Mảnh Áo Khâu Bằng Chỉ Khí
Gian buồng sau Bến Lau Tàn chỉ leo lét một ngọn đèn hạt đỗ, mùi ẩm mốc của rương gỗ lâu năm hòa cùng mùi hương bài thoang thoảng từ lớp vải chàm được mở ra.
Bóng tối nơi góc buồng như đặc quánh lại, chỉ chừa ra một quầng sáng vàng đục run rẩy trên mặt chiếc chõng tre. Ngoài hiên, tiếng gió lùa qua rặng lau khô nghe xào xạc như tiếng chổi quét lá trên sân gạch hoang phế, thỉnh thoảng điểm xuyết một giọt sương đêm nặng trĩu rơi tõm xuống mố đá bờ sông. Dưới lườn đò cột ngoài bờ, nước vỗ bì bọp vào mạn gỗ mun, nhịp điệu chậm rãi và nặng trĩu như hơi thở của một kẻ đang chìm dần vào giấc ngủ vùi dưới đáy bùn lạnh buốt. Gian nhà vách nứa trát đất này đã đứng vững qua bao mùa nước lụt, tường vôi loang lổ những ngấn nước phù sa từ các năm lũ dữ, từng lớp bùn khô nứt chân chim bám chặt vào chân cột như vết tích của thời gian không thể gột rửa.
Bà Lê An ngồi trên mép chõng, hai bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo do dây kéo đò cứa qua năm tháng khẽ run rẩy. Làn da mu bàn tay bà mỏng như cánh ve, nổi rõ những đường gân xanh ngoằn ngoèo, khô ráp như vỏ cây dâu già nơi bãi bồi. Chiếc hộp gỗ dâu rừng đen nhánh đã được đặt trên mặt chõng, chiếc khóa đồng hình mắt cá chép ngậm chuỗi tiền âm lặng lẽ hắt lên ánh kim mờ đục. Gỗ dâu mọc bên bờ Dạ Thủy vốn mang tính kỵ tà, lại được ngâm qua nước vôi trong ba mùa giáp hạt rồi mới đem đóng hộp, nên dẫu trải mười hai năm chôn dưới gầm phản hay cất trong góc tủ, thớ gỗ vẫn đanh lại, không một vết mọt kênh. Nhưng thứ mà bà đang cẩn trọng gỡ ra không phải là những thỏi bạc vụn hay mớ khế ước nhà đất thường tình. Dưới bàn tay bà, từng lớp vải chàm nhuộm bằng nước củ nâu và rễ ngải cứu—thứ vải dùng để bọc những vật linh thiêng của nhà đò tránh tà khí Dạ Thủy—đang từ từ được bóc tách. Mỗi lớp vải lật ra lại làm căn buồng nhỏ đậm thêm mùi hương bài sấy khô, thứ mùi hương mộc mạc của gian nhà cũ mười hai năm về trước, khi bến đò này còn đủ đôi bàn tay chống sào của một người đàn ông.
Tiếng vải sột soạt ma sát vào nhau rất khẽ, nhưng trong không gian tĩnh mịch của đêm sâu, nó nghe rõ mồn một như tiếng bóc từng lớp vỏ của ký ức. Lớp vải thứ nhất màu xanh đen sẫm, mép viền đã sờn rách vì nước sông ngấm qua bao mùa mưa bão. Lớp thứ hai, thứ ba, rồi thứ tư... từng mảnh vải vuông vắn được gấp góc cẩn thận, mỗi nếp gấp đều miết chặt một hạt tiêu sọ và vài nhánh ngải cứu khô để chống ẩm và xua đuổi những luồng khí lạnh lẩn khuất dưới lòng đất. Đến lớp vải thứ bảy và thứ tám, sắc chàm đã phai nhạt dần thành màu xanh xám tro bếp, mùi củ nâu nồng đượm xộc thẳng vào cánh mũi, mang theo vị chát đắng quen thuộc của núi rừng thượng nguồn đổ về.
Đến lớp vải thứ chín, một mảnh vải thô màu nâu sờn lộ ra dưới ánh đèn dầu lạc.
Đó chỉ là một góc vạt áo cũ, rách mép, dài chưa đầy một gang tay. Vải áo làm bằng sợi gai dệt tay thô ráp, chỗ đầu vai đã bạc màu vì vết cọ xát của đòn gánh và dây néo thuyền qua hàng ngàn buổi sớm trưa dầm dãi nắng mưa. Những thớ sợi gai to bản, đan lỏng lẻo theo lối dệt vụng về của người dân chài ven sông, nhuốm màu bùn non và mồ hôi muối kết tinh thành những vệt ố vàng nhạt hình rễ cây. Nhưng điều kỳ lạ nằm ở đường viền chạy quanh mép cắt của mảnh áo. Toàn bộ chu vi của nó không được vắt sổ bằng chỉ bông thông thường, mà được viền kín bằng một loại chỉ màu nâu sẫm ánh lên sắc đỏ thẫm như máu khô. Từng mũi kim đều đặn, sít sao, đâm xuyên qua từng kẽ sợi gai một cách kiên nhẫn và chính xác tuyệt đối. Mỗi lần ánh lửa hạt đỗ chập chờn lướt qua, sợi chỉ ấy dường như lại phát ra một làn hơi ấm nhàn nhạt, đối nghịch hoàn toàn với cái lạnh buốt của gió sông Dạ Thủy đang rình rập ngoài khe liếp.
Đặc biệt, ở góc dưới của vạt áo, mép vải không được cắt bằng phẳng mà có một vết khuyết hình bán nguyệt rất ngọt, tựa như từng được khoét bởi một chiếc dùi sắt nung đỏ. Vết khuyết ấy cong tròn đều đặn, mép cắt cháy sém nhẹ nhưng đã được đường chỉ đỏ nâu bọc kín lấy từng sợi tơ thừa, không để lộ ra một mối chỉ rối nào.
Trình Dạ nín thở, ngực anh thắt lại. Một cảm giác quen thuộc đến rợn ngốc chạy dọc sống lưng anh. Dù trong tâm thức anh, âm sắc giọng nói trầm ấm của người cha đã vĩnh viễn tan biến thành một khoảng câm lặng sau lần lập ấn máu cứu khách, dù ký ức về gương mặt vuông vức sạm đen vì nắng gió của Trình Hoài đã bị màn sương mù của thuật Đoạt Danh xóa mờ đến mức chỉ còn lại một cái bóng mông lung, nhưng da thịt và huyết quản anh vẫn nhận ra hơi ấm này. Đó là hơi thở, là mồ hôi, là sinh tức bản mệnh của Trình Hoài—thứ sinh tức từng gắn liền với chiếc đòn gánh lim, với mùi khói thuốc rê nồng nặc và những chuyến đò vượt dòng âm thầm lặng trong đêm vắng.
Đầu ngón tay Trình Dạ run rẩy vươn ra. Khi da thịt anh chạm vào mặt vải thô ráp, một luồng sinh khí ấm áp nhưng dằn dữ lập tức truyền thấu qua đầu ngón tay, chạy thẳng lên cánh tay rồi dội vào lồng ngực. Dưới đáy các sợi gai khô khốc, anh dường như nghe thấy tiếng mạch máu đập khe khẽ, nhịp nhàng và kiên cường như nhịp mái chèo khua nước ngược dòng giữa cơn lũ lớn. Đó không phải là một món đồ vật vô tri; đó là một phần cơ thể, một mảnh sự sống còn sót lại của người cha đã mất tích.
"Mảnh áo này..." Trình Dạ thì thào, cổ họng anh khô khốc như có bụi tro nghẽn lại. "Mảnh áo này có hơi ấm của cha..."
"Đây là góc áo tơi của cha con," giọng bà Lê An khàn đặc, đôi mắt đục mờ nhìn đăm đăm vào mảnh vải như nhìn vào một nấm mồ chưa xanh cỏ. Hai giọt nước mắt đục ngầu ứa ra nơi khóe mi đầy vết chân chim, lăn chầm chậm qua gò má gầy guộc rồi đọng lại ở cằm. "Trước cái đêm ông ấy biến mất trên sông, cả người ướt sũng bùn Dạ Thủy, ông ấy đã ngồi ngay tại góc buồng này, ngay trên chiếc chõng tre này đây. Dưới ngọn đèn dầu lạc leo lét, ông ấy dùng chiếc kim đồng lớn nhất tự tay xâu từng tấc chỉ khí tức bản mệnh của mình viền quanh mảnh áo. Cha con nói, giấy có thể nát, mực có thể phai, dấu son của nha môn hay bùa chú của tiên môn rồi cũng có ngày bị người ta dùng thuật pháp xóa sạch. Chỉ có chỉ tẩm khí tức bản mệnh của người sống, khâu chặt vào mảnh áo lao dịch thấm đẫm mồ hôi của chính mình, mới là vật định danh độc lập tuyệt đối. Trời đất này không có thuật pháp nào giả mạo được một mạng người còn đang thở."
Bà Lê An dừng lại, đưa tay áo quẹt nhanh qua khóe mắt khô khốc, nơi những nếp nhăn xếp chồng lên nhau như bờ ruộng nứt nẻ mùa hạn. Ký ức mười hai năm trước dường như chưa bao giờ nguôi ngoai, chỉ chực chờ một ngọn gió thổi qua là bùng lên nhức nhối như than hồng vùi dưới tro trấu.
"Đêm mười lăm tháng Bảy năm đó," bà kể tiếp, thanh âm chùng xuống như tiếng nước rỉ dưới đáy thuyền thủng, từng chữ rơi ra nặng trịch và buốt giá, "trời mưa như trút nước, dòng Dạ Thủy dâng cao ngập quá cột chuông dẫn canh ba. Nước đỏ ngầu phù sa cuồn cuộn chảy xiết, rác rưởi và cành cây khô từ thượng nguồn trôi về dạt kín hai bên mép bến. Khách lạ tìm đến bến đông bất thường, nhưng không ai có tên trong sổ bến. Họ đứng túm tụm dưới rặng lau, đội nón mê rách nát, mặt mũi tái mét không nói một lời, chỉ giơ những đồng tiền kẽm rỉ xanh đòi sang sông. Giữa canh tư, khi tiếng sấm rền vang rách toạc bầu trời phía thượng nguồn, có một người mặc áo choàng tím thêu phù văn ngọn đèn câm của Huyền Đăng Môn đi thuyền đáy bằng đến tận nhà chờ. Chiếc thuyền ấy không có người chèo, tự lướt trên mặt sóng đen như một chiếc quan tài trôi nổi. Cha con tiếp người đó trong gian buồng ngoài. Mẹ ở buồng trong ôm con—khi ấy con mới mười hai tuổi, đang sốt li bì vì nhiễm chướng khí bờ sông, trán nóng như hòn than, miệng liên tục mê sảng đòi uống nước."
Bà siết chặt hai vạt áo chàm, khớp xương ngón tay trắng bệch, cả người run lên bần bật theo từng nhịp thở dồn dập:
"Họ cãi nhau kịch liệt. Tiếng gió bão bên ngoài lớn bao nhiêu thì tiếng thét bên trong rát buốt bấy nhiêu. Người của Huyền Đăng Môn đập bàn, quát tháo về việc 'Đập Khóa Mạch sắp khởi công', đòi cha con phải giao ra toàn bộ các bản lưu nhật trình bến nước cùng danh sách những người vượt sông không ghi sổ của ba năm trước đó. Họ nói đại trận phong mạch cần gom sạch mọi chứng tích để lưu vực này trở nên 'sạch sẽ', không còn tạp niệm sống chết quấy nhiễu. Họ bảo triều đình và tiên môn đã đồng thuận, dòng Dạ Thủy này phải bị khóa lại, và tất cả những kẻ từng trốn thuế, từng vượt biên, từng bỏ làng trôi dạt trên dòng nước này đều phải bị xóa tên vĩnh viễn khỏi trần gian để mạch đất được thuần khiết. Nhưng cha con không chịu. Ông ấy gầm lên, giọng vang rền lấn át cả tiếng sấm: 'Người chèo đò ăn thề với trời đất chỉ đưa người nhớ tên sang bờ, chứ không bao giờ tiếp tay gom tên người ta đem đi chôn sống hay tước đoạt! Sổ bến là mạng sống của khách, đò này chở người chứ không chở quỷ sai đi cướp linh hồn!'."
"Rồi sau đó thì sao, thưa mẹ?" Trình Dạ hỏi, lồng ngực dập dồn từng đợt sóng cuộn. Bàn tay anh nắm chặt lấy mép chõng tre, thanh gỗ lim nứt nẻ dưới sức ép của những ngón tay gân guốc.
"Sau đó, người của Huyền Đăng Môn rời đi, để lại một lời đe dọa lạnh như băng giá đáy sông: nếu trước rạng đông không nộp tài liệu, Bến Lau Tàn sẽ bị xóa tên khỏi địa bạ, và cả nhà họ Trình sẽ biến thành những kẻ vô danh trôi dạt giữa hai cõi. Hắn bảo chiếc đòn gánh của cha con rồi sẽ gãy, và dòng họ Trình sẽ không còn lấy một nén nhang cúng giỗ. Khi người đó đi khuất, bóng chiếc thuyền đáy bằng vừa tan vào màn mưa đen, cha con chạy xộc vào buồng trong. Mặt ông ấy tái mét, ướt sũng nước mưa, nhưng đôi mắt thì rực lửa giận dữ và hoảng loạn. Trên tay ông ấy cầm một bức thư mật niêm sáp đỏ hình hoa sen ba ngọn lửa—con dấu phong ấn của vị trưởng lão quyền lực nhất môn phái. Mẹ toan hỏi, thì cha con đã túm lấy tay mẹ lôi xềnh xệch lại gần bếp lửa."
Bà Lê An run lên, hơi thở ngắt quãng, hai mắt trừng lớn như thể ngọn lửa của mười hai năm trước đang bùng cháy ngay trước mặt:
"Cha con gí bức thư vào tay mẹ, ép mẹ tự tay ném nó vào đống than hồng. Mẹ sợ hãi không hiểu chuyện gì, run rẩy toan mở ra xem thì bị ông ấy tát một cái nảy lửa. Đó là lần duy nhất trong đời ông ấy đánh mẹ. Cả đời ông ấy hiền lành nhường nhịn, chưa từng nặng lời với mẹ nửa câu, vậy mà cái tát ấy làm mẹ ngã nhào xuống đống củi khô. Cha con nghiến răng nói, hai mắt đỏ ngầu như rỉ máu: 'Đốt đi! Đốt ngay lập tức! Bức thư này mang ấn ký triệu hồi và dấu định vị thần hồn của kẻ đứng đầu Huyền Đăng Môn. Nếu để nó còn lại dù chỉ một mẩu tàn tro, chúng sẽ dùng nó làm vật trung gian để thi triển thuật Đoạt Danh lên cả nhà ta. Một khi thuật ấy phát tác, thằng Dạ sẽ mất tên, mất họ, linh hồn nó sẽ bị rút cạn khỏi thân xác trước khi trời sáng! Đốt đi để cắt đứt liên hệ, để chúng không thể dùng máu huyết và dòng họ mà lần ra nó!'."
Giọt nước mắt muộn màng cuối cùng cũng rỉ ra từ khóe mắt mờ đục của bà, rơi xuống mặt bàn đá phát ra một tiếng "tách" khô khốc giữa sự lặng ngắt rợn ngợp của gian phòng.
"Mẹ đã run rẩy ném bức thư vào lửa. Nhìn từng dòng chữ ngoằn ngoèo bốc cháy thành tro xám, nhìn lớp sáp đỏ chảy tràn ra than hồng khét lẹt mùi lưu huỳnh, mẹ cứ ngỡ mình đang thiêu rụi chính mạng sống của gia đình mình. Mùi khói của bức thư đó lạ lắm, nó không có mùi giấy cháy thông thường, mà tanh nồng như máu tươi bị thiêu đốt. Đốt thư xong, cha con mới ngồi xuống, dùng con dao găm khoét một mẩu hình bán nguyệt này trên vạt áo, rồi lấy kim chỉ tẩm khí tức bản mệnh khâu viền lại giao cho mẹ. Ông ấy dặn: 'Ta phải đi một chuyến đò không có ngày về để giấu những thứ cần giấu. Nếu sau này có ngày thằng Dạ lớn lên, nó muốn tìm lại sự thật, hãy trao cho nó mảnh áo này. Chỉ có nó mới mở được hòm lưu trữ ta để lại ở nơi đá không ngấm nước âm'. Nói xong câu đó, ông ấy cắp đòn gánh bước thẳng xuống mố đò giữa cơn mưa bão mù mịt. Mười hai năm qua... mẹ đã sống trong nỗi giày vò cắn rứt, sợ rằng chính tay mẹ đốt lá thư ấy đã chặt đứt con đường tìm lại cha của con, sợ rằng mẹ đã tước đi cơ hội minh oan cho ông ấy..."
"Mẹ không làm sai," Trình Dạ trầm giọng, thanh âm run rẩy nhưng dứt khoát. Anh vươn hai cánh tay rắn rỏi ôm lấy bờ vai gầy guộc đang rung lên từng chặp của mẹ mình. Hơi ấm từ lồng ngực anh truyền qua lớp áo chàm mỏng manh, sưởi ấm thân hình tàn tạ của người đàn bà đã cô độc canh giữ bí mật suốt một phần mười đời người. "Nếu đêm đó mẹ không đốt lá thư trung gian ấy, có lẽ con đã không thể sống sót để lớn lên đến ngày hôm nay. Kẻ thù dùng thuật Đoạt Danh vô cùng xảo quyệt, chúng chỉ cần một mảnh giấy mang danh tính thật là có thể tước sạch sự tồn tại của cả một dòng họ. Cha đã nhìn thấu thủ đoạn của chúng, và mẹ đã bảo vệ con bằng chính sự dũng cảm của mẹ."
Lâm Chiêu nãy giờ vẫn đứng tựa lưng vào vách nứa, im lặng lắng nghe từng lời của bà Lê An. Mái tóc dài của nàng buộc gọn sau gáy, vài lọn tóc mai ướt đẫm sương đêm rủ xuống bên má. Thanh kiếm Chiếu Hồn đeo bên hông nàng khẽ phát ra tiếng ngân ong ong rất nhẹ, vỏ kiếm bằng gỗ thị đen rung rinh theo từng nhịp đập của luồng tử khí mỏng manh còn vương lại từ dòng Dạ Thủy bên ngoài bờ bãi. Nàng bước từng bước chậm rãi đến bên chõng tre, tà áo xanh ngọc khẽ lay động, đôi mắt phượng sáng quắc nhưng ẩn chứa sự trầm tư sâu sắc của một kẻ thù địch với chính môn phái đã nuôi nấng mình.
"Cho phép ta xem mảnh áo," Lâm Chiêu cất lời, giọng điệu mang vẻ thận trọng tuyệt đối của một tu sĩ am tường quy chuẩn phù trận và các cấm thuật cổ xưa.
Bà Lê An ngước nhìn Trình Dạ. Thấy con trai khẽ gật đầu, bà mới run rẩy nâng mảnh vải nâu sờn trao sang tay nàng. Đôi mắt bà vẫn đăm đắm nhìn theo từng cử động của bàn tay thiếu nữ, như thể sợ rằng chỉ cần một làn gió mạnh thổi qua cũng có thể làm tan biến mảnh di vật cuối cùng của chồng.
Lâm Chiêu không dùng tay trần nắm lấy toàn bộ mảnh vải. Là một người tu tập kiếm đạo và am hiểu sự xói mòn của linh khí, nàng biết rõ bất kỳ tạp niệm hay hơi ấm ngoại lai nào lúc này cũng có thể làm tổn hại đến lớp phong ấn mong manh. Nàng xòe bàn tay trái, vận một luồng linh lực thanh khiết màu ngọc bích từ lòng bàn tay bao bọc lấy mảnh áo, giữ cho nó lơ lửng cách da thịt nửa tấc trong một quầng sáng êm dịu. Ngón trỏ và ngón giữa tay phải nàng khép lại thành hình kiếm quyết, khẽ điểm vào sợi chỉ nâu ánh đỏ viền quanh mép cắt hình bán nguyệt.
Một luồng sáng mỏng tang, sắc như sợi tơ lụa màu lam nhạt bừng lên từ đầu ngón tay nàng. Linh giác Chiếu Hồn lập tức thẩm thấu vào từng thớ chỉ, luồn lách qua từng mối khâu cổ xưa.
"Xoạt..."
Một tiếng thở dài trầm đục, cổ xưa và đầy kiên cường như dội ngược từ quá khứ mười hai năm trước vang lên trong thức hải của Lâm Chiêu. Âm thanh ấy mang theo tiếng gầm gào của dòng nước lũ, tiếng đòn gánh kẽo kẹt trên vai và ý chí sắt đá của một người chèo đò thà chết chứ không chịu cúi đầu trước uy quyền tà đạo. Cơ thể Lâm Chiêu khẽ chấn động, lồng ngực nàng nhói lên một cơn đau buốt do vết thương phản phệ từ trận chiến ở Cồn Đèn Câm chưa lành hẳn. Nàng lùi lại nửa bước, chân trụ vững trên nền đất nện, sắc mặt vốn đã tái nhợt nay lại càng thêm nghiêm nghị.
"Đúng là khí tức bản mệnh độc lập," Lâm Chiêu thu lại kiếm quyết, ánh sáng lam nhạt tan dần vào không khí, để lại một làn khói trắng mỏng tang bốc lên từ đầu ngón tay nàng. Nàng nhìn Trình Dạ, ánh mắt không giấu nổi sự kính phục đối với sự tính toán thâm sâu và phi thường của người giữ bến quá cố. "Sợi chỉ này được tết từ ba sợi tóc gốc mang tinh huyết của Trình Hoài tiền bối, ngâm trong dịch tủy cây ngải cứu âm chín năm và phong linh bằng chính lời thề bến nước. Dấu vết này mang cấu trúc sinh trắc độc nhất vô nhị. Mực son có thể bị cấm thuật bôi xóa, thẻ tre có thể bị hỏa phù thiêu rụi, nhưng ấn ký khí tức này đã hòa làm một với sợi gai thô. Kẻ thi triển thuật Đoạt Danh dù có thần thông quảng đại đến đâu cũng không thể sao chép hay giả mạo một điểm neo sinh học chân thật như thế này. Nó không thuộc về hệ thống phù văn của Huyền Đăng Môn, cũng không thuộc về các văn bản hành chính của Ty Danh Tịch; nó thuộc về huyết nhục và ý chí của người chèo đò."
Nàng chỉ ngón tay thanh mảnh vào vết cắt hình bán nguyệt ở góc tà áo:
"Vết cắt này chính là chìa khóa. Tàng Danh Các tại Thành Lạc Châu được xây dựng trên một khối đá hoa cương nguyên khối cổ xưa, hoàn toàn cách ly với mạch nước ngầm của Dạ Thủy. Nơi đó không ngấm tử khí, cũng không chịu ảnh hưởng bởi quy luật trôi chảy của dòng âm. Các hòm lưu trữ tài liệu tuyệt mật ở tầng hầm Tàng Danh Các đều được rèn bằng huyền thiết nguội, nắp hòm có các khe ngàm phong ấn đặc thù. Vết cắt hình bán nguyệt này, kết hợp với chỉ khí tức bản mệnh, chính là vật đối chứng sinh trắc bắt buộc để khớp vào chốt ngàm của hòm sắt. Người quản thủ Đỗ Từ Uyên nổi tiếng là người sắt đá và tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc chứng tích. Không có thứ này chứng minh mối liên hệ thật giữa con người và hồ sơ, dù là trưởng lão Huyền Đăng Môn hay đại thần Ty Danh Tịch bước vào, bà ấy cũng sẽ không bao giờ mở niêm phong."
Lâm Chiêu dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn ra ngoài màn đêm mịt mù qua khe cửa liếp:
"Đỗ Từ Uyên không phục tùng mệnh lệnh hành chính của nha môn, bà ấy chỉ phục tùng quy chế lưu trữ độc lập được thiết lập từ ba trăm năm trước. Suốt ba mươi năm cai quản Tàng Danh Các, bà ấy chưa từng để một bản án oan nào bị tiêu hủy nếu hồ sơ gốc vẫn còn nguyên vẹn ấn ký đối chứng. Nếu Trình Hoài tiền bối đã gửi tài liệu ở đó, nghĩa là ông ấy đã tính toán trước con đường sống duy nhất cho sự thật."
"Nghĩa là... chúng ta có thể mở được gói tài liệu của cha ta?" Trình Dạ siết chặt nắm đấm, trong lòng dâng lên một tia hy vọng mãnh liệt. Lồng ngực anh như có một tảng đá ngàn cân vừa được nhấc ra, mở đường cho một dòng máu nóng chảy rần rật khắp tứ chi.
"Đủ tư cách để yêu cầu mở niêm phong," Lâm Chiêu gật đầu khẳng định, giọng nàng đanh lại. "Nhưng tiền đề là chúng ta phải đến được Tàng Danh Các trước khi toàn bộ hệ thống lưu trữ bị phong tỏa. Huyền Đăng Môn không thể dùng vũ lực phá hủy Tàng Danh Các vì khối đá hoa cương được bảo hộ bởi kết giới cổ xưa của châu thành, nhưng chúng có thể dùng quyền lực hành chính để đóng cửa các ngả đường dẫn vào đó."
Đúng lúc ấy, cánh cửa liếp nhà chờ bên ngoài bỗng bật mở một tiếng "rầm".
Bản lề tre kêu ken két như sắp gãy rời. Một luồng gió lạnh từ ngoài bãi lau ùa vào mang theo hơi sương ẩm ướt, mùi bùn tanh nồng và mùi khét lẹt của tro tàn bay lẫn trong gió đêm. Tiếng bước chân dồn dập, loạng choạng vang lên trên nền đất nện, kèm theo tiếng thở dốc hỗn hển như người vừa thoát chết khỏi miệng cọp.
"Dạ... Trình Dạ! Lâm đạo hữu!"
Bóng một người đàn ông lảo đảo lao qua tấm rèm vải chàm, suýt nữa ngã sấp mặt xuống nền gạch. Đó là Phạm Lục. Viên lại của Ty Danh Tịch lúc này trông thảm hại không khác gì một kẻ trốn ngục. Chiếc áo lương the màu chàm công vụ rách bươm nhiều chỗ, để lộ lớp áo lót đẫm mồ hôi chua loét. Gấu quần gã bết đầy bùn đen đặc quánh của mương đê quai, trên mặt dính một vệt mực tím lem nhem kéo dài từ gò má xuống tận khóe miệng cùng những giọt mồ hôi túa ra như tắm, làm cay xè đôi mắt đỏ ngầu. Hai mắt gã trừng lớn, đồng tử co rút đầy vẻ kinh hoàng tột độ, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng lộp cộp khô khốc.
Trên lưng gã đeo một chiếc đãy vải thô căng phồng, dây đeo thít chặt vào vai làm rách cả vai áo. Hai tay gã ôm chặt lấy một bọc giấy dó trước ngực như thể đó là đứa con duy nhất của mình, ngón tay bấu chặt đến mức các đầu móng tay tím tái.
"Lục! Ngươi làm sao thế?" Trình Dạ lập tức tiến tới, một tay vươn ra đỡ lấy nách bạn, ghìm gã đứng vững lại trên đôi chân đang run rẩy như cầy sấy.
Phạm Lục ngã quỵ xuống chiếc ghế đẩu, hai đầu gối chạm mạnh xuống nền đất nện. Gã há hốc miệng đớp từng ngụm không khí, lồng ngực phập phồng dữ dội như một ống bễ lò rèn sắp nổ tung. Run rẩy tháo chiếc đãy trên lưng xuống, gã đặt mạnh nó lên mặt bàn đá. Miệng đãy mở bung ra, để lộ ba mươi nén bạc âm xám ngoét—toàn bộ số tiền gã đã nhận từ Tạ Mạn ở quán Câm Trà khi bán lịch kiểm kê năm xưa, thứ tiền bạc nhơ nhuốc mang hơi lạnh của cõi chết từng đè nặng lên lương tâm gã suốt mười hai năm ròng, khiến gã không đêm nào có được một giấc ngủ trọn vẹn.
Bên cạnh đống bạc âm lạnh lẽo, gã cẩn thận đặt xấp giấy dó ngả màu vàng ố xuống. Từng trang giấy dày cộp, mép giấy đã sờn rách và vương đầy bụi bặm của kẽ tường gạch, hiện lên dày đặc những con số chép tay bằng mực tàu rẻ tiền. Các cột tính toán chiều dài đê điều, số mẫu ruộng canh tác thực tế, số hộ khẩu và số hộc thóc thuế của Làng Sau Miếu hiện lên rõ ràng, chân thực đến gai người dưới ánh đèn dầu lạc. Không có khuôn dấu đỏ chót của triều đình, không có những dòng chữ phù chú ma mị, chỉ có những con số toán học mộc mạc, khô khốc của một viên thư lại cấp thấp từng cặm cụi tính từng bát gạo, từng mét đất cho người nghèo. Đó chính là bản nháp tính thuế nguyên gốc mà gã đã liều mạng giấu kín trong kẽ tường kho tài liệu Ty Danh Tịch bấy lâu nay.
"Hỏng... hỏng rồi, Trình Dạ ơi!" Phạm Lục vừa thở vừa nói, giọng run rẩy như sắp vỡ òa thành tiếng khóc. Gã đưa bàn tay run lẩy bẩy lên lau vệt mồ hôi trán, nhưng chỉ làm vết mực tím lem thêm ra mặt. "Nha môn... nha môn bắt đầu ra tay rồi! Chúng không chờ đến rạng đông nữa đâu!"
Lâm Chiêu bước nhanh tới, đôi mày thanh tú chau lại, tay đặt lên chuôi kiếm Chiếu Hồn: "Nói rõ xem, nha môn làm sao? Bạch Huyền đã hạ lệnh gì?"
"Không phải Bạch Huyền công khai ra lệnh, mà là người của Thủy Sứ quán phối hợp với Ty Phòng Vệ Nội Bộ của Huyền Đăng Môn!" Phạm Lục nuốt nước bọt ực một cái, kinh hãi nhìn quanh quất bốn góc buồng như sợ có kẻ vô hình đang nấp sau vách nứa rình rập. "Vừa qua canh ba, sau khi ta trốn về thành để cạy viên gạch lấy tập bản nháp này và số bạc gán nợ, ta thấy trạm gác cổng thành tăng cường gấp ba lần lính tuần tra. Tất cả đều mặc giáp đen, mang theo chó săn và phù trĩ định vị linh khí. Lén nhìn vào kho tài liệu phía Tây của Ty Danh Tịch—nơi lưu trữ toàn bộ các hồ sơ địa chính và sổ bến cũ—ta thấy lửa khói bốc lên nghi ngút! Lũ đao phủ mặc áo choàng chì... chính là Những Kẻ Cắt Danh, chúng đang khuân từng rương hồ sơ lưu trữ cũ ra sân sau để đốt!"
"Đốt hồ sơ sao?" Trình Dạ siết chặt quai đòn gánh lim bên hông, giọng anh trầm xuống đầy nộ khí.
"Phải! Chúng đốt ngay giữa sân nha môn!" Phạm Lục đấm mạnh xuống mặt bàn đá, những nén bạc âm nảy lên leng keng trên mặt đá lạnh buốt. "Chúng lấy cớ là 'dọn dẹp sổ sách mục nát trước mùa lũ' để tiêu hủy toàn bộ các bản sao lưu thuế đinh, bản đồ địa bạ và nhật trình tuần tra thủy đạo từ mười hai năm trước trở về trước! Khói đen bốc lên cuồn cuộn khét lẹt cả một góc trời phía Tây thành Lạc Châu. Ta nghe thấy tiếng giấy cháy kêu lách tách, tro tàn bay lả tả như đàn bướm đen rơi xuống mái ngói. Chúng không chỉ muốn bịt miệng nhân chứng sống, mà đang ráo riết dọn sạch những mảnh giấy cuối cùng có thể đối chiếu với thực địa! Ta nấp sau bể nước mưa, nghe lén được tên giám công nói chuyện với một chấp pháp tu sĩ của Huyền Đăng Môn..."
Phạm Lục ngừng lại, rùng mình một cái như vừa bị dội một gáo nước băng:
"Chúng bảo rằng Đập Khóa Mạch sắp bước vào giai đoạn hạ cống ngầm. Cống ngầm bằng sắt nguội nghìn cân sắp được thả xuống đáy Dạ Thủy. Một khi cống hạ xuống, toàn bộ nước Dạ Thủy sẽ dâng ngược cô lập Lạc Châu, biến vùng trũng phía sau thành một bãi tha ma ngập nước. Trước lúc đó, kho tài liệu trung tâm phải sạch bóng, không được để sót lại bất kỳ một con số nào chứng minh sự tồn tại của mười bảy hộ Làng Sau Miếu hay những chuyến đò vượt sông của cha ngươi! Chúng muốn biến tất cả thành hư không, như thể ngôi làng đó, những con người đó chưa từng sinh ra trên cõi đời này!"
Gian buồng rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở.
Tiếng bấc đèn nổ lép bép như đếm từng khắc thời gian đang trôi qua một cách tàn nhẫn. Mọi mắt xích của âm mưu tước danh đang dần khép lại với tốc độ kinh hoàng. Bạch Huyền và Ninh Sắc không hề chậm trễ sau thất bại tại Cồn Đèn Câm. Chúng biết nhóm của Trình Dạ đã nắm được manh mối vật chất, biết Khách Vô Danh đang dần hồi phục ký ức, nên chúng quyết định dùng quyền lực hành chính và vũ lực để xóa sạch ngọn nguồn chứng cứ tại cơ quan đầu não. Chúng muốn biến cuộc điều tra này thành một cuộc đuổi bắt bóng ma, nơi mà mọi bằng chứng trên giấy tờ đều biến thành tro bụi trước khi kịp đưa ra ánh sáng.
"Nếu kho của Ty Danh Tịch bị đốt sạch," Lâm Chiêu lạnh lùng phân tích, đôi mắt ánh lên tia sáng sắc bén như lưỡi kiếm rút khỏi bao, "thì nơi duy nhất trên cõi đời này còn lưu giữ bản gốc các sự vụ mười hai năm trước chính là Tàng Danh Các. Đó là kho lưu trữ độc lập nằm ngoài quyền can thiệp trực tiếp của nha môn và tiên môn. Khối đá hoa cương nâng đỡ Tàng Danh Các không chịu sự chi phối của địa mạch Dạ Thủy, và kết giới cổ xưa ở đó không cho phép bất kỳ ai mang lửa hay phù chú hủy diệt bước vào. Nhưng một khi chúng đốt xong kho ngoài, bước tiếp theo chắc chắn sẽ là bao vây và gây sức ép lên Tàng Danh Các. Ninh Sắc có thể viện cớ 'thiết quân luật trước mùa lũ' để cấm túc toàn bộ khu vực gò đá."
"Vậy chúng ta không thể chần chừ thêm một khắc nào nữa," Trình Dạ nói, ánh mắt kiên định lóe lên trong quầng sáng leo lét của ngọn đèn dầu. "Chúng ta phải vào thành ngay trong đêm nay. Trước khi trời sáng, trước khi cổng Tàng Danh Các bị phong tỏa."
Anh bước nhanh ra góc buồng, nơi chiếc đòn gánh gỗ lim nứt dọc đang tựa vào vách nứa. Chiếc đòn gánh này đã cùng cha anh vượt qua hàng ngàn con sóng dữ, và giờ đây, nó là vũ khí, là điểm tựa duy nhất của anh giữa giông bão cuộc đời. Nhưng anh không đi ngay ra cửa, mà quay sang phía bà Lê An:
"Mẹ, con cần đoạn dây đò cũ của cha."
Bà Lê An khẽ gật đầu, không nói một lời. Nỗi sợ hãi trên gương mặt bà dường như đã nhường chỗ cho sự thanh thản kỳ lạ của một người đã chờ đợi ngày này quá lâu. Bà đứng dậy, bước từng bước run rẩy nhưng vững vàng đi đến góc buồng tối nhất sau cánh phản. Bà quỳ xuống, dùng một chiếc thuổng sắt nhỏ cạy một viên gạch lát nền đã lỏng chân từ lâu. Từ hốc đất khô ráo bên dưới, bà nhấc lên một cuộn dây thừng bện bằng xơ gai ngâm dầu rái đen đúa, xù xì, bọc trong một mảnh bao tải gai cũ.
Đoạn dây đò này Trình Dạ đã nắm giữ bấy lâu nay, nhưng đến tận lúc này, khi mọi mảnh ghép dần lộ diện, ý nghĩa của nó mới thực sự hoàn chỉnh. Trên thân sợi dây dài chừng ba trượng, từng nút thắt ngược quấn tréo ba vòng—dấu hiệu nghiệp vụ của người chèo đò kỳ cựu dành riêng cho các chuyến đò chở người bị tước danh—vẫn còn hằn sâu trong từng thớ gai chai sạn. Khi đối chiếu với những trang sổ bến bị xé chỉ khâu mà Trình Hoài để lại, số lượng và khoảng cách của các nút thắt này hoàn toàn trùng khớp với những lỗ kim khâu trơ trọi trên gáy sổ.
Trình Dạ trải rộng tấm vải chàm trên bàn đá, cẩn trọng đặt ba thứ cạnh nhau:
Thứ nhất là mảnh áo nâu sờn vai viền bằng chỉ khí tức bản mệnh của Trình Hoài, với vết khuyết hình bán nguyệt sắc lẹm—vật đối chứng sinh trắc độc nhất vô nhị để mở ngàm khóa hòm sắt tại Tàng Danh Các.
Thứ hai là đoạn dây đò cũ mang những nút thắt ngược của cha anh, chứng tích vật lý lưu giữ toàn bộ hành trình những chuyến đò bị xóa sổ mà sổ bến không kịp ghi nhận. Từng nút thắt là một chuyến đò, là một mạng người đã được đưa sang bờ an toàn trong đêm bão mười hai năm trước.
Thứ ba là tập bản thảo nháp tính thuế thủ công nguyên gốc của Phạm Lục, những con số toán học mộc mạc không vướng danh ấn hành chính, chứng minh sự tồn tại vật chất không thể chối cãi của 300 mẫu ruộng và 17 nếp nhà Làng Sau Miếu.
Ba vật chứng độc lập. Một thuộc về sinh mạng và huyết thống của người giữ bến; một thuộc về nghiệp vụ chèo đò trên dòng Dạ Thủy; và một thuộc về trật tự toán học của cõi sống. Ba điểm neo vật chất này đan cài vào nhau thành một tấm lưới chứng cứ vững chắc, thứ mà không một cấm thuật Đoạt Danh hay ngọn lửa hành chính nào có thể thiêu rụi nếu chúng được đặt lên bàn cân công lý độc lập.
"Ba vật chứng đã đủ," Trình Dạ trầm giọng, từng lời nói ra đều mang sức nặng của một lời thề. Anh cẩn thận cuộn mảnh áo và đoạn dây đò vào lớp vải chàm, buộc chặt bằng một sợi dây lác, rồi đón lấy tập bản thảo tính thuế từ tay Phạm Lục, nhét sâu vào trong vạt áo trước ngực, áp sát vào da thịt ấm nóng của mình. Anh giắt chiếc đòn gánh lim vào thắt lưng, quay sang nhìn bạn mình: "Lục, ba mươi lượng bạc này ngươi giữ lấy một phần phòng thân, số còn lại để nộp phạt chuộc tội. Ngươi dám đi cùng ta vào Tàng Danh Các không?"
Phạm Lục nhìn đống bạc xám ngoét trên bàn, rồi lại nhìn tập bản nháp đã nằm trong ngực áo Trình Dạ. Gã hít một hơi thật sâu, hai chân gã vẫn còn run lẩy bẩy vì sợ hãi, nhưng khi nhìn vào đôi mắt sâu thẳm, kiên định của Trình Dạ và nghĩ đến bóng ma của những người dân Làng Sau Miếu đã ám ảnh gã suốt mười hai năm qua trong từng chén rượu đắng, một tia dũng khí kỳ lạ bỗng bùng lên trong lòng viên lại thấp cổ bé họng. Gã vươn tay gạt phắt đống bạc sang một bên, nghiến răng ken két:
"Đi! Mẹ kiếp, ta đã sống như một con chuột chui rúc dưới cống rãnh suốt mười hai năm qua rồi! Ban ngày cúi lạy quan trên, ban đêm giật mình thon thót vì sợ quỷ đòi nợ! Nha môn muốn đốt sổ, ta sẽ mang chính những con số trong đầu ta ra đối chất trước mặt Đỗ quản thủ! Cùng lắm thì mất chức, cùng lắm thì bị đày đi biệt xứ, chứ không thể để chúng biến ta thành kẻ tòng phạm xóa tên người khác thêm một ngày nào nữa!"
Lâm Chiêu nhìn hai người đàn ông trần tục trước mặt, khóe môi nàng khẽ cong lên một nét cười kín đáo nhưng ấm áp. Nàng nâng kiếm Chiếu Hồn lên, linh lực khẽ vận chuyển làm thanh kiếm phát ra một tiếng "keng" thanh thoát, xé tan bầu không khí ngột ngạt trong buồng:
"Ta đi cùng các ngươi. Lệnh bài của ta tuy đã nứt vỡ sau đợt khép nước, nhưng tư cách đệ tử nội môn của Huyền Đăng Môn vẫn đủ để ngăn lũ lính tuần tra cổng thành làm càn trước khi chúng ta tiếp cận Tàng Danh Các. Ninh Sắc chưa dám công khai bắt giữ ta khi chưa có trát của Hội đồng Trưởng lão."
Nàng quay lại nhìn về phía chiếc chõng tre, nơi Khách Vô Danh vẫn đang nằm thiếp đi dưới sự canh chừng của ngọn đèn dầu lạc. Khuôn mặt gã thanh thản hơn nhiều so với lúc mới được vớt lên từ bãi cồn, vầng trán nhăn nhó đã giãn ra đôi chút nhờ quầng sáng ấm áp của cõi sống bảo bọc. Đôi môi khô nẻ của gã thỉnh thoảng mấp máy, phát ra những âm thanh đứt quãng nhưng rõ ràng hơn: "...Tống... Tống gia trang... đê quai..."
"Bác An," Lâm Chiêu dịu giọng nói với bà Lê An, "hãy giữ ngọn đèn dầu lạc này cháy liên tục, đừng để gió sông tạt tắt. Người này đã bắt đầu nhớ lại họ 'Tống' của mình, nhưng thức hải còn rất yếu ớt. Chỉ cần ngọn đèn này còn sáng, điểm neo sinh tức của gã sẽ không bị dòng Dạ Thủy cuốn đi. Nếu đèn tắt, hồn phách gã sẽ lập tức tan biến vào hư vô."
Bà Lê An gật đầu lia lịa, hai bàn tay run rẩy chắp lại trước ngực, mắt nhìn chăm chú vào bấc đèn đang tỏa khói xanh: "Các con cứ yên tâm mà đi. Cầu trời khấn phật, cầu linh hồn ông Hoài phù hộ cho các con qua được cửa ải này. Ở nhà... mẹ sẽ lấy tính mạng này ra để giữ ngọn đèn không tắt. Dù bão có giật sập mái gianh, mẹ cũng sẽ lấy thân mình che cho ngọn đèn này cháy."
Trình Dạ bước tới, quỳ một gối xuống trước mặt mẹ, cúi đầu tạ từ: "Mẹ giữ gìn sức khỏe. Con sẽ mang sự thật về lại cho bến đò này."
Nói rồi, anh dứt khoát đứng dậy, xoay người bước nhanh ra khỏi hiên nhà.
Bên ngoài, màn đêm của cõi sống đang ở vào thời khắc đen tối và lạnh lẽo nhất trước bình minh—canh năm mờ mịt. Sương mù từ dòng Dạ Thủy dâng lên trắng xóa, dày đặc như chăn bông, cuồn cuộn tràn qua thân đê quai như những dải lụa ma quái trườn trên mặt đất. Gió sông rít từng hồi qua rặng lau khô, mang theo hơi lạnh thấu xương của bùn lầy và tử khí. Ba bóng người—người chèo đò mang nợ bảo chứng của cha, nữ tu sĩ mang vết thương phản phệ của môn phái, và viên thư lại ôm tội lỗi mười hai năm—nhanh chóng hòa vào màn sương dày đặc, tiến thẳng về phía con đường đá dẫn vào Thành Lạc Châu.
Họ không dám đi trên mặt đê chính lộ, nơi những ngọn đèn lồng đỏ của trạm gác Thủy Sứ quán đang đung đưa trong gió bão. Trình Dạ dẫn đường, đôi chân trần của anh đã quá quen thuộc với từng mô đất, từng rãnh mương dẫn nước của vùng bãi bồi ven sông. Họ lội qua những mương nước ngập ngang bắp chân, bùn lạnh ngắt bám chặt vào da thịt, luồn lách qua các bãi tha ma hoang phế và những rặng tre gai rậm rạp.
Phạm Lục cắn chặt môi để không phát ra tiếng rên rỉ, hai tay ôm khư khư bọc bạc và ngực áo, bước thấp bước cao theo sau bóng lưng vững chãi của Trình Dạ. Lâm Chiêu đi sau cùng, thanh kiếm Chiếu Hồn trong tay nàng luôn tỏa ra một làn linh khí mỏng tang để xua tan những luồng chướng khí độc hại lẩn khuất trong sương mù, đồng thời che giấu hơi thở của ba người trước linh giác tầm xa của lính tuần tra.
Khi tiếp cận chân tường thành Lạc Châu, không khí bắt đầu thay đổi rõ rệt.
Mùi ẩm mốc của sông nước dần bị lấn át bởi mùi tro tàn khét lẹt. Những vạt khói xám đục từ phía trong thành cuồn cuộn bốc lên cao, hòa vào sương mù tạo thành một lớp sương mù độc hại khiến người ta cay xè mắt mũi và ho sặc sụa. Tro giấy cháy dở bay lả tả trong không trung, rơi xuống vai áo, tóc tai của ba người như một trận mưa đen tang tóc. Đó là tro tàn của hàng ngàn trang hồ sơ, hàng vạn cái tên đang bị thiêu rụi trong sân sau của Ty Danh Tịch.
"Chúng đang đốt dữ dội hơn rồi," Phạm Lục thì thào qua kẽ răng, giọng run lên vì căm phẫn và chua xót. "Đó là tro của sổ bến mười hai năm trước... tro của mạng người..."
"Đi lối cống ngầm phường gốm," Trình Dạ ra hiệu bằng tay, cúi thấp người men theo chân tường đá rêu phong.
Họ chui qua một vòm cống thoát nước cạn dẫn thẳng vào khu phố thợ gốm. Nơi đây nhà cửa san sát, lò gốm san sát tỏa hơi ấm nồng nặc và mùi đất nung, giúp che giấu hơi thở và hành tung của họ. Tiếng mõ cầm canh điểm bốn tiếng rưỡi vang lên uể oải từ chòi canh xa xa, lẫn trong tiếng lách cách của những chuyến xe bò chở tro than chạy vội vã trên đường lát đá.
Tránh những con đường cái quan nơi lính tuần tra của Thủy Sứ quán đang cưỡi ngựa phi rầm rập, giáo mác tuốt trần sáng loáng dưới ánh đuốc, họ luồn lách qua các ngõ hẻm tối tăm của phường dệt. Những khung cửi ban đêm đứng im lìm như những bộ xương khô, những tấm vải nhuộm phơi trên giàn lay phần phật trong gió sớm như những bóng ma trơi. Mỗi lần nghe thấy tiếng vó ngựa hay tiếng chó sủa rộ lên ở đầu ngõ, cả ba lại nép mình vào bóng tối dưới mái hiên, nín thở chờ cho hiểm nguy trôi qua.
Sau gần nửa canh giờ căng thẳng tột độ, vượt qua ba vòng tuần tra bí mật, bóng dáng đồ sộ của Tàng Danh Các cuối cùng cũng hiện ra trước mắt họ.
Nằm biệt lập trên một gò đá hoa cương xám xịt nhô cao giữa trung tâm thành, Tàng Danh Các sừng sững như một pháo đài cổ kính bất khả xâm phạm. Gò đá này có từ thời lập thành, là một khối đá tảng nguyên khối khổng lồ đâm sâu vào lòng đất, trồi lên khỏi mặt phù sa như một hòn đảo kiên cố. Toàn bộ công trình được xây dựng bằng những khối đá tảng dày ba thước ghép khít khao không dùng vôi vữa, bề mặt đá nhẵn thín và lạnh lẽo, hoàn toàn cách ly với mọi dòng chảy ngầm và tử khí của Dạ Thủy.
Nơi đây hoàn toàn đối lập với sự náo loạn và ngột ngạt của phần còn lại của thành phố. Không có một ngọn đèn lồng nào treo ngoài cổng, không có tiếng lính tuần tra hò hét, chỉ có ánh trăng tàn le lói qua tầng mây rọi xuống chín mươi chín bậc thềm đá mòn vẹt vì bước chân của những thế hệ người đi tìm kiếm công lý và chân tướng suốt ba trăm năm qua. Không khí nơi chân gò đá thanh sạch và tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng lá khô lăn trên mặt đá.
Nhưng sự tĩnh lặng ấy không mang lại cảm giác an toàn. Nó nặng nề, nghiêm trang và lạnh lùng như một phiên tòa vĩnh cửu.
Tại chân bậc thềm dẫn lên cổng vòm bằng đá đen nguyên khối, một bóng người mảnh khảnh nhưng uy nghiêm đã đứng đợi từ bao giờ.
Đó là một người phụ nữ trạc ngũ tuần, khoác chiếc áo bào màu xám tro không thêu bất kỳ phù văn hay hoa văn môn phái nào. Mái tóc bà đã điểm nhiều sợi bạc, được búi cao gọn gàng bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc không chạm trổ. Vạt áo phẳng phiu không vướng một hạt bụi trần, rủ thẳng tắp xuống đôi giày vải đế gai mộc mạc. Hai tay bà khoanh trước ngực, giấu trong ống tay áo rộng, dáng đứng vững chãi và thẳng tắp như một cột mốc biên giới cắm sâu vào lòng đất mẹ. Gương mặt bà vuông vức, những nếp nhăn nơi khóe mắt và khóe miệng hằn sâu như những vết khắc trên đá tảng, toát lên vẻ nghiêm nghị, sắt đá của một người cả đời chỉ sống giữa những trang giấy vô tri và những quy tắc bất di bất dịch.
Gió đêm thổi qua gò đá làm tà áo xám của bà lay động nhẹ, nhưng thân hình bà vẫn bất động như một pho tượng tạc từ chính khối hoa cương dưới chân.
Trình Dạ dừng bước dưới chân bậc thềm thứ nhất. Anh tháo bọc vải chàm trên lưng, cẩn thận mở lớp vải lác bên ngoài, để lộ mảnh áo gai nâu sờn với vết khuyết hình bán nguyệt và đường chỉ đỏ ánh lên nhàn nhạt trong đêm tàn.
Trước cổng đá sừng sững của Tàng Danh Các, Đỗ Từ Uyên đứng khoanh tay, đôi mắt sắc lạnh nhìn thẳng vào mảnh áo trên tay Trình Dạ.