Cửa Kho Độc Lập
Khối kiến trúc đá xám của Tàng Danh Các sừng sững tách biệt khỏi toàn bộ thủy mạch chằng chịt của thành Lạc Châu, tĩnh lặng và trầm mặc như một nấm mồ đá phong kín hàng ngàn mảnh đời chưa từng bị dòng đời xóa bỏ.
Gò đá hoa cương đỡ lấy toàn bộ tòa các là một khối đá tảng nguyên vẹn có từ thuở hồng hoang lập xứ, trồi lên sừng sững giữa tầng đất bồi phù sa dày đặc của hạ lưu, đâm những chiếc rễ đá khổng lồ sâu vào nền địa chất cổ xưa. Nơi đây không có lấy một lạch nước ngầm nào thông ra dòng Dạ Thủy, không có mạch bùn lún, và cũng tuyệt nhiên không chịu ảnh hưởng của những biến thiên con nước cõi âm vốn dập dềnh theo tuần trăng và nhịp thở của người chết. Khi từng bước chân giẫm lên chín mươi chín bậc thềm đá mòn vẹt vì sương gió, Trình Dạ cảm nhận rõ rệt sự khô khốc lạnh lẽo truyền thẳng qua lớp đế mỏng của đôi giày rơm. Ở đây hoàn toàn vắng bóng tiếng nước vỗ bì bõm quen thuộc vào mạn đò, không có mùi tanh nồng của bùn đen bến bãi bốc lên sau mỗi con triều rút, chỉ có mùi bột đá hoa cương khô khốc phảng phất cùng hơi lạnh trầm mặc của thời gian tích tụ qua hàng trăm năm phong kín.
Đỗ Từ Uyên không bước xuống thềm để đón họ. Bà đứng bất động như một bức tượng tạc nơi vòm cổng cuốn bằng đá đen, hai bàn tay giấu trọn trong ống tay áo xám tro rộng thùng thình, sống lưng thẳng tắp như một cột tiêu định giới bằng đá cắm giữa giông bão ngàn năm. Mái tóc hoa râm búi chặt sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc, không hề rung rinh trước những ngọn gió đêm phần phật thổi qua đỉnh gò. Đôi mắt bà hẹp dài, thâm sâu và kiên định, bình thản nhìn xoáy vào ba bóng người vừa vượt qua bóng tối mù sương của thành thị để đứng trước mặt mình.
"Đến giờ này, người của nha môn và đệ tử Huyền Đăng Môn còn đang đốt giấy sục sôi ở sân Ty Danh Tịch," giọng Đỗ Từ Uyên cất lên, khô khốc và đanh gọn như tiếng hai phiến đá hoa cương gõ vào nhau giữa đêm vắng. "Tro bay phủ kín nửa bầu trời Lạc Châu, mùi mực cháy tanh tưởi bốc lên tận các tầng mây, vậy mà ba người các ngươi lại lần mò đến cái chốn chôn chữ này. Lâm Chiêu, ngươi mang kiếm Chiếu Hồn của tiên môn trên lưng; Phạm Lục, ngươi mang mùi mực nha lại hèn mọn bám chặt vào vạt áo; còn ngươi..."
Ánh mắt bà dừng lại trên khuôn mặt Trình Dạ. Ánh nhìn ấy sắc lẹm, dò xét, và không mang theo một chút hơi ấm tình cảm nào của chốn quen biết cũ.
"Khuôn mặt ngươi giống Trình Hoài như đúc từ một khuôn. Từng đường nét nơi sống mũi, khóe miệng cho đến dáng đứng đón gió này đều mang bóng hình của ông ấy. Nhưng Tàng Danh Các không phải bến đò của dòng họ Trình, càng không phải nơi tiếp đón thân nhân đến tìm đồ gia bảo."
Phạm Lục đứng nép sau lưng Trình Dạ, hai tay ôm khư khư lấy bọc vải đựng bản thảo tính thuế và những đồng bạc âm lạnh buốt. Hơi thở hắn hổn hển dồn dập sau chặng đường dài chui rúc qua các cống ngầm ngập ngụa rác rưởi của nội thành. Hắn toan mở miệng phân trần vài câu lấy lòng, nhưng vừa chạm phải cái nhìn lạnh băng như lưỡi dao cạo của Đỗ Từ Uyên, lời nói lập tức nghẹn ứ lại nơi cuống họng, chỉ phát ra một tiếng khò khè run rẩy.
Lâm Chiêu hít một hơi sâu, tiến lên nửa bước. Nàng chắp tay hành lễ theo quy thức nghiêm cẩn của tu sĩ hành hương, sống kiếm Chiếu Hồn sau lưng khẽ chạm vào đai ngực:
"Đỗ tiền bối. Chúng con mạo muội đến đây giữa đêm hôm khuya khoắt không phải vì tư thù cá nhân, lại càng không vì mưu cầu danh lợi thế tục. Chúng con đến theo chỉ dẫn của kỷ vật mà người đi trước để lại, khẩn cầu tiền bối mở hòm lưu trữ mà Trình Hoài đã gửi gắm mười hai năm trước. Sự việc lần này liên quan trực tiếp đến sinh mạng của một con người đang thoi thóp, và xa hơn nữa là sự tồn vong của ký ức toàn cõi Lạc Châu trước bàn tay thao túng của Thủy Sứ quán."
"Quy tắc của Tàng Danh Các không bao giờ thay đổi chỉ vì những lời văn vẻ cảm động lòng người," Đỗ Từ Uyên lạnh lùng cắt ngang, thanh âm phẳng lặng không gợn một chút sóng gió. "Từ ba trăm năm trước, khi phiến đá móng đầu tiên được đục đẽo và đặt xuống gò đất hoa cương này, người giữ kho đời thứ nhất đã lập đại thệ trước trời đất và quỷ thần: Tàng Danh Các chỉ giữ chứng tích độc lập, không phục vụ quyền lực của quan phủ đương triều, không quy phục uy thế của các tông phái tiên môn, và tuyệt đối không bao giờ mở cửa vì huyết thống riêng tư."
Bà bước lùi lại một bước, cánh tay áo xám khẽ vung lên, chỉ thẳng vào khoảng không gian tối om của gian tiền sảnh đá phía sau cánh cổng vòm:
"Máu mủ ruột rà là chuyện của cõi sống trần tục, danh phận và chứng tích là sự thật bất biến của cõi người. Nếu chỉ vì ngươi mang họ Trình, là giọt máu rơi rớt của Trình Hoài mà ta dễ dãi mở kho trao trả tài liệu mật, thì Tàng Danh Các này khác gì một cái kho hàng tư nhân vô phép tắc giữa chợ đời? Các ngươi có từng nghĩ đến hậu quả chưa? Một khi chứng tích bị mang ra ngoài một cách cẩu thả, rơi vào tay kẻ đang rắp tâm thi triển thuật Đoạt Danh, nó sẽ lập tức biến thành vật trung gian tàn sát chính những người còn sót lại. Bọn chúng sẽ lần theo từng nét mực, từng thớ chỉ để nhổ sạch mọi gốc rễ! Ngươi muốn mở hòm của Trình Hoài? Trước hết hãy chứng minh tư cách đạo đức của ngươi, và cho ta thấy trách nhiệm bảo chứng mà ngươi dám đem cả mạng sống cùng ký ức của chính mình ra thế chấp."
Từng lời nói của Đỗ Từ Uyên tựa như những nhát búa đá giáng thẳng vào sự im lặng ngột ngạt của tiền sảnh. Không gian xung quanh chìm vào tĩnh mịch đến rợn người, chỉ còn lại tiếng gió bấc rít qua những khe thông gió bằng đá xẻ dọc trên vòm trần cao vút, tạo nên những thanh âm u u như tiếng khóc than của những cái tên đã bị lãng quên ngoài kia.
Trình Dạ không hề biến sắc. Gương mặt sạm đen vì nắng gió bến sông của anh vẫn giữ nguyên vẻ điềm tĩnh sắt đá. Anh đã quá quen với sự khắc nghiệt của bến nước, đã thấu hiểu những lời thề lạnh lẽo gắn liền với dòng Dạ Thủy suốt bao năm cắm sào cô độc. Người chèo đò đứng thẳng người, đôi bàn tay thô ráp đầy những vết chai sạn vì năm tháng nắm chặt mái chèo từ từ đưa lên, gỡ chiếc bọc vải chàm bạc màu đang đeo chéo trên lưng xuống.
"Tiền bối nói rất phải," Trình Dạ trầm giọng đáp, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào người quản hồ sơ nghiêm khắc mà không hề chớp lấy một lần. "Huyết thống là thứ cha mẹ ban cho khi chào đời, đó là ân huệ tự nhiên chứ không phải công trạng để mang ra đòi hỏi quyền lợi. Tôi đến đây đêm nay không phải để xin một ân huệ từ người quen cũ của cha tôi."
Anh bước qua ngưỡng cửa đá dày cộp, đặt chân vào giữa tiền sảnh. Đế giày rơm phát ra tiếng ma sát khô khốc trên mặt đá hoa cương.
Chính giữa sảnh đá hoa cương lạnh lẽo đặt một bệ đá đen nguyên khối hình vuông vức, mỗi chiều chừng sáu thước. Mặt đá phẳng lì như một tấm gương nước đóng băng, bốn góc chạm khắc những đường rãnh chìm uốn lượn tinh xảo nối liền trực tiếp với hệ thống cơ quan ngầm sâu thẳm dưới nền các. Trình Dạ quỳ một gối xuống trước bệ đá, động tác thong thả, cẩn trọng và trang nghiêm như thể anh đang thực hiện một nghi thức giao đò vào canh ba tăm tối giữa dòng nước xoáy.
Đầu tiên, anh mở lớp vải chàm, cẩn thận nhấc mảnh áo gai nâu sờn cũ kỹ đặt lên mặt đá đen. Vết khuyết hình bán nguyệt sắc gọn trên góc vạt áo lộ ra rõ mồn một dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn lồng treo trên vách đá. Những đường chỉ khâu màu đỏ sẫm viền quanh mép cắt ánh lên một tia sáng yếu ớt nhưng dai dẳng phi thường—đó là sợi chỉ tẩm khí tức bản mệnh được chính tay Trình Hoài bện từ ba sợi tóc tinh huyết của mình, ngâm qua tủy ngải cứu âm suốt chín năm ròng rã dưới đáy bùn lạnh.
Thứ hai, anh rút từ trong tay áo rộng ra đoạn dây đò ba tao bằng sợi gai thô. Trên đoạn dây ngắn ngủi ấy mang ba nút thắt ngược quấn tréo ba vòng—dấu tích độc môn của những chuyến đò bí mật chở người bị tước danh mà cha anh từng âm thầm thực hiện ngoài luồng mười hai năm về trước để chống lại lệnh cấm của Ty Danh Tịch.
Cuối cùng, Trình Dạ đặt lên bệ đá bản tường trình cứu người do chính tay anh lập tại Bến Lau Tàn. Trên góc tờ giấy dó ngâm nước âm thâm trầm, dấu ấn máu tươi ấm nóng mà anh đã tự rạch đầu ngón tay lập khế ước bảo chứng giữa dòng nước xiết vẫn còn đỏ thắm, tỏa ra một làn sinh tức mỏng manh nhưng vô cùng bền bỉ. Bên cạnh đó, Phạm Lục run rẩy nuốt nước bọt, tiến lên hai bước rồi đặt tập bản thảo tính thuế bằng con số thủ công không mang dấu triện hành chính—bằng chứng vật chất độc lập về ba trăm mẫu ruộng và mười bảy nếp nhà của Làng Sau Miếu từng tồn tại trước khi bị xóa sổ hoàn toàn khỏi địa bạ Lạc Châu.
"Đây là tất cả những gì tôi mang đến," Trình Dạ nói, từng tiếng một vang lên rõ ràng, rành rọt đập vào vách đá. "Không có máu mủ đòi ơn, chỉ có chứng tích đòi lời đáp."
Ngay khoảnh khắc mảnh áo gai vừa tiếp xúc trọn vẹn với mặt bệ đá đen, một hiện tượng kỳ dị bỗng nhiên xuất hiện trước mắt bốn người.
Vết khuyết hình bán nguyệt trên góc vạt áo gai khớp khít khao đến từng ly với một rãnh lõm chìm hình bán nguyệt ẩn giấu vô cùng tinh vi trên mặt đá hoa cương. Sợi chỉ đỏ bện bằng tóc tinh huyết của Trình Hoài bỗng nhiên run rẩy kịch liệt, tựa như một con rắn lửa nhỏ vừa bừng tỉnh sau giấc ngủ đông dài đằng đẵng. Một luồng khí tức ấm nóng, mang theo mùi khói ngải cứu thân thuộc của bến đò xưa cũ, từ trong từng thớ chỉ gai bừng sáng lên một màu đỏ tía rực rỡ.
*Uỳnh... uỳnh...*
Tiếng cơ quan đá nghiến ken két vào nhau trầm đục dội lên từ lòng đất sâu hoắm. Mặt sàn đá hoa cương dưới chân họ khẽ chấn động nhẹ. Giữa bệ đá đen, một phiến đá vuông vức từ từ tụt xuống theo phương thẳng đứng, và từ trong hốc tối sâu thẳm, một chiếc hòm rèn bằng huyền thiết nguội nguyên khối chầm chậm trồi lên mặt đất.
Toàn thân chiếc hòm sắt đen nhánh, bóng loáng và không hề vương một vết gỉ sét dù đã chôn vùi hơn một thập kỷ, nhưng nó bị khóa chặt bởi một ổ khóa cơ quan phức tạp mang hình đóa hoa sen úp ngược đúc liền với một ngàm thép hình bán nguyệt sắc lẹm. Khi luồng ánh sáng đỏ từ sợi chỉ khí tức lan tỏa khắp các rãnh chìm trên mặt đá, chạm thẳng vào ngàm thép, ổ khóa phát ra một tiếng "cạch" lanh lảnh, ngân vang như một nốt chuông đồng thanh thoát trong không gian kín mít. Niêm phong cơ quan của chiếc hòm sắt đã nhận diện được khí tức bản mệnh của người gửi năm xưa, tạo ra sự cộng hưởng mãnh liệt và tự động mở bung một nửa chốt hãm bên trong.
Lâm Chiêu khẽ nín thở, hai mắt mở to. Kiếm Chiếu Hồn bên hông nàng khẽ rung lên bần bật, vỏ kiếm bằng gỗ đàn hương phát ra những tiếng vo ve trầm thấp, cộng hưởng sâu sắc với luồng chính khí thuần hậu tỏa ra từ bên trong chiếc hòm sắt cổ.
Đỗ Từ Uyên bước chầm chậm đến sát mép bệ đá. Bà cúi đầu nhìn chằm chằm vào chiếc hòm sắt huyền thiết rồi lại từ từ ngước lên nhìn Trình Dạ. Ánh mắt nghiêm nghị, sắc bén như lưỡi dao của bà thoáng qua một tia xao động rất khẽ, nhưng nét mặt người đàn bà quản kho vẫn giữ nguyên vẻ lạnh băng như tiền sảnh đá:
"Khí tức này... đúng thật là của Trình Hoài. Không thể giả mạo được. Chiếc hòm huyền thiết này do chính tay ông ấy niêm phong vào đêm rằm tháng Bảy mười hai năm trước, giao hẹn với bổn các rằng chỉ mở khi có ngàm áo bản mệnh khớp chuẩn xác với ổ khóa. Nhưng Trình Dạ, việc mở ra một gói tài liệu bị cấm đoán suốt mười hai năm qua không phải là một trò đùa bồng bột của con trẻ. Ngươi phải hiểu rõ điều này: khi niêm phong bị phá vỡ hoàn toàn, danh tính của những kẻ bị phong kín bấy lâu sẽ trỗi dậy, và cái giá phải trả để bảo vệ sự thật ấy sẽ đè nặng lên chính đôi vai của ngươi. Ngươi muốn dùng thứ mà cha ngươi đánh đổi cả tính mạng để lại này để làm gì? Để rửa sạch tiếng oan khuất cho dòng họ Trình, đòi lại quyền mở bến đò độc lập từ tay Hội Giữ Bến, hay để dâng lên quan phủ đổi lấy một con đường sống an thân trước nanh vuốt của Huyền Đăng Môn?"
Trình Dạ ngẩng cao đầu, ánh mắt kiên định không hề né tránh hay chùn bước trước ánh nhìn thấu thị của người đàn bà quản kho:
"Nếu tôi cần danh vọng hay bổng lộc của người đời, tôi đã chẳng ở lại Bến Lau Tàn cắm sào qua bao mùa nước cạn nước lũ. Nếu tôi sợ chết trước quyền lực của tiên môn, tôi đã trói gô người sống không bóng giao nộp cho toán tuần kiểm của Hội Giữ Bến ngay từ canh ba đêm mưa ấy để nhận thưởng. Tôi không tìm kiếm sự minh oan hay danh dự cho người đã khuất. Người đã khuất nằm dưới đất sâu chỉ cần một sự thật duy nhất. Tôi đến đây vì người còn sống."
Anh đưa ngón tay thô ráp chỉ thẳng vào bản tường trình mang dấu vết máu tươi của mình trên bệ đá:
"Người mà tôi vớt được giữa dòng Dạ Thủy hiện đang thở, đang chảy máu từng canh giờ, nhưng cơ thể anh ta không có bóng dưới trăng, và trong đầu anh ta không còn nhớ nổi tên của chính mình. Để giữ lại một tia sinh tức mỏng manh cho anh ta trước con nước âm nuốt chửng, tôi đã phải hiến tế toàn bộ ký ức thật về âm sắc giọng nói của cha mình cho dòng sông. Tôi đã nhận một món nợ bảo chứng bằng chính máu và hồn của một người chèo đò. Nếu trên thế gian này có những kẻ dám dùng cấm thuật Đoạt Danh tàn độc để biến một con người đang sống sờ sờ thành một bóng ma hư vô, để xóa sổ cả một ngôi làng mười bảy nóc nhà như thể họ chưa từng sinh ra trên cõi đời, thì trách nhiệm của người giữ bến là phải chèo đò đưa họ sang bờ an toàn. Tôi mở chiếc hòm này không phải để đòi nợ cho người cha đã chết, mà để hoàn thành trọn vẹn món nợ bảo danh đối với một sinh mạng đang bị tước đoạt."
Không gian tiền sảnh rộng lớn im phăng phắc. Tiếng gió bấc rít qua khe đá bên ngoài dường như cũng ngừng bặt lại trong khoảnh khắc ấy.
Lâm Chiêu nhìn Trình Dạ đứng sừng sững bên bệ đá, trong lồng ngực nàng dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc xen lẫn nỗi xót xa khôn tả. Nàng biết rất rõ cái giá mà anh đã phải trả ở bến sông đêm đó: anh đã vĩnh viễn mất đi ký ức về âm sắc giọng nói của người cha kính yêu—một vết thương linh hồn vĩnh viễn không bao giờ có thể hàn gắn hay bù đắp, vậy mà người đàn ông ấy chưa từng một lần mở miệng than vãn hay để lộ sự do dự trên bước đường cùng.
Đỗ Từ Uyên đứng lặng hồi lâu giữa bóng tối của sảnh đá. Những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt bà khẽ giãn ra, ánh nhìn sắt đá, lạnh lùng ban nãy dần dần chuyển thành sự trầm mặc thấu suốt của một người đã chứng kiến quá nhiều bi kịch nhân gian. Bà hít một hơi sâu, luồng không khí buốt giá của hầm đá tràn vào lồng ngực gầy guộc:
"Người chèo đò giữ lời thề bến nước... Mười hai năm trước, Trình Hoài cũng đứng đúng ở vị trí ngươi đang đứng hôm nay, nói những lời không sai lệch lấy một chữ. Khi ấy, ông ấy nhìn vào mắt ta và nói rằng: 'Thân xác này có thể nát tan dưới đáy sông, nhưng danh phận của người sống thì tuyệt đối không thể để kẻ khác cướp đoạt làm mồi lửa cho tham vọng đảo điên'."
Bà chậm rãi đưa hai bàn tay gầy gò, nổi rõ những đường gân xanh ra khỏi ống tay áo xám tro, ngón tay khẽ kết thành một đạo ấn quyết kỳ dị mang hình thoi. Đầu ngón tay trỏ của bà điểm nhẹ nhưng dứt khoát lên ba điểm chốt ẩn giấu trên ngàm hoa sen úp ngược của chiếc hòm sắt:
"Ta, Đỗ Từ Uyên, người quản hồ sơ đời thứ bảy của Tàng Danh Các, nhân danh Người Giữ Chứng Tích chuẩn thuận mở niêm phong."
*Cạch! Rắc!*
Ổ khóa huyền thiết xoay chuyển một vòng nửa hình tròn, phát ra những tiếng bánh răng ăn khớp giòn giã. Chiếc nắp hòm nặng trịch bằng sắt nguội từ từ bật mở lên phía trên. Một làn sương mỏng manh mang theo mùi gỗ dâu rừng khô ráo và mùi giấy bản cổ xưa ùa ra không gian, lập tức xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương của gian phòng đá.
Bên trong chiếc hòm được lót một lớp gấm điều dày dặn đã ngả màu ố vàng theo thời gian, Đỗ Từ Uyên cẩn trọng đưa hai tay nhấc ra hai vật thể được đặt ngay ngắn ở vị trí trung tâm.
Vật thứ nhất là một cuốn sổ dày cộp đóng bằng chỉ gai thô năm tao, bìa ngoài bọc bằng da cá trắm đen đã khô quắt và cứng lại như vỏ cây cổ thụ. Trên mặt bìa da không hề có những tiêu đề hoa mỹ hay triện son rực rỡ, chỉ có một dòng chữ viết bằng thứ mực tàu pha chu sa đã ngả sang màu nâu tím sẫm: *Nhật Ký Hành Trình Bảo Danh — Bến Lau Tàn (Năm thứ mười hai trước)*. Từng trang giấy bản dày dặn bên trong được chép kín bằng nét chữ vuông vức, góc cạnh và đanh thép quen thuộc của Trình Hoài. Trong đó ghi chép chi tiết đến kinh ngạc từng chuyến đò bí mật chở những nhân chứng sống sót qua sông, những bảng số liệu đối chiếu chi tiết giữa chiều dài thực địa của đê điều và những bản địa bạ đã bị nha môn sửa đổi, cùng tọa độ chính xác của từng bến ngầm trung chuyển trong mùa nước dữ.
Và ngay ở trang thứ ba của tập nhật ký, một dòng ghi chú viết bằng mực đỏ đậm đập thẳng vào mắt mọi người:
*“Ngày mười bảy tháng Sáu: Đồng viện nghiên cứu cũ tại Huyền Đăng Môn — Bạch Huyền — đã chính thức tiếp nhận đề án Đập Khóa Mạch từ Thủy Sứ quán. Hắn chủ trương dùng thuật tách danh cưỡng bức quy mô lớn để biến người sống thành vật mồi ổn định thủy mạch cõi âm. Cấm thuật này phản bội lại toàn bộ tôn chỉ bảo danh ban đầu. Con đường này không thể đồng hành. Ta phải phân tán điểm neo trước khi hắn phong tỏa lưu vực.”*
Lâm Chiêu siết chặt lấy chuôi kiếm Chiếu Hồn bên hông, năm đầu ngón tay nàng bấu chặt đến mức các đốt ngón trắng bệch ra không còn một giọt máu. Dù chính mắt nàng đã từng nhìn thấy con dấu sáp đỏ tàn nhẫn trên những thẻ tre thu được ở Cồn Đèn Câm, nhưng giờ đây, khi đọc từng con chữ do chính người bạn tri giao cũ của sư phụ ghi lại từ mười hai năm trước, nỗi đau đớn và bàng hoàng vì sự sa đọa của người thầy tôn kính vẫn như một nhát dao sắc lẹm cứa thẳng vào tim gan nàng. Sư phụ nàng—người từng dạy nàng rằng đạo kiếm là để che chở cho sinh linh—hóa ra lại là kẻ chủ mưu biến đồng loại thành vật hiến tế cho dòng nước lạnh.
Vật thứ hai được lấy ra khỏi hòm là một con dấu chức nghiệp nhỏ nhắn gọt từ gỗ thị cổ, kích thước chỉ to cỡ nửa bàn tay người lớn. Con dấu có hình khối vuông vức, cán dấu được tiện tỉ mỉ hình một búp sen thanh nhã, nhưng điều kỳ lạ và rợn người nhất là: toàn bộ bề mặt phẳng khắc chữ ở đáy con dấu đã bị một lưỡi dao sắc bén cạo mài nham nhở. Những vết chém, vết cào xước sâu hoắm đan xen chằng chịt vào nhau, tựa như một hành động điên cuồng nhằm xóa sạch hoàn toàn danh tính và chức phận của người từng sở hữu nó. Tuy nhiên, nếu nghiêng mặt gỗ dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn lồng vách đá, ở góc trên bên trái của bề mặt vẫn còn sót lại một góc nhỏ của bộ thủ "Mộc" (木) cùng một nét phẩy sắc nhọn—vết tích hiếm hoi chưa bị cạo sạch của một chữ Hán cổ xưa.
"Đây chính là con dấu của giám sát viên kho cơ mật thuộc Ty Danh Tịch mười hai năm về trước," Đỗ Từ Uyên lẩm bẩm, thanh âm của bà chùng xuống, đầu ngón tay khẽ miết qua bề mặt gỗ thị xù xì, nham nhở. "Trình Hoài đã mạo hiểm cả mạng sống của mình để cướp lấy nó và giấu kín vào đây cùng tập nhật ký. Đêm ấy, ông ấy đã nói với ta rằng con dấu này là vật chứng nghề nghiệp duy nhất còn sót lại của người nắm giữ toàn bộ hệ thống sổ bộ kiểm kê Làng Sau Miếu trước khi đại nạn cắt danh giáng xuống."
Bà khẽ thở dài một tiếng nặng nhọc, đưa tay lần vào ngăn kéo trượt bí mật nằm sát bên hông đáy hòm sắt để rút ra tờ phiếu lưu trữ đi kèm, nhằm hoàn tất các thủ tục bàn giao nghiêm ngặt theo đúng quy định truyền đời của Tàng Danh Các.
"Mỗi một gói tài liệu khi được nhập kho Tàng Danh Các đều bắt buộc phải có một 'Phiếu Tiếp Nhận' độc lập ghi rõ ngày giờ, chữ ký điểm chỉ của người gửi và thủ bút của người quản thủ, viết trên loại giấy bản ngâm bột đá hoa cương đặc chế của bổn các để có thể chống ẩm mốc và mối mọt suốt ba trăm năm..."
Giọng nói của Đỗ Từ Uyên bỗng nhiên ngưng bặt giữa chừng.
Bàn tay gầy guộc của bà cứng đờ lại ngay giữa không trung.
Sắc mặt của người đàn bà quản kho vốn dĩ luôn điềm tĩnh, lạnh lùng như mặt hồ mùa đông bỗng chốc biến đổi một cách kinh hoàng. Đôi mày hoa râm nhíu chặt lại thành một búi, hai mắt bà trợn trừng, trừng trừng nhìn vào tờ giấy mỏng vừa được rút ra từ khe trượt bí mật dưới đáy hòm.
"Sao... sao có thể như thế này được?!" Đỗ Từ Uyên thốt lên, thanh âm run rẩy hiếm hoi để lộ sự chấn động tột cùng đang cuộn trào trong tâm can.
"Có chuyện gì bất thường vậy tiền bối?" Trình Dạ lập tức tiến sát lại một bước, trực giác nhạy bén của một người chèo đò bao năm đối mặt với hiểm nguy mách bảo anh rằng có một cạm bẫy vô hình vừa lộ diện.
Đỗ Từ Uyên không trả lời ngay. Bà giơ tờ phiếu tiếp nhận lên sát ngọn đèn vách, những ngón tay gầy run rẩy sờ nắn từng thớ giấy, miết nhẹ mép giấy rồi đưa hẳn lên mũi ngửi một cách kỹ lưỡng.
"Tờ giấy này... đây là giấy dó vỏ dâu mới!" Bà nghiến chặt hai hàm răng, từng chữ thốt ra như nghẹn ứ lại nơi cuống họng vì phẫn nộ. "Chất xơ của giấy còn rất mềm, hồ dán mép vẫn còn nồng nặc mùi nhựa thông non—loại nhựa thông mà xưởng in của nha môn Lạc Châu mới bắt đầu pha chế để dùng trong vòng nửa năm trở lại đây! Nét chữ trên giấy mô phỏng thủ bút của ta mười hai năm trước vô cùng tinh vi, từng nét sổ, nét móc đều giống đến chín phần mười, thậm chí con dấu triện tiếp nhận của Tàng Danh Các cũng được khắc giả khéo léo đến từng vết sứt mẻ nhỏ nhất... Nhưng giấy thật của Tàng Danh Các là loại giấy bản ngâm bột đá hoa cương khô cứng và thô ráp, trải qua trăm năm cũng không bao giờ có cái mùi nhựa thông non nặc nồng nặc thế này!"
Phạm Lục nghe thấy thế liền đánh bạo thò đầu qua vai Trình Dạ để nhìn, ánh mắt hắn đảo lia lịa trên mặt giấy rồi sắc mặt hắn thoắt cái tái nhợt như tàu lá chuối:
"Đúng... đúng thật là giấy của Ty Danh Tịch rồi! Loại giấy dó vỏ dâu pha nhựa thông này chính là loại nha môn đặt riêng phường giấy ngoài bến làm từ đầu năm ngoái để in các bản thông tri thuế khóa mới... Tôi ngày nào cũng phải ngồi quét mực in hàng trăm bản ở gian phòng ngoài, tôi ngửi cái mùi này đến phát nôn mửa ra được, không đời nào tôi có thể nhầm lẫn!"
Một sự im lặng ngột ngạt, nặng nề đến nghẹt thở lập tức bao trùm lấy toàn bộ sảnh đá hoa cương.
Phiếu tiếp nhận gốc từ mười hai năm trước đã bị kẻ nào đó đánh tráo một cách vô cùng tinh vi bằng một tờ giấy giả mạo hoàn toàn mới!
"Có nội gián..." Lâm Chiêu thầm thì, giọng nàng run lên vì kinh sợ. Thanh kiếm Chiếu Hồn trong tay nàng bỗng nhiên phát ra một tiếng rền rĩ u u đầy cảnh giác. "Đã có kẻ thâm nhập được vào tận nơi thâm nghiêm sâu kín này của Tàng Danh Các."
Đỗ Từ Uyên từ từ hạ bàn tay cầm tờ giấy giả xuống. Gương mặt vuông vức của bà xám xịt lại như tro tàn của tờ sớ vừa cháy dở, nhưng sâu thẳm trong đôi mắt thâm trầm ấy lại bùng lên một ngọn lửa giận dữ và kinh hãi tột cùng:
"Tàng Danh Các được xây dựng hoàn toàn độc lập với thế tục, các tầng cơ quan bằng đá hoa cương ngầm chỉ có ba người quản thủ cao nhất của ba chi nhánh nắm giữ chìa khóa và truyền thừa khẩu quyết qua từng thế hệ. Vậy mà... kẻ thù đã đặt chân vào tận đây từ lúc nào mà ta không hề hay biết! Bọn chúng không dám phá hòm bằng vũ lực vì sợ kích hoạt cấm chế tự hủy bằng khí tức mà Trình Hoài đã bố trí sẽ làm kinh động đến ta, nhưng chúng đã tráo đổi phiếu tiếp nhận để bí mật theo dõi... Bọn chúng đang nằm im chờ đợi một thời điểm thích hợp nhất để tiêu hủy toàn bộ chứng tích này một cách hợp pháp khi đại kế Đập Khóa Mạch được hoàn tất!"
Bà quay phắt sang nhìn Trình Dạ, giọng nói trở nên dồn dập, gãy gọn, hoàn toàn mất đi vẻ ung dung, chậm rãi thường nhật:
"Mạng lưới cắt danh của Bạch Huyền không chỉ lộng hành ngoài bến nước, không chỉ thao túng quan phủ Lạc Châu từ trong bóng tối. Bọn chúng đã cắm những chiếc vòi bạch tuộc vào tận nơi tôn nghiêm cuối cùng của ký ức này! Tàng Danh Các không còn là nơi an toàn tuyệt đối nữa rồi. Chậm nhất là vào sáng sớm mai, khi tin tức về việc kho hồ sơ cũ ở Ty Danh Tịch bị lửa thiêu rụi lan truyền khắp thành, bọn chúng nhất định sẽ mượn cớ kéo đến đây đòi thanh tra toàn diện để xóa sạch chiếc hòm này cùng toàn bộ chứng tích bên trong!"
Trình Dạ siết chặt hai nắm đấm, những đường gân xanh trên cánh tay cuộn lên nổi rõ dưới lớp áo nâu sờn rách:
"Bọn chúng muốn chặn đứng mọi manh mối, bóp chết mọi đường sống của những nhân chứng cuối cùng. Tiền bối, con dấu gỗ thị này..."
"Con dấu này không thể ở lại đây thêm một khắc nào nữa!" Đỗ Từ Uyên dứt khoát ngắt lời. Động tác của bà nhanh như cắt, nhanh chóng cuộn chặt tập nhật ký bìa da cá trắm của Trình Hoài bọc kín vào lớp vải chàm dẻo dai, rồi nắm chặt lấy con dấu gỗ thị bị cạo mài nham nhở vào lòng bàn tay. "Con dấu chức nghiệp này mang hơi thở, chức trách và sinh mệnh nghề nghiệp của người sở hữu nó suốt mười mấy năm ròng rã. Khi một con người bị tước đoạt danh tính bằng cấm thuật Đoạt Danh tầng thứ ba thâm sâu nhất, mọi ký ức trong đầu họ đều bị phong kín sau bức tường cấm chế, chỉ có sự tiếp xúc vật lý trực tiếp với vật định danh nghề nghiệp có thực chất mới có thể kích hoạt điểm neo sâu nhất trong thức hải, giúp họ vượt qua phản phệ tự hủy mà nhớ lại bản thân mình là ai!"
Bà bước tới trước mặt Trình Dạ, nhìn thẳng vào mắt anh bằng một ánh mắt cương quyết chưa từng có:
"Người sống không bóng mà ngươi cứu vớt được... anh ta hiện đang ở đâu?"
"Tại Bến Lau Tàn," Trình Dạ đáp nhanh, từng chữ dứt khoát. "Mẹ tôi đang dùng chính sinh mệnh và thân thể của bà để canh giữ ngọn đèn dầu lạc nuôi dưỡng sinh tức cho anh ta. Nhưng sinh tức của anh ta đang suy kiệt từng khắc, cấm chế hoa sen ngược của Huyền Đăng Môn trong thức hải anh ta có thể bùng phát nghiền nát tâm trí bất cứ lúc nào."
"Đi! Chúng ta phải quay về Bến Lau Tàn ngay lập tức!" Đỗ Từ Uyên dứt khoát hạ lệnh. Tà áo xám tro của bà tung bay phần phật khi bà quay phắt người, sải những bước chân dài thoăn thoắt về phía cửa vòm đá. "Trước khi tiếng gà gáy đầu tiên điểm canh năm đánh thức thành phố này, ta phải đích thân kiểm chứng người nhận nợ bảo chứng của Trình Hoài!"
* * *
Màn đêm buông xuống trên dòng sông Dạ Thủy quánh đặc và đen kịt như mực tàu đổ ra từ một nghiên mực khổng lồ. Gió bấc từ thượng nguồn thổi về ràn rạt, hung hãn quất từng cơn buốt giá qua những rặng lau khô cằn cỗi ven bờ, tạo nên những âm thanh ma quái, ảo não tựa như tiếng khóc than của muôn vàn oan hồn không nơi nương tựa.
Bốn bóng người gấp gáp vượt qua những lối mòn hoang phế gập ghềnh ven chân đê, căng mắt né tránh mọi ánh đuốc tuần tra lập lòe của lính Thủy Sứ quán đang lùng sục ngoài xa. Họ đang chạy đua từng hơi thở với thời gian nghiệt ngã để trở về Bến Lau Tàn. Tiếng nước sông Dạ Thủy vỗ bì bõm dưới chân đê mỗi lúc một dồn dập, nghe như nhịp đập của một trái tim khổng lồ đang dần nghẹt thở khi giờ nước khép—thời khắc cõi âm và cõi dương giao hòa—đang đến gần từng tấc một.
Khi Trình Dạ đạp tung cánh cửa liếp ọp ẹp bước xộc vào gian buồng sau của căn nhà chờ Bến Lau Tàn, một mùi ngải cứu âm nồng nặc xen lẫn mùi dầu lạc cháy khét lẹt lập tức xộc thẳng vào mũi mọi người.
Bà Lê An đang ngồi sụp dưới nền đất lạnh ẩm bên cạnh chiếc giường tre, lưng còng rạp xuống. Hai mắt bà thâm quầng vì kiệt sức, hai bàn tay gầy guộc run rẩy không ngừng, cố gắng khum lại để che chắn từng cơn gió lọt qua vách nứa cho ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên chiếc đôn gỗ mục. Ngọn lửa nhỏ nhoi chỉ còn bằng hạt đỗ xanh, chập chờn run rẩy như muốn lụi tàn vĩnh viễn trước những luồng gió lạnh thấu xương.
Trên chiếc giường tre thô sơ, Khách Vô Danh đang nằm co quắp lại như một con thú bị thương nặng. Thân thể anh ta run lên từng chặp bần bật, mồ hôi lạnh vã ra như tắm ướt đẫm manh chiếu cói rách rưới. Cổ tay mang vết sẹo xích sắt sâu hoắm thâm tím lại một cách đáng sợ, từng đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo tựa như những con giun đất đang quằn quại dưới da. Đôi mắt anh ta trợn ngược lên, lòng trắng mờ đục và dại đi trong vô thức. Hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra những tiếng ken két rợn người vì đau đớn cùng cực, trong khi khóe miệng bắt đầu rỉ ra một vệt bọt mép màu xám tro nhờ nhờ—dấu hiệu đáng sợ nhất cho thấy cấm chế hoa sen ngược của Huyền Đăng Môn đang bắt đầu thắt chặt lấy thức hải, rắp tâm bóp chết tia sinh tức cuối cùng của nhân chứng.
"Dạ... con... con đã về rồi đấy ư..." Bà Lê An thều thào, giọng nói khản đặc không còn thành tiếng, đôi môi khô nứt nẻ run lên bần bật. "Ngọn đèn... ngọn đèn này sắp cạn dầu rồi con ơi, tim đèn cứ lụi dần... người này... người này sắp không chịu nổi nữa rồi..."
Trình Dạ lao vội tới đỡ lấy đôi vai gầy guộc run rẩy của mẹ, trong khi Lâm Chiêu không một chút chần chừ, lập tức rút thanh kiếm Chiếu Hồn ra khỏi vỏ. Một tiếng "keng" thanh tao vang lên xé toạc bầu không khí u ám, nàng phóng ra một luồng linh quang thuần khiết bao bọc lấy đỉnh đầu người bệnh, dùng toàn bộ chân nguyên của mình để tạm thời ngăn chặn không cho cấm chế độc ác kia bùng phát dữ dội thêm.
Đỗ Từ Uyên bước nhanh tới sát bên mép giường tre. Đôi mắt sắc bén của người cả đời trông giữ hồ sơ Tàng Danh Các dừng lại thật lâu trên khuôn mặt hốc hác, biến dạng vì đau đớn tột cùng của người thanh niên vô danh. Khi nhìn thấy vết sẹo xích sắt ăn sâu vào tận xương cổ tay và vệt đen hình đóa sen úp ngược đang lan dần từng vệt từ thái dương xuống gò má anh ta, hơi thở của bà khẽ nghẹn lại nơi lồng ngực:
"Đây chính là thủ pháp phong bế cấm kỵ của Viện Nghiên Cứu Bảo Danh năm xưa... Quả nhiên không sai, Bạch Huyền đã bí mật giam giữ người này suốt mười hai năm đằng đẵng trong ngục tối..."
Không một chút do dự, Đỗ Từ Uyên bước hẳn lên một bước dài, cúi thấp người xuống mép giường tre. Bà mở bàn tay đang siết chặt con dấu gỗ thị cổ bị mài mòn mặt khắc ra, nhẹ nhàng nhưng dùng một lực vô cùng dứt khoát, nắm lấy bàn tay lạnh ngắt, cứng đờ như xác chết của người thanh niên.
Bà cạy từng ngón tay đang co quắp của anh ta, đặt con dấu chức nghiệp bằng gỗ thị lọt thỏm vào giữa lòng bàn tay gầy trơ xương của Khách Vô Danh.
Khi làn da khô ráp của lòng bàn tay người vô danh vừa chạm vào thớ gỗ thị cổ xưa, một luồng xung lực vô hình bỗng nhiên bùng nổ trong gian buồng chật hẹp. Vệt đen hình hoa sen úp ngược trên thái dương anh ta giật nảy lên dữ dội, phát ra những tia khói xám mỏng manh. Đôi mắt đang trợn ngược, mờ đục dại đi của người thanh niên bỗng chốc co rút lại. Từ sâu thẳm trong đáy mắt tăm tối ấy, một ngọn lửa ký ức rực cháy bừng lên, soi tỏ toàn bộ những mảnh đời vỡ vụn đang tìm đường trở về với chủ nhân của nó.