tử khí Dạ Thủy và vết chém xé toạc đêm đen cứu mạng nhau nơi chân đê quai hôm trước.

Lúc này, tiếng bước chân vội vã, dập dồn từ cửa ngách cắt ngang bầu không khí trầm mặc. Cánh cửa gỗ dâu rừng bật mở, Dương Kha bước vào, theo sau là viên lại trẻ tuổi Phạm Lục.

Cánh tay trái của Phạm Lục vẫn còn quấn băng vải trắng dày cộp, thấm vài vệt máu khô thẫm màu từ vết thương do mũi tên nỏ của Ninh Sắc bắn trúng đêm trước tại rặng phi lao ven bãi lầy. Sắc mặt viên lại trẻ tuổi vẫn còn hốc hác, môi khô nứt nẻ sau chuyến chạy trốn nghẹt thở, nhưng trong ngực áo gã ôm chặt một bọc vải dầu được giữ gìn cẩn thận hơn cả tính mạng bản thân.

Dương Kha thì trông phong trần và tiều tụy hơn hẳn thường ngày. Kẻ chèo đò từng kiêu ngạo nhất nhì khúc sông Thượng Du giờ đây khoác manh áo tơi rách bươm xơ xác, khóe miệng còn vết xước dài đóng vảy đen sau tai nạn lật đò tại hố sụt giao giới. Trong tay gã xách chiếc đãy da nặng trịch, bên trong chứa những mảnh vỡ kim loại hoen rỉ và các cuộn giấy tờ nhàu nát còn vương mùi bùn khô.

“Mọi người nhìn này,” Phạm Lục thở hổn hển, cẩn thận đặt bọc vải dầu lên bàn rồi dùng một tay vụng về mở từng lớp vải bọc được buộc thắt nút kỹ càng.

Bên trong là bản thảo nháp tính thuế bằng giấy thô xơ xác mà gã đã liều mạng giấu trong kẽ tường kho Ty Danh Tịch trước khi trốn chạy khỏi sự truy lùng của nha lại. Những con số tính toán thủ công bằng mực nho đen nhánh hiện rõ trên mặt giấy ố vàng vì thời gian:

“Đây là bản nháp tính thuế gốc do chính tay ta ghi chép ba năm trước khi mới vào Ty,” Phạm Lục chỉ ngón tay run rẩy vào những hàng số thẳng tắp. “Đoạn đê quai số chín trên thực địa dài trọn vẹn bốn mươi hai dặm đắp bằng đá hộc. Nó chạy thẳng qua ba trăm mẫu ruộng màu mỡ của Làng Sau Miếu — nơi từng có mười bảy hộ gia đình nộp thuế đinh và thuế lúa đều đặn mỗi vụ mùa gặt hái. Nhưng hãy nhìn bản đồ địa bạ chính thức mà Bạch Huyền cùng Thủy Sứ quán trình lên quan phủ: tuyến đê bị cắt cụt ngủn ở dặm ba mươi lăm tại bến Cây Gạo! Bảy dặm đê còn lại cùng toàn bộ ngôi làng bị xóa trắng hoàn toàn, biến thành ‘Bãi Hoang ngàn xưa’. Những con số thuần túy này không có con dấu nha môn, không mang ấn ký cúng tế của nghi lễ đoạt danh, nên thuật Đoạt Danh không thể chạm tới để bóp méo hay xóa nhòa chúng!”

Dương Kha lập tức bước tới, dốc ngược chiếc đãy da, đổ ụp những thứ bên trong ra mặt bàn gỗ lim.

Đầu tiên là mảnh công lệnh rách mép loang lổ vết nước sông, mang dấu triện đỏ chót của Thủy Sứ quán và chữ ký hình lưỡi dao trổ kèm triện vuông khắc chữ “Ninh” — dấu vết thủ bút đặc trưng của tên đao phủ Ninh Sắc.

“Đây là lệnh điều động đá giới,” Dương Kha nghiến chặt răng, giọng nghẹn lại vì sự phẫn uất lẫn nỗi ân hận giày vò tâm can. “Chính Ninh Sắc đã dùng tờ giấy này, mạo danh tổng giám công công trình, đưa cho ta mười lăm nén bạc âm để lừa ta bứng phiến đá giới nghìn năm ở bến Thượng Du chở về chân đập. Hắn bảo là để gia cố mố cầu tránh sạt lở, nhưng thực chất là nhổ mỏ neo thủy mạch để cô lập hoàn toàn khúc sông, khiến nước đen tràn vào cõi sống!”

Kế đó, Dương Kha đặt xác chiếc đèn bão vỡ nát lên mặt bàn. Khung kim loại bám đầy một lớp cặn dính màu xám chì đặc quánh, tỏa ra một mùi khét lẹt nồng nặc mùi nhựa thông sống, hắc ín đun sôi và mỡ trâu om nhiệt.

Lâm Chiêu bước lại gần, rút từ trong tay áo ra một chiếc trâm bạc trơn, khẽ gạt lấy một ít cặn xám chì rồi đưa lên gần ngọn đèn tùng bách đang cháy trên vách. Ngay khi tiếp xúc với hơi nóng của ngọn lửa, vệt cặn bốc lên một làn khói mỏng màu xám xịt cay xè mắt, đồng thời phát ra tiếng xèo xèo ăn mòn ghê rợn, làm đầu trâm bạc sáng bóng xỉn đen lại trong chớp mắt như bị ngâm độc thau.

“Chính là nó,” Lâm Chiêu lạnh lùng khẳng định, đôi mắt nheo lại. “Dầu tạp chất của Đập Khóa Mạch. Loại dầu này được luyện ra không phải để thắp sáng luồng lạch, mà để hòa tan và triệt tiêu hoàn toàn muội than của dầu cá trắm ngải cứu truyền thống. Khi Dương Kha thắp chiếc đèn pha tạp này, linh lực dẫn đường của người chèo đò bị triệt tiêu hoàn toàn, tính định danh của chuyến đò bị xóa sạch trong màn sương, biến con thuyền cùng người trên đó thành một bóng ma trôi dạt vô chủ giữa cõi âm ti.”

Trình Dạ đứng lặng người, ánh mắt lướt qua ba vật chứng đặt song song trên mặt bàn gỗ lim:

Bản nháp thuế thuần số liệu chứng minh sự tồn tại vật chất không thể chối cãi của một vùng đất và những con người đã bị xóa sổ trên danh nghĩa hành chính;

Lệnh điều động đá giới mang dấu triện giả mạo chứng minh hành vi cố ý di dời các mỏ neo địa mạch ngoài giờ mở nước để bẻ gãy luồng lạch giao thương ngàn đời;

Vệt cặn dầu xám chì chứng minh thủ đoạn can thiệp vật lý tinh vi nhằm xóa hủy ấn chứng định danh trên ngọn đèn dẫn của người chèo đò.

“Ba dấu độc lập,” Trình Dạ khẽ thì thầm, các ngón tay anh siết chặt lấy mép bàn gỗ lim gồ ghề. “Quy chế ba trăm năm của Hội Giữ Bến chưa từng sai một li. Sổ sách có thể bị bóc gáy, dây đò có thể bị chặt đứt, đèn dẫn có thể bị đập vỡ nát. Nhưng nếu gom đủ dấu vết của cả ba thứ này tại thực địa, chúng sẽ kết thành một sợi dây thừng chứng cứ không một quyền lực hay tà thuật nào ở Lạc Châu có thể bẻ gãy được.”

Phạm Lục nghe vậy liền thở phào một tiếng nhẹ nhõm, đưa tay áo áo lành lặn lau mồ hôi trên trán: “Vậy thì chúng ta thắng rồi! Chỉ cần mang tập hồ sơ này cùng lời khai của Tống cô nương lên trình diện trước phiên họp liên ngành của Ty Danh Tịch và Hội Giữ Bến vào giờ Thìn, chúng ta có thể vạch trần mặt nạ của Bạch Huyền giữa thanh thiên bạch nhật…”

“Chưa đâu,” một giọng nói lạnh lẽo, sắc bén vang lên cắt ngang lời nói đầy hy vọng của Phạm Lục.

Tống Yên đứng tựa lưng vào mép bàn, đôi mắt sâu hoắm nhìn đăm đăm vào bản đồ chu sa nàng vừa vẽ xong. Sắc mặt nàng đanh lại, lộ rõ vẻ nghiêm trọng tột cùng, không vương một chút lạc quan hời hợt:

“Các người nghĩ chỉ cần mang chứng cứ ra công đường là xong chuyện sao? Các người nghĩ Bạch Huyền là một quan chức bình thường sẽ ngồi yên thúc thủ chờ các người đọc bản cáo trạng?”

Nàng đưa ngón tay trỏ dính màu chu sa chỉ thẳng vào ô vuông Buồng Mẫu Thể và trục xoay cống ngầm dưới đáy đập:

“Ta đã nằm dưới đáy con đập đó mười hai năm. Ta hiểu rõ hơn ai hết thứ tà thuật mà Bạch Huyền đang vận hành bên dưới lớp đá hộc kia. Vật chứa chính gắn liền với đại trận phong tỏa — nơi giam giữ hàng ngàn mảnh hồn phách, ký ức và danh tính bị tước đoạt suốt hơn một thập kỷ qua — hiện đã đạt tới giới hạn chịu đựng cực đại của nó.”

Tống Yên ngước mắt nhìn Trình Dạ và Lâm Chiêu, từng lời nói thốt ra tựa như những tảng đá nặng ngàn cân ném thẳng xuống mặt nước phẳng lặng:

“Đêm qua, khi ta phá vỡ cấm chế hoa sen ngược để lấy lại tên họ của mình, sợi dây liên kết giữa ta và vật chứa chính đã phát sinh phản chấn dữ dội dội ngược về tâm trận. Các người có nhận thấy sự bất thường của Bạch Huyền khi hắn đến Bến Lau Tàn này không? Đồng tử mắt trái giật liên hồi, sắc mặt tái dại, và giọng nói méo mó lẫn âm sắc phụ nữ ai oán đòi con… Đó không phải là triệu chứng tẩu hỏa nhập ma thông thường của kẻ luyện sai pháp môn. Đó là dấu hiệu cho thấy bình chứa ký ức của hắn đang rò rỉ và nứt toác dữ dội từ bên trong!”

Lâm Chiêu khẽ rùng mình, sống lưng lạnh toát khi nhớ lại khoảnh khắc kinh hoàng đêm trước ngoài bến nước, khi vị sư phụ tôn kính của nàng buột miệng thốt ra những âm thanh the thé, tuyệt vọng của một người đàn bà vô danh nào đó đã chết từ nhiều năm trước.

“Ý cô là…” Lâm Chiêu ngập ngừng, giọng có phần nghẹn lại.

“Bạch Huyền đang bị dồn vào chân tường,” Tống Yên gằn giọng, ánh mắt nàng bừng lên nỗi căm hờn lẫn âu lo. “Hắn buộc phải đẩy nhanh tiến độ kích hoạt đại trận sớm hơn dự kiến để dùng áp lực khổng lồ của dòng âm Dạ Thủy cưỡng ép ổn định lại vật chứa đang rạn nứt. Nhưng điều nguy hiểm nhất, tàn khốc nhất lại nằm ở chỗ này: nếu liên minh các bến sông hoặc các ngươi xông vào Đập Khóa Mạch, dùng bạo lực đập phá lò luyện tâm trận hay phá hủy cơ quan cống ngầm mà không thiết lập một khu vực phong tỏa ký ức nghiêm ngặt…”

Nàng dừng lại, lồng ngực gầy guộc phập phồng dữ dội theo từng nhịp thở gấp gáp:

“… thì toàn bộ hàng ngàn mảnh ký ức, bài vị, danh tính đang bị giam hãm trong vật chứa sẽ nổ tung cùng một lúc. Dưới áp lực khủng khiếp của phản chấn cõi âm, chúng sẽ không thể tìm đường trở về với chủ nhân cũ hay người thân nơi trần thế. Chúng sẽ vỡ vụn thành cát bụi hư vô, tan biến vĩnh viễn vào dòng nước Dạ Thủy cuộn xiết. Hàng ngàn con người từng sống, từng thở, từng lao động trên mảnh đất này sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn cơ hội được gọi tên, không bao giờ được nhớ lại, và chết thêm một lần nữa — một cái chết triệt để không có ngày luân hồi!”

Lời cảnh báo của Tống Yên như một gáo nước băng lạnh buốt tạt thẳng vào sự phấn chấn vừa nhen nhóm trong lòng mọi người trong căn phòng chờ.

Phạm Lục sững sờ, hai tay buông thõng xuống hai bên sườn, tờ bản thảo nháp tính thuế suýt nữa rơi khỏi ngực áo. Dương Kha cắn chặt môi dưới đến mức bật máu tươi, hai mắt dại đi vì sự kinh hãi tột cùng. Nếu liều mạng phá đập mà khiến hàng ngàn linh hồn vô tội tan biến vĩnh viễn vào cõi hư vô, thì hành động ấy khác nào nối giáo cho giặc, tiếp tay cho tội ác diệt danh của Những Kẻ Cắt Danh?

“Phải có điểm neo độc lập,” Trình Dạ lên tiếng sau một hồi im lặng, giọng anh trầm tĩnh lạ thường giữa bầu không khí căng thẳng đang bóp nghẹt mọi lồng ngực. “Như cách cha ta từng làm mười hai năm trước. Muốn phá vật chứa, không thể dùng búa đục thô thiển, mà phải có một mạng lưới đón đỡ những mảnh vỡ rơi ra từ dòng chảy. Không thể phá bằng sức mạnh cơ bắp, mà phải mở bằng quy chế bến sông.”

“Đúng vậy,” Đỗ Từ Uyên tiếp lời, ánh mắt sắc sảo của vị quản thủ Tàng Danh Các ánh lên vẻ tán đồng sâu sắc. “Tàng Danh Các chúng ta có thể cung cấp các phương pháp bảo lưu điểm neo, dùng kinh thư và ấn tín cổ để lập trường phong tỏa tinh thần, nhưng trên thực địa sông nước mênh mông, chúng ta cần một lực lượng đủ lớn, đủ am tường luồng lạch để phong tỏa toàn bộ mặt nước quanh chân đập trong khoảnh khắc then chốt khi vật chứa mở ra. Một con đò đơn độc của Bến Lau Tàn tuyệt đối không thể gánh nổi trận địa này.”

Gian phòng lại chìm vào sự toan tính căng như dây đàn. Từng hơi thở, từng nhịp đập của trái tim dường như đều hướng về đêm mở nước quyết định đang đến gần từng khắc, từng canh giờ.

Khi mọi người bắt đầu xúm lại quanh tấm bản đồ chu sa còn nồng mùi mực đỏ để bàn bạc chi tiết về các lối thoát hiểm, cửa cống ngầm và vị trí đặt các ngọn đèn tam hợp phong tỏa luồng lạch, Dương Kha khẽ liếc nhìn Trình Dạ. Gã không nói nửa lời, chỉ lẳng lặng lùi dần ra phía cửa ngách, đưa mắt ra hiệu đầy ẩn ý.

Trình Dạ hiểu ý, khẽ nghiêng đầu với Đỗ Từ Uyên rồi lặng lẽ bước theo sau Dương Kha.

Hai người bước ra góc hiên sau của nhà chờ Bến Lau Tàn. Nơi này nằm khuất gió, nhìn thẳng ra khúc quanh hiểm trở của dòng sông đang uốn lượn dưới chân đồi. Buổi sáng ban ngày, khi Dạ Thủy rút cạn xuống lòng bùn xám và dòng âm tạm thời khép lại theo quy luật âm dương, khúc sông trông bình lặng và cằn cỗi như một dải đất hoang tàn phơi mình dưới ánh nắng sớm hanh hao. Những rặng lau sậy xác xơ đung đưa xào xạc theo từng ngọn gió bấc se lạnh thổi từ phương Bắc tràn về.

Dương Kha đứng tựa lưng vào chiếc cột chuông gỗ dâu rừng nghiêng nghiêng bám đầy rêu phong, hai bàn tay thô ráp đút sâu vào túi manh áo tơi rách bươm. Gã không dám nhìn thẳng vào mắt Trình Dạ, ánh mắt lảng tránh nhìn xuống mũi con thuyền nan đang cắm sào im lìm dưới bến nước trơ bùn.

“Trình Dạ,” Dương Kha mở lời sau một khoảng lặng dài, giọng gã nghẹn ứ, thô ráp và vụn vỡ như đá vôi bị nghiền nát dưới cối xay. “Chuyện chiếc đèn bão vỡ… và phiến đá giới bến Thượng Du bị di dời… ta nợ ngươi một mạng sống. Và nợ cả dòng họ Trình một lời tạ tội tày đình.”

“Chuyện đã qua rồi,” Trình Dạ bình thản đáp, ánh mắt anh phóng tầm nhìn về phía hạ lưu xa xăm nơi có bóng dáng mờ mờ của Đập Khóa Mạch sừng sững chắn ngang chân trời. “Ngươi bị Ninh Sắc lợi dụng vì hắn nắm được điểm yếu muốn chứng tỏ bản thân của ngươi, muốn vượt lên trên cái bóng của những người đi trước. Bây giờ giữ được mạng để đứng đây chuộc lỗi mới là việc cần làm của một kẻ chèo đò mang họ Dương.”

“Ta không chỉ muốn chuộc lỗi bằng mồm hay bằng mấy lời hối hận suông,” Dương Kha ngẩng phắt đầu lên, trong mắt gã là sự quằn quại, nhức nhối của một người chèo đò có danh dự bị chà đạp và vấy bẩn. “Bao năm qua, ta luôn ghen tị với ngươi. Ta ghét cái cách những lão phu đò trên sông lúc nào cũng nhắc đến tên cha ngươi với vẻ kính cẩn, ghét việc Bến Lau Tàn dù nghèo xơ xác, thuyền bè mục nát nhưng bất kỳ bến đò nào dọc sông Dạ Thủy cũng phải nể trọng ba phần. Ta đã nghĩ chỉ cần bám vào Thủy Sứ quán, giành được tuyến chở đá sửa đập béo bở, ta sẽ vượt qua ngươi, sẽ chứng minh cho thiên hạ thấy họ Dương bến Thượng Du mới là kẻ định đoạt khúc sông này…”

Gã bật ra một tiếng cười chua chát, lắc đầu tự giễu chính sự ngông cuồng ngu xuẩn của bản thân:

“Nhưng khi con thuyền của ta vỡ vụn dưới hố sụt giao giới kinh hoàng đêm ấy, khi danh khí của ta bị nước đen Dạ Thủy xé rách từng mảng thịt da, kẻ quăng dây đò cứu ta lên khỏi miệng cõi chết lại là ngươi và lão Vũ Kính mù lòa. Kẻ cho ta một đường sống để trở về làm người lại chính là cái Minh ước ba trăm năm mà ta từng khinh bỉ, coi là thứ quy chế cổ hủ của đám già nua hết thời.”

Nói đoạn, Dương Kha thò tay sâu vào trong vạt áo ngực rách nát, chậm rãi rút ra một vật bằng sừng đen bóng loáng, được bọc trong một mảnh da cừu mềm mại.

Đó là một chiếc còi lệnh được gọt đẽo vô cùng công phu từ sừng của một con trâu nước cổ đực, dài chừng một gang tay, thân còi chạm khắc nổi hình chín con sóng cuộn tròn lồng vào nhau — tín vật cổ xưa linh thiêng của những tay chèo kỳ cựu chuyên giữ luồng lạch hiểm trở dọc lưu vực Dạ Thủy qua hàng thế kỷ. Miệng còi đã bóng nhẫy dấu vết của mồ hôi, của nước sông và hơi thở của nhiều đời thợ đò tiền nhân bến Thượng Du.

Dương Kha nâng chiếc còi bằng cả hai bàn tay run rẩy, kính cẩn chìa ra trước mặt Trình Dạ:

“Đây là còi lệnh của Thủy Phù Minh Khế. Năm xưa khi cha ta lâm chung bên mép nước, ông đã truyền lại chiếc còi này cho ta cùng quyền điều động đò bè của mười hai bến bạn hữu từ Bến Thượng Du xuôi về ngã ba sông Chết. Bấy lâu nay ta cất kỹ nó dưới đáy rương gỗ, chỉ mong có ngày dùng nó để phô trương thanh thế, để ép các bến khác phải cúi đầu phục tùng mình.”

Gã hít một hơi thật sâu, ánh mắt dừng lại nhìn thẳng vào đôi mắt đen sâu thẳm của Trình Dạ:

“Bây giờ, ta trao nó lại cho ngươi. Cầm lấy đi.”

Trình Dạ hơi khựng lại, hai tay buông thõng, không vội đưa ra đón nhận: “Dương Kha, đây là tín vật truyền đời của dòng họ Dương, là danh dự bến nhà ngươi. Theo quy chế sông nước, người giữ còi là người mang trọng trách hiệu triệu đò bè khi xảy ra đại nạn thủy tai…”

“Đêm nay không phải là thủy nạn bình thường, Trình Dạ!” Dương Kha gắt khẽ, thanh âm dồn nén một ngọn lửa quyết liệt chưa từng thấy. “Đêm nay là sự sống còn của cả dòng sông, là vận mệnh của tất cả những ai còn cầm chèo trên đất Lạc Châu này! Lời Tống cô nương vừa nói trong kia ngươi nghe rõ từng câu từng chữ rồi đấy: nếu đại trận vỡ ra mà không có đò bè thiện chiến dàn trận ngoài sông để giữ các luồng nước và neo giữ đá giới, hàng ngàn mảnh ký ức vô tội sẽ chìm nghỉm xuống bùn sâu vĩnh viễn! Mười hai bến đò kia, sau vụ ta làm mất phiến đá giới bến Thượng Du, họ không còn tin vào lời nói của Dương Kha này nữa đâu. Họ sẽ coi ta là kẻ phản bội dòng sông. Nhưng họ tin vào dòng họ Trình! Họ tin vào tiếng chuông đồng và ngọn đèn dẫn của Bến Lau Tàn!”

Dương Kha bước tới một bước, dứt khoát ấn mạnh chiếc còi sừng trâu vào lòng bàn tay Trình Dạ, các ngón tay thô ráp của gã siết chặt lấy bàn tay anh:

“Cầm lấy nó. Khi giờ mở nước canh ba đêm nay điểm, khi đợt kiểm kê cưỡng chế của Bạch Huyền bắt đầu giáng xuống các bến đò, ngươi chỉ cần đứng ở mũi thuyền thổi ba hồi còi dài theo điệu ‘Sóng Vỗ Chân Bến’. Mười hai bến đò, ba mươi sáu con thuyền nan thiện chiến nhất của bè bạn khúc sông này sẽ lập tức xuất bến trong sương mù, dàn trận hình chữ Nhất phong tỏa toàn bộ mặt nước ngoài cửa cống ngầm. Ta sẽ đích thân chèo con thuyền tiên phong, dùng tính mạng này làm bức tường sống giữ đá giới cho ngươi và Lâm cô nương đột nhập vào lõi đập Khóa Mạch!”

Trình Dạ cảm nhận được độ nhẵn bóng, sự lạnh lẽo của chất sừng cổ xưa và hơi ấm còn sót lại từ lồng ngực Dương Kha truyền qua lòng bàn tay mình. Anh siết chặt những ngón tay lại, đón nhận lấy chiếc còi lệnh, rồi cẩn thận cất nó vào sâu trong túi áo ngực bên trái, đặt ngay cạnh tấm vé bảo danh mang nợ năm xưa của cha mình.

Hai vật chứng, hai trách nhiệm, giờ đây cùng đập một nhịp đập với trái tim người giữ bến.

“Được,” Trình Dạ gật đầu, ánh mắt ánh lên sự kiên định vững chãi tựa như rặng đá ngầm ngàn năm dưới đáy vực. “Đêm nay, chúng ta cùng giữ bến, cùng giữ dòng sông.”

Dương Kha thở phào một hơi dài thườn thượt, nụ cười nhẹ nhõm hiếm hoi nở trên bờ môi nứt nẻ đầy vết xước của gã. Món nợ danh dự đè nặng bấy lâu dường như đã tìm được nơi neo đậu xứng đáng.

Hai người vừa quay lưng định bước trở lại vào gian phòng chờ để hoàn tất kế hoạch tác chiến thì từ bên trong bỗng vang lên một tiếng va đập dữ dội.

“Rầm!”

Cánh cửa ngách bật mở toang ra, va đập mạnh vào vách ván gỗ dâu rừng.

Tạ Mạn bước xộc vào phòng, áo choàng gió tả tơi vì phi ngựa gấp, hơi thở gấp gáp, gương mặt tái nhợt lộ rõ vẻ nghiêm trọng tột cùng:

“Bạch Huyền vừa xin được lệnh phong tỏa toàn bộ sông Dạ Thủy từ tối mai.”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories